Như vậy, việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và trong dạy học Tiếng Việt nói riêng là một trong những biện pháp tăng cường tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
THIẾT KẾ CÁC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
THIẾT KẾ CÁC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4
Chuyên ngành: Giáo dục học (Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Lan Anh
HÀ NỘI, 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 4Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu luận văn này tôi không khỏi lúng túng
và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS Lê Thị Lan Anh,
chúng tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành luận văn với đề tài “Thiết kế
các trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4”
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô khoa Giáo dục Tiểu học, các giáo viên cùng các học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nam Sơn 2, các giáo viên chủ nhiệm cùng các học sinh lớp 4 trường Tiểu học Võ Cường 2
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về trò chơi học tập 5
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về trò chơi học tập 7
1.2 Cơ sở lí luận của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt 9 1.2.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.2.2 Những vấn đề cơ bản về trò chơi học tập 13
1.2.3.Cơ sở của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4 24
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế các trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4 32
1.3.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu, Chính tả 32
1.3.2 Chương trình phân môn Luyện từ và câu và Chính tả lớp 4 36
1.3.3 Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu, Chính tả lớp 4 38
1.3.4 Thực trạng sử dụng trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 4 47
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CÁC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 4 52
Trang 62.3 Những điều cần lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập 57
2.4 Một số trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 4 59
2.4.1 Một số trò chơi học tập phân môn Luyện từ và câu lớp 4 59
2.2.2 Một số trò chơi phân môn Chính tả 77
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích thực nghiệm 82
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 82
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 82
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 83
3.3 Cách thức tiến hành thực nghiệm 83
3.4 Nội dung thực nghiệm 84
3.5 Kết quả thực nghiệm 85
3.6 Kết luận chung về thực nghiệm 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 8trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt 48 Bảng 1.2 Mục đích của việc sử dụng trò chơi học tập 49 Bảng 1.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học 49 Bảng 3.1:Kết quả điểm kiểm tra bài tập Luyện từ và câu ở các lớp thực
nghiệm và đối chứng 85 Bảng 3.2: Kết quả điểm kiểm tra bài tập Chính tả ở các lớp thực nghiệm và
đối chứng 86 Bảng 3.3 Mức độ hứng thú học tập của học sinh trong tiết học và trong trò
chơi 88 Bảng 3.4 Mức độ chú ý của học sinh trong tiết học 89 Bảng 3.5 Khả năng giải quyết nhiệm vụ học tập 89Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả kiểm tra bài tập Luyện từ và câu ở các lớp thực
nghiệm và đối chứng 86Biểu đồ 3.2: So sánh điểm kiểm tra bài tập Chính tả ở các lớp thực nghiệm và
đối chứng 87Hình 2.1 Quy trình lựa chọn và tổ chức trò chơi học tập 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vui chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh tiểu học, bởi lẽ nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi này Vui chơi không những giúp các em được rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổ… Thông qua đó, các em sẽ dần hoàn thiện những kĩ năng giao tiếp Đó là
kĩ năng được đặt ra hàng đầu trong mục tiêu của môn Tiếng Việt cấp Tiểu học nói chung và của môn Tiếng Việt ở lớp 4 nói riêng Điều đó chứng tỏ hoạt động vui chơi là hoạt động hỗ trợ cho việc học
Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng
cố kiến thức, kĩ thuật, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo nhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp) Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung của học sinh mà không một phương pháp nào sánh được Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức dưới hình thức trò chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh
sẽ tăng lên Như vậy, việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung
và trong dạy học Tiếng Việt nói riêng là một trong những biện pháp tăng cường tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiện qua các tiết học có trò chơi làm tăng thêm cảm tình của các em đối với môn học và thầy cô giáo
Việc tìm được phương án giải khác nhau cho một “bài toán” trò chơi giúp các em hiểu sâu sắc hơn về những tri thức đã học, có thói quen tìm tòi phương án giải quyết tốt nhất, hay nhất và đơn giản nhất Và khi đó, các em thể hiện niềm vui, hứng thú với những thành tích mà mình đạt được, thể hiện niềm vui do trò chơi mang lại và cảm thấy vui sướng khi được tham gia vào
Trang 10trò chơi Từ đó hình thành ở các em tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì trong giờ lên lớp nào mà tư duy tích cực được kích thích thì cũng sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với học tập, sẽ hình thành hứng thú nhận thức
Mặt khác, trong trò chơi, muốn hoàn thành nhiệm vụ đặt ra và chơi đúng quy tắc thì các em phải chú ý, tích cực lắng nghe sự hướng dẫn của giáo viên Từ đó, trẻ em dần dần học tập, hành động theo đúng quy tắc, bắt tính tích cực của mình phục vụ những nhiệm vụ nào đó, kiên trì phấn đấu đạt tới những kết quả và những thành tựu nhất định
Trò chơi là chiếc cầu nối môn Tiếng Việt với thực tiễn, bởi vì thông qua trò chơi các em thấy ứng dụng quan trọng của môn Tiếng Việt trong thực tiễn Và như vậy là đã phát huy được tính tích cực nhận thức của các em
Mặt khác, đối với học sinh cấp Tiểu học việc rèn để các em dùng từ đúng, diễn đạt phù hợp với ngữ cảnh là vấn đề vô cùng cần thiết Đặc biệt là đối với học sinh khối lớp 4, lớp cuối cấp tiểu học, số lượng môn học nhiều hơn vì lẽ đó các em chỉ tập trung vào viết đủ chữ nên hiện tượng dùng từ, viết câu lủng củng
còn tương đối phổ biến Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thiết kế các
trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4” nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 4
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất hệ thống trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở tiểu học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các trò chơi học tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 4
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thiết kế hệ thống các trò chơi học tập phân môn Luyện từ và câu, Chính tả gây hứng thú cho học sinh lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận liên quan đến trò chơi học tập môn Tiếng Việt
4.2 Tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi học tập môn Tiếng Việt ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
4.3 Thiết kế các trò chơi học tập môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 4.4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các trò chơi học tập môn Tiếng Việt đã được đề xuất
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các vấn đề lí luận của trò chơi học tập trong dạy học; cũng như nghiên cứu các vấn đề lí luận của việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học Luyện từ và câu, Chính tả nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đối với phương pháp nghiên cứu thực tiễn, trong đó bao gồm phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm dạy học, phương pháp thống kê toán học
- Ở phương pháp quan sát, chúng tôi tiến hành quan sát giờ dạy Luyện
từ và câu, Chính tả nhằm nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm dạy học được sử dụng để kiểm tra khả năng ứng dụng của hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ Luyện từ và câu, Chính tả Kết quả thực nghiệm là cơ sở để đánh giá hướng nghiên cứu và tính khả thi của đề tài
Trang 12- Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để phân tích kết quả điều tra thực trạng Từ đó, đánh giá độ tin cậy của của các kết quả nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
Nếu kết hợp sử dụng trò chơi trong học tập môn Tiếng Việt sẽ giúp:
- Học sinh rèn luyện, củng cố, tiếp thu kiến thức đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em đã tích lũy được trong cuộc sống thông qua hoạt động chơi
- Phát triển tư duy nhanh nhạy, óc sáng tạo, xử lí nhanh các tình huống khi tham gia trò chơi
- Phát huy năng lực cá nhân, rèn khả năng hòa nhập cộng đồng, nâng cao năng lực hợp tác, đồng thời giáo dục ý thức tổ chức kỉ luật, có tính đồng đội khi tham gia trò chơi học tập
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Nội dung của luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt
Chương 2:Hệ thống các trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về trò chơi học tập
Vào những năm 40 của thế kỉ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như: P.A Bexonova, O.P.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki… đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo E.A.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga [9, tr.19-20]
Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi học tập khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi học tập làm phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc I.A.Komenxki (1592-1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi học tập là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển,
mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ, I.A.Komenxki
đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi học tập cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi
Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel (1782-1852) Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ
sở lí luận sư phạm duy tâm thần bí Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận
Trang 14thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những quy luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình Vì thế, ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn sẵn có của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ [9, tr.22]
I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn Ông đã đưa
ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển
kĩ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu… Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui
và phát triển năng lực trí tuệ của chúng [9, tr.25-26]
Vào những năm 30-40 của thế kỉ XX, vấn đề sử dụng trò chơi học tập trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia, V.R.Bexpalova, E.I.Udalsova… R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới Từ những ý tưởng đó, bà đã soạn thảo ra một số “tiết học - trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng [9, tr.30]
Bên cạnh đó, tính tích cực cũng được các nhà khoa học như B.P.Exipov, A.M.Machiuskin (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner, Bruner (Mĩ), Xavier, Roegiers (Pháp)… nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của người học trong mối quan hệ giữa nhận thức và tính cảm, ý chí (A.I.Serbacov, I.F.Kharlamov,
Trang 15R.A.Nhidamov, V.Okon…) hướng nghiên cứu này đã bổ trợ rất nhiều cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những con đường và điều kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức của người lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lưu ý tới vai trò chủ động và chủ thể trong quá trình nhận thức (B.P.Êxipop, L.P.Anstova, Xavier Roegier, Jean-Marc Denomme, Madedine Roy…), các tác giả này coi tính tích cực nhận thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức thông qua việc huy động các chức năng tâm lí ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước về trò chơi học tập
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập dưới các góc độ và các bộ môn khác nhau Một số tác giả như Phan Huỳnh Hoa, Vũ Minh Hồng, Trương Kim Oanh, Phan Kim Liên, … đã
để tâm nghiên cứu biên soạn một số trò chơi và trò chơi học tập [11] Những
hệ thống trò chơi và trò chơi học tập được các tác giả đề cập đến chủ yếu nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số môn học như: hình thành biểu tượng toán sơ đẳng, làm quen với môi trường xung quanh… rèn các giác quan đồng thời phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ
Các tác giả đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa phát triển của trò chơi học tập, không chỉ phát triển ở các giác quan mà phát triển các chức năng tâm lí chung của người học Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng chưa đi sâu nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập dành cho quá trình nhận thức của người học
Gần đây trong tác phẩm “Trò chơi trẻ em”, Nguyễn Ánh Tuyết đã đề cập đến trò chơi trí tuệ Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ Trong tác phẩm này, tác giả đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em [30]
Trang 16Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát huy tính tích cực của người học Tuy nhiên, mỗi tác giả lại xem xét trò chơi học tập ở các bộ môn khác nhau Chẳng hạn, Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng
và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi; Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) Tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm
vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ
Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Khắc Tuân (tham gia cuộc thi
“Viết sách bài tập và sách tham khảo” của NXB Giáo dục) nêu lên những vấn
đề cơ bản:
- Mục đích của việc đưa trò chơi vào các lớp học
- Những trò chơi nào có thể đưa vào lớp học
- Thời điểm tổ chức trò chơi
- Cách thức tổ chức trò chơi trong giờ học
Trong cuốn “Trò chơi thực hành Tiếng Việt lớp 3”, tác giả Vũ Khắc Tuân cũng đưa ra các trò chơi sử dụng trong giờ học Tiếng Việt theo đơn vị bài học, tuần học, song tác giả chỉ trình bày nội dung trò chơi (đề bài, đáp án)
mà không trình bày hình thức chơi cho từng trò
Các tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga thông qua cuốn Trò chơi học tập Tiếng Việt 2, 3 đã bàn về việc
sử dụng trò chơi học tập Những trò chơi đưa vào sách thường dựa vào nội dung cụ thể của từng phân môn Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào từng địa bàn, từng đối tượng học sinh để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí
Trang 17
Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên có thể thấy từ trước đến nay tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi học tập, song chưa
có một công trình nào đi sâu vào việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4 Những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ
sở cho việc nghiên cứu đề tài “Thiết kế các trò chơi học tập trong dạy học
* Chơi và hoạt động chơi
Chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đời sống con người ở mọi lứa tuổi, mặc dù hình thức chơi thay đổi khi một người lớn lên và già đi Khi chơi, cả người lớn lẫn trẻ em đều say mê, vui vẻ, thoải mái Đối với người lớn, hoạt động chơi chiếm một vị trí nhất định trong cuộc sống của họ Còn đối với trẻ lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động chơi là nội dung chính của cuộc sống, là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chơi”, có thể điểm qua một vài định nghĩa về “chơi” như:
- Trong Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1994, chữ “trò” được hiểu là một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người; chữ “chơi” là một từ chung để chỉ các hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính Từ đó, trò chơi được hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con người, trước hết là vui chơi, giải trí [20]
- Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng “chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích gì khác [30]
Trang 18- Cũng trong [30] tác giả viết “chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi mối quan hệ của con người với tự nhiên với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu”
- Hay trong Dạy học hiện đại – Lý luận, biện pháp, kĩ thuật, tác giả
Đặng Thành Hưng cho rằng: “Chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động tự nhiên,
tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu và lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó Bản thân quá trình chơi có sức cuốn hút tự thân và các yếu tố tâm lí của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vui đùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thư giãn, có khuynh hướng thể nghiệm những tâm trạng hoặc tạo ra sự khuây khỏa cho mình [16,tr.384]
Rõ ràng khó có thể đưa ra một khái niệm chung cho một hiện tượng
“chơi” trong toàn bộ phạm vi hoạt động rộng lớn của con người vì hình thức thể hiện của hoạt động chơi vô cùng đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức
Nói về hoạt động chơi, Đặng Thành Hưng quan niệm “Hoạt động chơi
là hình thái đặc biệt của sự chơi và chỉ có ở con người Quá trình chơi diễn ra
ở 2 cấp độ: cấp độ hành vi và cấp độ hoạt động Với tư cách là hoạt động, sự chơi diễn ra theo nhu cầu của chủ thể, được điều khiển bởi động cơ bên trong quá trình chơi Yếu tố động cơ là căn cứ phân biệt rõ hoạt động chơi với những dạng hoạt động khác Hoạt động chơi là dạng có ý thức, cả nội dung văn hóa xã hội, dựa trên các chức năng tâm lí cấp cao và chỉ có ở người, không có ở động vật [16,tr.387]
Hay “loại hoạt động nào có cấu trúc động cơ nằm trong chính quá trình hoạt động, đó chính là hoạt động chơi” [17]
Chúng tôi quan niệm: hoạt động chơi của trẻ em và người lớn đều có cùng bản chất tự nhiên, ngây thơ, vô tư vì nó là một trường hợp của chơi
Trang 19nhưng đây là dạng chơi ở người có ý thức, có động cơ xã hội và văn hóa, có nội dung nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ Hoạt động chơi đương nhiên
là chơi nhưng không phải hiện tượng chơi nào cũng là hoạt động chơi - có nhiều hiện tượng chơi chỉ là hành vi hay động thái biểu hiện những khả năng
và nhu cầu bản năng của cá thể sinh vật hoặc người
* Trò chơi
Một số nhà tâm lí - giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross, S.Hall, V.Stern cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa
Còn G.Piagiet cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ
Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục [33]
Còn tác giả Đặng Thành Hưng thì cho rằng trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa:
- Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia
- Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi, bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi…
Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức
và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có
tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó
Chúng tôi quan niệm: trò chơi vừa là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống Đối với trẻ em, trò chơi là hoạt
Trang 20động giúp trẻ tái tạo các hành động của người lớn và các quan hệ giữa họ, định hướng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội Trong trò chơi, nhu cầu và các phẩm chất của trẻ về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý chí được hình thành, thỏa mãn, thể hiện và phát triển Trẻ em được chơi nên phát triển Do vậy, chơi là hoạt động chủ đạo đối với trẻ em
1.2.1.2 Trò chơi học tập
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về trò chơi học tập Trong lí luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập… không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi học tập
Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng (gọi tắt là trò chơi có luật), trò chơi học tập còn được hiểu là loại trò chơi có luật có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra
và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học
Trò chơi học tập có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ cới con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các đồ vật
đó và dùng hình thức đó để dạy con, những trò chơi đó có chứa đựng các yếu
tố dạy học [23]
Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì những trò chơi giáo dục được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện
kĩ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử
xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi gọi là trò chơi học tập
Trang 21Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi học tập được tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập
Trò chơi học tập được sáng tạo ra và được sử dụng bởi các nhà giáo và người lớn dựa trên những khuyến nghị của lí luận dạy học, đặc biệt là của lí luận dạy học các môn học cụ thể Chúng phản ánh lí thuyết, ý tưởng, mục tiêu của nhà giáo, là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài bản cứng nhắc như những giờ học
Đặc biệt đối với trẻ em chơi có nghĩa là học, là khám phá thế giới muôn màu xung quanh, là khơi dậy trong mình những cảm giác và ước mơ, là cố gắng để thực hiện những ước mơ đó Đúng như nhận định của nhà giáo dục hàng đầu thế giới Arngoroki: Trò chơi là con đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần phải thay đổi
Chúng tôi quan niệm rằng, trò chơi học tập là phương pháp giáo dục truyền tải một thông điệp hay một nội dung cụ thể đến người tham gia thông qua hình thức trò chơi, làm cho người tham gia tự khám phá ra nội dung bài học đó một cách chủ động, thích thú và ghi nhớ được kiến thức một cách tự nhiên và sâu sắc nhất
1.2.2 Những vấn đề cơ bản về trò chơi học tập
1.2.2.1 Cấu trúc chung của trò chơi học tập
Trò chơi học tập có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động và quan hệ hiện thực Đó là cấu trúc phức tạp, gồm những thành tố sau:
1/ Mục đích hay chủ định chơi – nó cũng là những nhiệm vụ học tập của học sinh trong khi tham gia chơi Mục đích này chi phối tất cả các yếu tố của trò chơi Khi trò chơi kết thúc, mức độ đạt được của mục đích chơi được phản ánh ở kết quả hiện thực mà học sinh thu được và kết quả đó cũng là kết
Trang 22quả giải quyết các nhiệm vụ học tập – học sinh học được những gì cụ thể thì chính những cái đó phải thể hiện trong kết quả chơi
2/ Các hành động hay hành động chơi – là những hoạt động thực sự mà người tham gia trò chơi tiến hành để thực hiện vai, nhiệm vụ và vai trò của mình trong trò chơi
3/ Luật chơi hay quy tắc chơi là những quy định nhằm đảm bảo sự địn hướng các hoạt động và hành động chơi vào mục đích chơi hay nhiệm vụ học tập, chỉ ra các mục tiêu và kết quả của các hành động, các phương thức và tính chất của hoạt động và hành động, xác định trình tự và tiến độ của các hành động, tạo ra các tiêu chí điều chỉnh các quan hệ và hành vi của người tham gia và tiêu chí đánh giá hoạt động, hành động chơi có đáp ứng các nhiệm vụ học tập hay không
4/ Đối tượng hoạt động giao tiếp là những thành tố chính của các hoạt động, tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi
5/ Các quá trình, tình huống và quan hệ - là những tiến trình, biến số và khuynh hướng của các hoạt động, hành động chơi, biểu thị tác động của luật chơi Dưới ảnh hưởng của luật chơi, chúng diễn ra như là động thái của trò chơi, nhưng hướng vào mục đích của dạy học [16, tr.396-398]
1.2.2.2 Phân loại trò chơi học tập
a Nguyên tắc chung phân loại trò chơi
a.1 Vấn đề phân loại trò chơi trong khoa học giáo dục
Lâu nay chưa có sự nhất quán trong phân loại trò chơi, cũng không rõ nguyên tắc phân loại Quan điểm phổ biến hiện nay thể hiện trong chương trình, tài liệu giáo khoa, giáo trình, luận văn khoa học là phân chia trò chơi thành các loại:
- Trò chơi học tập (là trò chơi có luật)
- Trò chơi vận động
Trang 23a.2 Nguyên tắc phân loại trò chơi
Đó là vấn đề quan trọng trong lí thuyết và thực tiễn sử dụng trò chơi Những nguyên tắc này không cố định, mà phụ thuộc vào cách tiếp cận khoa học cụ thể, nghĩa là không có một nguyên tắc duy nhất nào cả
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng về trò chơi nói chung, có thể phân loại theo một số cách tiếp cận sau:
❖ Cách tiếp cận văn hóa
- Những trò chơi nhại lại hay phóng tác (Simulations): Đó là sự trừu tượng hóa và tái tạo một mảng hiện thực dưới hình thức chơi, với những đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống mô phỏng nhưng phản ánh nhu cầu giải quyết vấn đề, nhận thức, đánh giá, tạo dựng cái gì đó thiết thực trong cuộc sống của con người
- Những trò chơi sáng tạo hay kiến tạo (games): Đó là tổ hợp những hoạt động được tiến hành theo những luật, quy tắc, phần thưởng hay phần thắng và mục đích chơi mới được đặt ra một cách chủ động, không phụ thuộc vào những tiền lệ một cách trực tiếp Kiểu trò chơi này có thể gồm một vài yếu tố đơn lẻ mang tính chất phóng tác, nhưng chúng không giữ vai trò quan trọng trong mục đích, luật và quy tắc chơi
- Những trò chơi nửa phóng tác nửa sáng tạo (simualated games): Đó là những hoạt động, mục đích và phần thưởng hay giải thưởng thường phỏng theo những tiền lệ đã có, tức là phóng tác những thói thường, nhưng các luật
Trang 24lệ, quy tắc của trò chơi lại là những yếu tố mới được đặt ra, không dựa vào tiền lệ nào có sẵn Và trường hợp ngược lại, trò chơi này gồm các luật lệ, quy tắc phóng tác và những mục đích, cách đặt giải thưởng có tính rất sáng tạo
❖ Cách tiếp cận lịch sử
- Những trò chơi dân gian, có tính truyền thống: Đó là những trò chơi thường đi kèm với lễ hội, liên hoan và sinh hoạt cộng đồng truyền thống – múa lân, chơi cầu mây, thi nấu cơm trên thuyền, chơi trốn tìm, thi vật… Chúng thường có hình thức đặc trưng của văn hóa dân tộc và có nội dung nghiêng về giải trí, tiêu khiển, thư giãn, vui vẻ, bồi dưỡng đời sống tinh thần của con người
- Những trò chơi hiện đại, có tính chất công nghiệp và văn minh phổ biến: Đó là những trò chơi được thiết kế và tổ chức theo phong cách hiện đại,
có sự tham gia của các yếu tố quản lí, công nghệ, nghệ thuật, sư phạm, tâm lí
và các khoa học khác, với nội dung phản ánh các hoạt động, quan hệ, quá trình và tình huống xã hội hiện đại Ví dụ: trò chơi lắp ráp các cấu kiện, mô hình kĩ thuật, trò chơi điện tử như lái xe, bắn sung, các môn thể thao mới xuất hiện… Chúng thường phổ biến ở nhiều nền văn hóa khác nhau và có nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực đương đại
❖ Cách tiếp cận tâm lí
- Những trò chơi thi đấu, có tính chất tranh đua để giành thành tích tốt nhất hoặc vượt qua thử thách một cách xuất sắc nhất Đó là những trò chơi có tập hợp quy tắc, luật lệ chặt chẽ nhằm định rõ mục đích, kết quả hoặc yêu cầu
về thành tích phải vượt qua, buộc những người tham gia phải nỗ lực ganh đua với nhau để giành thành tích cao nhất
- Những trò chơi không thi đấu, không có tính chất thi thố, tranh đua:
Đó là những trò chơi chỉ có mục đích thắng đối thủ, loại đối thủ khỏi cuộc chơi hoặc thắng chính trò chơi, có tính chất “không nhất thì bét”, không thắng
Trang 25thì thua, mà không có quá trình đánh giá, xem xét và xếp hạng thành tích Chẳng hạn các trò đánh cờ vây đôi, đánh cờ với máy tính điện tử, chọi gà, chơi quyền anh, giải các bài toán vui hay lắp ghép các mô hình kĩ thuật… là những trò chơi không thi đấu
❖ Cách tiếp cận chức năng
- Những trò chơi giải trí, tiêu khiển: Đó là kiểu trò chơi có chức năng cứu rỗi, giải tỏa bớt những căng thẳng tâm lí do cộng việc, quan hệ, đời sống lao động và đấu tranh gây ra Chúng có thể có tính chất thi đấu hoặc không thi đấu, có giải thưởng hay không có giải thưởng… Nói chung, các trò chơi giải trí không nhằm mục đích hay lợi ích công việc Ví dụ: đánh bài, thi hát đối, chơi cờ, chơi đố chữ… cốt để vui vẻ trong những lúc rỗi rãi, họp mặt bạn bè, hội hè
- Những trò chơi công vụ: Gồm những trò chơi nhằm mục đích công việc nghiêm túc, trong đó các hoạt động của người tham gia tuy có hình thức
là chơi song nội dung và nhiệm vụ phải giải quyết lại là những công việc nhất định Trò chơi công vụ có luật chơi chỉ là hình thức và chỉ dẫn công việc phải làm, người tham gia hầu như không thực sự tiến hành hoạt động chơi, mà là tiến hành những hoạt động khác
- Những trò chơi dùng sức lực thể chất: Chúng đồng thời có chức năng chủ yếu là cải thiện và phát triển thể chất của người tham gia, về hình thể, sức vóc, sức mạnh cơ thể, khả năng vận động cơ thể, độ khéo léo của chân tay hay
tư thế của thân thể, vận động và chức năng của các giác quan…
- Những trò chơi trí tuệ: Có tác động chủ yếu đến các chức năng và quá trình tâm lí của con người, cải thiện các yếu tố tâm lí đồng thời cũng đòi hỏi người tham gia phải huy động và vận dụng các sức mạnh tâm trí của mình để thực hiện những hoạt động cần thiết trong trò chơi
Trang 26b Phân loại trò chơi
Những hình thái cơ bản của chơi xét theo bản chất tâm sinh lí của nó (chơi đơn độc, chơi song song, chơi hội, chơi hợp tác, chơi chức năng, chơi kiến tạo, chơi tự do, chơi có nghi thức, chơi sao chép lại mẫu, chơi có liên hệ, chơi sáng tạo…) gợi ra rằng cần phân loại trò chơi học tập theo cấu trúc hay chức năng tâm sinh lí của người tham gia trò chơi, đồng thời cũng chính là đối tượng của dạy học
Những chức năng tâm sinh lí chủ yếu của con người xét đến cùng, từ bé cho đến lớn và qua suốt cuộc đời, được thể hiện trong mọi hoạt động, quan
hệ, công việc và những lĩnh vực sinh hoạt khác nhau của cá nhân, là nhận thức, biểu cảm hay thái độ và vận động Ba chức năng này cũng là những lĩnh vực phát triển hay những mục tiêu giáo dục, rèn luyện của học sinh trong quá trình dạy học Như vậy, căn cứ vào chức năng, trò chơi học tập có 3 nhóm sau:
b.1 Nhóm trò chơi phát triển nhận thức
Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, hoàn thành các luật và quy tắc chơi, tuân thủ những yêu cầu
và mục đích chơi, nhờ vậy mà cải thiện và phát triển được khả năng nhận thức, quá trình và kết quả nhận thức của mình Trò chơi phát triển nhận thưc lại được phân thành một số nhóm nhỏ:
- Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: Ví dụ các trò chơi thi xếp hình, ghép hình theo hình dạng, màu sắc; trò chơi nhận dạng các đồ vật, con vật và đối chiếu các sự vật với mẫu, với vật thật, với mô hình, trò chơi phân biệt các sắc thái của màu, phân biệt các bộ phận đồng nhất và khác nhau giữa các sự vật; trò chơi nghe và nhận dạng âm thanh…
- Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: Ví dụ trò chơi kể và tiếp nối các từ đồng nghĩa, các đồ vật, các con vật, các chữ cái: trò chơi nhắc lại
Trang 27các âm, các nốt nhạc, trò chơi nhận lại các hình sau khi quan sát, nhớ lại dãy
số, nhớ lại số lượng hay kích thước của vật…
- Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy: Ví dụ các môn cờ khác nhau, các trò chơi xây dựng, lắp ghép mô hình, các trò chơi có vai (phóng tác), phân vai (theo chủ đề) và đóng kịch; các trò chơi thi giải đố, thi tính toán với các thực nghiệm khoa học; các trò chơi thực hiện những thuật toán như xếp đội hình, giải các bài tập theo chương trình; các trò chơi khoa học vui…
b.2 Nhóm trò chơi phát triển các giá trị
Đó là những trò chơi có nội dung văn hóa, xã hội, trong đó các quan hệ chơi phóng tác hoạt lí tưởng hóa các quan hệ đạo đức, thẩm mĩ, kinh tế, gia đình, chính trị, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự… hiện thực và các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái
độ, tình cảm tích cực, động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất cá nhân của người tham gia
Ví dụ: Các trò chơi phân vai theo chủ đề, các trò chơi đóng kịch, các trò chơi dân gian có tính chất lễ hội, các trò chơi tập thể có tính chất liên hoan như: thi nấu cơm, thi kéo co, thi nhảy múa, thi đọc thơ, thi làm thơ; các trò chơi phóng tác những nghề nghiệp hay quan hệ xã hội… Chúng là môi trường giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm sống, giúp trẻ học và rèn luyện những kĩ năng xã hội, kĩ năng cộng tác…
Một số trò chơi đòi hỏi khả năng đánh giá sự vật hay hành vi, hành động, tính cách con người, khả năng giải đáp những tình huống khác nhau
Trang 28Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi được chơi hơi khác những trò chơi vận động, nó có phạm vi rộng hơn Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi các vận động viên phải tuân theo luật hay quy tắc, và nội dung chơi chủ yếu là vận động Nó đương nhiên có chức năng phát triển vận động Còn trò chơi phát triển vận động vừa gồm các trò chơi vận động vừa gồm những trò chơi khác
Chức năng của cá nhân ngày càng phát triển phân hóa theo sự tăng dần của lứa tuổi và thể hiện cụ thể trong các lĩnh vực hành vi, hoạt động quan hệ thực hiện của con người Dạy học chính là dạy người ta lĩnh hội các phương thức hành vi, hoạt động và quan hệ, hay như chúng ta quen gọi là các mặt giáo dục và phát triển của trẻ em Các lĩnh vực hay các mặt này là tầng phát triển cụ thể hơn tầng chức năng, có nội dung bộ môn chuyên biệt, có tính chất ngành Nếu như các hành vi và hoạt động có cơ cấu ngành (lĩnh vực) thì bản thân cơ cấu đó gợi ý cho ta phân loại và xác định các nhóm trò chơi học tập theo nguyên tắc ngành Điều đó còn có nghĩa nếu cơ cấu ngành thay đổi theo lứa tuổi học sinh, thì hệ thống phải thay đổi …[16, tr.411-415]
1.2.2.3 Chức năng dạy học của trò chơi
- Xây dựng đội chơi: Đó là những trò chơi được sử dụng để cải thiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể Các thành viên sẽ họp lại thành nhóm và làm việc theo nhóm
- Cải thiện khả năng giao tiếp: Loại trò chơi này được thiết kế và sử dụng để người chơi thấy được cái họ cần cải thiện trong khả năng giao tiếp, khi một chương trình về kĩ năng giao tiếp người chơi cần phải đảm bảo tất cả những gì mình đưa ra là đúng và những bản nhận xét là một phần quan trọng của trò chơi Lời nhận xét phải cụ thể và hướng tới những cách cư xử của từng cá nhân khi giải quyết vấn đề
Trang 29- Phát triển kĩ năng thuyết trình: Bao gồm những trò chơi có mục đích giúp người chơi phát triển khả năng đứng trước đám đông hay kĩ năng thuyết trình
Trong khi sử dụng các trò chơi để tăng cường kĩ năng thuyết trình, người chơi cần chớp thời cơ bằng việc thể hiện cá tính của mỗi cá nhân trong nhóm bất cứ khi nào có thể Điều này sẽ phát triển kĩ năng thuyết trình Điều quan trọng là người thuyết trình phải đảm bảo những cá nhân đó được để ý và được báo cáo lại bởi các thành viên khác còn lại trong nhóm Bằng cách quan sát đơn giản các thành viên trong đội sẽ nhận ra những điều mà họ cần Người chơi càng nhìn thấy nhiều phong cách thuyết trình càng tốt
- Rèn luyện trí nhớ: Các hoạt động đòi hỏi phải tái hiện trong thời gian ngắn hoặc dài những kinh nghiệm tri giác, thị giác hoặc thính giác Trí nhớ được trắc định bằng các trò đố, trong đó phải huy động tri thức từ quá khứ để giải đáp những câu hỏi đánh đố Bởi vì trò chơi đố có thể được xây dựng cho tất cả những lĩnh vực học tập trong nhà trường, nên có thể sử dụng chúng như những biện pháp để giúp người chơi tập dượt tri thức đã học trước đây và bằng cách đó nâng cai hiệu suất trí nhớ của họ
- Rèn luyện tính sáng tạo: Hiểu theo nghĩa phát kiến ra một biến thể mới của hoạt động Rõ ràng là các kiểu trò chơi khác biệt nhau ở mức độ độc đáo mà nó khuyến khích hoặc hạn chế Những phương án khác của trò chơi thích hợp nhất cho việc kích thích tính sáng tạo là giải trí bằng đồ họa, vẽ tranh, viết truyện, làm thơ, nghĩ ra các trò đùa, câu đố, mô tả các phát kiến tưởng tượng…
- Học những kĩ năng phán đoán: Chỉ một loại năng lực lường trước những dữ liệu của các hành động có thể xảy ra trong tương lai ở trong một tình huống, và đánh giá những nhân tố nào quyết định xác suất lớn nhất xảy ra điều gì đó
Trang 30- Học kĩ năng đánh lừa: Chỉ một loại năng lực đánh lạc hướng người khác bằng cách tỏ ra dự định một hành động này nhưng thực tế lại thực hiện một hành động khác Năng lực này là sự mở rộng của năng lực dự đoán các
sự kiện, nó đòi hỏi phải ước định được mình có thể dùng những cử chỉ biểu đạt nào để đánh loại được các đối thủ, khiến cho họ phán đoán những sai lầm
về những hoạt động sau đó của mình
- Học và rèn luyện hành vi có luật: Có nghĩa là cá nhân hiểu các luật lệ, quy tắc chi phối hoạt động, tuân theo luật, tôn trọng những thỏa thuận đã nhất trí với nhau để tránh vi phạm luật và làm theo những gì đã nhất trí Mọi trò chơi có thể kích thích những tiến bộ hướng tới những mục tiêu này nhất là trò chơi học tập
- Học cách làm chủ thái độ đối với thành công và thất bại: Có nghĩa là
cá nhân tán thành những phản ứng được chấp nhận về mặt xã hội trước sự thắng và bại Bất cứ hoạt động nào hễ có mục đích vươn tới hoặc có đối thủ
để chiến thắng, đều tạo ra những cơ hội để bồi dưỡng thái độ này
- Cải thiện kĩ năng tự quản: Thông qua các trò chơi cho phép người tham gia biết được họ có thể cải thiện kĩ thuật tự đánh giá bản thân ở chỗ nào
Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm đấn việc cải thiện khả năng tổ chức của người tham gia…[16]
1.2.2.4 Quy tắc sử dụng trò chơi học tập
- Xác định rõ mục tiêu dạy học – giáo dục của mỗi trò chơi: cần làm rõ những gì là nhiệm vụ, quan hệ, nội dung và tình huống chơi, và bên cạnh đó những gì là nhiệm vụ, quan hệ, nội dung và tình huống dạy học – giáo dục
- Trò chơi phóng tác chủ yếu giúp người học nâng cao nhận thức, hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề và cách giải quyết vấn đề mà trong những tình huống chính thức người học khó hoặc không thể tiếp cận được
Trang 31- Trò chơi sáng tạo chủ yếu dạy người học cách suy nghĩ, rèn luyện tính năng động của hành vi, động cơ xã hội trong học tập, tạo ra môi trường áp dụng những tri thức và tư tưởng
- Trò chơi cần được xem như môi trường hoạt động của người học, để học chính nội dung của đề tài, bài học thông qua ứng xử, xử lí, thực hiện hành động với các đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống chơi
- Trò chơi phải có quan hệ chặt chẽ với nội dung học tập và nội dung cần phù hợp với thực tế tổ chức trò chơi
- Chỉ lựa chọn những yếu tố, vấn đề quan trọng, cần thiết và thích hợp với phương thức chơi để đưa vào trò chơi với phán đoán rằng trò chơi sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với giờ học bài bản
- Trong trò chơi các vai chơi và các vai trò của người chơi cần được xác định rõ ràng Đặc biệt phải tránh làm cho người chơi lẫn lộn vai chơi trong các trò chơi phân vai đóng kịch và một số trò chơi phóng tác với vai trò hoạt động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, vai trò trách nhiệm đối với công việc trong quá trình chơi
- Khi đề ra các giải pháp hay kết luận về những vấn đề, tình huống phóng tác (chơi) cần tránh tuyệt đối hóa hoàn cảnh chơi mà phải tìm cách đưa
ra những liên hệ, biến cố dữ liệu của đời sống thực tế vào, nhằm tạo ra sự gần gũi giữa tình huống chơi và tình huống thật
- Trong quá trình chơi, chỉ cho phép một số người chơi tham gia hành động, nhập vai chơi, còn số người chơi quan sát học tập, sau đó đảo lại tiến trình chơi Không thể đưa tất cả người chơi và tình huống chơi và biến trò chơi thành trò giải trí đơn thuần
- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo để có khả năng giải đáp những thắc mắc của người chơi, hướng dẫn và điều chỉnh quá trình chơi, tổ chức tổng thể trò chơi theo đúng thể loại đặc thù của nó
Trang 32- Các quy luật và quy tắc chơi cần tự nhiên đến mức cao nhất, tránh gò
bó và được người học hiểu rõ, chấp nhận trước khi tiến hành chơi
- Cần có sự thảo luận và tổng kết sau trò chơi về 2 điều: nội dung và mục tiêu học tập đạt đến đâu, người học học được gì bổ ích theo yêu cầu dạy học và ngoài yêu cầu dạy học; xử lí tương tác nhóm và rút kinh nghiệm về tổ chức, trách nhiệm cá nhân của người học trong hoạt động
- Thảo luận sau trò chơi cần được kết hợp với giao bài tập, nhiệm vụ về nhà và bước chuẩn bị cho việc học tập tiếp sau
- Trong lúc giao bài tập về nhà, giáo viên nên đặt ra những câu hỏi về hoạt động của người chơi, kết quả và nguyên nhân dẫn các em đến kết quả đó, những ý tưởng và sáng kiến của người chơi trong quá trình tham gia
- Giáo viên cần sử dụng một số biện pháp và hình thức đánh giá kết quả
và hành vi học tập của người học trong các điều kiện của trò chơi và những hoạt động khác nhau dưới hình thức chơi Điều đó giúp giáo viên thu được thông tin ngược cả cho việc dạy học nói chung lẫn cho việc tổ chức hướng dẫn các trò chơi sau này đạt hiệu quả cao hơn [16]
1.2.3.Cơ sở của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4 1.2.3.1 Cơ sở tâm lí học
a Đặc điểm của quá trình nhận thức ở học sinh Tiểu học
❖ Tri giác ở học sinh Tiểu học
Tri giác là quá trình nhận thức tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính, hình ảnh của sự vật hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của
Trang 33trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ
dễ đến khó )
Tri giác không bản thân nó tự phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức [13]
Nhận thức được điều này, chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó
sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
❖ Chú ý ở học sinh Tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm
soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú
ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự
nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Khả năng phát triển của chú ý có chủ định, bền vững, tập trung của học sinh tiểu học trong quá trình học tập là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí
Trang 34Sự chú ý có chủ định được phát triển cùng với sự phát triển động cơ học tập Biết được điều này, các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính
cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ
❖ Trí nhớ ở học sinh Tiểu học
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng
Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm
ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em Nắm được đặc điểm này, giáo viên sẽ chủ động xây dựng các hoạt động để lôi cuốn sự chú ý và tham gia của học sinh, tìm cách làm cho giờ học được hấp dẫn và lí thú, đó chính là tạo ra các động cơ gần để thúc đẩy các em có thái độ tích cực với giờ học
❖ Tư duy ở học sinh tiểu học
Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào các đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể
Trang 35Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Điều đó tạo khả năng tiến hành những khái quát đầu tiên, so sánh đầu tiên, xây dựng suy luận sơ đẳng Trên cơ sở đó học sinh dần dần học tập các khái niệm khoa học [33]
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 học sinh bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
❖ Tưởng tượng ở học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện
Trang 36b Đặc điểm nhu cầu nhận thức ở học sinh tiểu học
Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần Đối với học sinh tiểu học, nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trí tuệ Khi học sinh có nhu cầu nhận thức, nhưng vì một lí do nào đó mà nhu cầu ấy không được thỏa mãn thì các em sẽ thấy bứt rứt khó chịu Nhu cầu nhận thức khi đã được thỏa mãn thì tiếp tục muốn được thỏa mãn hơn nữa
Đó là tính không ngừng nghỉ của nhu cầu này Nhu cầu nhận thức là nguồn năng lượng tinh thần để định hướng và tiến lên trong nhiều tình huống và cảnh ngộ khó khăn, trên con đường khám phá kho tàng tri thức của nhân loại
Quá trình nhận thức không tách khỏi hoạt động thực tiễn của trẻ thơ Vì thế nhu cầu nhận thức của học sinh được thỏa mãn tư duy trong hành động và
tư duy bằng hành động Do vậy, để tổ chức tốt hoạt động học của trẻ thì điều cốt yếu là làm cho nhu cầu này nảy sinh, hình thành và phát triển chứ không phải dùng lí thuyết dài dòng Các nhà tâm lí học cho rằng, nhu cầu nhận thức sẽ được phát triển thuận lợi nếu hoạt động của học sinh không quá căng thẳng thần kinh, không bị những thất bại lặp đi lặp lại trong quá trình học tập Vì thế, chuẩn
bị tâm thế sẵn sàng trong học tập và tổ chức hoạt động học sao cho các em đạt được kết quả sẽ góp phần củng cố, duy trì, phát triển nhu cầu nhận thức
Nắm bắt được điều này, giáo viên cần tổ chức những hoạt động lí thú,
bổ ích, gần gũi với học sinh để kích thích nhu cầu nhận thức cho các em Từ
đó, học sinh hứng thú, say mê tìm tòi kiến thức và hiểu sâu, nhớ lâu những khái niệm, quy tắc tưởng chừng như khô khan Những thành tích dù nhỏ nhưng sẽ tạo cho các em niềm vui và niềm tin vào sức lực và trí tuệ của mình
Tóm lại, lứa tuổi học sinh lớp 4 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi
trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút, chuyển từ hiếu kì, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu các em kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính
Trang 37kỉ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập; phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
1.2.3.2 Cơ sở sinh lí học
a Đặc điểm về mặt cơ thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy
cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư
duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng,
tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104
cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ
là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
Trang 38b Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
❖ Hoạt động của học sinh tiểu học
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
- Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ
vật sang các trò chơi vận động
- Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản
thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa
- Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của
trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong
❖ Những thay đổi kèm theo
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt
là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình
Trang 39Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập
Trò chơi học tập có ý nghĩa rất quan trọng, nó là phương tiện để phát triển trí tuệ, giáo dục một số phẩm chất đạo đức cho học sinh Trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, trò chơi học tập chính là một phương tiện phát triển ngôn ngữ, sự tập trung chú ý của học sinh Trong quá trình chơi, các em phải sử dụng các giác quan và ngôn ngữ (nói to) của mình để thực hiện các thao tác, nhiệm vụ chơi Học sinh lớp 4, 5 sẽ biết chú ý đến nhiệm vụ và luật chơi hơn, tuy nhiên các em vẫn thích thú đến quá trình chơi và kết quả chơi Chính quá trình chơi đó đã giúp học sinh nhận thức được nội dung chơi và giúp các em
sử dụng vốn từ của mình để giải quyết vấn đề một cách phong phú hơn Các trò chơi học tập bằng lời nói kết hợp với hành động chơi đa dạng khi tham gia chơi càng làm tăng hấp dẫn của chúng đối với học sinh Khi chơi các trò chơi này, các em học cách dựa vào những biểu tượng đã có và dùng lời nói giải quyết nhiệm vụ nhận thức trong những hoàn cảnh mới Trên cơ sở những dấu
Trang 40hiệu chung, dần dần học sinh hiểu được ý nghĩa tổng quát của từ và các em có thể độc lập thực hiện nhiệm vụ trí tuệ Việc sử dụng trò chơi học tập với việc phát triển vốn từ giúp học sinh hứng thú với việc học từ mới, bên cạnh đó các
em còn được chơi, quên đi nhiệm vụ chính là học, giúp các em tránh buồn chán và mệt mỏi
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế các trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt lớp 4
1.3.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu, Chính tả
1.3.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
a Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Phân môn Luyện từ và câu chiếm một vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt nói chung và Tiếng Việt lớp 4 nói riêng Phân môn này được hình thành trên cơ sở của hai phân môn cũ trước đây là từ ngữ và ngữ pháp Việc nhập hai phân môn này lại với nhau dựa vào quan điểm tích hợp trong biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học mới Theo quan điểm trên, việc dạy kiến thức tiếng Việt không tách rời việc cung cấp kiến thức của môn học khác Đồng thời các phân môn khác nhau trong Tiếng Việt cùng gắn bó, liên kết chặt chẽ với nhau
Luyện từ và câu là một phân môn khoa học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu và khả năng diễn đạt cho học sinh Việc dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn trong việc hình thành năng lực sử dụng từ và sử dụng câu Việc dạy từ không thể tách rời việc dạy câu Từ và câu có vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ cho chúng ta biết khái niệm, còn câu mới cho chúng ta biết một thông báo Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện khả năng giao tiếp Muốn hiểu rõ những đặc điểm khác nhau về từ, cần đặt từ vào trong câu Ngược lại, câu