Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh .... Nhằm tạo sự tin cậy và hài lòng của phụ huynh khi gửi c
Trang 1i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-
CHÂU KIM THANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC CHÍ LINH QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-
CHÂU KIM THANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC CHÍ LINH QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoài
HÀ NỘI – 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện đề tài luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô và các anh chị công tác tại Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Phú Nhuận, Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, giáo viên của trường tiểu học Chí Linh trong quá trình tiến hành khảo sát
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Cô giáo hướng dẫn, TS Trần Thị Hoài đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới các Thầy, Cô giáo đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức quý giá trong hai năm học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Châu Kim Thanh
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Trần Thị Hoài Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Câu hỏi nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Phương pháp 4
8.1 Phương pháp luận 4
8.2 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Những đóng góp của đề tài 6
10 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TIỂU HỌC 8
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức 12
1.2.2 Hoạt động giáo dục đạo đức 14
1.2.3 Quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 15
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học 18
1.4 Hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường 22
1.4.1 Vị trí vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 22
1.4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 23
1.4.3 Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 26
1.4.4 Đặc điểm học sinh tiểu học 28
1.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học 30
1.5.1 Nội dung và phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 30
1.5.2 Chủ thể quản lý các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 35
1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 36
Trang 6iv
Tiểu kết Chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC CHÍ LINH QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43
2.1 Khái quát tình hình kinh tế-xã hội và giáo dục quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh 43
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế- xã hội quận Phú Nhuận 43
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục của quận Phú Nhuận 44
2.2 Khái quát về Trường tiểu học Chí Linh và Quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh 46
2.2.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên 46
2.2.2 Học sinh 47
2.2.3 Hoạt động giáo dục tư tưởng 47
2.2.4 Cơ sở vật chất 47
2.2.5 Thuận lợi và khó khăn 47
2.3 Khảo sát vấn đề nghiên cứu 48
2.3.1 Phương pháp khảo sát 48
2.3.2 Nội dung khảo sát 49
2.3.3 Đối tượng khảo sát 49
2.3.4 Tiến hành khảo sát 49
2.4 Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận-thành phố Hồ Chí Minh 50
2.4.1 Thực trạng đạo đức của học sinh Trường tiểu học Chí Linh 50
2.4.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Trường tiểu học Chí Linh 59
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học Chí Linh 65
2.5.1 Thực trạng kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức 65
2.5.2 Thực trạng về công tác tổ chức giáo dục đạo đức 65
2.5.3 Thực trạng về chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công tác giáp dục đạo đức 66
2.5.4 Những lý do làm hạn chế hiệu quả của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Trường tiểu học Chí Linh 68
2.5.5 Thực trạng đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trường gia đình xã hội 69
2.5.6 Thực trạng về việc quản lý các hoạt động tự quản của các tập thể học sinh 70
2.5.7 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường tiểu học Chí Linh 71
Tiểu kết Chương 2 74
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC CHÍ LINH QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 76
3.1 Nguyên tắc để xác định biện pháp 76
Trang 7v
3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 76
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 76
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 76
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh 77
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về hoạt động giáo dục đạo đức cho cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh trong bối cảnh hiện nay 77
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 81
3.2.3 Biện pháp 3:Tổ chức lựa chọn và bồi dưỡng năng lực thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm 86
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng công tác tự quản của học sinh trong các hoạt động tập thể và vui chơi giải trí 89
3.2.5 Biện pháp 5: Quản lý công tác thi đua khen thưởng cho các tập thể và chuẩn hóa công tác đánh giá đạo đức cho học sinh 91
3.2.6 Biện pháp 6: Xây dựng và phát triển môi trường sư phạm nhằm thực hiện tốt quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh 95
3.2.7 Biện pháp 7: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục đạo đức học sinh 99
3.2.8 Biện pháp 8: Đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội 101
3.2.9 Mối quan hệ giữa các biện pháp 104
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất 105
Tiểu kết Chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
1 Kết luận 110
2 Kiến nghị 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 116
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng kết quả xếp loại học lực và hạnh kiểm của học sinh
Trường tiểu học Chí Linh trong 2 năm 48
Bảng 2.2: Bảng thăm dò ý kiến của học sinh về sự cần thiết của GDĐĐ 50
Bảng 2.3: Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức cần giáo dục cho học sinh tiểu học hiện nay 51
Bảng 2.4: Thái độ của học sinh với những quan niệm về đạo đức 52
Bảng 2.5: Số học sinh vi phạm đạo đức trong hai năm học 2013-2014, 2014-2015 55
Bảng 2.6: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi tiêu cực đạo đức của học sinh 56
Bảng 2.7: Nhận thức của giáo viên chủ nhiệm về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 59
Bảng 2.8: Nhận thức của giáo viên bộ môn về mức độ cần thiết của các hoạt động GDĐĐ cho học sinh 60
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp đánh giá thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức 61
Bảng 2.10: Mức độ sử dụng các phương pháp giáo dục đạo đức chủ yếu 62
Bảng 2.11: Các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh 64
Bảng 2.12: Thực trạng kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức 65
Bảng 2.13: Thực trạng chỉ đạo kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh 66
Bảng 2.14: Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 68
Bảng 2.15: Mức độ phối hợp giữa ban giám hiệu với các lực lượng ngoài nhà trường 69
Bảng 3.1: Khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp quản lý được đề xuất 106
Bảng 3.2: Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 107
Trang 10đức và tài năng: “Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà
không có đức thì vô dụng”
Điều 2 Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
2005 có nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định yếu tố con người vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển Đầu tư vào con người, cho con người để phát triển khoa học kỹ thuật tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước là vô cùng quan trọng
và là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân đồng thời
có trách nhiệm lớn lao đào tạo con người phát triển toàn diện vừa có đức vừa có tài Hoạt động giáo dục trong nhà trường không chỉ có “dạy chữ” mà phải coi trọng việc “dạy người” Người được đào tạo ra không những phải có tài năng mà cần có đạo đức Mối liên hệ giữa Tài và Đức không thể xem nhẹ cái nào Một người có Tài mà không có đạo đức, không hết lòng dùng tài năng của mình để phục vụ đất nước thì tài năng đó cũng chẳng để làm gì Một người không tôn trọng thầy cô, yêu quý ông bà cha mẹ thì tài năng đó cũng chỉ phục vụ cho bản thân người đó Điều này là nỗi trăn trở của ngành giáo dục, phụ huynh gửi con vào trường nhằm để đào tạo cho con em họ có tài năng và cả đạo đức Hai cái
Trang 112
này không tách rời nhau, một học sinh ngoan thì không đánh nhau, tôn trọng thầy cô, tuân theo nội quy nhà trường Vậy những học sinh còn lại thì chưa ngoan cần có sự quản lý dạy học sao cho đạo đức dễ dàng được các em tiếp thu
và thực hiện một cách nghiêm túc
Đặc biệt chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ chính trị ngày 07 tháng 11 năm
2006 về tổ chức cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã cho thấy việc quan tâm sâu sát của Đảng và nhà nước về GDĐĐ
Trong công cuộc đổi mới, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, như báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu: “ Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hóa và
sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội” làm ảnh hưởng đến đạo đức truyền thống của dân tộc Việt nam
Trong xã hội hiện nay một bộ phận trong lứa tuổi học sinh có phần sa sút
về đạo đức dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khi các em còn đang ngồi trên ghế nhà trường Nếu không được giáo dục tốt sẽ dẫn đến có những hành vi tự phát thiếu văn hóa, phi đạo đức, do ý thức không kiềm chế được bản năng Trong nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã nêu: “ Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chưa tốt này đó là công tác quản lý hoạt động GDĐĐ Vì vậy, việc GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường phải được coi trọng ngay từ những lớp học đầu tiên của tiểu học
GDĐĐ cho học sinh ở Tiểu học là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng và hình thành cho trẻ em về những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mức xã
Trang 12cách của việc học trong chế độ mới chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bây giờ phải
học; học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức”
Xuất phát từ phân tích trên, với trách nhiệm của nhà giáo trong ngành giáo dục, tác giả luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh Là một người Hiệu trưởng tác giả phải có trách nhiệm quản lý hoạt động GDĐĐ nhằm giúp cho việc GDĐĐ cho học sinh được thực hiện một cách hiệu quả nhất Nhằm tạo sự tin cậy và hài lòng của phụ huynh khi gửi con em vào học trưởng mình, vừa có kiến thức, vừa là người có đạo đức và tác giả đã
chọn đề tài: “ Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường tiểu học Chí Linh - Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh ” làm đề tài
nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường tiểu học quận Phú Nhuận để xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần giáo dục toàn diện nhân cách học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động GDĐĐ cho học sinh các
trường Tiểu học, công tác quản lý đối với hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường Tiểu học
Trang 134
3.2 Khảo sát thực trạng hoạt động GDĐĐ của học sinh trường tiểu học
Chí Linh, Quận Phú Nhuận, công tác quản lý đối với hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận,đồng thời phân tích nguyên nhân của thực trạng
3.3 Trên cơ sở thực trạng và nguyên nhân đề xuất một số biện pháp quản
lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường tiểu học Chí Linh
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh Trường tiểu học
Chí Linh,Trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận
4.2 Khách thể: Hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí
Linh, Quận Phú Nhuận
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường tiểu học Chí Linh
có vấn đề gì cần phải cải tiến và bổ sung?
6.2 Chứng minh phương pháp quản lý làm nâng cao chất lượng đạo đức
cho học sinh?
7 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động GDĐĐ ở trường tiểu học Chí Linh, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Nếu có những biện pháp quản lý đồng bộ, phù hợp và có tính khả thi sẽ khắc phục được các tồn tại và nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh
8 Phương pháp
8.1 Phương pháp luận
Trang 145
8.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
- Quản lý hoạt động giáo dục cùng với các nội dung khác như : quản lý hoạt động dạy, quản lý hoạt động học, quản lý cơ sở vật chất, quản lý nhân sự
là các thành tố của quản lý trường học Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau để đạt được mục tiêu quản lý nhà trường
- Quản lý hoạt động GDĐĐ cùng với quản lý hoạt động giáo dục trí tuệ, thẩm mỹ, thể dục là một thành tố của quản lý hoạt động giáo dục
- Bản thân, quản lý hoạt động GDĐĐ là một hệ thống hoàn chỉnh, gồm nhiều thành tố như mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, biện pháp quản lý và kiểm tra, đánh giá Chủ thể quản lý hoạt động GDĐĐ gồm nhiều lực lượng, trong đó có người Hiệu trưởng trường tiểu học
- Các biện pháp quản lý trong từng nội dung quản lý cũng được xây dựng theo một cấu trúc chỉnh thể từ mục đích, nội dung, điều kiện thực hiện, kiểm tra đánh giá
8.1.2 Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ kết quả khảo sát, đánh giá thực tiễn công tác quản lý hoạt động GDĐĐ tại các trường tiểu học quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ của Hiệu trưởng phù hợp, khả thi đối với các trường tiểu học trên địa bàn
8.1.3.Quan điểm lịch sử - logic
GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ của Hiệu trưởng chịu sự ảnh hưởng lớn từ đặc điểm phát triển văn hóa – kinh tế - xã hội ở cả hiện tại và tương lai Chính vì vậy, khi nghiên cứu cần xem xét vấn đề trong quá trình lịch sử với những điều kiện cụ thể của từng giai đoạn Đồng thời, công tác chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều lực lượng giáo dục nên các lực lượng này tác động bằng nhiều biện pháp, hình thức khác nhau nhưng phải cùng đi tới chung một mục đích giáo dục nhân cách toàn diện của người học sinh tiểu học
8.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 156
8.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá những nguồn tài liệu liên quan tới đề tài nghiên cứu (tài liệu, công trình nghiên cứu, sách báo, chính sách của Đảng và Nhà nước….) nhằm xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết, cơ sở lý luận của đề tài
8.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Mục đích: Thu thập ý kiến mô tả thực trạng nội dung quản lý hoạt động
GDĐĐ các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ của Hiệu trưởng Tiểu học Chí Linh Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung: Khảo sát về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục; những
nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế; yếu tố ảnh hưởng tới công tác này; khảo nghiệm mức cần thiết và khả thi của các biện pháp đề tài đề xuất
Đối tượng: Ban giám hiệu và giáo viên trường tiểu học Chí Linh, Quận
Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh
Công cụ: 02 bộ phiếu hỏi, một bộ dành cho cán bộ quản lý và một bộ dành
cho giáo viên
8.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các văn bản lập hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động GDĐĐ những báo cáo tổng kết hàng năm và 5 năm của nhà trường về nội dung GDĐĐ nhằm minh họa cho các số liệu điều tra
8.2.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng lý thuyết thống kê toán học để mô tả dữ liệu (%, điểm trung bình,
độ lệch chuẩn) và phân tích, so sánh giữa 2 giá trị trung bình (kiểm chứng t-test) qua phần mềm SPSS 16.0
9 Những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận giúp cho nhà quản lý có cách nhìn nhận, thực hiện và đánh giá công tác quản lý GDĐĐ ở nhà trường phổ thông trên cơ sở khoa học giáo dục
Trang 167
Về mặt thực tiễn đóng góp tích cực vào mục tiêu giáo dục hài hoà toàn diện ở trường tiểu học Chí Linh, nhất là vấn đề GDĐĐ
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ của học sinh trường Tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 178
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo quan điểm của học thuyết Mác – Lênin : Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ảnh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực nhằm hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu … Các chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định Bất kỳ trong thời đại nào, đạo đức con người cũng được đánh giá theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển của sản xuất, các mối quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn
Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học [10, tr 34]
Khổng Tử (551-478 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc Ông xây dựng học thuyết “Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người- là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay
“Tiên học lễ, hậu học văn”[10, tr 21]
Trang 189
Thế kỷ XVII, Komemxky- Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” Komemxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho HS [23]
Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu
về GDĐĐ HS như: A.C Macarenco, V.A Xukhomlinxky… Nghiên cứu cho việc GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô
Ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ cho cán bộ, HS Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Bác cũng căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, HS thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng’’ vừa “chuyên”
Từ sau cách mạng tháng 8/1945 và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nền GD nhà trường của chúng ta luôn thấu triệt tư tưởng GDĐĐ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, chính vì thế mà sản phẩm của nền GD Việt Nam giai đoạn này là những người có đức, có tài, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ lý tưởng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa
xã hội
Ngày nay trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập toàn cầu, thực
hiện CNH- HĐH đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề GDĐĐ Trong
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V ban chấp hành TW khóa VIII (07/1998) Đảng ta
đã xác đinh chiến lược xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ X ban chấp hành trung ương TW khóa 9 (07/2004) Đảng ta tiếp tục xác định nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ mới đó là:
“Đẩy mạnh giáo dục xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng lòng yêu nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực trí tuệ con người Việt Nam, đủ sức thực hiện thành công sự nghiệp CNH- HĐH đất nước” [11, tr
60] Đồng thời Hội nghị còn nhấn mạnh 2 trong 3 nhiệm vụ trọng tâm đó là:
“tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời
Trang 1910
sống văn hóa lành mạnh trong xã hội…” và “nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính được xác định trong nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)” [8,tr 65]
Đặc biệt là gần đây nhất, Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã phát động cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh”; Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã kịp thời phát động cuộc vận động
“Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; Hai
cuộc vận động lớn này đã và đang có những tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa, tinh thần của toàn xã hội, đến nền GD nước nhà, đặc biệt là công tác GDĐĐ cho học sinh
Từ vấn đề lí luận cũng như thực tiễn, GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường đã rất được quan tâm Trong những năm gần đây ở Việt Nam
đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường đã rất được quan tâm Trong đó có những công trình tiêu biểu như:
Đề tài: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH” của tác
giả Phạm Minh Hạc
Nghiên cứu của giáo sư đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH; đồng thời đưa ra các giải pháp về GDĐĐ cho học sinh
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các học giả trên đã đưa ra những vấn đề lý luận, hướng nghiên cứu và những định hướng rất cơ bản, quan trọng cho công tác GDĐĐ công dân và GDĐĐ cho HS
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiểm (Nxb Chính trị Quốc gia, 1997); Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng (Nxb Giáo dục, 2001); Giáo trình đạo đức học…
Khi nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp GDĐĐ và một số vấn đề về quản lý công tác GDĐĐ
Về mục tiêu GDĐĐ, Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi người
Trang 2011
những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hóa xã hội Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xẩy ra xung quanh Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành qui định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” [ 18,tr.168]
Để nâng cao chất lượng đạo đức trong thời kỳ đổi mới đó có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ Tuy còn ít ỏi nhưng có thể kể đến:
- Luận văn “Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh các trường trung học phổ thông Thành phố Hải Phòng” Trần Thị Quang (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2003)
- Luận văn “Biện pháp tổ chức phối hợp giữa gia đình với nhà trường và
xã hội trong công tác GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông Huyện Mỹ Đức (Hà Tây) hiện nay” Bùi Đức Thảo (Khoa Sư phạm Đại học quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 2008)
- Luận văn “Các biện pháp quản lý công tác giáo dục của hiệu trưởng trường trung học phổ thông Tỉnh Hưng Yên” Đỗ Quang Hợp (Khoa Sư phạm, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2007)
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ, định hướng các giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ cho học sinh trung học phổ thông
Đặc biệt, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản
lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh Tiểu học Chí Linh nói riêng Vì vậy tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường tiểu học Chí Linh - Quận phú nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh” với
hy vọng đây là sự kế thừa cần thiết các nghiên cứu đi trước và cùng góp phần
Trang 2112
thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ trường tiểu học Chí Linh, cũng như các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.2.1.1 Đạo đức
Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của
ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các
quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [21, tr 145]
Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của
con người với con người [17, tr 170-171] Phạm Minh Hạc (2001), Về phát
triển con người toàn diện thời kỳ Công nghiệp hóa -Hiện đại hoá, nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [21, tr 153-154]
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp
Trang 22Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không
có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay
là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến
bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có nếp sống văn minh lành mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế vật chất xã hội, đồng thời nó cũng có quan hệ tương tác với các hình thái ý thức xã hội khác như pháp luật, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học,v.v Vì vậy trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách có 3 thành tố:
- Hành vi đạo đức
- Hành vi pháp luật
- Hành vi văn hoá
Xuất phát từ mối liên hệ biện chứng giữa các hình thái ý thức đã trình bày
ở trên thì việc GDĐĐ trong nhà trường cần được hiểu theo một khái niệm rộng
Trang 2314
là bao gồm hành vi đạo đức, hành vi pháp luật và hành vi văn hoá
1.2.1.2 Giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến
các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”
GDĐĐ là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng
“Giáo dục đạo đức cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng
của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” [7, tr 128]
Ngày nay, GDĐĐ cho học sinh là GDĐĐ xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
1.2.2 Hoạt động giáo dục đạo đức
Quá trình GDĐĐ cho học sinh bao gồm tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong Có thể hiểu rằng có bao nhiêu mối quan hệ trong nhà trường và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động thì có bấy nhiêu yếu tố tác động đến học sinh Đó là gia đình, nhà trường và xã hội Mỗi lực lượng có tầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phương pháp và tính ưu việt riêng
- Gia đình là một tế bào xã hội, là nơi lưu giữ và phát triển vững chắc nhất giá trị truyền thống Từ gia đình có thể giáo dục tất cả các lứa tuổi lòng kính yêu cha mẹ, người thân trong gia đình, yêu thương đồng loại Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc và là chỗ dựa tinh thần cho mỗi thành viên
- Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ,
Trang 24- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng, [26, tr 7]
Hồ Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo dục đạo đức, nhà xuất bản Hồ Chí
Minh.Trong các lực lượng giáo dục nhà trường có vai trò chủ đạo, là trung tâm
tổ chức phối hợp và dẫn dắt công tác giáo dục bởi vì:
+ Nhà trường là cơ quan thuộc sự quản lý của Nhà nước, được sự lãnh đạo trực tiếp và chặt chẽ của Đảng, nắm quan điểm và đường lối giáo dục xã hội chủ nghĩa, có đội ngũ chuyên gia sư phạm xã hội chủ nghĩa
+ Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách
+ Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc và tổ chức chặt chẽ
+ Nhà trường có lực lượng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp
+ Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác dụng tích cực trong quá trình GDĐĐ
1.2.3 Quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.3.1 Quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có mục đích của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể tới đối tượng quản lý để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao; để họ làm những điều bổ ích, việc có lợi… nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra
Trang 2516
+ Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận
+ Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không ngừng phát triển
+ Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực
Mục tiêu quản lý là định hướng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công cụ để đánh giá kết quả quản lý Để thực hiện những mục tiêu đó, quản lý phải thực hiện bốn chức năng: Kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá
Nói cách khác, biện pháp quản lý là cách thức cụ thể để thực hiện một
mục tiêu cụ thể trong quá trình quản lý, bản thân mỗi biện pháp có thể bao gồm
một tập hợp các việc làm, tác động cụ thể Các biện pháp quản lý thường được
đề xuất để giải quyết một loạt vấn đề trong mỗi quá trình quản lý một hệ thống (một cơ sở đào tạo, một hệ thống giáo dục…) nên thường được đưa ra dưới dạng
một biện pháp, trong đó mỗi biện pháp có một vai trò nhất định và có mối quan
hệ với việc thực thi các biện pháp khác
Các biện pháp quản lý thường được phân loại theo các dạng cơ bản của các phương pháp quản lý (các biện pháp hành chính- tổ chức/ các biện pháp
Trang 2617
kinh tế/ các biện pháp xã hội- tâm lý); hoặc theo các chức năng của quá trình quản lý (các biện pháp tác động và khâu kế hoạch hóa/ các biện pháp tác động
và khâu tổ chức- triển khai/ các biện pháp kiểm tra, đánh giá)… các trường hợp
để nhấn mạnh vai trò một yếu tố, một khâu, một tình huống nào đó… người ta cũng dành riêng một biện pháp trong hệ biện pháp để ưu tiên xử lý
Biện pháp quản lý giáo dục thể hiện tính năng động sáng tạo của chủ thể quản lý trong các điều kiện công tác thực tế của một cơ sở giáo dục - đào tạo cụ thể, nhằm giúp cho nhà quản lý thực hiện các phương pháp quản lý quá trình giáo dục Hiệu quả quản lý phụ thuộc rất nhiều vào việc chọn lựa đúng và áp dụng linh hoạt các biện pháp
1.2.3.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Từ các khái niệm về quản lý và hoạt động GDĐĐ cho học sinh tiểu học có thể đi đến khái niệm về biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tiểu học như sau:
Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh TH là hệ thống những tác động có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu, các
bộ phận của nhà trường nhằm giúp nhà trường sử dụng tối ưu các tiềm năng, các
cơ hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu quản lý GDĐĐ cho học sinh ở cấp học này
Đó là một quá trình, bao gồm nhiều cấp độ và nhiều phạm vi:
- Về cấp độ
Quản lý công tác GDĐĐ cấp hệ thống giáo dục quốc gia: Đây chính là công tác GDĐĐ cho thế hệ trẻ, với tư cách một nhiệm vụ giáo dục cơ bản nhằm thực hiện mục đích giáo dục toàn diện nhân cách Ở cấp độ này, quản lý công tác GDĐĐ là công tác quản lý hệ thống xã hội, mà nòng cốt là hệ thống nhà trường, các bậc học, các cấp học, thuộc các cấp quản lý vĩ mô (quốc hội, chính phủ, các đoàn thể, các cơ quan quản lý nhà nước
Quản lý công tác GDĐĐ học sinh
Cấp cơ sở giáo dục- đào tạo (các nhà trường) là quản lý các hoạt động
Trang 27- Mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ học sinh tiểu học
- Nội dung cơ bản của quản lý GDĐĐ học sinh tiểu học
- Các phương pháp, phương tiện quản lý GDĐĐ học sinh tiểu học
- Quản lý GV
- Quản lý HS
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả GDĐĐ học sinh tiểu học
- Quản lý đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa gia đình - nhà trường
- Xã hội trong GDĐĐ học sinh tiểu học
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học
Trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực ở Việt Nam nhằm đưa đất nước trở thành một nước phát triển, mở
ra những khả năng mới để con người được hưởng cuộc sống độc lập, tự do, ấm
no, hạnh phúc trong một đất nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vấn đề con người mà cụ thể là nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn vững vàng và phẩm chất đạo đức trong sáng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Đây là nhiệm vụ quan trọng của các nhà trường phổ thông Do đó, ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật giáo dục
số 38/2005/QH11 có nói: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự
Trang 2819
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [14 tr.25]
- Luật giáo dục 2005 đã xác định: “Mục tiêu giáo dục là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và tính sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ”
- Theo Điều 5 Luật giáo dục qui định: “Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản toàn diện, thiết thực, hiện đại có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học” [30, tr 9]
- Điều 28 của luật Giáo dục (2005) nêu rõ “Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học…
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp đặc điểm với từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[30, tr 22-23]
- Để đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, thì giáo dục và khoa học công nghệ có vai trò quyết định Trong quan điểm chỉ đạo phát triển chiến lược giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 lại tiếp tục nhấn mạnh: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân, đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục
Trang 2920
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
- Theo điều lệ trường tiểu học, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; các hoạt động
xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh”
Công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên Điều 93 Luật Giáo dục
2005 khẳng định “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và
xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”
Hiện nay, công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy được sức mạnh tổng hợp và huy động được các nguồn lực trong xã hội tham gia ngày càng tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, công tác phối hợp còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng kịp với nhu cầu về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng một số trẻ em chưa được hưởng điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt nhất; vẫn tồn tại một bộ phận học sinh, sinh viên có biểu hiện vi phạm về đạo đức, có lối sống hưởng thụ, vướng vào các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật Trước tình hình
đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chỉ thị Số: BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị
Trang 3071/2008/CT-21
chung cho các nhà trường như sau:
Thường xuyên giữ mối liên hệ với gia đình, cơ quan, tổ chức, đoàn thể
có liên quan để kịp thời xử lý thông tin thường xuyên, đột xuất liên quan đến học sinh, sinh viên
Phối hợp trong việc tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao, vui chơi lành mạnh trong nhà trường và tại địa phương, đặc biệt vào các dịp khai giảng, kết thúc học kỳ, kết thúc năm học, nghỉ hè hằng năm
Nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến từ phía gia đình, cơ quan, tổ chức, đoàn thể có liên quan trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên
Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, phát huy tính tích cực của HS trong học tập, rèn luyện và chủ động tham gia các hoạt động xã hội; rèn luyện kỹ năng sống và định hướng nghề nghiệp cho HS; tăng cường giáo dục cho HS ý thức, thái độ học tập chủ động, nghiêm túc
Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn như Công an, Giao thông, Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Giáo chức, Hội Cựu Chiến binh, Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ, Ban đại diện cha mẹ HS và các tổ chức có liên quan trong việc giáo dục HS trong và ngoài nhà trường
Nâng cao trách nhiệm, phát huy tiềm năng giáo dục của các tổ chức, đoàn thể trong trường: Tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong việc GDĐĐ, pháp luật cho HS
Vấn đề GDĐĐ cho HS không chỉ được Đảng, Nhà nước quan tâm mà ngành giáo dục cũng rất quan tâm đến vấn đề này Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành chỉ thị Số: 4899/CT-BGDĐT, ngày 04 tháng 8 năm 2009 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, Giáo dục thường xuyên
và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009 - 2010 Năm học 2009 - 2010 được xác định là “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục " Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thực hiện ba cuộc vận động và phong trào
Trang 3122
thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực" trong toàn ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là GDĐĐ, nhân cách và kỹ năng sống cho HS
1.4 Hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường
1.4.1 Vị trí vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang tiến hành cải cách giáo dục, đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông, hướng vào thực hiện giáo dục có chất lượng cao để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, nhà trường có vai trò quan trọng, giữ vị trí đặc biệt trong giáo dục
* GDĐĐ cho thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, song giáo dục ở nhà trường giữ vai trò chủ đạo GDĐĐ trong nhà trường là quá trình giáo dục bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các bộ phận khác:
- GDĐĐ tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường và xã hội, con người và cuộc sống
* Nhà trường tiểu học coi GDĐĐ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Mục đích giáo dục của nhà trường không ngoài mục đích hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Ở nhà trường GDĐĐ cho học sinh là hình thành ý thức đạo đức, hành vi thói quen đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi thói quen đạo đức của học sinh theo những nguyên tắc đạo đức dân tộc, đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa
Trang 3223
GDĐĐ ở trường tiểu học là một hoạt động có tổ chức có mục đích, có kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức cá nhân học sinh, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội Quản lý tốt hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường tiểu học là góp phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục-đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH là
“Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội”
1.4.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.3.2.1 Mục tiêu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
- Hiểu những yêu cầu về đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật trong đời sống hàng ngày
b) Kỹ năng
- Biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức đã học
- Biết ứng xử giao tiếp có văn hóa
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân phù hợp với lứa tuổi
c) Thái độ
- Yêu quê hương, đất nước Việt Nam, tự hào có ý thức giữ gìn, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tôn trọng đất nước con người và các nền văn hóa khác
Trang 3324
- Yêu thương, tôn trọng mọi người xung quanh
- Tự trọng, tự tin trong giao tiếp và các hoạt động hàng ngày Có ý thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của bản thân, đồng thời tôn trọng các quyền của người khác
- Có ý thức học tập và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Có ý thức định hướng hướng nghề nghiệp đúng đắn Bước đầu hình thành được một số phẩm chất cần thiết của người lao động như cần cù, sáng tạo, trung thực, có trách nhiệm, có ý thức kỷ luật và có tác phong công nghiệp, biết hợp tác trong công việc
- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với khả năng
- Có ý thức rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh bảo vệ môi trường
- Bước đầu có ý thức thẩm mỹ, yêu và trân trọng cái đẹp
1.3.2.2 Các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Giáo dục là quá trình giáo dục để hình thành nhân cách thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng các con đường sau đây:
Con đường thứ nhất: Giáo dục thông qua dạy học Một trong những con
đường quan trọng nhất để giáo dục thế hệ trẻ là đưa học sinh vào học tập trong nhà trường Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà
sư phạm đã được đào tạo chu đáo thực hiện Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có một tập thể học sinh cùng nhau học tập, rèn luyện và tu dưỡng Trong nhà trường, học sinh được trang bị một khối lượng lớn tri thức khoa học, được tiếp thu những khái niệm đạo đức, văn hóa, thẩm mỹ, những quy tắc, những chuẩn mực xã hội thông qua các môn học Nhờ học tập và thực hành theo những chương trình nội, ngoại khóa mà kỹ năng lao động trí óc chân tay được hình thành, trí tuệ được mở mang, nhân cách được hoàn thiện Dạy học là con đường giáo dục chủ động, ngắn nhất và có hiệu quả, giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời Con người được đào tạo chính quy bao
Trang 3425
giờ cũng thành đạt hơn những người không được học tập chu đáo Dạy học là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục
Con đường thứ hai: Giáo dục thông qua các tổ chức hoạt động phong phú
và đa dạng: Toàn bộ cuộc sống của con người là một hệ thống liên tục hoạt động
và con người lớn lên cùng các hoạt động đó Vì thế, đưa con người vào các hoạt động thực tế phong phú và đa dạng là con đường giáo dục tốt Con người có nhiều dạng hoạt động như; vui chơi, lao động sản xuất, hoạt động xã hội… mỗi dạng hoạt động có những nét đặc thù và đều có tác dụng giáo dục…
Con đường thứ ba: Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể: Tổ chức cho học
sinh sinh hoạt tập thể là hoạt động giáo dục quan trọng của nhà trường Tập thể
là một tập hợp nhiều cá nhân cùng hoạt động theo một mục đích tốt đẹp Hai yếu
tố quan trọng của tập thể có ý nghĩa giáo dục lớn là chế độ sinh hoạt và dư luận tập thể Chế độ sinh hoạt tập thể hợp lý, với kỷ luật nghiêm, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và nề nếp tạo nên thói quen sống có văn hóa, hình thành ý chí
và nghị lực Dư luận tập thể lành mạnh luôn trợ giúp con người nhận thức những điều tố đẹp, điều chỉnh hành vi cuộc sống có văn hóa Trong cuộc sống tập thể các cá nhân cùng nhau hoạt động, tinh thần đoàn kết, tinh thần thân ái, tính hợp tác cộng đồng được hình thành, đó là những phẩm chất quan trọng của nhân cách Trong sinh hoạt tập thể, một mặt các cá nhân tác động lẫn nhau, mặt khác
là sự tác động của các nhà sư phạm qua tập thể, tạo thành tác động tổng hợp có tác dụng giáo dục rất lớn Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người, tổ chức tốt các hoạt động tập thể là con đường đúng đắn
Con đường thứ tư: Tự tu dưỡng: Nhân cách được hình thành bằng nhiều
con đường trong đó có tự tu dưỡng hay còn gọi là tự giáo dục.Tự tu dưỡng biểu hiện ý thức và tính tích cực cao nhất của cá nhân đối với cuộc sống Tự tu dưỡng được thực hiện khi cá nhân đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định, khi đã tích lũy được những kinh nghiệm sống, những tri thức phong phú Tự tu dưỡng
là kết quả của quá trình giáo dục, là sản phẩm của nhận thức và sự tạo lập những thói quen hành vi, là bước tiếp theo và quyết định của quá trình giáo dục Giáo
Trang 35Các con đường giáo dục không phải là riêng rẽ, tách rời mà là một hệ thống gắn bó với nhau, chúng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đạt được mục tiêu giáo dục xã hội Phối hợp các con đường giáo dục chính là nguyên tắc giáo dục phức hợp và cũng là nghệ thuật giáo dục
1.4.3 Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.4.3.1 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học bao gồm những chuẩn mực sau
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức chính trị, tư tưởng: có ý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước
- Nhóm chuẩn mực hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc đó là: trách nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết
- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống (môi trường
tự nhiên, môi trường văn hóa xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ tài nguyên, xây dụng xã hội dân chủ bình đẳng… mặt khác có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người, môi trường sống, bảo vệ hòa bình, bảo vệ phát huy truyền thống di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại
Ngày nay, trong nội dung GDĐĐ cho học sinh tiểu học có thêm một số chuẩn mực mới như tính tích cực xã hội, quan tâm đến thời sự, sống có mục đích, có tinh thần hợp tác với bạn bè, với người khác…
Trang 3627
1.4.3.2 Phương pháp giáo dục đạo đức
Phương pháp GDĐĐ là cách thức hoạt động chung giữa giáo viên, tập thể học sinh và từng học sinh nhằm giúp học sinh lĩnh hội được nền văn hóa đạo đức của loài người và dân tộc
Các phương pháp GDĐĐ ở TH rất phong phú, đa dạng, kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và hiện đại như:
- Phương pháp đàm thoại: Là phương pháp tổ chức trò chuyện giữa giáo viên và học sinh về các vấn đề đạo đức, dựa trên một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước
- Phương pháp kể chuyện: dùng lời nói, cử chỉ, điệu bộ để mô tả diễn biến, quan hệ giữa các sự vật, sự việc theo câu chuyện nhằm hình thành ở học sinh những xúc cảm đạo đức, xúc cảm thẩm mỹ mạnh mẽ, sâu sắc
- Phương pháp nêu gương: dùng những tấm gương sáng của cá nhân,tập thể để giáo dục, kích thích học sinh học tập và làm theo những tấm gương mẫu mực đó Phương pháp có giá trị to lớn trong việc phát triển nhận thức và tình cảm đạo đức cho học sinh, đặc biệt giúp học sinh nhận thức rõ ràng hơn về bản chất và nội dung đạo đức
- Phương pháp đóng vai: là tổ chức cho học sinh nhập vai vào nhân vật trong những tình huống đạo đức giả định để các em bộc lộ thái độ, hành vi, ứng
xử
- Phương pháp trò chơi: Tổ chức cho học sinh thực hiện những thao tác, hành động, lời nói phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức thông qua một trò chơi nào đó
- Phương pháp dự án: Là phương pháp trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa giáo dục nhận thức với giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh Thực hành nhiệm vụ này người học được rèn luyện tính tự lập cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch hành động, đến việc thực hiện dự án với nhóm bạn bè, tự kiểm tra đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
Trang 3728
1.4.3.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Hiện nay có nhiều hình thức GDĐĐ cho học sinh tiểu học được sử dụng, nhưng nhìn chung có thể chia làm 2 loại:
a) GDĐĐ thông qua các môn học, đặc biệt là môn Đạo đức nhằm giúp các
em có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, về nội dung cơ bản của một số hoạt động công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
b) GDĐĐ thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Giúp củng cố,
mở rộng và khơi sâu các hiểu biết về chuẩn mực đạo đức, hình thành những kinh nghiệm đạo đức, rèn luyện kỹ xảo và thói quen đạo đức thông qua nhiều hình thức tổ chức đa dạng: Hái hoa dân chủ; hội diễn văn nghệ; thi làm báo tường; thi
kể chuyện; trò chơi…
1.4.4 Đặc điểm học sinh tiểu học
Do có sự thay đổi về nội dung và tính chất của hoạt động chủ đạo lên hoạt động nhận thức nói chung và các quá trình nhận thức riêng lẻ đều có sự thay đổi cơ bản:
* Sự phát triển của tri giác:
- Ưu điểm: Tri giác của học sinh tiểu học có sự thay đổi đáng kể, từ chỗ tri giác chung chung, đại thể ít đi vào chi tiết tới tri giác có phân tích có tổng hợp
- Hạn chế: Tính trực quan vẫn chiếm vị trí rõ nét trong quá trình tri giác, tri giác thời gian kém vẫn cứ lẫn lộn hôm qua, hôm kia, ngày mai, ngày kia, ngày xưa…những đối tượng quá lớn hay quá nhỏ thì tri giác kém, khả năng phân tích khi tri giác kém nên các em hiếm khi phân biệt những hình thù giống nhau
* Sự phát triển của trí nhớ:
- Ưu điểm: Ở lứa tuổi này trí nhớ có chủ định được hình thành và phát triển, càng về cuối cấp thì ghi nhớ ý nghĩa càng tăng
- Hạn chế: Ở lứa tuổi này ghi nhớ không chủ định chiếm vị trí rõ nét, các
em thường ghi nhớ máy móc theo trang, cái yếu tố trực quan vẫn chiếm vị trí
Trang 38* Sự phát triển tưởng tượng:
- Ưu điểm: Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi có sự phát triển phong phú về tưởng tượng “Ở lứa tuổi này hòn đất cũng biến thành con người, đây là lứa tuổi thơ mộng và rất giàu tưởng tượng”.Gần về cuối cấp tưởng tượng gần với hiện thực hơn, tưởng tượng sáng tạo phát triển cao hơn
- Hạn chế: Tưởng tượng còn mang tính trực quan - cụ thể, về mặt cấu tạo biểu tượng trong tưởng tượng thì chủ yếu là các em bắt chước hay lập lại, tha y đổi chút ít, chủ đề tưởng tượng còn nghèo nàn, tản mạn và ít có tổ chức
* Sự phát triển của tư duy:
- Ưu điểm: Tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành
- Hạn chế: Năng lực trừu tượng hoá và khái quát hoá còn yếu, tư duy còn mang tính xúc cảm, trẻ xúc cảm sinh động với tất cả những điều suy nghĩ
* Đời sống tình cảm:
- Đây là lứa tuổi dễ xúc cảm, xúc động và khó kiềm chế xúc cảm của mình Các em rất dễ xúc động ở chỗ các em yêu mến thiên nhiên, động vật Các em khó kiềm chế xúc cảm bản thân, chưa biết kiểm tra những biểu hiện bên ngoài của tình cảm
- Những xúc cảm của lứa tuổi này thường gắn liền với những tình huống
cụ thể, trực tiếp mà ở đó các em hoạt động hoặc gắn với những đặc điểm trực quan
Trang 39tự chủ còn yếu, đặc biệt các em thiếu kiên nhẫn, chóng chán, khó giữ trật tự
- Tính cách: Các em đang được hình thành trong mọi hoạt động học tập, lao động, vui chơi Cụ thể ở các em hình thành những nét tính cách mới như tính hồn nhiên, tính hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của người lớn, tính hiếu động, tính trung thực và tính dũng cảm
1.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học
1.5.1 Nội dung và phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
1.5.1.1 Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
a) Xây dựng mục tiêu
Mục tiêu quản lý giáo dục là cái đích phải đạt tới của quá trình quản lý
Nó được xem là trạng thái mong muốn, khả thi và cần thiết trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với cơ sở giáo dục, là trường học đối với một vài thành tố, bộ phận của hệ thống giáo dục nhà trường Đối với hoạt động quản
lý công tác GDĐĐ, việc xác định mục tiêu ngay từ đầu quá trình quản lý là một việc làm rất quan trọng, bởi nó là điểm xuất phát, định hướng, chi phối sự vận động của toàn bộ quá trình quản lý Do đó có thể coi chất lượng và hiệu quả công tác quản lý phụ thuộc một phần rất quan trọng vào việc xác định đúng đắn và cụ thể mục tiêu quản lý A.M Ômarop, nhà nghiên cứu quản lý cho rằng đây “ là cơ sở, là tiền đề quan trọng nhất để tổ chức quản lý có hiệu quả”
b) Xây dựng kế hoạch:
Một tập thể lao động, trong đó mọi người liên kết với nhau hoạt động
Trang 4031
thực hiện nhiệm vụ của tập thể mình và của bản thân mình Nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức Đấy là chức năng kế hoạch hoá của nhà quản lý Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý trong đó lập kế hoạch quản lý vô cùng quan trọng Lập
kế hoạch theo một khía cạnh nào đó có thể coi nó như là một dự báo Tính chất dự báo càng thể hiện rõ trong việc lập kế hoạch chiến lược Nhà quản lý phải đặt trọng tâm vào tư duy và hành động mang tính chiến lược Việc lập kế hoạch phải chú trọng vào tương lai Kế hoạch phải định hướng hoạt động không những của nhà quản lý, mà của cả tổ chức vào các kết quả đạt được Kế hoạch phải thể hiện tập trung sự quan tâm và nguồn lực vào các vấn đề bức xúc nhất mà nhà trường đang quan tâm Trong kế hoạch phải quan tâm đến quan hệ hợp tác Đây là điều xuất phát từ đặc điểm của giáo dục, một dạng hoạt động mang đậm tính chất xã hội
* Các bước của việc lập kế hoạch:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về yêu cầu của cấp trên thông qua những chỉ thị nghị quyết
Bước 2: Phân tích trạng thái xuất phát của đối tượng quản lý
Bước 3: Xác định nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch
Bước 4 Xây dựng sơ đồ khung của việc lập kế hoạch
c) Tổ chức thực hiện kế hoạch:
Để giúp mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò nhiệm vụ và vị trí công tác Cho nên có thể nói việc xây dựng các vai trò nhiệm vụ là chức năng tổ chức trong quản lý Vai trò của một bộ phận hay
cá nhân bao hàm bộ phận hay các nhân đó hiểu rõ công việc mình làm nằm trong một phạm vi nào đó, nhằm mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của