BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÙI THỊ KIM NHUNG HIỆU QUẢ THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ TUÂN THỦ CỦA ĐIỀU DƯỠNG SAU CAN THIỆP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN HỮ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÙI THỊ KIM NHUNG
HIỆU QUẢ THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ TUÂN THỦ CỦA ĐIỀU DƯỠNG SAU CAN THIỆP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2020
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2020
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÙI THỊ KIM NHUNG
HIỆU QUẢ THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ TUÂN THỦ CỦA ĐIỀU DƯỠNG SAU CAN THIỆP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2020
Chuyên ngành: Ngoại người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
PGS.TS NGÔ VĂN TOÀN
NAM ĐỊNH - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học, cùng các cô giáo, thày giáo trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Toàn người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức
và kinh nghiệm quý báu, những chỉ dẫn vô cùng quan trọng trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện của Ban Giám đốc bệnh viện HN Việt Đức, tập thể cán bộ nhân viên khoa phẫu thuật Chi trên và Y học Thể thao đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc bệnh viện HN Việt Đức, Ban Lãnh đạo khoa phẫu thuật Chi trên và Y học Thể thao, Lãnh đạo phòng Điều dưỡng đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học và trong suốt quá tình học tập tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè Những người luôn ở bên tôi, động viên chia sẻ, giành cho tôi những điều kiện tốt nhất giúp tôi yên tâm học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 15 tháng 01 năm 2021
Học viên
Bùi Thị Kim Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi là Bùi Thị Kim Nhung học viên lớp Điều dưỡng CKI khóa 1 đã có bằng thạc sĩ các ngành gần và phù hợp, chuyên ngành Ngoại người lớn trường Đại học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:
1 Đây là chuyên đề do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Văn Toàn
2 Các kết quả trong chuyên đề là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà nội ngày 15 tháng 01 năm 2021 Học viên
Bùi Thị Kim Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ……… …… i
LỜI CAM ĐOAN ……….………ii
MỤC LỤC ……… iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ……… …….iv
DANH MỤC BẢNG ……… … v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Vấn đề nhiễm khuẩn vết mổ 3
1.1.1 Định nghĩa nhiễm khuẩn vết mổ 3
1.1.2 Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ trên thế giới 3
1.1.3 Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ tại Việt Nam 4
1.2 Giới thiệu về chăm sóc vết thương 5
1.2.1 Phân loại vết thương 6
1.2.2 Giới thiệu về quy trình thay băng vết thương 6
1.2.3 Tình hình chăm sóc vết thương trên thế giới 7
1.2.4 Thực trạng chăm sóc vết thương tại Việt Nam 9
1.2.5 Ảnh hưởng của việc chăm sóc vết thương đến tình trạng nhiễm khuẩn 10
1.2.6 Một số yếu tố liên quan đến thực hành của điều dưỡng 11
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 122
2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 144
2.1.1 Tuổi 144
2.1.2 Giới 144
2.1.3 Số năm công tác 144
2.2 Đánh giá kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 155
2.2.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 155
Trang 62.2.2 Thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 166
2.3 Đánh giá kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo 177
2.3.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo 177
2.3.2 Thực hành của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo 188
2.4 Hiệu quả đào tạo kiến thức và thực hành 199
2.4.1 Hiệu quả đào tạo kiến thức: 199
2.4.2 Hiệu quả của đào tạo thực hành: 20
CHƯƠNG 3 BÀN LUẬN 21
3.1 Xây dựng chương trình và nội dung đào tạo 21
3.2 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 21
3.3 Về kiến thức của đối tượng tham gia nghiên cứu trước đào tạo 22
3.4 Về thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 23
3.5 Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo chăm sóc vết thương 23
3.6 Hạn chế của nghiên cứu 24
KẾT LUẬN 24
KHUYẾN NGHỊ 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Đặc điểm thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu……… 14 Bảng 2: Tương quan điểm kiến thức trước và sau đào tạo……… 19 Bảng 3: Tương quan về thực hành trước và sau đào tạo……….…20
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Phân bố giới tính 14
Biểu đồ 2: Điểm kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 16
Biểu đồ 3: Điểm thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 17
Biểu đồ 4: Điểm kiến thức của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo 18
Biểu đồ 5: Điểm thực hành của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo. 19
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc vết thương (CSVT) cho người bệnh là một thủ thuật tốn kém, nó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng điều trị, tài chính mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Chi phí thanh toán cho vấn đề CSVT tại Anh chiếm khoảng 3% tổng ngân sách chi cho dịch vụ y tế, ước tính khoảng 2,3 đến 3,1 tỷ bảng Anh mỗi năm Đây là chi phí chưa tính đến các chi phí ẩn khác như biến chứng, giảm đau hay trầm cảm cho người bệnh [15]
Theo một nghiên cứu tại Mỹ có khoảng hơn 5,7 triệu người có vết thương mãn tính mà đáng ra có thể ngăn ngừa được nếu ngay từ đầu được các nhân viên
y tế chăm sóc tốt và chăm sóc dựa trên thực tế lâm sàng của vết thương, ngoài ra còn có nhiều vết thương của bệnh nhân do biến chứng của nhiễm trùng, cắt cụt chi, loét do tỳ đè có thể được giảm thiểu do nếu được chăm sóc tốt [16]
Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Hương Thu và cộng sự đánh giá thực hành thay băng trên 200 lần thực hành cho thấy 79% thực hành đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng, 9,5% thực hành đúng >80% các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng, 10% thực hành đúng từ 70-80% các tiêu chí đánh giá, và 1,5% thực hành đúng <70% các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng[1]
Nghiên cứu của Ngô Thị Huyền và cộng sự đánh giá thực hành quy trình thay băng tại Bệnh viện Việt Đức năm 2012 qua 162 nhân viên Điều dưỡng, Kỹ thuật viên cho thấy có đến 61,1% đối tượng thực hành sai ít nhất 1 trong các bước của quy trình thay băng, trong đó có 3,9% đối tượng không thực hiện đánh giá vết thương khi tiến hành chăm sóc [2]
Chăm sóc vết thương là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc người bệnh của điều dưỡng, việc chăm sóc vết thương tốt giúp người bệnh phục hồi sức khỏe nhanh chóng, kiểm soát vấn đề vô trùng, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí
Trang 11điều trị, tăng cường niềm tin của người bệnh vào nhân viên y tế Chăm sóc vết thương đảm bảo giữ vệ sinh vết thương, giúp các nhân viên y tế đánh giá vết thương, phát hiện những thay đổi bất thường của vết thương như nhiễm trùng, hoại tử để kịp thời xử lý làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ
Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức là bệnh viện ngoại khoa tuyến cuối Chăm sóc vết thương là công việc hàng ngày của công tác Điều dưỡng (ước tính khoảng 900 lượt/ 1 ngày) Tuy nhiên việc thực hành chăm sóc vết thương theo quy trình chuẩn chưa được thực hiện đầy đủ
Như vậy việc đào tạo, hướng đẫn, cung cấp kiến thức cho điều dưỡng về chăm sóc vết thương là rất quan trọng từ đó nâng cao kết quả điều trị cũng như tạo sự tin tưởng cho người bệnh đến điều trị tại bệnh viện
Từ năm 2013 đến 2015 phòng điều dưỡng bệnh viện đã thực hiện dự án
“Nâng cao năng lực chăm sóc vết thương cho điều dưỡng tại bệnh viện Việt Đức” và khoa PT Chi trên và Y học thể thao là một đơn vị tương đối lớn trong vấn đề chăm sóc vết thương Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Hiệu quả thay đổi nhận thức và tuân thủ của điều dưỡng sau can thiệp nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2020” với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng điểm kiến thức và thực trạng tuân thủ của Điều dưỡng về chăm sóc vết thương
2 Xác định mức độ thay đổi điểm kiến thức và mức độ thay đổi sự tuân thủ sau can thiệp của Điều dưỡng về chăm sóc vết thương
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Vấn đề nhiễm khuẩn vết mổ
Một vấn đề lo ngại hàng đầu cho BS phẫu thuật là nhiễm khuẩn vết mổ Trong những năm đầu của kỷ nguyên phẫu thuật hiện đại, rất nhiều bệnh nhân đã
tử vong do NKVM và các NKBV, NKVM gây ảnh hưởng nhiều đến tinh thần người bệnh, kéo dài thời gian nằm viện gây ảnh hưởng đến kinh tế người bệnh, gia tăng viện phí, khả năng hồi phục kém[4]…
Tại Hoa Kỳ, mỗi trường hợp bị NTVM thời gian nằm viện phải tăng thêm
từ 7 – 10 ngày và chi phí tăng thêm khoảng 3000USD
1.1.1 Định nghĩa nhiễm khuẩn vết mổ
Nhiễm khuẩn vết mổ được định nghĩa là tình trạng nhiễm khuẩn tại vùng vết mổ hay các vết thương, có thể phải giải quyết bằng các phương pháp ngoại khoa Bất kỳ vết thương xuyên qua da nào cũng có thể gây ra nhiễm khuẩn Nhiễm khuẩn xảy ra do mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các vết thương, hoặc từ nguồn khác sau khi gây ra vết thương: Vết cắn, vết cắt, vết đâm chích, vết bỏng, chỗ nứt, gẫy hở đều mang đến nguy cơ nhiễm trùng [4]
Nhiễm khuẩn vết mổ là nguyên nhân đứng thứ hai trong các nguyên nhân gây nhiễm khuẩn thường gặp, nhất ở bệnh nhân hậu phẫu (Nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới)
1.1.2 Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ trên thế giới
NKVM là một trong những NKBV hay gặp phải, thậm chí xảy ra rất sớm ngay trong giai đoạn hậu phẫu Những năm thập kỷ 80 thế kỷ 20, tỷ lệ NKVM có thể tới 58% mặc dù đã sử dụng nhiều kháng sinh Cho đến những năm gần đây,
Trang 13mặc dù việc kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó có NKVM thì tỷ lệ này vẫn còn cao Ngay cả ở Mỹ, theo báo cáo được tổng hợp về trung tâm kiểm soát
và phòng bệnh (CDC – centers for disease control and prevention) cho thấy các NKVM có tỷ lệ từ 0% đến 15% tùy theo loại phẫu thuật, các dụng cụ được sử dụng trong quá trình hậu phẫu, vị trí phẫu thuật, kháng sinh trước mổ
Nhiễm khuẩn vết mổ là một vấn đề mang tính toàn cầu.Tại các nước phát triển có khoảng 5 triệu bệnh nhân bị nhiễm trùng vết mổ trong tổng số 44 triệu bệnh nhân phẫu thuật [18] Tại Anh một nghiên cứu trên những bệnh nhân sinh con theo hình thức phẫu thuật có 2,9% bị nhiễm trùng vết mổ [19] Tại Thụy Điển, một báo cáo cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ là 6,9% [20] Tại các nước đang phát triển thì tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ cao hơn nhiều Ở các nước Châu Phi như Tanzania tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ năm 2003 là 19,4% [21] Tại Peru tỷ lệ này là 26,7% và Ấn Độ là 18,9% [23], [22], tại Nepal năm 2004 là 7,3%, Iran tỷ
lệ NKVM bụng là 17,4%[17]
Theo nghiên cứu tại trường đại học Johns Hopkins sau khi đã phân loại vết thương theo các mức độ vết thương sạch sẽ, vết thương sạch/bị ô nhiễm, vết thương ô nhiễm, và vết thương dơ bẩn thấy tỷ lệ NKVM tương ứng là 0,54%, 0,86%, 1,31% và 2,1%[24]
1.1.3 Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ tại Việt Nam
Ở Việt Nam, các thống kê về NKVM còn ít được công bố Tại Bệnh viện
HN Việt Đức, Nguyễn Đức Chính và cộng sự thống kê trong 12 tháng (Từ tháng 08/1992 đến tháng 7/1993) qua 4281 ca mổ, có tỷ lệ NKVM chung là 17,4% trong đó có 95% NKVM do con người gây ra và 5% NKVM có nguyên nhân từ môi trường bên ngoài và trang thiết bị y tế [5] Qua thời gian từ 1991 đến 1998,
Trang 14nhờ việc triển khai áp dụng giải pháp tổng hợp tác động lên môi trường, cơ sở, trang thiết bị, cán bộ y tế, đẩy mạnh quản lý bệnh viện Do đó đã tiến hành chống NKBV có hiệu quả, hạ thấp tỷ lệ NKVM một cách đáng kể Tỷ lệ NKVM chung chỉ còn 9,1%[6]
Theo nghiên cứu của Lê Minh Luân năm 2006 về phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Việt Đức thấy tỷ lệ NKVM là 6,5%, trong đó có 54,5% là NKVM nông, 39,3% NTVM sâu và 6,2% nhiễm khuẩn ổ bụng [7] Một vài nghiên cứu khác như của Tống Vĩnh Phú trên 456 bệnh nhân được phẫu thuật tại khoa ngoại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định có 10,1% bệnh nhân bị nhiễm khuẩn vết mổ [8], của Nguyễn Thị Ninh tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định thì tỷ lệ này là 6,35% [9] Tại bệnh viện Thanh Nhàn theo báo cáo của Cao Văn Vinh thì tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ là 5,5% [10]
Năm 2008, được sự giúp đỡ của tổ chức JICA – Nhật Bản, BV HN Việt Đức đã tiến hành điều tra để xác định tỷ lệ NKVM, Nguyễn Tiến Quyết và các cộng sự thống kê từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2008 qua 1004 trường hợp có tỷ lệ NKVM chung là 8,5% trong đó có 64,7% là NKVM nông và 35,3% là NKVM sâu[12] Từ tháng 3/12/2001 đến 2/3/2002 qua nghiên cứu 911 bệnh nhân mổ tại
BV Bạch Mai thấy: Tỷ lệ NKVM chung toàn bộ khối ngoại là 4,3% và tính riêng khoa ngoại BV Bạch Mai là 6,7% Tỷ lệ NKVM thuộc nhóm BN phẫu thuật tại khu nhà mổ cũ là 11,2%, cao hơn so với nhóm phẫu thuật tại khu nhà mổ mới là 4,4%[13]
1.2 Giới thiệu về chăm sóc vết thương
Thuật ngữ chăm sóc vết thương lần đầu tiền được miêu tả cách đây khoảng
5 nghìn năm, từ đó những nguyên tắc khác nhau của việc chăm sóc vết thương
Trang 15đã được truyền từ đời này sang đời khác.Trong khoảng 100 năm trở lại đây có rất nhiều cải tiến trong chăm sóc vết thương nhưng những cải tiến vượt bậc mang lại hiệu quả điều trị cao lại thuộc về những năm trở lại đây [25]
Chăm sóc vết thương là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc người bệnh của điều dưỡng, việc chăm sóc vết thương tốt giúp người bệnh phục hồi sức khỏe nhanh chóng, kiểm soát vấn đề vô trùng, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, tăng cường niềm tin của người bệnh vào nhân viên y tế Người điều dưỡng cần phải có kỹ năng sử dụng các loại băng vết thương để che chở và bảo
vệ vết thương giúp cho sự lành vết thương diễn ra một cách tốt nhất
1.2.1 Phân loại vết thương
Vết thương sạch: Là vết thương ngoại khoa được thực hiện dưới các điều kiện vô khuẩn, không bị nhiễm khuẩn, không nằm trong vùng của hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu và không có ống dẫn lưu
Vết thương sạch có nguy cơ nhiễm khuẩn: Là vết thương không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nhưng nằm trong vùng hô hấp, bài tiết, sinh dục, tiết niệu, vết thương hở, vết thương có ống dẫn lưu
Vết thương nhiễm khuẩn: Vết thương nhiễm khuẩn, vết thương do tai nạn, dập nát, vết thương trên vùng có nhiễm khuẩn trước mổ (ví dụ: Viêm phúc mạc, chấn thương ruột, )
Vết thương bẩn: Vết thương có mủ, hoại tử và có nguồn gốc bẩn từ trước 1.2.2 Giới thiệu về quy trình thay băng vết thương
* Định nghĩa
Trang 16Quy trình thay băng là công việc làm sạch vết thương và ngăn ngừa nhiễm khuẩn cho người bệnh
* Mục đích
Làm sạch vết thương và phòng ngừa nhiễm khuẩn
Theo dõi, đánh giá tình trạng vết thương
Bảo vệ vết thương, thúc đẩy quá trình liền vết thương
* Chỉ định và chống chỉ định
Theo y lệnh của phẫu thuật viên
Theo nhận định của Điều dưỡng về tình trạng vết thương (nếu vết thương thấm dịch nhiều có thể thay băng nhiều lần trong ngày)
1.2.3 Tình hình chăm sóc vết thương trên thế giới
Chăm sóc vết thương cho người bệnh là một thủ thuật rất tốn kém, nó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng điều trị, tài chính mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Chi phí thanh toán cho vấn đề chăm sóc vết thương tại Anh chiếm khoảng 3% tổng ngân sách chi cho dịch vụ y tế, ước tính khoảng 2,3 đến 3,1 tỷ bảng Anh mỗi năm Đây là chi phí chưa tính đến các chi phí ẩn khác như biến chứng, giảm đau hay trầm cảm cho người bệnh [26]
Chăm sóc vết thương là một lĩnh vực mà ngành y tế hiện nay rất quan tâm, nhiều nghiên cứu cho thấy việc chăm sóc vết thương tốt sẽ làm giảm đáng kể việc sử dụng các nguồn nhân lực y tế và chi phí trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân Tại Anh có khoảng 11 triệu phẫu thuật hay các can thiệp y học được thực hiện mỗi năm Theo một nghiên cứu tại Mỹ có khoảng hơn 5,7 triệu
Trang 17người có vết thương mãn tính mà đáng ra có thể ngăn ngừa được nếu ngay từ đầu được các nhân viên y tế chăm sóc tốt và chăm sóc dựa trên thực tế lâm sàng của vết thương, ngoài ra còn có nhiều vết thương của bệnh nhân do biến chứng của nhiễm trùng, cắt cụt chi, loét do tỳ đè có thể được giảm thiểu do nếu được chăm sóc tốt [27]
Trong chăm sóc vết thương các sản phẩm để chăm sóc vết thương cũng rất quan trọng Tính sẵn có của các sản phẩm chăm sóc và quản lý vết thương cũng gây ảnh hưởng đến việc thực hành thay băng vết thương Theo nghiên cứu của Huynh và Foget – Falacchio năm 2005 cho thấy có sự khác biệt lớn trong số lần thay băng và số lượng băng sử dụng không có sự hợp lý và rõ ràng Mặt khác trong nghiên cứu này cũng chứng minh không có mối liên quan giữa số lần thay băng vết thương với sự liền vết thương [28]
Trong quá trình thay băng vết thương việc đánh giá vết thương có vai trò rất quan trọng, dựa và quá trình đánh giá vết thương sẽ đánh giá được sự liền vết thương hoặc những diễn biến bất thường để từ đó có thể xử trí kịp thời Trong tài liệu của Tapp năm 1990 việc đánh giá vết thương trong quá trình thay băng là bắt buộc nhưng không phải ai cũng tiến hành Trong nghiên cứu của Geraldine năm 2012 trên 150 đối tượng là điều dưỡng có 73,8% đối tượng là đánh giá về vết thương trong quá trình thay băng còn 23,4% là không thực hiện [29]
Kiến thức và năng lực của điều dưỡng về chăm sóc và quản lý vết thương cũng rất quan trọng, nó quyết định đến việc thực hành của điều dưỡng Do vậy vấn đề cập nhật kiến thức về chăm sóc vết thương là rất cần thiết Trong nghiên cứu của Geraldine về kiến thức của điều dưỡng về quản lý và chăm sóc vết
Trang 18thương cho thấy có 38,6% nhân viên y tế cập nhật kiến thức về chăm sóc vết thương trong 2 năm, 61,4% không cập nhật kiến thức trong 2 năm [29]
Theo nghiên cứu của Hadcock năm 2000 cho thấy có một số lượng lớn điều dưỡng có kiến thức về chăm sóc vết thương, đặc biệt là các điều dưỡng lâu năm
có nhiều kinh nghiệm [30]
Nghiên cứu tại India khi đánh giá kiến thức và thực hành về chăm sóc vết thương mãn tính chỉ ra rằng điểm kiến thức của điều dưỡng đạt 73% trong khi đó thực hành chỉ đạt 63%, như vậy giữa kiến thức và thực hành có mối liên quan tỷ
lệ nghịch [31] Một nghiên cứu khác của Mc Fadden năm 1994 có tới 85% điều dưỡng thực hành sai quy trình thay băng vết thương cho bệnh nhân phẫu thuật vì
họ khó áp dụng kiến thức vào thực tế lâm sàng [32]
1.2.4 Thực trạng chăm sóc vết thương tại Việt Nam
Quy trình thay băng là một thủ thuật quan trọng trong điều trị bệnh nhân phẫu thuật Thay băng vết thương cho phép đánh giá tình trạng liền vết thương Nếu vết thương tiết dịch nhiều có thể thay băng nhiều hơn 1 lần/ngày
Theo nghiên cứu của Lê Đại Thanh về thực trạng thay băng tại bệnh viện
đa khoa Chương Mỹ trên 200 lần thay băng dựa trên 30 tiêu chí đánh giá cho thấy không có lần nào thực hiện đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá trong quy trình thay băng, 77,5% số lần thực hiện đúng >90% đến <100% các tiêu chí đánh giá, và 22,5% số lần thực hiện đúng <80% các tiêu chí đánh giá Trong đó đặc biệt là bước tiến hành rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh lần 2 trước khi tiến hành thay băng thì 100% không thực hiện; sau khi kết thúc quy trình có đến 10% không thực hiện rửa tay
Trang 19Thay băng vết thương còn giúp đánh giá sự phù hợp của các loại băng với vết thương, để từ đó cải tiến các sản phẩm chăm sóc góp phần nâng cao chất lượng điều trị Ngoài sử dụng các loại băng gạc trong khi thay băng vết thương hiện nay đã có nhiều sản phẩm khác dùng để thay thế trong đó có tăm bông dùng
để rửa vết thương Trong nghiên cứu của Tạ Thanh Thủy tại BV Phụ Sản Hà Nội
so sánh hiệu quả của tăm bông với thay băng bằng kẹp phẫu tích bằng bông và cồn cho thấy khi sử dụng tăm bông tiết kiệm được thời gian và chi phí cho mỗi lần thay băng, thời gian khi sử dụng các dụng cụ thông thường cho mỗi lần thay băng và không mất thời gian xử lý dụng cụ
Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Hương Thu và cộng sự đánh giá thực hành thay băng trên 200 lần thực hành cho thấy 79% thực hành đúng toàn bộ các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng, 9,5% thực hành đúng >80% các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng, 10% thực hành đúng từ 70-80% các tiêu chí đánh giá, và 1,5% thực hành đúng <70% các tiêu chí đánh giá quy trình thay băng [1]
Bệnh viện Việt Đức là một bệnh viện ngoại khoa đầu ngành của Việt Nam, bên cạnh việc điều trị và theo dõi NB thì vấn đề chăm sóc vết thương, cũng cần phải được quan tâm Chăm sóc vết thương hàng ngày đúng cách sẽ giúp vết thương nhanh liền, tránh nhiễm trùng và hoại tử, từ đó góp phần cải thiện chất lượng điều trị, làm giảm số ngày nằm viện giúp giảm chi phí cho NB
Theo báo cáo hàng năm của bệnh viện số bệnh nhân được phẫu thuật tăng lên đáng kể, từ 23260 bệnh nhân năm 2005 lên đến 35275 bệnh nhân năm 2010
Vì vậy, vấn đề chăm sóc vết thương càng cần phải được quan tâm hơn nữa 1.2.5 Ảnh hưởng của việc chăm sóc vết thương đến tình trạng nhiễm khuẩn
Trang 20Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu tuân thủ đúng quy trình chăm sóc vết thương chuẩn (trong đó có thực hiện quy trình thay băng) thì tỷ lệ NKVM sẽ giảm hơn rõ rệt
Một nghiên cứu tại Mỹ có thấy trong năm 2006 có 13,3% BN bị NKVM đại trực tràng trong đó có 38% tuân thủ quy trình chăm sóc ngoại khoa, năm 2007 có 8,3% BN bị NKVM trong đó 92% % tuân thủ quy trình chăm sóc ngoại khoa[33] Kết quả nghiên cứu của Parvez chứng minh rằng 25% nhiễm trùng vết
mổ có thể được ngăn ngừa trong suốt quá trình điều dưỡng chăm sóc người bệnh [34] Đối với những bệnh nhân đặt catheter trung tâm khi được chăm sóc vết thương bằng quy trình chuẩn đã giảm 40% trường hợp nhiễm khuẩn catheter [35] Một nghiên cứu khác trên bệnh nhân có vết bỏng, nếu vết thương được rửa hàng ngày sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm khuẩn và thời gian liền vết thương[36]
1.2.6 Một số yếu tố liên quan đến thực hành của điều dưỡng
Việc thực hành điều dưỡng có thể bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, số năm công tác, kiến thức, thái độ, thu nhập, khoa phòng làm việc…
Theo kết quả nghiên cứu của Hadcock năm 2002 chỉ ra rằng, những điều dưỡng có nhiều năm kinh nghiệm thực hành chăm sóc vết thương tốt hơn so với nhóm điều dưỡng ít năm kinh nghiệm [30] Nhưng trong nghiên cứu của Williamson và Gupta lại chỉ ra điều ngược lại, những nhân viên có số năm công tác >10 năm lại thực hành về ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ kém hơn nhóm mới làm việc [31] Một nghiên cứu khác của Pancorbo lại cho thấy không có mối liên quan giữa số năm công tác và thực hành lâm sàng của điều dưỡng [38]
Trang 21Theo kết quả nghiên cứu của Williamson và Gupta cho thấy, những điều dưỡng có trình độ đại học thì kiến thức và thực hành tốt hơn so với nhóm có trình độ cao đẳng [31] Một nghiên cứu khác của Steel cũng cho kết quả tương
tự, những điều dưỡng được đào tạo với trình độ cao hơn thì kiến thức và thực hành lâm sàng tốt hơn [39] Najeeb đã chứng minh rằng những điều dưỡng được tham gia khóa đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn thực hành tốt hơn so với nhóm không được đào tạo [40]
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Khoa phẫu thuật Chi trên và Y học thể thao (tiền thân là khoa Chấn thương Chỉnh hình 1) được tách ra từ khoa Chấn thương Chỉnh hình bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và chính thức đi vào hoạt động từ 01 tháng 04 năm 2011 Khoa có nhiệm vụ khám chữa bệnh và điều trị cho những người bệnh chấn thương chỉnh hình Tổng số nhân viên trong khoa là 55 cán bộ gồm 14 Bác sỹ,
38 Điều dưỡng, 01 nhân viên văn phòng và 02 Trợ giúp chăm sóc Trong 10 tháng đầu năm 2020 khoa đã tiếp nhận và điều trị cho hơn 4000 người bệnh với 25.861 ngày điều trị, mổ 5.313 ca (4151 ca mổ phiên và 1162 ca mổ cấp cứu) Với số lượng người bệnh mổ đông như vậy việc chăm sóc vết thương cho người bệnh là một vấn đề lớn và quan trọng quyết định chất lượng điều trị và mang lại
sự hài lòng cho người bệnh Việc khảo sát chất lượng chăm sóc người bệnh cũng được khoa chú trọng tiến hành thường xuyên
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiến cứu có can thiệp trên toàn bộ điều dưỡng từ tháng 5 đến tháng 10/2020 tại khoa phẫu thuật Chi trên và Y học thể thao bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, sử dụng phiếu đánh giá kiến thức và bảng kiểm thực hành chăm sóc vết thương vào 2 thời điểm trước và sau can thiệp,
Trang 22đánh giá nhóm chỉ tiêu nghiên cứu chung về đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, nhóm chỉ tiêu nghiên cứu về đánh giá kiến thức và thực hành chăm sóc vết thương
Phiếu đánh giá kiến thức và thực hành (tham khảo bộ câu hỏi và bảng kiểm đánh giá thực hành của dự án “Nâng cao năng lực chăm sóc vết thương cho điều dưỡng tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức” năm 2015 của phòng Điều dưỡng bệnh viện được Bộ Y tế phê duyệt)
Đánh giá kiến thức: gồm 30 câu hỏi trắc nghiệm đạt yêu cầu khi trả lời đúng 21/30 câu
Đánh giá thực hành theo bảng kiểm: với 4 mức điểm đánh giá 0, 1, 2, 3 đạt yêu cầu khi đạt từ 31/45 điểm
Phương pháp:
- Bước 1: đánh giá kiến thức và thực hành (01 tuần)
- Bước 2: tổng kết điểm và phân tích thực trạng (02 ngày)
- Bước 3: lên chương trình đào tạo và xin phê duyệt cấp trên (01 tuần)
- Bước 4: triển khai đào tạo (01 tháng)
- Bước 5: đánh giá lại kiến thức và thực hành sau đào tạo (01 tuần)
- Bước 6: tổng kết và báo cáo (01 tuần)
Nội dung đào tạo:
- Kiến thức:
+ Giải phẫu sinh lý da và quá trình liền thương
+ Chăm sóc loét
+ Các loại vết thương
+ Giáo dục sức khỏe cho người bệnh
- Thực hành : quy trình thay băng thường quy
Trang 23Chúng tôi thu được những kết quả nghiên cứu như sau:
2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trang 24Đặc điểm Đối tượng nghiên cứu (n = 29)
2.2 Đánh giá kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo
2.2.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo
Đánh giá qua phiếu đánh giá kiến thức ở thời điểm trước đào tạo, điểm kiến thức của đối tượng từ 4,17 đến 7,88 điểm, trung bình 5,95 ± 0,86, thể hiện ở biểu
đồ 2
Trang 25Biểu đồ 2: Điểm kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 2.2.2 Thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo
Đánh giá qua bảng kiểm thực hành thay băng, điểm thực hành trung bình của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo là 7,35± 0,36 điểm, điểm thấp nhất là 6,73 điểm, điểm cao nhất là 8,27 điểm Thể hiện ở biểu đồ 3
Trang 26Biểu đồ 3: Điểm thực hành của đối tượng nghiên cứu trước đào tạo 2.3 Đánh giá kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo
2.3.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo
Trong quá trình nghiên cứu, sau khi đào tạo có 2 đối tượng nghiên cứu không tham gia sát hạch kiến thức do lý do riêng (Nghỉ đẻ theo quy định Nhà nước) Chúng tôi thống kê trên 27 đối tượng còn lại, thấy: điểm trung bình kiến thức của đối tượng nghiên cứu sau đào tạo là 6,98± 0,45 điểm, thấp nhất là 5,71 điểm, cao nhất là 7,71 điểm (Biểu đồ 4)