Báo viết giới thiệu một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ, thời gian ngâm hormone Diethylstilbestrol đến tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ cái và cái hóa của cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792). Cá nở sau 9, 12 và 15 ngày được ngâm Diethylstilbestrol ở 3 nồng độ 2, 4 và 6 mg/l.
Trang 1NGHIÊN CỨU CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH CÁ RƠ ĐỒNG
Anabas testudineus (Bloch, 1972) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NGÂM
HORMONE DIETHYLSTILBESTROL TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NINH PHỤNG
RESEARCH ON SEX-REVERSAL OF ANABAS Anabas testudineus (Bloch, 1972)
BY SOAK METHOD IN DIETHYLSTILBESTROL HORMONE
IN NINH PHUNG RESEARCH STATION
Tơ Minh Thảo1, TS Ngơ Anh Tuấn2
TĨM TẮT
Báo cáo giới thiệu một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ, thời gian ngâm hormone Diethylstilbestrol đến tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ cái và cái hĩa của cá rơ đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) Cá nở sau 9, 12
và 15 ngày được ngâm Diethylstilbestrol ở 3 nồng độ 2, 4 và 6 mg/l Kết quả cho thấy, nồng độ hormone cĩ ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ cái và cái hĩa của cá Anabas testudineus Cá ngâm ở nồng độ 2 mg/l cho tỷ lệ sống cao nhất (97,77%) và kế đến nồng độ 4 mg/l (89,70%), thấp nhất ở nồng độ 6 mg/l (87%).Tỷ lệ cái ở nồng độ 2 mg/l thấp nhất (75,56%), kế đến 4 mg/l (83,33%) và cao nhất ở 6 mg/l (88,89%) Tốc độ sinh trưởng ở nồng độ 2 mg/l thấp nhất (4,05 g/con), kế đến 4 mg/l (4,17 g/con) và cao nhất 6 mg/l (4,39 g/con) Cĩ sự khác biệt cĩ ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thí nghiệm trên Do vậy, khi tính đến hiệu quả kinh tế, ngâm cá ở ngày 15 sau khi cá nở, ở nồng độ hormone Diethylstilbestrol 6 mg/l là tốt nhất.
Từ khĩa: cá rơ đồng, hormone Diethylstilbestrol, phương pháp ngâm
ABSTRACT
This paper presents some results about effects of concentration, soaking duration in Diethylstilbestrol hormone on growth rate, survival rate, female rate and rate of femalization of anabas (Anabas testudineus Bloch, 1792) Juveniles
at 9, 12 and 15 days post-hatching were soaked in Diethylstilbestrol with three concentrations of 2, 4 and 6 mg/l The results showed that the concentration of hormone affected on growth rate, survival rate, female rate and rate of female transformed of Anabas testudineus The survival rate was the highest (97.77%) at concentration of 2 mg/l and decreased forward at 4 mg/l (89.70%) and 6 mg/l (87%) The female rate was lowest (75.56%) at 2 mg/l, and increased
at 4 mg/l (83.33%) and reached a highest value (88.99%) at 6 mg/l of concentration The growth rate was lowest (4.05 g/individual) at 2 mg/l, and increased at 4 mg/l (4.17 g/individual) and reached a highest value (4.39 g/individual) at 6 mg/l of concentration There were signifi cant differences between treatments above Therefore, the fi sh of 15 days after hatching soaked in Diethylstilbestrol hormone at concentration of 6 mg/l was the best in term of profi t
Key words: Anabas, hormone Diethylstilbestrol, soak method
1 Lớp Cao học Nuơi trồng Thuỷ sản 2009 – Trường Đại học Nha Trang
2 Khoa Nuơi trồng Thuỷ sản – Trường Đại học Nha Trang
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá rơ đồng Anabas testudineus (Bloch, 1792)
là một lồi cá bản địa của Việt Nam, rất được ưa
chuộng trong và ngồi nước, đặc biệt cá rơ đồng
cĩ thịt thơm ngon và cĩ thể chế biến được nhiều
mĩn ăn ngon Cá rơ đồng là lồi cá sống trong mơi
trường nước ngọt vùng nhiệt đới, phân bố khắp tất
cả các thuỷ vực như, ao, hồ, kinh, rạch, mương, vườn, ruộng lúa… Chúng cĩ khả năng thích nghi tốt với điều kiện mơi trường khắc nghiệt, ở những nơi
cĩ hàm lượng Oxi thấp, cĩ thể nuơi với mật độ dày,
do chúng cĩ cơ quan hơ hấp phụ Chúng phân bố ở
Trang 2nhiều nơi trên cả nước, nhiều nhất là các tỉnh Đồng
Bằng sông Cửu Long như: Cần Thơ, An Giang,
Hậu Giang, Đồng Tháp, Bến Tre… Cá rô đồng là
đối tượng chiến lược của ngành thủy sản, nhằm
xoá đói giảm nghèo vùng sâu vùng xa và các tỉnh
miền núi Cá rô đồng nuôi thương phẩm lớn không
đồng đều giữa cá đực và cá cái: cá đực chỉ đạt kích
cỡ bằng 1/2 đến 1/3 khối lượng của cá cái Vì vậy,
nghiên cứu chuyển đổi giới tính cá rô đồng bằng
phương pháp ngâm Hormone Diethylstilbestrol để
tạo ra nhiều cá cái là cần thiết
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá rô đồng Anabas
testudineus (Bloch, 1792) sau khi nở 9, 12, 15 ngày
tuổi
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2010 đến tháng 5/2011
Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm Ninh Phụng- Trường Đại học Nha Trang
Hormone dùng trong thí nghiệm: hormone Diethylstilbestrol (DES) chuyển đổi giới tính cái do Trung Quốc sản xuất
Thí nghiệm ngâm cá rô đồng sau khi nở 9, 12,
15 ngày tuổi ở 3 nồng độ hormone khác nhau: 2 mg/l, 4 mg/l và 6mg/l Thí nghiệm bao gồm 9 nghiệm thức, mỗi nghiệm được lặp lại 3 lần
2 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
Hình1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
- Nghiệm thức1: cá 9 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 2 mg/L
- Nghiệm thức 2: cá 9 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 4 mg/L
- Nghiệm thức3: cá 9 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 6 mg/L
- Nghiệm thức 4: cá 12 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 2 mg/L
- Nghiệm thức 5: cá 12 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 4 mg/L
- Nghiệm thức 6: cá 12 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 6 mg/L
- Nghiệm thức 7: cá 15 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 2 mg/L
- Nghiệm thức 8: cá 15 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 4 mg/L
- Nghiệm thức 9: cá 15 ngày tuổi ngâm hormone ở nồng độ 6 mg/L
- Nghiệm thức đối chứng 1 (ĐC1): cá 9 ngày tuổi, không xử lý hormone
- Nghiệm thức đối chứng 2 (ĐC2): cá 12 ngày tuổi, không xử lý hormone
- Nghiệm thức đối chứng 1(ĐC3): cá 15 ngày tuổi, không xử lý hormone
Trang 33 Bố trí thí nghiệm xử lý cá bằng phương pháp
ngâm hormone Diethylstibestrol.
Ngâm cá rô đồng 9, 12, 15 ngày sau khi nở
trong bể composites (Vnước = 200 lít) có pha hormone
DES ở 3 nồng độ khác nhau (2,0; 4,0 và 6,0) mg/l
trong thời gian 3 ngày, mỗi bể ngâm 1000 con,
(mật độ 5 con/l) sau khi ngâm dùng vợt vớt ra cho
vào xô nước chuyển ra giai ương (kích thước giai
(1m x 1m x 1m) với mật độ ương: 5 con/l (4.000
con/giai)
Giai đoạn ngâm trong bể: Cho cá ăn lòng đỏ
trứng gà nghiền kỹ + 100g milkfi sh sử dụng cho
10.000 cá bột Ngày 4 lần vào các thời gian 7:30,
10:30, 14:30, 17:00 giờ
Giai đoạn ương trong giai:
- Từ ngày 1 đến ngày 15: Cho cá ăn lòng đỏ
trứng gà nghiền kỹ + milkfi sh
- Từ ngày 16 đến ngày 30: Cho cá ăn milkfi sh +
bột cá nghiền mịn
- Từ ngày 31đến ngày 60: Cho cá ăn bột cá
nghiền mịn
- Từ ngày 61 đến ngày 90: Cho cá ăn thức ăn
Cargil cỡ 1-3 mm
Khẩu phần ăn hàng ngày tùy thuộc vào sức ăn của cá
Khi cá hơn 30 ngày tuổi thì số lần cho ăn giảm xuống còn 2 - 4 lần/ ngày
Phương pháp kiểm tra giới tính cá
Cá sau khi nuôi được ba tháng tuổi, tiến hành thu mẫu đại diện của mỗi lô thí nghiệm 30 con/giai
để giải phẫu tuyến sinh dục
Kiểm tra giới tính bằng phương pháp mô học: Lấy mẫu tuyến sinh dục làm tiêu bản mô học và quan sát trên kính hiển vi để xác định cá đực, cá cái
- Cá cái: Mẫu mô tuyến sinh dục có các đường
tròn tương đối lớn không đều nhau bắt màu hồng đỏ
- Cá đực: Mẫu mô tuyến sinh dục có các chấm
đều nhau bắt màu đỏ đậm của thuốc nhuộm
4 Phương pháp xử lý số liệu
+ Phân tích ANOVA được áp dụng để đánh giá,
so sánh các chỉ số tỷ lệ chuyển đổi giới tính, sinh trưởng, tỷ lệ sống giữa các lô thí nghiệm
+ Phần mềm thống kê SPSS 15.0, Excel được
sử dụng để phân tích số liệu nghiên cứu
A B Hình 1 Cá rô đồng Hình 2 Mẫu mô tuyến sinh dục cá rô đồng cái (A) và cá đực (B)
Hình 3 Giai ương nuôi cá thí nghiệm Hình 4 Bể thí nghiệm ngâm hormone
Trang 4III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của nồng độ DES lên quá trình cái hóa bằng phương pháp ngâm
Bảng 1 Ảnh hưởng của nồng độ DES lên quá trình cái hóa cá rô đồng bằng phương pháp ngâm
Ngày bắt
đầu ngâm
Nồng
độ DES
(mg/l)
TLS sau 3 ngày ngâm hormone (%) TLS sau khi ương 90 ngày (%) Tỷ lệ cái (%) Tỷ lệ cái hóa (%)
9
0 91,27a ± 2,26 61,70a ± 1,47 45,56a ± 1,93 00
2 88,90a ± 3,34 59,17ab ± 3,82 75,56b ± 1,93 55,03b ± 4,54
4 86,73ab ± 1,55 55,33bc ± 2,02 82,22c ± 1,92 67,40c ± 2,34
6 82,97b± 2,04 53,17c ± 4,04 86,67d ± 3,34 75,49d ± 6,31
12
0 95,00a ± 2,52 64,17a ± 2,75 44,44a ± 1,93 00
2 90,77b ± 1,80 61,00ab ± 3,61 77,78b ± 1,92 59,93b ± 4,33
4 88,30bc ± 2,19 57,00bc ± 3,28 84,44c± 1,93 72,06c ± 2,56
6 85,70c ± 0,46 54,17c ± 3,82 87,78c ± 1,92 78,07d ± 2,77
15
0 97,77a± 0,95 66,17a ± 2,75 44,44a ± 1,93 00
2 94,07ab ± 1,89 64,33ab ± 2,25 75,56b ± 1,93 56,00b ± 2,95
4 89,70bc ± 3,21 59,67bc ± 3,55 83,33c ± 3,34 69,98c ± 5,98
6 87,00c ± 4,67 56,83c ± 1,76 88,89d ± 1,92 80,03d ± 3,13
Ghi chú: Giá trị trong bảng là trung bình ± sai số chuẩn (SE) Cùng cột, chữ cái viết kèm bên trên thể hiện sự sai khác: chữ cái giống nhau thể hiện sự sai khác không có ý nghĩa (p>0,05), chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Kết quả từ bảng 1 và hình 1 cho thấy ở
phương pháp ngâm cá rô đồng với nồng độ
hormone DES càng cao thì tỷ lệ cái và cái hóa
càng tăng và ngược lại tỷ lệ sống càng giảm
Tỷ lệ cái và cái hoá ở nồng độ DES 6 mg/l là
cao nhất: ngày 9 đạt (86,67%; 75,49%), ngày 12
(87,78%; 78,07%) và ngày 15 (88,89%; 80,03%),
nhưng tỷ lệ sống của cá lại thấp nhất ở nồng độ
6 mg/l, tỷ lệ sống sau khi ngâm hormone 3 ngày
và sau 90 ngày ương ở nghiệm thức cá 9 ngày
tuổi với nồng độ hormone 6 mg/L là (82,97%;
53,17%), ngày 12 (85,70%; 54,17%) và ngày 15
(87,00%; 56,83%) Tỷ lệ cái và cái hoá ở nồng độ DES 2 mg/l là thấp nhất, ngày 9 chỉ đạt (75,56%; 55,03%), ngày 12 (77,78%; 59,93%) và ngày 15 (75,56%; 56,00%), nhưng tỷ lệ sống khi ngâm và ương lại cao nhất, ngày 9 đạt (88,90%; 59,17%), ngày 12 (90,77%; 61,00%) và ngày 15 (94,07%; 64,33%) Sự sai khác về tỷ lệ cái và cái hoá và
tỷ lệ sống sau khi ương có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Như vậy khi ngâm cá rô đồng ở ngày thứ 15 với nồng độ DES là 6 mg/l cho tỷ lệ cái và cái hoá ở rô đồng là tốt nhất (88,89% và 80,03%)
2 Ảnh hưởng của nồng độ DES lên hiệu suất cái hóa bằng phương pháp ngâm
Bảng 2 Ảnh hưởng của nồng độ DES lên hiệu suất cái hóa bằng phương pháp ngâm
Hiệu suất cái hóa (%)
Ngày bắt đầu ngâm
2 mg/l 32,65a ± 4,46 36,60a ± 1,50 36,08a ± 3,16
4 mg/l 37,26ab ± 0,52 41,02b ± 1,17 41,62b ± 1,40
6 mg/l 40,22b ± 5,40 42,34b ± 4,25 45,46c ± 1,28
Ghi chú: Giá trị trong bảng là trung bình ± sai số chuẩn (SE) Cùng hàng, chữ cái viết kèm bên trên thể hiện sự sai khác: chữ cái giống nhau thể hiện sự sai khác không có ý nghĩa (p>0,05), chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Trang 5Dựa vào bảng 2 ta thấy tỷ lệ sống cùng với tỷ lệ
cái và cái hóa sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất cái hóa,
đó chính là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của một
quy trình sản xuất cá rô đồng toàn cái Có thể thấy
rằng các mức nồng độ hormone DES thí nghiệm ở
6 mg/l giữa các ngày (9, 12 và 15) cho hiệu suất cái
hóa cao nhất
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngâm cá ở 15 ngày tuổi với nồng độ hormone DES 6mg/l cho hiệu suất cái hóa cao và đạt hiệu quả tốt trong chuyển giới tính cái cá rô đồng
3 Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tốc độ sinh trưởng của cá bằng phương pháp ngâm
Bảng 3 Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tốc độ sinh trưởng của cá sau khi ương 90 ngày
Ngày bắt đầu
ngâm Nồng độ DES (mg/l) Khối lượng TB cá 30 ngày tuổi (g/con) Khối lượng TB cá 60 ngày tuổi (g/con) Khối lượng TB cá 90 ngày tuổi (g/con)
9
0 0,32a ± 0,04 1,69b ± 0,13 3,94c ± 0,42
2 0,29a ± 0,06 1,64b ± 0,10 4,00c ± 0,17
4 0,29a ± 0,06 1,60b ± 0,07 4,00c ± 0,44
6 0,28a ± 0,06 1,58b ± 0,10 4,11c ± 0,25
12
0 0,34a ± 0,04 1,71b ± 0,10 4,00c ± 0,33
2 0,30a ± 0,03 1,64b ± 0,09 4,02c ± 0,49
4 0,30a ± 0,03 1,59b ± 0,08 4,05c ± 0,25
6 0,29a ± 0,06 1,60b ± 0,07 4,22c ± 0,51
15
0 0,36a ± 0,05 1,70b ± 0,06 4,03c ± 0,34
2 0,32a ± 0,04 1,66b ± 0,10 4,05c ± 0,25
4 0,31a ± 0,04 1,60b ± 0,09 4,17c ± 0,17
6 0,29a ± 0,06 1,59b ± 0,10 4,39c ± 0,35
Ghi chú: Giá trị trong bảng là trung bình ± sai số chuẩn (SE) Cùng hàng, chữ cái viết kèm bên trên thể hiện sự sai khác: chữ cái giống nhau thể hiện sự sai khác không có ý nghĩa (p>0,05), chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Dựa vào bảng 3 ta thấy cá rô đồng phát triển
trong tháng thứ nhất và tháng thứ hai không có sự
khác nhau nhiều về tốc độ tăng trưởng, có thể do
ảnh hưởng của nồng độ hormone DES trong cơ thể,
tốc độ tăng trưởng cao nhất ở nồng độ 2 mg/l ngày
9 là (0,29; 1,64) g/con, ngày 12 (0,3; 1,64) g/con và
ngày 15 (0,32; 1,66) g/con, thấp nhất ở nồng độ 6
mg/l, ngày 9 là (0,28; 1,58) g/con, ngày 12 (0,29;
1,60) g/con và ngày 15 (0,29; 1,59) g/con Chứng
tỏ trong hai tháng đầu tiên nồng độ hormone DES
càng cao thì tốc độ tăng trưởng giảm, nhưng tháng
thứ 3 thì có sự khác hoàn toàn so với hai tháng đầu,
ở nồng độ 6 mg/l cá có tốc độ tăng trưởng cao nhất
giữa các ngày 9 là (4,11 g/con), ngày 12 (4,22 g/con),
ngày 15 (4,39 g/con) và thấp nhất ở nồng độ 2 mg/l,
ngày 9 (4,00 g/con), ngày 12 (4,02 g/con) và ngày
15 (4,05 g/con) Do tỷ lệ cá cái nhiều hơn, mà cá cái
có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá đực
Như vậy khi ngâm cá rô đồng nồng độ DES
6 mg/l ở ngày thứ 9, 12 và 15 cá tăng trưởng cao nhất Xét về hiệu quả: ngâm cá ở nồng độ hormone DES 6 mg/l ở ngày ngâm thứ 15, tăng trưởng ở cá
rô đồng là tốt nhất 4,39 g/con
4 Thảo luận
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy khi ngâm cá rô đồng ở các ngày khác nhau với nồng độ DES càng cao thì tỷ lệ cái và tỷ lệ cái hoá càng cao, ngược lại tỷ lệ sống của cá khi ương lại càng thấp Nồng
độ DES cho tỷ lệ cái và tỷ lệ cái hóa cao nhất ở 6 mg/l Điều này cũng phù hợp với một số công trình nghiên cứu có liên quan đến chuyển đổi giới tính
cá của Pandian &Varadaraj, (1987) đã kết luận tỷ
lệ chết ở loài cá rô phi O mossambicus tăng khi
gia tăng lượng MT Hay Ridha & Lone (1990) xử
lý cá rô phi O Spirulus với 4 nghiệm thức (0, 30,
50, 70) mg/l đã đi đến kết luận: tỷ lệ sống dường như tỷ lệ nghịch với liều lượng Hormone (trích bởi
Trang 6Nguyễn Anh Dũng, 2010)
Phương pháp ngâm cá trong dung dịch
hormone DES với nồng độ thích hợp, ảnh hưởng
của hormone đồng đều lên các cá thể ở độ tuổi
biến đổi giới tính dễ thích nghi nhất của cá rô đồng,
thời gian xử lý ngắn, hạn chế được ảnh hưởng của
nồng độ hormone Sau xử lý hormone cá được nuôi
trong ao sinh trưởng phát triển tốt, mặt khác giảm
chi phí đáng kể về hormone Phương pháp này cho
phép tạo quần đàn cá rô đồng cái với số lượng lớn,
bỏ qua các quá trình phức tạp, mang lại hiệu quả
kinh tế
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
- Ngâm cá với nồng độ hormone DES (2, 4, 6)
mg/l ở các ngày 9, 12, và 15 sau khi cá nở đều có
tác động chuyển đổi giới tính, ở nồng độ 6 mg/l ngày
15 cho tỷlệ cái, cái hóa và hiệu suất cái hóa cao
nhất, ở nồng độ 2 mg/l tỷ lệ chuyển đổi thấp nhất
- Ngâm cá rô đồng nồng độ hormone DES 6 mg/l ở ngày thứ 15 cá tăng trưởng cao nhất (sau 90 ngày ương cá đạt 4,39 g/con)
2 Kiến nghị
- Do thời gian thực hiện đề tài ngắn nên chúng tôi mới bước đầu thử nghiệm ngâm ở 3 nồng độ hormone DES 2, 4 và 6 mg/l, cần tiếp tục nghiên cứu ở các mức nồng độ hormon thấp và cao hơn
để có kết luận đầy đủ về nồng độ DES thích hợp nhất và hiệu quả kinh tế nhất để chuyển giới tính ở
cá rô đồng
- Cần tiếp tục nghiên cứu về độ tuổi của cá có thể thấp hoặc cao hơn nữa để đạt được tỷ lệ chuyển đổi giới tính và tỷ lệ sống tốt nhất
- Ảnh hưởng của hormone DES làm chuyển đổi giới tính cá rô đồng bằng phương pháp ngâm có
ý nghĩa, nhưng kết quả chuyển đổi giới tính cá rô đồng chưa đạt cao Có thể còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi giới tính cá rô đồng cần có nghiên cứu tiếp tục để làm sáng tỏ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Anh Dũng, Lưu Thị Dung, 2010 Đánh giá hiệu quả đực hóa cá rô phi (Oreochromis niloticus Linnaeus) bằng phương pháp ngâm pháp ngâm phôi trong nước có pha 17 α-Methyltestoteron tại Quảng Nam Luận văn thạc sĩ – Trường Đạ i họ c
Nha Trang ( trang 32 – 51)
2 Đặng Khánh Hồng, Nguyễn Tường Anh, 2006 Thử nghiệm sản xuất giống cá rô đồng (Anabas testudineus, Bloch) toàn cái
Luận văn thạc sĩ – Trường Đạ i họ c Cầ n Thơ (trang 22 – 27)
3 Trieu, N.V và D N Long., 2001 Seed production technology of climbing perch (Anabas testudineus) A case study of
larval rearing Proceeding of the 2001 annual workshop of JIRCAS Mekong delta project November 27-29, Cuu Long Rice Research Institute, O mon, Viet Nam Pp: 212-213
4 Tuan, N.A, H.M.Hanh, L.M.Lan, D N Long, Đ H Tam, N.V Lanh and L T Thanh, 2002 Premilinary results on rearing
of climbing perch (Anabas testudineus) in concrete tanks and earthern ponds Proceeding of the 2002 annual workshop of
JIRCAS Mekong delta project November 26-28, College of Agriculture, Can Tho University, Viet Nam Pp: 227-230