Chăn nuôi lợn ở nông hộ nước ta nhìn chung dựa vào những nguồn cây trồng ở địa phương làm thức ăn là chính. Dây lá và củ khoai lang là những nguồn thức ăn phổ biến cho lợn. Chế biến, bảo quản và sử dụng dây lá, củ khoai lang đã được ủ chua đóng góp một vai trò lớn trong việc giảm nghèo ở nước ta.
Trang 1
SO SÁNH CHẾ BIẾN BẢO QUẢN SỬ DỤNG DÂY LÁ VÀ CỦ KHOAI LANG TƯƠI
BẰNG PHƯƠNG PHÁP Ủ CHUA LÀM THỨC ĂN NUÔI LỢN THỊT F1 (L X MC)
VỚI THỨC ĂN HỖN HỢP HOÀN CHỈNH GREENFEED
TS
Nguyễn Hưng Quang *
, Nguyễn Thị Thu Huyền
Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Chăn nuôi lợn ở nông hộ nước ta nhìn chung dựa vào những nguồn cây trồng ở địa phương làm thức ăn là chính Dây lá và củ khoai lang là những nguồn thức ăn phổ biến cho lợn Chế biến, bảo quản và sử dụng dây lá, củ khoai lang đã được ủ chua đóng góp một vai trò lớn trong việc giảm nghèo ở nước ta Kết quả chỉ ra rằng dây lá và củ khoai lang sau khi ủ có giá trị dinh dưỡng cao hơn trước khi ủ, nó có thể đạt tới 15,07- 17,28% protein thô, chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng thấp, sử dụng cùng với cám hỗn hợp tự trộn thì lợn vẫn sinh trưởng bình thường không sai khác nhiều so với cám hỗn hợp hoàn chỉnh, nhưng cho hiệu quả kinh tế cao vì giá thành của 1kg thức ăn ủ thấp
Từ khóa: Khoai lang, lợn thịt, ủ chua, thức ăn, chế biến
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn chiếm một vị trí hết sức quan
trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm
đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, bên
cạnh đó còn cung cấp lượng phân bón hữu cơ
rất lớn cho ngành trồng trọt, lượng ga lớn cho
sinh hoạt và sản xuất [6], [8] Ngành chăn
nuôi nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng
muốn phát triển bền vững dựa trên nhiều yếu
tố trong đó thức ăn là một yếu tố quyết định
tới 70% giá thành sản phẩm [6] Lượng thức
ăn cho ăn và thành phần, đặc điểm của thức
ăn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng
trọng của lợn [10] Thức ăn cần phải đảm bảo
về năng lượng, protein cũng như sự cân đối
và đầy đủ các axit amin, vitamin,
khoáng Một số loại thức ăn dùng trong chăn
nuôi lợn như: Ngô, cám gạo, sắn, khoai kết
hợp với các thức ăn giầu đạm là đỗ tương,
khô dầu đỗ tương hay bột cá Hiện nay chăn
nuôi lợn trong nông hộ đang gặp phải nhiều
khó khăn như thiếu nguồn thức ăn đạm và chi
phí của thức ăn hỗn hợp cao Vì vậy việc tìm
nguồn thức ăn rẻ tiền và phù hợp cho chăn
nuôi là một vấn đề cấp thiết [1] Việt Nam là
nước nhiệt đới, cây cỏ quanh năm xanh tốt,
nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp khá dồi dào
(như cây ngô, dây lang, thân lá lạc…) Theo
thống kê hàng năm nước ta có tới 1.986.300 -
5.372.800 tấn củ sắn với hàm lượng NLTĐ
cao (3.495-3.529 kcal/kg VCK); rất nhiều lá
sắn với hàm lượng protein thô/VCK từ 17,33
- 25,63% và có khoảng 1.708.177,5 - 1.804.432,5 tấn ngọn lá lạc; 1.611.300 - 1.535.700 tấn dây lá và củ khoai lang Những sản phẩm này chủ yếu được sử dụng làm thức
ăn cho gia súc, chủ yếu là nuôi lợn thịt [8], [11] Cây khoai lang là loại cây lấy củ và loại cây
có nhiều dây lá dùng làm thức ăn cho chăn nuôi Với thời gian sinh trưởng ngắn từ
100-120 ngày, khoai lang có thể trồng được nhiều vụ/năm Ngoài ra nó có tiềm năng năng xuất
củ cao (Trung Quốc 60-80 tấn/ha, Nhật 30-40 tấn/ha, Hàn Quốc 30-35 tấn/ha) Ở Việt Nam diện tích trồng khoai lang hàng năm khoảng 404.900 ha Thành phần hoá học của dây lá khoai lang tươi gần 86 - 91% là nước, protein/kg VCK có từ 12,94 - 19,33% Củ khoai lang chứa nhiều tinh bột, nhiều xơ, vitamin A, C và B6 [11] Qua đây cho thấy dây lá và củ khoai lang đã không chỉ là nguồn thức ăn cho con người mà còn được sử dụng rất tốt làm thức ăn trong chăn nuôi lợn Tuy nhiên với hàm lượng nước cao nên lợn không
ăn được nhiều, khó bảo quản, dễ bị hà thối [4] Vì vậy muốn sử dụng tốt hơn cần có phương pháp chế biến, bảo quản và dự trữ hợp lý như: ủ xanh, ủ chua để nâng cao hiệu qua sử dụng Ngoài ra các phương pháp chế biến này giúp cho người dân luôn có đủ lượng thức ăn trong khẩu phần ăn cho gia súc, tiết kiệm được công lao động cho người chăn nuôi, đặc biệt là cải thiện được chất lượng, tăng hàm lượng protein, sử dụng lâu dài mà
Trang 2chi phí chăn nuôi thấp [1],[3] Một số công
trình trước đây đã tiến hành thí nghiệm
nghiên cứu về chế biến, bảo quản, sử dụng
dây lá và củ khoai lang và các nguyên liệu
khác như củ và lá sắn, ngọn và thân lá lạc
bằng phương pháp ủ chua đã đem lại hiệu quả
cao trong chăn nuôi lợn thịt [2],[3],[11]
Lợn lai F1(L x MC) có khả năng sinh trưởng
tương đối cao, khối lượng lúc 3 - 4 tháng tuổi
đạt 60 - 75 kg, tỷ lệ móc hàm 78%, tỷ lệ nạc
49%, yêu cầu dinh dưỡng không cao [5], [6],
[8] Đây là giống lợn có khả năng tận dụng
thức ăn tốt, phù hợp với chăn nuôi trong nông
hộ bằng các phụ phẩm trồng trọt Xuất phát
trước tình hình thực tế của chăn nuôi lợn hiện
nay trong các hộ gia đình khi giá thức ăn hỗn
hợp đang ngày càng tăng cao, việc nghiên cứu
sử dụng khoai lang và tầm quan trọng của hệ
thống sản xuất khoai lang - lợn là rất cần thiết
đối với các hộ nông dân ở nông thôn, vì vậy
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài trên
MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
- Xác định được chất lượng thức ăn ủ chua
dây lá và củ khoai lang ủ bằng các phụ gia
khác nhau, với những tỷ lệ khác nhau
- Đánh giá được ảnh hưởng của 3 khẩu phần
ăn khác nhau đến sinh trưởng, tiêu tốn và chi
phí thức ăn/1kg tăng trọng của lợn thịt F1 (L
x MC)
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trên lợn lai
F1(Landrace Móng Cái)
Địa điểm, thời gian tiến hành nghiên cứu
- 5 hộ nông dân tham gia làm thí nghiệm nghiên cứu Tại xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian từ 26/12/2007 đến 12/5/2008
Nội dung nghiên cứu
- So sánh ảnh hưởng của các công thức ủ khác nhau tới chất lượng của thức ăn ủ
- So sánh khả năng sinh trưởng của lợn thí nghiệm khi sử dụng các loại thức ăn ủ và TĂHH với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Greenfeed
- Xác định hiệu quả kinh tế của thức ăn ủ chua và thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh khi sử dụng nuôi lợn thịt F1
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh Lợn thí nghiệm được chọn đảm bảo đồng đều về nguồn giống, loại lợn, tuổi, khối lượng ban đầu thí nghiệm, tính biệt
và trạng thái sức khoẻ
Thí nghiệm được tiến hành trên 60 con lợn, chia làm 3 lô và được lặp lại 5 lần tại 5 hộ tham gia thí nghiệm như sơ đồ sau:
Bảng 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Khối lượng lợn ban đầu
Thời gian thí nghiệm
Khẩu phần ăn
- - Tháng 1: Ăn TĂ ủ (FV1) + TĂHH
- Tháng 2, 3: Ăn TĂ ủ (FR1) + TĂHH
- Tháng 1: Ăn TĂ ủ (FV2)+
TĂHH
- Tháng 2, 3: Ăn TĂ ủ (FR2) + TĂHH
Ăn cám viên hoàn chỉnh (Greenfeed)
Trang 3* Công thức ủ:
FV1: 97% Dây lá khoai lang tươi (DLKL) +
2,5% đường + 0,5% muối
FV2: 93,5% DLKL tươi + 6% bột ngô + 0,5%
muối
FR1:49,5% DLKL tươi + 50% củ KL tươi +
0,5% muối
FR2: 24,5% DLKL tươi + 75% củ KL tươi +
0,5% muối
Cả hai lô thí nghiệm 1 và 2 đều sử dụng một
loại thức ăn hỗn hợp tự phối trộn từ các
nguyên liệu địa phương là cám ngô, cám gạo,
sắn, bột đậu tương và bột cá theo tỷ lệ để đảm
bảo 1kg có từ 14,5 - 14,0 - 13,5% CP và 2850
- 2900 - 2950 kcal ME tương ứng 3 giai đoạn
nuôi tháng thứ 1,2 và 3
Lô đối chứng sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn
chỉnh của hãng Greenfeed tương ứng tại 3
giai đoạn (17 - 15 - 13% CP, 2800 - 2900 -
3000 kcal ME/kg)
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập, được xử lý trên phần
mềm Minitab 13 với các tham số thống kê [7]
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
Kết quả phân tích thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua
Thức ăn chua được phân tích thành phần giá trị dinh dưỡng sau khi ủ 53 ngày đối với công thức (FV1 và FV2), 67 ngày đối với công thức ủ (FR1 và FR2) tại Viện chăn nuôi quốc gia được thể hiện qua bảng 3.1 Kết quả cho thấy: Ở dạng sử dụng FV1, FV2 có hàm lượng VCK, protein thô và xơ thô đều đều cao hơn hơn FV1, FV2 Nếu theo dạng VCK thì 1kg thức ăn ủ FV1 lại có hàm lượng protein cao hơn 2,15%, xơ thô cao hơn 3,35% thức ăn ủ FV2 Qua đây thấy rằng thức ăn ủ FV1 có hàm lượng protein cao hơn do công thức này sử dụng tỷ lệ dây lá cao hơn Ở dạng
sử dụng thức ăn ủ 75% củ có hàm lượng VCK cao hơn nhưng hàm lượng protein và xơ thô lại thấp hơn so với thức ăn ủ 50% củ là do củ
có hàm lượng tinh bột cao nhưng protein thấp hơn (2,89%) thân lá khoai lang
Bảng 2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua
Dạng sử dụng
Protein thô (%) 1,90 2,20 1,74 1,51
Dạng VCK
Protein thô (%) 17,28 15,07 9,31 6,42
Xơ thô (%) 16,05 13,15 10,10 6,50
Hiệu quả sử dụng 3 loại thức ăn khác nhau
của lợn thí nghiệm
Sinh trưởng tích lũy của lợn qua các kỳ TN
Khối lượng trung bình lợn lúc bắt đầu thí
nghiệm ở 75 ngày tuổi của 3 lô thí nghiệm 1,
2 và lô đối chứng là 19,8 - 19,93 - 20,03 kg Nhìn chung khối lượng ban đầu tương đối đều nhau (P>0,05) chứng tỏ lợn thí nghiệm đảm bảo yếu tố đồng đều về khối lượng khi bắt đầu làm thí nghiệm
Bảng 3: Khối lượng của lợn thí nghiện qua các kỳ cân (kg)
Lô
Khối lượng
Lô TN1
(n = 20)
Lô TN 2
(n = 20)
Lô ĐC
(n =20) P
x m
Bắt đầu 75 ngày tuổi 19,80 ± 0,97 19,93 ± 1,03 20,03 ± 1,08 0,987
105 ngày tuổi 35,70± 1,80 36,28 ± 1,75 39,75 ± 1,80 0,195
135 ngày tuổi 55,87 ± 1,91 55,50 ± 2,25 61,07± 1,54 0,072
165 ngày tuổi 74,59 ± 1,89 73,93 ± 2,43 84,46 ± 1,92 0,001
Trang 4Kết quả sinh trưởng tích lũy cho thấy ở tháng
thí nghiệm 1 và 2 khối lượng lợn ở lô TN1 và
2 không có sự chênh lệch nhau đáng kể đối
với lô đối chứng (P>0,05), điều đó cho thấy
rằng thức ăn ủ khác nhau không có ảnh hưởng
nhiều tới sinh trưởng của lợn ở giai đoạn này
Tới tháng thí nghiệm thứ 3 thì sự chênh lệch
về khối lượng mới được thể hiện, sự chênh
lệch này rất rõ rệt giữa khối lượng lợn thí
nghiệm ở lô thí nghiệm 1, 2 so với lô đối
chứng (P<0,05) Lô đối chứng có khối lượng
cao hơn 9,87 và 10,53 kg so với lô TN1 và lô
TN2, khối lượng ở 3 lô dao động từ 73,93 đến
84,46 kg (5,5 tháng tuổi) Điều này được giải
thích do thức ăn ủ chua kết hợp với thức ăn tự phối trộn có giá trị thấp hơn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh greenfeed Tuy nhiên khối lượng lợn ở 2 lô này vẫn tương đương với giống lợn F1 (LxMC) công bố [9]
Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm
Trong cùng một giống thì tăng khối lượng tuyệt đối phản ánh mức độ dinh dưỡng, khả năng tiêu hoá, hấp thu của gia súc đối với thức ăn, tình hình sức khoẻ và chăm sóc nuôi dưỡng Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm F1(L MC) được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày)
Lô
Diễn giải
Lô TN1
(n = 20)
Lô TN 2
(n = 20)
Lô ĐC
(n =20) So sánh
x m
Từ 75 – 105 ngày tuổi 530,20 544,80 657,50 0,011
Từ 105 – 135 ngày tuổi 672,30 640,80 710,50 0,243
Từ 135 – 165 ngày tuổi 623,80 614,20 779,70 0,000
Trung bình 608,77 599,93 715,90
Qua số liệu ở bảng 3 ta thấy rằng lô đối chứng
lợn sử dụng cám hỗn hợp hoàn chỉnh
Greenfeed luôn có mức tăng trọng cao hơn 2
lô thí nghiệm 1 và 2
Ở tháng thí nghiệm 1 lô đối chứng có mức
tăng cao nhất (657,5 g/con/gày), cao hơn
127,3 đến 112,7 g/con/ngày so với lô thí
nghiệm 1 và 2 Sinh trưởng tuyệt đối ở 3 lô có
sự sai khác rõ rệt (P<0,05) có thể là do giai
đoạn đầu mùi vị của thức ăn Greenfeed hấp
dẫn hơn, đầy đủ dinh dưỡng hơn khẩu phần
thức ăn ủ chua ở lô 1 và lô 2 Khi nuôi lợn F1
bằng thức ăn DLKL ủ với 10% cám gạo và
muối sinh trưởng tuyệt đối của lợn 442 đến
447 g/con/ngày lúc 3,5 tháng tuổi, tại thời
điểm này kết quả theo dõi vẫn cao hơn nghiên
cứu trước đó [1], [2], [11]
Ở tháng thí nghiệm 2, cả 3 lô đều đạt tăng
trọng ở mức cao Lô đối chứng vẫn là lô đạt
tăng trọng/ngày cao nhất, tuy nhiên sự chênh
lệch này không có ý nghĩa về mặt thống kê
(P>0,05) Ở tháng này lô 1 và lô 2 có sự thay
đổi thức ăn cũng làm cho lợn ở ăn nhiều hơn,
sinh trưởng mạnh hơn, lợn đạt tăng trọng dao động từ 640,8 đến 710,5 cao hơn kết quả nghiên cứu khác khi nuôi lợn F1 bằng TĂHH + củ KL ủ (70% củ KL + 30% DLKL+0,5% muối) đạt tăng trọng 544 - 685 g/ngày [11] Thời điểm kết thúc thí nghiệm thì tăng trọng
ở cả 3 lô có sự chênh lệch lớn (P<0,05) Lô đối chứng vẫn là lô có mức tăng trọng cao nhất cao hơn 155 - 165,5 g/ngày so với lô 1,
lô 2 Từ những phân tích trên chúng tôi thấy rằng, có thể là do khẩu phần thức ăn ở lô 1 và
lô 2 chưa đáp ứng tốt được nhu cầu dinh dưỡng cho lợn Trong khi đó thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Greenfeed lại đảm bảo được yêu cầu dinh dưỡng cho lợn sinh trưởng và phát triển phù hợp trong các giai đoạn Tuy nhiên lợn ở lô 1 và 2 lợn vẫn phát triển bình thường
và cho tăng trọng phù hợp với tiềm năng của phẩm giống (599,93 - 608,77 g/ngày), thấp hơn khả năng tăng trọng của Landrace (700 -
800 g/ngày) [6], tương đương với kết quả nghiên cứu khác trên lợn F1 là lợn F1 có tốc
độ tăng trọng trung bình đạt 512 - 616 g/ngày [2], và cao hơn kết quả của một số tác giả khi
Trang 5nuôi lợn thịt F1 sử dụng dây lá khoai lang và
ngọn lá lạc ủ chua với cám gạo, bột sắn thì
lợn tăng 528-582 g/ngày [7], [11] Từ đó thấy
rằng thức ăn tự phối trộn và thức ăn ủ chua
trong khẩu phần của lợn lô TN1 và lô TN2 tuy không bằng thức ăn Greenfeed nhưng vẫn đạt tăng khối lượng trung bình ở mức cao
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm
Bảng 5: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng qua các giai đoạn
Giai đoạn
(ngày)
(n = 20)
Lô TN 2
(n = 20)
Lô ĐC
(n = 20)
(Greenfeed)
Tổng KL lợn tăng trong kỳ (kg) 318,1 326,9 394,5 TTTĂ/kgTT (kg) 2,32 2,31 2,23 2,22 2,31
Tổng KL lợn tăng trong kỳ (kg) 403,4 384,5 426,3 TTTĂ/kgTT (kg) 2,65 2,65 2,63 2,63 3,1
Tổng KL lợn tăng trong kỳ (kg) 374,3 368,5 467,8 TTTĂ/kgTT (kg) 3,22 3,21 3,07 3,07 3,62 TBC Tổng KL TĂ trong kỳ (kg) 3009 3003,9 2886,8 2883,2 3892,1
Tổng KL lợn tăng trong kỳ (kg) 1095,8 1079,9 1288,6 TTTĂ/kgTT (kg) 2,75 2,74 2,67 2,67 3,02
Kết quả ở bảng ta thấy TTTĂ/kg tăng khối
lượng ở 3 lô đều tăng dần qua các tháng thí
nghiệm Mức tiêu tốn này tương đương với
công bố của tác giả Nguyễn Thiện và CS,
2005 khi sử dụng thức ăn hỗn hợp và các quy
trình chăn nuôi phù hợp đã góp phần làm
giảm mức tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối
lượng của lợn từ 4,0 - 4,5 kg những năm
1990-1995 xuống còn 3,0 - 3,2 kg thức ăn/kg
tăng khối lượng hiện nay
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lô
TN1 luôn cao hơn lô TN2 nhưng không đáng
kể Trung bình 3 tháng thí nghiệm tiêu tốn
thức ăn hỗn hợp lô TN1 là 2,75 kg cao hơn
0,08 kg so với lô TN2 Kết quả của chúng tôi
tương đương với kết quả nghiên cứu trên lợn
F1 ăn củ khoai lang ủ (79,5% củ + 20% cám
gạo + 0,5% muối) với tỷ lệ 57: 44: 26% thì tiêu
tốn thức ăn là 2,49 - 2,92 kg thức ăn hỗn hợp; 1,03 - 3,29 kg thức ăn ủ/kg tăng trọng [11]
Tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng
Mức độ tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng được chúng tôi theo dõi, kết quả được thể hiện ở bảng 6 Ở tháng thí nghiệm 1 tiêu tốn protein dao động từ 359 - 388 g/kg tăng khối lượng trong đó lô TN1 có mức tiêu tốn cao nhất, cao hơn 14 - 29 g so với lô thí nghiệm 2
và lô đối chứng
Lô đối chứng có mức tiêu tốn trung bình cao hơn lô thí nghiệm 2 Theo Nguyễn Thị Tịnh,
2006 [11] cho biết khi sử dụng khẩu phần thức
ăn hỗn hợp + thức ăn ủ (70 kg củ KL + 30 kg DLKL + 0,5 kg muối) và thức ăn ủ (55 kg củ
KL + 45 kg DLKL + 0,5 kg muối) tiêu tốn 408
- 412 g/kg tăng khối lượng cho lợn F1
Trang 6Bảng 6: Tiêu tốn protein thô của lợn thí nghiệm (g/kg tăng khối lượng)
Tháng
Lô TN 1
(n = 20)
Lô TN 2
(n = 20)
Lô ĐC
(n = 20)
Tháng
1
Tổng KLTĂ (kg) 737,0 734,40 728,20 725,60 910,50 Tổng Pr TT (g) 109.445 13.954 106.099 15.963 141.575
KL lợn tăng (kg) 318,10 318,10 326,90 326,90 394,50
TT Pr/kgTT(g) 344 44 388 325 49 374 359 Tháng
2
Tổng KLTĂ (kg) 1067,5 1067,5 1028,6 1027,6 1322,4
Tổng Pr tiêu tốn (g) 149.450 18.575 144.004 15.517 198.360
KL lợn tăng (kg) 403,4 384,5 426,3
TT Pr/kgTT (g) 370 46 416 375 40 415 465 Tháng
3
Tổng KLTĂ (kg) 1204,5 1202 1130 1130 1659,2 Tổng Pr tiêu tốn (g) 162.610 20.915 152.550 17.063 215.696
KL lợn tăng (kg) 374,3 368,5 467,8
TT Pr/kgTT (g) 434 56 490 414 46 462 461 TBC Tổng KLTĂ (kg) 3009 3003,9 2886,8 2883,2 3892,1
Tổng Pr tiêu tốn (g) 421.505 53.444 402.053 48.543 555.631
KL lợn tăng (kg) 1095,8 1079,9 1288,6
TT Pr/kgTT (g) 385 49 434 373 45 418 431
Kết quả ở bảng 6 cũng cho ta thấy rằng tiêu
tốn thức ăn để tăng 1 kg tăng khối lượng lợn
ở cả 3 lô trong giai đoạn đầu thấp hơn trong
các giai đoạn khác do giai đoạn đầu (75 ngày
tuổi) lợn đang trong thời kỳ tích luỹ nạc mà
khẩu phần ăn có hàm lượng protein cao nên
lượng thức ăn ăn vào thấp Giai đoạn sau nhu
cầu protein của lợn thấp hơn, nhưng có thể do
chất lượng protein trong khẩu phần có giá
trinh sinh học kém nên tiêu tốn cho 1 kg tăng
khối lượng ở mức cao Vì vậy việc phối hợp
khẩu phần thích hợp sẽ nâng cao được tỷ lệ
tiêu hoá từ đó ảnh hưởng tốt đến quá trình
sinh trưởng và phát triển của lợn và giảm
được lượng thức ăn ăn vào [1], [2], [4]
Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng
Qua bảng 7 cho thấy cả 3 lô thí nghiệm 1 thí
nghiệm 2 và lô đối chứng trong cả 3 giai đoạn
mặc dù số đầu lợn và khối lượng lợn bắt đầu
thí nghiệm là tương đương nhau, mức độ sử
dụng thức ăn chênh lệch nhau không đáng kể nhưng khối lượng tăng trong cả thời kỳ thí nghiệm là khác nhau Lô đối chứng có tổng khối lượng lợn tăng cao hơn lô thí nghiệm 1
và 2 là 193,8 kg và 208,7 kg, nhưng do giá thành của thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh Greenfeed cao hơn giá của thức ăn mà chúng tôi chế biến do đó chi phí/kg tăng khối lượng của lô đối chứng (21.103 đ) là cao hơn lô thí nghiệm 1 (1.414 đ) và lô thí nghiệm 2 (1.896 đ) Nếu coi chi phí thức ăn ở lô đối chứng là 100% thì lô thí nghiệm 1 giảm được 6,77%,
lô thí nghiệm 2 giảm được 8,98% chi phí/kg tăng khối lượng Điều này chứng tỏ rằng việc
sử dụng thức ăn ủ chua và thức ăn hỗn hợp tự phối trộn vẫn đảm bảo cho lợn tăng trọng bình thường lại có giá thành rẻ hơn, cũng từ
đó làm giảm chi phí cho một kg tăng khối lượng đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả khác sử dụng các loại
Trang 7phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn
nông hộ [1], [3], [10] và [11]
Qua đây cũng thấy rằng việc sử dụng thức ăn
tự phối chế và thức ăn ủ tuy không lãi cao
hơn nhiều so với thức hỗn hợp hoàn chỉnh
nhưng việc sử dụng thức ăn này đã giúp
người dân tận dụng được nguồn thức ăn sẵn
có của địa phương, không phải bỏ nhiều kinh phí cùng một lúc để đầu tư chăn nuôi Hơn nữa lại cung cấp cho thị trường một nguồn thịt lợn sạch
Bảng 7: Chi phí thức ăn cho một kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm (đ)
Chi phí
Lô TN 1
(n = 20)
Lô TN 2
(n = 20)
Lô ĐC
(n = 20)
Tiền TĂ
tháng 1(đ) 4.643.100 944.438 5.587.538 4.587.660 899.744 5.487.404 6.407.189 Tiền TĂ
tháng 2 6.383.650 1.209.478 7.593.128 6.151.028 1.193.044 7.344.072 9.172.292 Tiền TĂ
tháng 3 (đ) 7.033.076 1.361.866 8.394.942 6.598.070 1.311.930 7.910.000 11.614.400 Tiền TĂ
cả 3 tháng (đ) 18.059.826 3.515.782 21.575.608 17.336.758 3.404.718 20.741.476 27.193.881 Tổng KL
Chi phí
KẾT LUẬN
Qua kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng dây lá
và củ khoai lang tươi đã được ủ chua làm
thức ăn nuôi lợn thịt F1 (L x MC) tại xã Đồng
Tiến, huyện Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên
chúng tôi có một số kết luận sơ bộ sau:
- Khối lượng trung bình ở cả 3 lô lúc kết thúc
thí nghiệm dao động từ 74,59 - 73,93 nhưng
thấp hơn lô đối chứng sử dụng thức ăn hỗn
hợp hoàn chỉnh greenfeed (P < 0,005)
- Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của cả 3
lô đều phù hợp với quy luật sinh trưởng và
phát triển của gia súc
- Tiêu tốn VCK/kg tăng khối lượng bình quân
ở lô thí nghiệm 1, 2 cao hơn lô đối chứng
Tuy nhiên tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng
bình quân ở lại thấp hơn
- Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng bình
quân ở 3 lô thí nghiệm dao động 19.689 -
21.103 đ/kg tăng khối lượng Lợn F1(L
MC) sử dụng thức ăn ủ chua cùng với cám
hỗn hợp tự trộn có sinh trưởng bình thường, không sai khác nhiều so với cám hỗn hợp hoàn chỉnh Greenfeed, nhưng cho hiệu quả kinh tế cao hơn thức ăn hoàn chỉnh Greenfeed
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1].Bùi Văn Chính, Lê Thị Ly, Nguyễn Hữu Tào,
Đỗ Việt Minh (1999), “Nghiên cứu tận dụng thân
lá lạc, chế biến và dự trữ làm thức ăn cho lợn thịt”, Nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất
và chất lượng ở Việt Nam, Báo cáo khoa học chăn nuôi 1999
[2].Hoàng Nghĩa Duyệt (2002), “Nghiên cứu tỉ lệ lysine/năng lượng thích hợp cho lợn lai nuôi thịt F1 (YxMC) nuôi tại miền Trung” Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 12/2002 Tr1091 – 1092
[3].Từ Quang Hiển, Phạm Sỹ Tiệp (2005),
“Nghiên cứu thành phần hóa học, độc tố của củ,
lá sắn và sử dụng lá sắn trong chăn nuôi lợn thịt F1 (ĐBxMC)”, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y [4] Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Thức ăn chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội
Trang 8[5] Dương Mạnh Hùng (2004), Bài giảng giống
vật nuôi, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
[6] Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh
Vân, Hà Thị Hảo (2004),Giáo trình chăn nuôi lợn,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
[7] Nguyễn Văn Thiện (2000), Phương pháp
nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội
[8] Nguyễn Thiện, Trần Đình Miên, Võ Trọng
Hốt (2005), Con lợn ở Việt Nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội
[9] Trần Thế Thông (1979), Hỏi đáp về chăn nuôi lợn đạt năng suất cao, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
[10] Nguyễn Thị Tịnh, Nguyễn Thế Yên, Mai Thạch Hoành, Phạm Ngọc Thạch, Dai Peters,
Dino Campilan và Keith Fuglie (2006), Cải thiện
hệ thống thức ăn cho lợn thông qua việc sử dụng khoai lang và những nguồn thức ăn địa phương khác ở Việt Nam, Trung tâm khoai tây Quốc tế [11] Nguyễn Thị Tịnh (2006), Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chế biến, bảo quản và sử dụng khoai lang và các nguyên liệu khác làm thức ăn cho lợn thịt giai đoạn 1999 – 2005, Hà Nội 2006
COMPARION OF ENSILED FEED MADED FROM FERMENTATION OF VINE AND ROOTS OF POTATO AND MIXED FEED GREENFEED
Nguyen Hung Quang 1 , Nguyen Thi Thu Huyen
College of Agriculture and Forestry – Thai Nguyen University
SUMMARY
Household-based pig production in our country generally relies on local crop resources to feed the animals Vines and roots of sweet potato are popular feed resources to feed pig Processing, storing and using ensiled sweet potato make a major contribution to proverty reduction in Viet Nam The results of tests are shown biologis values of ensiled sweet potato vine and roots which are higher ones Crude protein content ranged from 15,07-17,28%, lower feed cost (VND/kg WG), feed conversion(kg/kgWG), they should be used in combination with mixed feed were not significantly different from commercial feed because the price of the ensiled feed (VND/kg) is low
Keywords: sweetpotatoes, pig, ensiled feed, nutrition, processing
1
Tel: 0985500164 Email: hungquangcnty@yahoo.com