1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đồ Án Thiết kế hệ thống lái (Có bản vẽ)

84 121 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ô tô (phương ngữ Bắc Bộ) hay xe hơi (phương ngữ Nam Bộ) hoặc car (tiếng Anh) là loại phương tiện giao thông chạy bằng 4 bánh có chở theo động cơ của chính nó. Tên gọi ôtô được nhập từ tiếng Pháp (automobile), tên tiếng Pháp xuất phát từ từ auto (tiếng Hy Lạp, nghĩa là tự thân) và từ mobilis (tiếng La Tinh, nghĩa là vận động). Từ automobile ban đầu chỉ những loại xe tự di chuyển được gồm xe không ngựa và xe có động cơ. Còn từ ô tô trong tiếng Việt chỉ dùng để chỉ các loại có 4 bánh. Chữ xe hơi bắt nguồn từ chữ Hoa 汽車, phát âm theo Hán Việt là khí xa. Còn người Nhật gọi xe hơi là 自動車 (Tự động xa) nghĩa là xe tự động. Các kiểu khác nhau của xe hơi gồm các loại xe: xe buýt, xe tải.Có khoảng 1,32 tỷ chiếc xe được sử dụng trên toàn thế giới vào năm 2016.2 Khi lần đầu tiên ra mắt, xe hơi được hoan nghênh như một (phương tiện) cải tiến về môi trường so với ngựa. Trước khi nó ra mắt ở thành phố New York; hơn 10,000 tấn phân hàng ngày được dọn khỏi các đường phố. Tuy nhiên, năm 2006, các xe hơi là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn cũng như ảnh hưởng tới sức khoẻ trên khắp thế giới.

Trang 1

Link Cad: https://drive.google.com/drive/folders/136iChwoGP0bkBGjIWw1uuG4gl22NEzPK

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 4

29 5.2.1 Nguồn cung cấp

31 5.2.2 Xi lanh lực

33

Trang 2

5.2.3 Van phân phối

33

5.2.4 Tính chép hình của hệ thống lái 37

5.2.5 Nguyên lý hoạt động của hệ thống lái có trợ lực 38

Chương 2: Tính toán hệ thống lái 40

1 Các số liệu thiết kế 40

1.1 Số liệu tham khảo

40

1.2 Yêu cầu thiết kế hệ thống lái

40

2 Chọn phương án thiết kế 41

2.1 Chọn phương án dẫn động lái

41

2.2 Chọn phương án cơ cấu lái

41

3 Thiết kế hệ thống lái 42

3.1 Tính mô men cản quay vòng max

42

3.2 Tỷ số truyền của hệ thống lái

44

3.2.1 Tỷ số truyền của dẫn động lái

44

3.2.2 Tỷ số truyền của cơ cấu lái

44

Trang 3

3.2.3 Xác định lực tác dụng lớn nhất ở vành tay lái

45

3.3 Chọn phương án cường hóa lái

45

3.4 Tính các thông số hình học của dẫn động lái

46

3.4.1 Tính động học hình thang lái 46

3.4.2 Xây dựng đường đặc tính lý thuyết

49

3.4.3 Xây dựng đường đặc tính thực tế

50 3.5 Kiểm tra các thông số hình học của cơ cấu lái 54

3.5.1 Xác định bán kính vòng lăn của bánh răng 54

3.5.2 Xác định các thông số của bánh răng

54

3.5.3 Xác định kích thước và thông số của thanh răng

55

3.6 Tính bền cơ cấu lái

56

3.6.1 Xác định lực tác dụng lên bộ truyền bánh răng – thanh răng

56

3.6.2 Kiểm tra vật liệu

57

3.7 Tính trục lái

60

3.8 Tính bền đòn kéo ngang

61

Trang 4

3.9 Tính bền đòn bên hình thang lái

63

3.10 Tính bền thanh nối bên của dẫn động lái

63

3.11 Tính bền khớp cầu

64

Chương 3: Thiết kế cường hóa lái 66

1 Công tiêu hao của người lái để quay vành tay lái 66

2 Xây dựng đặc tính cường hóa lái 67

3 Tính toán xi lanh lực 69

4 Xác định năng suất của bơm 71

5 Tính các chi tiết của van phân phối 73

a Tính góc xoay của van quay 73

b Các thông số khác 74

Chương 4: Tháo lắp, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống lái 78

4.1 Dầu mỡ bôi trơn 78

4.2 Tháo cơ cấu lái 78

4.3 Lắp cơ cấu lái 79

4.4 Lắp rắp các cụm cường hóa 79

4.4.1 Lắp rắp các bộ phận của xi lanh 79

4.4.2 Lắp van phân phối 80

4.5 Chẩn đoán những hư hỏng của hệ thống lái ô tô và biện pháp khắc phục 80

4.5.1 Độ rơ vành tay lái 81 4.5.2 Lực trên vành tay lái gia tăng hay không đều 81 4.5.3 Áp suất của cường hóa lái thủy lực hệ thống lái không ổn định 82

4.6.2 Sửa chữa các chi tiết trong hệ thống lái 84

Trang 5

Với ngành công nghiệp ô tô, để đảm bảo tính tiện nghi, an toàn cho người sử dụngthì việc thiết kế một hệ thống lái đảm bảo đầy đủ các yêu cầu đặt ra là một điều rấtcần thiết trong xã hội hiện đại Một hệ thống lái phải đảm bảo tính quay vòng đúngcủa các bánh xe dẫn hướng, điều khiển dễ dàng, dễ chăm sóc sửa chữa, bảo dưỡng

và phù hợp với phần lớn đối tượng sử dụng

Cũng vì thế mà hệ thống lái ngày càng được cải tiến, tiêu chuẩn về thiết kế chế tạo

và sử dụng hệ thống lái ngày càng nghiêm ngặt và chặt chẽ hơn

Qua tìm hiểu và nghiên cứu, cùng với yêu cầu nhiệm vụ của đồ án tốt nghiệp em

được giao nhiệm vụ : ‘‘Thiết kế hệ thống lái cho ôtô du lịch, loại 7 chỗ ngồi ”.

Do điều kiện thời gian hạn chế nên trong đồ án này tập trung vào cơ cấu lái và tínhtoán cường hóa lái là chủ yếu Trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những saisót, rất mong được các thầy hướng dẫn và các bạn tận tình giúp đỡ

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG LÁI

1 Công dụng, phân loại, yêu cầu

1.1- Công dụng

Hệ thống lái giữ vai trò điều khiển hướng chuyển động của ô tô (thay đổi hay duytrì) theo tác động của người lái Hệ thống lái tham gia cùng các hệ thống điều khiểnkhác thực hiện điều khiển ô tô và đóng góp vai trò quan trọng trong việc đảm bảo

an toàn giao thông khi ô tô chuyển động Hệ thống lái bao gồm các cụm và chi tiết

từ cơ cấu điều khiển (vành lái) tới các cơ cấu điều khiển hướng chuyển động toànxe

1.2- Phân loại

Có nhiều cách phân loại hệ thống lái:

a) Phân loại theo số lượng cầu dẫn hướng.

- Các bánh dẫn hướng ở cầu trước

- Các bánh dẫn hướng ở cầu sau

- Các bánh dẫn hướng ở tất cả các cầu

b) Phân loại hệ thống lái theo kiểu truyền lực

- Hệ thống lái cơ khí

- Hệ thống lái có trợ lực bằng thuỷ lực, bằng khí nén, hoặc kết hợp…

c) Phân loại theo kết cấu của cơ cấu lái.

- Trục vít – bánh vít

- Trục vít - cung răng

- Trục vít – con lăn

- trục vit – chốt quay

- Cơ cấu lái loại liên hợp ( trục vít, ê cu, cung răng)

- Bánh răng – thanh răng

Trang 7

d) Phân loại theo bố trí vành lái

- Bố trí vành lái bên trái (theo luật đi đường bên phải )

- Bố trí vành lái bên phải (theo luật đi đường bên trái )

1.3- Yêu cầu của hệ thống lái

- Giữ chuyển động thẳng, ổn định

- Quay vòng ngoặt trên diện tích bé, thời gian ngắn

- Động học quay vòng phải đúng, để các bánh xe không bị trượt

- Lái phải nhẹ nhàng, thuận tiện

- Giảm va đập từ mặt đường lên vô lăng

2 Kết cấu hệ thống lái

Sơ đồ tổng quát của hệ thống lái không có trợ lực:

Hình 1.1- Sơ đồ tổng quát hệ thống lái.

1.Vành tay lái 5.Thanh kéo dọc

2.Trục lái 6.Đòn quay ngang

3.Cơ cấu lái 7.Hình thang lái

4.Đòn quay đứng

2.1- Vô lăng

Trang 8

2.3- Cơ cấu lái

Cơ cấu lái là bộ phận cơ bản trong hệ thống lái, nó có nhiệm vụ biến chuyển động quay vòng của trục lái thành chuyển động góc của đòn quay đứng và đảm bảo tỉ số truyền theo yêu cầu

Về bản chất, cơ cấu lái là hộp giảm tốc và có nhiệm vụ tăng mômen truyền từ vô lăng tới các bánh xe dẫn hướng Các thông số đặc trưng cho cơ cấu lái gồm tỷ số truyền, hiệu suất thuận, hiệu suất nghịch

a) Tỷ số truyền cơ cấu lái

Tỷ số truyền cơ cấu lái được định nghĩa như sau:

trong đó:

- : là góc quay của vô lăng

- : là góc quay của trục đòn quay đứng

Tỷ số truyền cơ cấu lái có thể không đổi hoặc thay đổi Quy luật thay đổi tỷ sốtruyền thích hợp nhất được thể hiện trên giản đồ sau:

Hình 1.2 Giản đồ thể hiện quan hệ giữa tỷ số truyền của cơ cấu lái

và góc quay của vành tay lái.

* i = góc quay của vô lăng /góc quay của bánh dẫn hướng (đối với cơ cấu lái trụcrăng - thanh răng )

* Phân tích đồ thị:

Trang 9

Với quy luật thay đổi như trên, khi ô tô chuyển động trên đường thẳng với vận tốccao, người lái chỉ phải đánh lái với các góc rất nhỏ xung quanh vị trí trung gian, nên

tỷ số truyền lớn ở đây giúp cho người lái điều khiển ô tô nhẹ nhàng Hơn nữa tỷ sốtruyền lớn có tác dụng làm giảm va đập truyền ngược từ đường lên vô lăng

Ở các góc đánh lái lớn thì tỷ số truyền nhỏ giúp cho việc điều khiển linh hoạt hơn,cho phép ô tô có thể quay vòng trong những chỗ hẹp, bán kính quay vòng nhỏ Tuynhiên cơ cấu lái có tỷ số truyền thay đổi thường phức tạp, đắt tiền Vì vậy với hệthống lái có trang bị trợ lực thì nên sử dụng cơ cấu lái có tỷ số truyền không đổi

b) Hiệu suất cơ cấu lái

Trong cơ cấu lái người ta phân biệt 2 hiệu suất thuận và nghịch

* Hiệu suất thuận: là hiệu suất tính theo lực truyền từ vô lăng tới bánh xe Hiệu suấtnày càng lớn thì tổn hao năng lượng điều khiển càng nhỏ, nghĩa là lái càng nhẹ hơn

* Hiệu suất nghịch: là hiệu suất tính theo lực truyền từ bánh xe lên vô lăng, vì vậykhi thiết kế cơ cấu lái nên chọn hiệu suất nghịch nhỏ để giảm bớt lực truyền từ mặtđường lên vô lăng

Như vậy, với hiệu suất nghịch nhỏ, các lực va đập từ mặt đường truyền ngược lên

vô lăng giảm đi đáng kể Đây là một ưu điểm của cơ cấu lái cần được tận dụng tối

đa Tuy nhiên, nếu chọn hiệu suất nghịch quá bé thì vô lăng sẽ mất khả năng tự trở

về vị trí trung gian nhờ các mô men ổn định Bởi vậy trong khi thiết kế nên chọnhiệu suất nghịch ở mức độ hợp lý

c) Các yêu cầu của cơ cấu lái

Phần lớn các yêu cầu của hệ thống lái đều do cơ cấu lái đảm bảo Vì vậy cơ cấu

lái cần phải đảm bảo những yêu cầu sau:

+ Có thể quay được cả hai chiều để đảm bảo chuyển động cần thiết của xe.+ Có hiệu suất cao để lái nhẹ, trong đó cần có hiệu suất thuận lớn hơn hiệu suấtnghịch để các va đập từ mặt đường được giữ lại phần lớn ở cơ cấu lái

+ Đảm bảo thay đổi trị số của tỷ số truyền khi cần thiết

+ Đơn giản trong việc điều chỉnh khoảng hở ăn khớp của cơ cấu lái

+ Độ dơ của cơ cấu lái là nhỏ nhất

Trang 10

+ Đảm bảo kết cấu đơn giản nhất, giá thành thấp và tuổi thọ cao.

+ Chiếm ít không gian và dễ dàng tháo lắp

Lực dùng để quay vô lăng được gọi là lực lái, giá trị của lực này đạt giá trị maxkhi xe đứng yên tại chỗ, và giảm dần khi tốc độ của xe tăng lên và đạt nhỏ nhất khitốc độ của xe lớn nhất

Sự đàn hồi của hệ thống lái có ảnh hưởng tới sự truyền các va đập từ mặt đườnglên vô lăng Độ đàn hồi càng lớn thì sự va đập truyền lên vô lăng càng ít, nhưng nếu

độ đàn hồi lớn quá sẽ ảnh hưởng đến khả năng chuyển động của xe Độ đàn hồi của

hệ thống lái được xác định bằng tỷ số góc quay đàn hồi tính trên vành lái vô lăng và

mô men đặt trên vành lái Độ đàn hồi của hệ thống lái phụ thuộc vào độ đàn hồi củacác phần tử như cơ cấu lái, các đòn dẫn động

d) Các dạng cơ cấu lái thông dụng

Hiện nay trên ô tô thường sử dụng các loại cơ cấu lái như:

+ Loại trục vít glôbôit – con lăn,

+ Loại trục vít – ê cu bi – thanh răng – cung răng,

+ Loại bánh răng – thanh răng,

+ Loại trục vít – cung răng,

Ngoài ra còn có cơ cấu lái: trục vít – chốt quay, bánh răng – cung răng…

* Kiểu bánh răng – thanh răng:

Cơ cấu lái kiểu bánh răng – thanh răng gồm bánh răng ở phía dưới trục lái chính

ăn khớp với thanh răng, trục bánh răng được lắp trên các ổ bi Điều chỉnh các ổ nàydùng êcu lớn ép chặt ổ bi, trên vỏ êcu đó có phớt che bụi đảm bảo trục răng quaynhẹ nhàng

Thanh răng có cấu tạo dạng răng nghiêng, phần cắt răng của thanh răng nằm ởphía giữa, phần thanh còn lại có tiết diện tròn Khi vô lăng quay, bánh răng quaylàm thanh răng chuyển động tịnh tiến sang phải hoặc sang trái trên hai bạc trượt Sựdịch chuyển của thanh răng được truyền tới đòn bên qua các đầu thanh răng, sau đólàm quay bánh xe dẫn hướng quanh trụ xoay đứng

Trang 11

09

8

543

12

Hình 1.3 - Cơ cấu lái kiểu bánh răng – thanh răng

Cơ cấu lái đặt trên vỏ xe để tạo góc ăn khớp lớn cho bộ truyền răng nghiêng,trục răng đặt nghiêng ngược chiều với chiều nghiêng của thanh răng, nhờ vậy sự ănkhớp của bộ truyền lớn, do đó làm việc êm và phù hợp với việc bố trí vành lái trênxe

Cơ cấu lái kiểu bánh răng- thanh răng có các ưu điểm sau:

Cơ cấu lái đơn giản gọn nhẹ Do cơ cấu lái nhỏ và bản thân thanh răng tácdụng như thanh dẫn động lái nên không cần các đòn kéo ngang như các cơ cấu láikhác

Có độ nhạy cao vì ăn khớp giữa các răng là trực tiếp

Sức cản trượt, cản lăn nhỏ và truyền mô men rất tốt nên tay lái nhẹ

* Cơ cấu lái trục vít con lăn:

Loại cơ cấu lái này hiện nay được sử dụng rộng rãi nhất Trên phần lớn các ôtôLiên Xô loại có tải trọng bé và tải trọng trung bình đều đặt loại cơ cấu này

Trên hình 2.4 trình bày cơ cấu lái loại trục vít con lăn Cơ cấu lái gồm trục vítgơbôlôit 1 ăn khớp với con lăn 2 (có ba ren) đặt trên các ổ bi kim của trục 3 của đònquay đứng Số lượng ren của loại cơ cấu lái trục vít con lăn có thể là một, hai hoặc

ba tuỳ theo lực truyền qua cơ cấu lái

1 Trục lái 7 Đai ốc

2 Chụp nhựa 8 Đai ốc đ.c

3 Đai ốc điều chỉnh 9 Lò xo

4 ổ bi trên 10 Thanh răng

5 Vỏ cơ cấu lái 11 trục răng

6 Dẫn hướng 12 ổ bi dưới Thanh răng

Trang 12

Tải trọng tác dụng lên chi tiết tiếp xúc được phân tán tùy theo cỡ ôtô mà làm conlăn có hai đến bốn vòng ren.

+ Mất mát do ma sát ít hơn nhờ thay được ma sát trượt bằng ma sát lăn

+ Có khả năng điều chỉnh khe hở ăn khớp giữa các bánh răng Đường trục của conlăn nằm lệch với đường trục của trục vít một đoạn  = 5  7mm, điều này cho phéptriệt tiêu sự ăn mòn khi ăn khớp bằng cách điều chỉnh trong quá

trình sử dụng

Trang 13

Hình 1.5

Cơ cấu lái trục vít chốt quay

+ Tỷ số truyền cơ cấu lái trục vít con lăn xác định tại vị trí trung gian xác địnhtheo công thức:

2 1

2

c

r i

t z

Trong đó:

r2 - bán kính vòng tròn ban đầu của hình glô-bô-it của trục vít

t - bước của trục vít

z1 - số đường ren của truc vít

Tỷ số truyền của cơ cấu lái ic sẽ tăng lên từ vị trí giữa đến vị trí rìa khoảng

5  7% nhưng sự tăng này không đáng kể coi như tỷ số truyền của loại trục vít conlăn là không thay đổi Hiệu suất thuận th = 0,65, hiệu suất nghịch ng = 0,5

* Cơ cấu lái trục vít chốt quay:

Cơ cấu lái loại này gồm hai loại:

Cơ cấu lái trục vít và một chốt quay

Cơ cấu lái trục vít và hai chốt quay

Trang 14

vít hay đòn quay và trục vít phát sinh ma sát trượt Để tăng hiệu suất của cơ cấu lái

và giảm độ mòn của trục vít và chốt quay thì chốt được đặt trong ổ bi

Nếu bước của trục vít không đổi thì tỷ số truyền được xác định theo công thức:

2

2

 - góc quay của đòn quay đứng

r2 - bán kính đòn quay

+ Hiệu suất thuận và hiệu suất nghịch của cơ cấu lái này vào khoảng 0,7 Cơ cấulái này được dùng trước hết ở hệ thống lái không có cường hoá nó được dùng chủyếu cho ôtô tải và ôtô khách

+ Loại cơ cấu lái trục vít đòn quay với một chốt quay ngày càng ít được sử dụng

vì áp suất riêng giữa chốt và trục vít lớn, chốt mòn nhanh, bản thân chốt có độ chịumài mòn kém

+ Để điều chỉnh khe hở giữa chốt và trục vít bằng cách dịch chuyển trục quayđứng theo chiều trục, ngoài ra còn phải điều chỉnh khoảng hở của trục lái

* Cơ cấu lái trục vít cung răng:

Với tiết diện bên của mặt cắt ngang của mối răng trục vít và răng của cung răng

là hình thang, trục vít và cung răng tiếp xúc nhau theo đường nên toàn bộ chiều dàicủa cung răng đều truyền tải trọng Vì vậy áp suất riêng, ứng suất tiếp xúc, độ mòncủa trục vít và cung răng đều giảm Để đạt độ cứng vững tốt người ta đặt trục đònquay trong ổ bi kim và tìm cách hạn chế độ võng của cung răng

Khe hở ăn khớp thay đổi từ 0,03 mm (ở vị trí trung gian), 0,25  0,6 mm ở vị tríhai bên rìa Điều chỉnh khe hở ăn khớp nhờ thay đổi chiều dày của đệm đồng 2.Khắc phục khoảng hở trong các ổ, thanh lăn nhờ giảm bớt các đệm điều chỉnh 1 từnắp trên của vỏ

Trang 15

Hình 1.6 Cơ cấu trục vít – cung răng

1,2 – vòng đệmđiều chỉnh

Ưu điểm:

Cơ cấu lái trục vít cung răng có ưu điểm là giảm được trọng lượng và kích thước

so với loại trục vít bánh răng Do ăn khớp trên toàn bộ chiều dài của cung răng nên

áp suất trên răng bé, giảm được ứng suất tiếp xúc và hao mòn

Tuy nhiên loại này có nhược điểm là có hiệu suất thấp

Tỷ số truyền của cơ cấu lái trục vít cung răng được xác định theo công thức:

0

2

c

r i

t

Trong đó:

r0 - bán kính vòng tròn cơ sở của cung răng

t - bước trục vít

Tỷ số truyền của cơ cấu lái loại này có giá trị không đổi Hiệu suất thuậnkhoảng 0,5 còn hiệu suất nghịch khoảng 0,4 Cơ cấu lái loại này có thể dùng trêncác loại ôtô khác nhau

* Cơ cấu lái loại liên hợp:

Loại cơ cấu lái này gần đây được sử dụng rộng rãi trên các loại ôtô tải GMC,không có cường hoá thuỷ lực và trên ôtô ZIN - 130, ZIN - 131 với cường hoá thuỷlực Cơ cấu lái loại liên hợp hay dùng nhất là loại trục vít - êcu - cung răng Sự nốitiếp giữa trục vít và êcu bằng dãy bi nằm theo rãnh của trục vít Nhờ có dãy bi màtrục vít ăn khớp với êcu theo kiểu ma sát lăn

Trang 16

Hình 1.7

Cơ cấu lái loại liên hợp

Tỷ số truyền của cơ cấu lái này có giá trị không đổi và được xác định theo côngthức:

t

Trong đó:

r0 - bán kính ban đầu của cung răng

t - bước của trục vít

Hiệu suất thuận vào khoảng 0,7 hiệu suất nghịch vào khoảng 0,85 Do hiệu suấtnghịch cơ cấu lái loại liên hợp lớn cho nên khi lái trên đường mấp mô sẽ nặng nhọc,nhưng nó có khả năng làm cho ôtô chạy ổn định ở hướng thẳng nếu vì một nguyênnhân nào đó làm bánh xe phải quay vòng

Cơ cấu lái loại liên hợp có đặc điểm nổi bật là có khả năng làm việc dự trữ rất lớn,

vì vậy nó được dùng chủ yếu trên các loại ôtô cỡ lớn

3 Các góc đặt bánh xe

Việc bố trí các bánh xe dẫn hướng liên quan trực tiếp tới tính điều khiển

xe, tính ổn định chuyển động của ôtô Các yêu cầu chính của việc bố trí là điềukhiển chuyển động nhẹ nhàng, chính xác đảm bảo ổn định khi đi thẳng cũngnhư khi quay vòng, kể cả khi có sự cố ở các hệ thống khác Đối với xe conyêu cầu này ngày càng được quan tâm và được nâng cao hơn vì vận tốc của xekhông ngừng được nâng lên.Trên cầu dẫn hướng các bánh xe dẫn hướng được

bố trí và quan tâm thích đáng Ở các bánh xe không dẫn hướng thì việc bố trí

Trang 17

cũng đã được chú ý, song bị hạn chế bởi giá thành chế tạo và sự phức tạp củakết cấu nên việc bố trí vẫn được tuân thủ theo các điều kiện truyền thống.

Ô tô có thể chuyển động mọi hướng bằng sự tác động của người lái quanh vô lăng.Tuy nhiên, nếu ôtô ở trạng thái đi thẳng mà người lái vẫn phải tác động liên tục lên vôlăng để giữ xe ở trạng thái chạy thẳng, hay người lái phải tác dụng một lực lớn để quayvòng xe thì sẽ gây sự mệt mỏi và căng thẳng về cả cơ bắp lẫn tinh thần khi điều khiển

xe Đó là điều không mong muốn, vì vậy để khắc phục được các vấn đề nêu trên thìcác bánh xe được lắp vào thân xe với các góc nhất định tuỳ theo yêu cầu nhất định đốivới từng loại xe và tính năng sử dụng của từng loại Những góc này được gọi chung làgóc đặt bánh xe

Việc điều khiển xe sẽ trở lên dễ dàng hơn nếu các bánh xe được đặt theo mộtgóc chính xác theo yêu cầu thiết kế Các góc đặt bánh xe đúng sẽ ngăn cản việcmài mòn lốp Nếu như các góc đặt bánh xe không đúng thì có thể dẫn đến các hiệntượng sau:

+ Khó lái

+ Tính ổn định lái kém

+ Trả lái trên đường vòng kém

+ Tuổi thọ lốp giảm ( mòn nhanh )

Góc đặt bánh xe gồm các góc sau :

+ góc nghiêng ngang của bánh xe ( Góc Camber )

+ Góc nghiêng dọc của trụ đứng và chế độ lệch dọc ( Góc Caster và khoảng

Caster )

+ Góc nghiêng ngang trụ đứng ( Góc Kingpin )

+ góc doãng ( Độ chụm và độ mở )

3.1 Góc nghiêng ngang của bánh xe ( Camber )

Góc tạo bởi đường tâm của bánh xe dẫn hướng ở vị trí thẳng đứng với đườngtâm của bánh xe ở vị trí nghiêng được gọi là góc CAMBER, và đo bằng độ Khibánh xe dẫn hướng nghiêng ra ngoài thì gọi là góc “CAMBER dương”, và ngược

Trang 18

90 0

CAMBER (-) (+)

lại gọi là góc”CAMBER âm Bánh xe không nghiêng thì CAMBER bằng không(bánh xe thẳng đứng )

Hình 1.8 - Góc nghiêng ngang bánh xe.

* Chức năng của góc nghiêng ngang bánh xe:

Những năm về trước bánh xe được đặt với góc CAMBER dương để cải thiện

độ bền của cầu trước và để các lốp tiếp xúc vuông góc với mặt đường (do trọnglượng của xe ) nhằm ngăn ngừa sự mòn không đều của lốp trên đường, do cóphần giữa cao hơn hai bên

Góc camber còn đảm bảo sự lăn thẳng của các bánh xe, giảm va đập của méplốp với mặt đường Khi góc CAMBER bằng không hoặc gần bằng không có ưuđiểm là khi đi trên đường vòng bánh xe nằm trong vùng có khả năng truyền lựcdọc và lực bên tốt nhất

Góc CAMBER ngăn ngừa khả năng bánh xe bị nghiêng theo chiều ngược lạidưới tác động của trọng lượng xe do các khe hở và sự biến dạng trong các chi tiếtcủa trục trước và hệ thống treo trước Đồng thời giảm cánh tay đòn của phản lựctiếp tuyến với trục trụ đứng, để làm giảm mômen tác dụng lên dẫn động lái vàgiảm lực lên vành tay lái

Khi chuyển động trên đường vòng, do tác dụng của lực ly tâm thân xenghiêng theo hướng quay vòng, các bánh xe ngoài nghiêng vào trong, các bánh

xe trong nghiêng ra ngoài so với thân xe Để các bánh xe lăn gần vuông góc với

Trang 19

Góc Caster

(-) ()

V

mặt đường để tiếp nhận lực bên tốt hơn, trên xe có tốc độ cao, hệ treo độc lập thìgóc CAMBER thường âm

3.2 Góc nghiêng dọc trụ đứng ( caster và khoảng caster )

Góc nghiêng dọc của trụ đứng là sự nghiêng về phía trước hoặc phía sau củatrụ đứng Nó được đo bằng độ, và được xác định bằng góc giữa trụ xuay đứng vàphương thẳng đứng khi nhìn từ cạnh xe Nếu trụ xuay đứng nghiêng về phía sauthì gọi là góc nghiêng dương và ngược lại gọi là góc nghiêng âm

Khoảng cách từ giao điểm của đường tâm trục đứng với mặt đất đến đường tâmvùng tiếp xúc giữa lốp và mặt đường được gọi là khoảng Caster c

Góc Caster và khoảng Caster được thể hiện ở hình sau:

Hình 1.9 Caster và khoảng Caster

* Tác dụng của góc Caster :

Hồi vị bánh xe do khoảng Caster: Dưới tác dụng của lực ly tâm khi bánh xe vào

đường vòng hoặc lực do gió bên hoặc thành phần của trọng lượng xe khi xe đi vàođường nghiêng, ở khu vực tiếp xúc của bánh xe với mặt đường sẽ xuất hiện cácphản lực bên Yb

Khi trụ quay đứng được đặt nghiêng về phía sau một góc nào đó so với chiều

tiến của xe (Caster dương ) thì phản lực bên Yb của đường sẽ tạo với tâm tiếp xúcmột mô men ổn định, mô men đó được xác định bằng công thức sau:

M = Yb.c

Trang 20

3.3 Góc nghiêng ngang trụ đứng ( Kingpin )

Góc nghiêng ngang của trụ đứng được xác định trên mặt cắt ngang của xe GócKingpin được tạo nên bởi hình chiếu của đường tâm trụ đứng trên mặt cắt ngang đó

Trang 21

r0 là tạo CAMBER dương và làm nghiêng trụ quay đứng tức là tạo gócKingPin

Giảm sự đẩy ngược và kéo lệch sang một phía, nếu khoảng cách lệch r0 quálớn, phản lực tác dụng lên các bánh xe khi chuyển động thẳng hay khi phanh

sẽ sinh ra một mômen quay quanh trụ đứng, do vậy sẽ làm các bánh xe bị kéosang một phía có phản lực lớn hơn Các va đập từ mặt đường tác dụng lên cácbánh xe làm cho vô lăng dao động mạnh và bị đẩy ngược

Cải thiện tính ổn định khi chạy thẳng: Góc KingPin sẽ làm cho các bánh xe

tự động quay về vị trí chạy thẳng sau khi quay vòng Tức là khi quay vòng,quay vô lăng để quay vòng xe, người lái phải tăng lực đánh lái, nếu bỏ lực tácdụng lên vô lăng thì bánh xe tự trả về vị trí trung gian (vị tri đi thẳng ) Để giữcho xe quay vòng thì cần thiết phải giữ vành lái với một lực nhất định nào đó.Vấn đề trở về vị trí thẳng sau khi quay vòng là do có mômen phản lực (gọi làmômen ngược) tác dụng từ mặt đường lên bánh xe Giá trị của mômen ngượcphụ thuộc vào độ lớn của góc KingPin

3.4 Độ chụm và độ mở ( góc doãng ).

Độ chụm của bánh xe là thông số biểu thị góc chụm của 2 bánh xe dẫnhướng (hoặc hai bánh xe trên cùng một cầu xe), góc chụm là góc xác định trênmột mặt phẳng đi qua tâm trục nối hai bánh xe và song song với mặt phẳngđường tạo bởi hình chiếu mặt phẳng đối xứng dọc trục của hai bánh xe lênmặt phẳng đó và hướng chuyển động của xe

Thông thường độ chụm được biểu diễn bằng khoảng cách B-A Kích thước

B, A được đo ở mép ngoài của vành lốp ở trạng thái không tải khi xe đi thẳng

Độ chụm là dương nếu B-A>0, là âm nếu B-A<0

Độ chụm có ảnh hưởng lớn tới sự mài mòn của lốp và ổn định của vành taylái Sự mài mòn lốp xảy ra là nhỏ nhất trong trường hợp hai bánh xe lăn phẳnghoàn toàn

Quá trình lăn của bánh xe gắn liền với sự xuất hiện lực cản lăn Pf ngượcchiều chuyển động đặt tại chỗ tiếp xúc của bánh xe với mặt đường Lực Pf nàyđặt cách trụ quay đứng một đoạn R0 và tạo nên một mômen quay với tâm trụquay đứng Mômen này tác dụng vào hai bánh xe và ép hai bánh xe về phía

Trang 22

sau Để lăn phẳng thì các bánh xe đặt với độ chụm =B-A dương Với góc 

như thế thì tạo lên sự ổn định chuyển động thẳng của xe tức là ổn định vànhtay lái

v A B

Hình 1.11 - Độ chụm bánh xe

ở cầu dẫn hướng, lực kéo cùng chiều với chiều chuyển động sẽ ép bánh xe

về phía trước Bởi vậy góc  giảm Trong trường hợp này, để giảm ảnh hưởngcủa lực cản lăn và lực phanh và đồng thời giảm tốc độ động cơ đột ngột(phanh bằng động cơ ), thì bố trí các bánh xe với góc đặt  có giá trị nhỏ hơnhoặc bằng không

Trên xe con độ chụm thường có giá trị từ 23 mm

Trang 23

O O'

3.5 Bán kính quay vòng (góc bánh xe , bán kính quay vòng ):

Hình 1.12 -Sự trượt bên khi quay vòng Khi vào đường cong, đảm bảo các bánh xe dẫn hướng không bị trượt nếthoặc trượt quay thì đường vuông góc với véctơ vận tốc chuyển động của tất cảcác bánh xe phải gặp nhau tại một điểm, điểm đó gọi là tâm quay tức thời củaxe

Để đạt được góc lái chính xác của bánh dẫn hướng bên phải và bên trái thìcác thanh dẫn động lái thực hiện chức năng này cũng đồng thời đạt được bánkính quay vòng mong muốn

Trang 24

Hình 1.13- Sơ đồ quay vòng

Sự quay vòng của xe kèm theo lực ly tâm, lực này có xu hướng bắt xe quay vớibán kính lớn hơn bán kính dự định của người lái trừ khi xe có thể sinh ra một lựcngược lại đủ lớn để cân bằng với lực ly tâm Lực này là lực hướng tâm Lực hướngtâm sinh ra bởi sự biến dạng và sự trượt bên của lốp do ma sát giữa lốp và mặtđường, lực này là lực quay vòng và làm ổn định xe khi quay vòng

4 Dẫn động lái

Dẫn động lái bao gồm tất cả những chi tiết truyền lực từ cơ cấu lái đến ngõngquay của bánh xe Vì vậy dẫn động lái trên xe phải đảm bảo các chức năng sau:+ Nhận chuyển động từ cơ cấu lái tới các bánh xe dẫn hướng

+ Đảm bảo quay vòng của các bánh xe dẫn hướng sao cho không xảy ra hiệntượng trượt bên lớn ở tất cả các bánh xe, đồng thời tạo liên kết giữa các bánh

xe dẫn hướng

+ Phần tử cơ bản của dẫn động lái là hình thang lái tạo bởi cầu trước, đòn kéongang và đòn kéo bên Nhờ hình thang lái nên khi quay vô lăng một góc thìcác bánh xe dẫn hướng sẽ quay đi một góc nhất định

Quan hệ hình học của ACKERMAN

Quan hệ hình học của ACKERMAN là biểu thị quan hệ góc quay của các bánh

xe dẫn hướng quanh trục đứng với giả thiết tâm quay vòng tức thời của xe nằm trênđường kéo dài của tâm trục cầu sau

Trang 25

O

Hình 1.14- Quan hệ hình học của ACKERMAN.

Để thực hiện quay vòng đúng thì các bánh xe dẫn hướng (trên cùng một cầu) phảiquay theo các góc α, β khác nhau và quan hệ hình học được xác định theo biểu thứcsau : cotg α - cotg β =B0 /L (1)

Trong đó : - L : chiều dài cơ sở của xe

- B0 : khoảng cách của hai đường tâm trụ quay đứng

- α, β: Góc quay của bánh xe dẫn hướng phía ngoài và phía trong

Để đảm bảo điểu kiện (1), trên xe sử dụng cơ cấu hình thang lái 4 khâu gọi làhình thang lái Đantô Hình thang lái Đantô chỉ áp dụng gần đúng điều kiện trên,song do kết cấu đơn giản nên được dùng rất phổ biến Mỗi một chủng loại xe, cókích thước và vị trí đòn của cơ cấu 4 khâu sao cho sai lệch trong quan hệ hình họccủa cơ cấu lái 4 khâu với quan hệ hình học ACKERMAN chỉ nằm ở góc quay bánh

xe dẫn hướng lớn Giá trị sai lệch so với lý thuyết từ 0030’ đến 10 khi bánh xe dẫnhướng ở vùng quay vòng gấp

* Có hai phương pháp bố trí dẫn động lái điển hình được trình bày theo hình dưới đây:

+ Đối với dầm cầu liền, hệ thống treo phụ thuộc thì cấu tạo của hình thanh láiĐantô như sau:

Trang 26

Dầm cầu đứng đóng vai trò là một khâu cố định, hai đòn bên dẫn động các bánh

xe, đòn ngang liên kết với các đòn bên bằng những khớp cầu (rotuyl lái) Các đònbên quay quanh đường tâm trụ đứng

Phương pháp bố trí được trình bày như hình dưới đây

DÇm cÇu liÒn § ßn kÐo ngang

v

b)a)

v

Hình1.15 - Cơ cấu 4 khâu khi có dầm cầu liền.

a Đòn kéo ngang khi có dầm cầu liền

b Đòn kéo ngang nằm trước dầm cầu

+ Trên hệ thống treo độc lập, số lượng các đòn và khớp tăng lên nhằm đảm bảocác bánh xe dịch chuyển độc lập với nhau

Số lượng các đòn tăng lên tuỳ thuộc vào kết cấu của cơ cấu lái, vị trí bố trí cơcấu lái, dẫn động lái và hệ thống treo, nhưng vẫn đảm bảo quan hệ hình họcACKERMAN, tức gần đúng với hình thang lái Đantô

Trang 27

V a

b

Hình 1.16 - Cơ cấu đòn ngang nối liên kết với hệ thống treo độc lập

a Đòn ngang nối nằm sau dầm cầu

b Đòn ngang nối nằm trước dầm cầu

Hiện nay trên xe con thông dụng là hệ thống treo độc lập, do vậy dẫnđộng lái có rất nhiều đòn và khớp

Trên xe tải thông dụng là hệ thống treo phụ thuộc, do vậy sử dụng hìnhthang lái Đantô Trên một số xe tải hạng nặng, xe siêu trường, xe siêu trọngdẫn động lái hai cầu trước tức 4 bánh dẫn hướng và hai hình thang lái 4 khâuĐantô ( như xe HUYNĐAI 18 tấn )

Tỷ số truyền của dẫn động lái phụ thuộc vào kích thước và quan hệ củacác cánh tay đòn Trong các kết cấu hiện nay, tỷ số truyền của các dẫn động láithường nằm trong khoảng từ 0,85 đến 1,1

* Cấu tạo các khớp, đòn, giảm chấn của dẫn động lái

- Khớp cầu : khớp cầu dùng trong hệ thống lái có 2 dạng:

Khớp cầu bôi trơn thường xuyên và khớp cầu bôi trơn một lần Ngày nay khớp cầudùng cho xe con là loại không cần bảo dưỡng (bôi trơn một lần ) Khớp cầu dùng cho xe

Trang 28

tải là khớp cầu bôi trơn thường xuyên Khớp cầu bôi trơn 1 lần bao gồm các loại sau:loại có bạc kim loại, loại bạc nhựa và loại bạc cao su.

Ở các hệ thống lái có đòn quay, các đòn phụ chỉ đảm nhận mối quan hệ dịchchuyển hình học, lực tác dụng nên khớp nhỏ do vậy dùng loại khớp cầu có bạc caosu

Khớp cầu có bạc nhựa liền khối, có biến dạng rất nhỏ và chịu ma sát tốt, giáthành không cao loại này được sử dụng rộng rãi trên các xe con hiện nay

Khớp cầu có bạc kim loại chỉ dùng trên các xe thể thao vì yêu cầu độ bền cao

- Các đòn dẫn động lái : Thông thường các đòn dẫn động lái có hai dạng là

dạng có kích thước cố định (hình thang lái) và loại có thể thay đổi được chiều dài(đòn kéo dọc) Hình dạng của các đòn tuỳ thuộc vào vị trí, kết cấu và khoảngkhông gian cho phép khi dịch chuyển nhưng phần lớn các đòn có tiết diện tròn vàrỗng Trên các đòn kéo dọc (điều chỉnh độ chụm của bánh xe), thì hai đầu là khớpcầu, trên thân hai đầu là ren ngược chiều nhau để khi điều chỉnh chỉ phải xoay đònkéo Thân khớp cầu bắt với các đòn qua các bề mặt, còn hãm bằng chốt chẻ

- Giảm chấn của hệ thống lái :

Để nâng cao chất lượng của xe, trên một số loại xe có dùng giảm chấntrong hệ thống lái Trong hệ thống lái có cường hoá thì cường hoá đóng vai trònhư một giảm chấn

Tác dụng của giảm chấn là dập tắt các dao động từ mặt đường lên vành tay lái,

ổn định vành lái khi đi trên đường xấu

5 Giới thiệu cường hóa lái.

5.1 Đặt vấn đề

Ta thấy lực cản quay vòng tỉ lệ thuận với trọng lượng xe phân lên cầu trước dẫnhướng do vậy những xe có trọng tải càng lớn thì lực cản quay vòng càng lớn lựccản quay vòng tăng tới một giới hạn nào đó thì người lái không điều khiển vô lăngđược nữa Trong trường hợp đó cần có một bộ phận hỗ trợ cho người lái khi quayvòng xe Người ta gọi bộ phận đó là trợ lực lái

Trang 29

Do trợ lực lái phải có nguồn năng lượng, các van điều khiển, bộ phận sinh lực,…đòi hỏi chế tạo có độ chính xác cao nên bộ phận trợ lực đắt tiền và chỉ được dùngtrên các xe tải lớn và rất lớn tuy nhiên do sự tiến bộ của kỹ thuật, công nghệ làm hạgiá thành các chi tiết cộng với sự đòi hỏi ngày càng cao tính tiện nghi cho người láicho nên trợ lực lái ngày nay được áp dụng cả trên xe tải nhỏ và xe du lịch.

Nguồn năng lượng cung cấp cho trợ lực lái có thể là chất lỏng áp suất cao, khínén, điện,… tương ứng sẽ có các loại trợ lực thủy điện, trợ lực khí nén, trợ lực điện,

…do đó ta có các loại trợ lực lái sau:

- Trợ lực thủy lực được dùng nhiều hơn cả vì kết cấu gọn, dễ bố trí

- Trợ lực khí nén về nguyên tắc giống trợ lực thủy lực, nhưng do áp suất khínén nên kết cấu trợ lực khí nén cồng kềnh và do đó ít được sử dụng

- Trợ lực điện cũng gọn nhưng bộ phận sinh lực thường là động cơ điện nênđảo chiều khó khăn do rô to có mô men quán tính nhất định Do vậy trợ lựcđiện cũng ít được sử dụng

* Trợ lực lái phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- khi bộ phận trợ lực lái hỏng, hệ thống lái vẫn làm việc được lúc này lựcngười lái sinh ra để điều khiển vô lăng lớn hơn, tuy vậy người lái vẫn có thểđưa xe về nơi sửa chữa được

- phải đảm bảo cảm giác cho người lái khi lái xe Để đảm bảo cảm giác chongười lái phải:

+ Bộ cường hóa chỉ bắt đầu hoạt động khi lực tác dụng lên vô lăng đạt được mộtgiá trị nhất định ( khoảng 20N )

+ lực trên vô lăng tỷ lệ thuận với lực cản quay vòng

Để lái thuận tiện trung bình lực trên vô lăng khoảng 40 – 70 N, cực đại khoảng

100 – 150 N

Trang 30

7 8

1

2 3

5

6 4

3: cơ cấu lái 4: van phân phối

5, 6: đường dầu dẫn từ van phân phối tới xi lanh lực và ngược lại

7: đường dầu từ bình chứa tới van phân phối

8: đường dầu hồi

Trang 31

56

Trang 32

sơ đồ 4: cơ cấu lái, van phân phối, xi lanh lực bố trí trên cùng một khối

Hình 1.20

Van phân phối được điều khiển bởi tín hiệu từ vô lăng tức theo góc quay và lực tácdụng lên vô lăng Cũng như các bộ trợ lực của các hệ thống lái khác, van phân phốiđảm bảo tính chép hình cho hệ thống, cụ thể là đảm bảo tỉ lệ thuận giữa lực điềukhiển trên vô lăng với áp suất chất lỏng đi đến bộ phận sinh lực

Nguyên lý:

Khi quay vòng sang phải, van phân phối nối đường dầu 6 với đường dầu 8 vàđường dầu 5 với đường dầu 7 chất lỏng từ bơm đi đến khoang dưới của xi lanh sinhlực đẩy piston đi lên, đẩy bánh dẫn hướng quay sang phải Dầu ở khoang trên xilanh lực sẽ theo đường 6 về đường 8 và hồi về bơm

Nguồn cung cấp trong đó chủ yếu là bơm thủy lực, được kéo bởi động cơ ô tô,cung cấp chất lỏng áp suất cao cho hệ thống, bộ phận sinh lực là một xi lanh lực,chất lỏng dùng trong hệ thống là dầu thủy lực

5.2.1 Nguồn cung cấp: bao gồm bơm thủy lực, bình chứa dầu, các van an toàn, ác

quy thủy lực Bơm thủy lực thường dùng là bơm cánh gạt, bơm bánh răng, áp suấtchất lỏng có thể đạt 0,4 – 0,6 MN/m2

- Nguyên lý làm việc của bơm cánh gạt :

Bơm cánh gạt gồm các bộ phận sau: vòng cam, rô to, cánh và van điều khiểnlưu lượng Khi rô to quay trong vòng cam, vòng cam bắt chặt với vỏ bơm Trong rô

to có các rãnh các cánh gạt đặt trong các rãnh đó Vòng ngoài của rô to dạng hình

Trang 33

tròn, mặt trong của vòng cam là hình ôvan nên tạo khe hở giữa rôto và vòng cam.Các rãnh gạt chia các khe hở này thành các buồng dẫn.

Hình 1.21- Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bơm cánh gạt

Các cánh gạt tỳ lên nhau trong vòng cam nhờ có lực ly tâm lẫn áp suất dầu tácdụng tác dụng lên cạnh trong của cánh nên làm kín rất tốt, do vậy khi bơm hoạtđộng sinh ra dầu có áp suất cao mà không bị rò rỉ tại phần tiếp xúc giữa cánh gạt vàvòng cam Thể tích tại buồng dầu tăng tại cửa hút nên dầu trong bình chứa được hútvào buồng dầu từ cửa hút Thể tích buồng dầu giảm ở phía bơm do vậy dầu hút vào

bị đẩy ra ngoài theo cửa bơm Bơm có hai cửa hút và hai cửa bơm Vì vậy mỗi vòngquay của rôto thì dầu được hút và đẩy hai lần

Trang 34

5.2.2 Bộ phận sinh lực: bao gồm xi lanh, pittông và cần pittông Có thể gọi bộ phận

này là xi lanh lực, nó là bộ phận biến đổi áp suất chất lỏng thành lực tác dụng vàodẫn động lái để làm quay bánh xe khi quay vòng Xi lanh lực có thể bố trí độc lập,

có thể bố trí chung với van phân phối, cũng có thể bố trí chung với van phân phối

và cơ cấu lái

5.2.3 Van phân phối: hay là van điều khiển, có nhiệm vụ điều khiển dòng chất lỏng

đi đến xi lanh lực phù hợp với trạng thái quay vòng (sang trái, sang phải, hoặc đithẳng ) Van phân phối có một yêu cầu quan trọng là đảm bảo tính chép hình cho hệthống lái nghĩa là góc quay vòng của bánh xe dẫn hướng phải tương ứng với gócquay của vô lăng và lực trên vô lăng phải tương ứng với lực cản quay vòng

Van phân phối trên trợ lực lái thường có 2 loại: loại van trượt và loại van xoay

+ Kiểu van quay.

Van điều khiển kiểu quay trong cơ cấu lái quyết định dầu từ bơm sẽ đi đếnbuồng nào Trục van điều khiển (mômen từ vô lăng tác dụng lên ) và trục răng đượcnối với nhau bằng một thanh xoắn Van quay và trục răng được nối với nhau bằngmột chốt và quay cùng nhau Nếu có áp suất dầu, thanh xoắn sẽ bị xoắn hết cỡ, trụcvan điều khiển và trục răng sẽ tiếp xúc với nhau ở vấu chặn nên mômen từ trục vanđiều khiển sẽ truyền thẳng đến trục răng

Hình 1.22 - Van điều khiển kiểu quay

Trang 35

Sơ đồ mạch điều khiển thuỷ lực của van quay.

Một sức cản trong mạch dầu được tạo ra bởi chuyển dộng quay của trục vanđiều khiển so với van quay Khi vô lăng quay sang phải, áp suất bị cản lại tại cửa X

và Y, khi quay sang trái, nó bị cản lại tại X' và Y'

Hình 1.23 - Mạch điều khiển thuỷ lực của van quay.

Khi đánh lái, trục van điều khiển quay, làm trục răng quay nhờ thanh kéo.Ngược lại với trục răng, do lúc này thanh xoắn bị xoắn tỷ lệ với lực tác dụng từ mặtđường, trục van điều khiển chỉ quay theo lượng xoắn của thanh xoắn và di chuyểnsang phải hoặc sang trái so với van quay Vì vậy các khe X,Y ( hay X' và Y') đượctạo ra và gây ra sự khác nhau trong áp suất dầu giữa buồng xy lanh bên phải và bêntrái Như vậy, chuyển động quay của trục van điều khiển trực tiếp gây ra sự thay đổicủa các cửa và điều chỉnh áp suất dầu Dầu từ bơm vào vành ngoài của van quay vàdầu hồi về bình qua khe hở giữa thanh xoắn và trục van điều khiển

Trang 36

+ Kiểu van trượt:

Hình 1.24

Trong đó:

1: thùng chứa 2: bơm dầu

3: bánh xe dẫn hướng 4: vỏ van phân phối

5: lò xo 6: đòn kéo dọc

7: xi lanh lực 8,9: đường dầu nối xi lanh lực và van phân phối10: đường dầu hồi 11: con trượt

12: cơ cấu lái 13: vô lăng

Van phân phối được lắp trên đòn kéo dọc 6 Phía đòn quay đứng, đòn kéo dọc đượcnối cứng với con trượt 11 ( lõi van ), phía còn lại nối cứng với vỏ van 4

Trang 37

Khi xe chuyển động thẳng, con trượt nằm ở vị trí trung gian, chất lỏng từ bơm 2 đivào van phân phối và thoát ra đường hồi 10 đi về thùng chứa 1, hệ thống trợ lựckhông làm việc.

Khi quay vòng, người lái quay vô lăng 13 ( giả sử sang trái ), qua cơ cấu lái 12 đònkéo dọc sẽ đẩy con trượt 11 lên trên, lúc này dầu áp suất cao từ bơm qua van đi vàođường 8 và đến buồng trái của xi lanh lực 7 đẩy piston sang trái, đẩy bánh xe quaysang trái, thực hiện quay vòng trái

Đường dầu 9 lúc này qua van được nối thông với đường 10, đưa dầu từ buồng trênbên phải xi lanh lực về thùng chứa 1 ngược lại nếu người lái quay vô lăng sangphải, con trượt 11 bị kéo xuống, dầu áp suất cao đi từ bơm qua van đến đường dầu

9, đến buồng phải của xi lanh lực 7 và dầu từ đường 8 sẽ qua van phân phối vềđường 10 và về thùng chứa 1 Lò xo phản ứng 5 có tác dụng đảm bảo khi lực tácdụng của người lái lên vô lăng đạt một giá trị nhất định, hệ thống trợ lực mới làmviệc, điều này đảm bảo cho người lái có “cảm giác lái” khi quay vô lăng

+ Kiểu van cánh.

Trên hình vẽ là cấu tạo kiểu van cánh Nó cũng có tác dụng như hai kiểu vantrên Trục van điều khiển và trục răng được nối nhau thông qua thanh xoắn, cáccánh van được làm liền với thanh xoắn

Các van V1 và van V2 của cánh số một đóng vai trò như van điều khiểnhướng chảy và lựa chọn dòng dầu:hoặc từ P-A-T hoặc từ P-B-T phụ thuộc vào sựdịch chuyển của vô lăng

Các van V3 và van V4 của cánh số hai đóng vai trò như van điều khiển ápsuất tại điểm A và điểm B phụ thuộc vào lực đánh lái Ở vị trí chung gian tất cả cácvan V1,V2,V3 và van V4 đều mở và do đó không có sự chênh lệch áp suất giữa haikhoang A và khoang B

Khi vô lăng quay sang trái V1 mở, V2 đóng, V3 mở một phần, V4 mở do vậy

áp suất tại A tăng lên và đẩy piston sang phải tạo sự trợ lực lái Tương tự khi xequay vòng sang phải

Trang 38

Hình1.25 : sơ đồ mạch điều khiển van cánh

Trang 39

Bơm Khối van điều khiển

Piston

Xy lanh lực

dầu áp suất cao vẫn vào khoang bên phải của xi lanh lực 7, piston vẫn tiếp tục đượcđẩy sang trái đẩy bánh xe 3 quay sang phải, thông qua các đòn dẫn động thanh kéodọc 6 sẽ đẩy vỏ van 4 đi xuống, đóng đường dầu từ bơm vào đường 9, giữ nguyên

áp suất dầu trong khoang bên trái của xi lanh lực, piston của xi lanh lực dừng lại và

do đó bánh dẫn hướng cũng dừng lại cùng vô lăng

Khi bộ phận cường hóa hỏng đảm bảo hệ thống lái vẫn làm việc được, tuy nhiên lựctrên vô lăng sẽ lớn, làm người lái rất vất vả

5.2.5.Nguyên lý hoạt động của hệ thống lái có trợ lực thủy lực

Trợ lực lái là một thiết bị thuỷ lực sử dụng công suất của động cơ để giảm nhẹ lựclái Động cơ dẫn động bơm tạo ra dầu cao áp tác dụng lên piston nằm trong xy lanhlực Mức độ trợ giúp phụ thuộc vào độ lớn của áp suất dầu tác dụng lên piston Vìvậy nếu cần trợ lực lái lớn hơn thì phải tăng áp suất dầu

+ Vị trí trung gian.

Nếu van ở vị trí trung gian, tất cả dầu sẽ chảy qua van vào cửa xả và hồi về bơm

Vì áp suất dầu bên trái và bên phải piston là như nhau lên piston không chuyểnđộng về hướng nào

Hình 1.27 - Sơ đồ nguyên lý trợ lực lái ở vị trí chung gian

Trang 40

Bơm Khối van điều khiển

Hình 1.28 - Sơ đồ nguyên lý trợ lực lái khi quay vòng.

Ngày đăng: 20/05/2021, 14:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý thuyết ôtô máy kéo – Năm 1993Nguyễn Hữu Cẩn, Dư Quốc Thịnh, Phạm Minh Thái, Nguyễn Văn Tài, Lê Thị Vàng Khác
2. Chi tiết máy Tập I, tập II – Năm 1997 Nguyễn Trọng Hiệp Khác
3. Thiết kế hệ thống lái của ôtô - máy kéo bánh xe, Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội – Năm 1991Phạm Minh Thái Khác
4. Tính toán thiết kế hệ dẫn động cơ khí, tập 1 và 2, NXB giáo dục, Trịnh Chất, Lê Văn Uyển Khác
5. Bài tập kỹ thuật đo, NXB giáo dục, PGS. TS. Ninh Đức Tốn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w