1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo ở việt nam

112 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Năng lượng xanh NLX, năng lượng sạch NLS, năng lượng tái tạo NLTT đã và đang được thu hút nhiều sự quan tâm, có vai trò ngày càng quan trọng và cấp bách đối vớ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HẢI

PH¸P LUËT VÒ KHUYÕN KHÝCH §ÇU T¦ N¡NG L¦îNG XANH, N¡NG L¦îNG S¹CH, N¡NG L¦îNG T¸I T¹O ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HẢI

PH¸P LUËT VÒ KHUYÕN KHÝCH §ÇU T¦ N¡NG L¦îNG XANH, N¡NG L¦îNG S¹CH, N¡NG L¦îNG T¸I T¹O ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS DOÃN HỒNG NHUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thanh Hải

Trang 4

NĂNG LƢỢNG SẠCH, NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO VÀ PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƢ NĂNG LƢỢNG XANH, NĂNG LƢỢNG SẠCH, NĂNG LƢỢNG TÁI TẠO 13 1.1 Những vấn đề lý luận về năng lƣợng xanh, năng lƣợng sạch và

năng lƣợng tái tạo 13

1.1.1 Khái niệm về năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 131.1.2 Các nguồn năng lượng sạch, năng lượng xanh và năng lượng tái tạo 171.1.3 Tiềm năng phát triển các nguồn năng lượng xanh, năng lượng sạch,

năng lượng tái tạo tại Việt Nam 20

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật khuyến khích đầu tƣ năng

lƣợng xanh, năng lƣợng sạch, năng lƣợng tái tạo 21

1.2.1 Khái niệm pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng

lượng sạch, năng lượng tái tạo 211.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng

xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 231.2.3 Vai trò của pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng

lượng sạch, năng lượng tái tạo 321.2.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về khuyến khích đầu tư

năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 331.2.5 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về khuyến khích đầu tư năng

lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 36

Trang 5

1.2.6 Các yếu tố tác động tới pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng

xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 39

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về pháp luật khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam 42

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 42

1.3.2 Bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam 45

Kết luận Chương 1 47

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ NĂNG LƯỢNG XANH, NĂNG LƯỢNG SẠCH, NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM 49

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 49

2.1.1 Thực trạng pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 51

2.1.2 Thực trạng pháp luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam 66

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam 70

2.2.1 Những kết quả đạt được 70

2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc, bất cập còn tồn tại 72

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc, bất cập còn tồn tại 72

Kết luận Chương 2 74

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ NĂNG LƯỢNG XANH, NĂNG LƯỢNG SẠCH, NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI TẠI VIỆT NAM 76

3.1 Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 76

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 79

Trang 6

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án năng

lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam 90

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam 92

Kết luận Chương 3 96

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FiT: Biểu giá điện ưu đãi FiT (Feed-in-Tariff) hỗ trợ

cho NLTT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năng lượng xanh (NLX), năng lượng sạch (NLS), năng lượng tái tạo (NLTT)

đã và đang được thu hút nhiều sự quan tâm, có vai trò ngày càng quan trọng và cấp bách đối với Việt Nam hiện nay trong xu thế toàn cầu về chuyển đổi dần dần sang sử dụng các nguồn năng lượng này, để góp phần đảm bảo an ninh năng lượng của quốc gia, chiến lược tăng trưởng xanh, phát triển bền vững của Việt Nam

Đã từ nhiều năm trước, Chính Phủ đã thể hiện sự quan tâm, chính sách ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng mới này để thu hút đầu tư, đảm bảo an ninh năng lượng cho phát triển kinh tế xã hội Điều này được thể hiện trong Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2020, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, và Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 –

2020 có xét đến năm 2030 Ngoài ra, việc phát triển các nguồn năng lượng mới này cũng nhằm thực hiện các mục tiêu về môi trường, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững như được thể hiện trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược quốc gia về biến bổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường, cơ chế phát triển sạch

Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang trong quá trình xây dựng mới, bổ sung

và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các dự án NLX, NLS, NLTT, cũng như nghiên cứu các cơ chế khuyến khích cần thiết để thu hút và đẩy mạnh đầu tư của khu vực tư nhân vào lĩnh vực này, nhằm góp phần đảm bảo nhiều mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội – môi trường, đóng góp vào việc thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhằm phát triển bền vững

Trong thời gian vừa qua, thị trường NLX, NLS, NLTT tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi, chuyển biến, trong đó có thu hút được nhiều dự án điện mặt trời trong giai đoạn 2018 – 2019 so với giai đoạn trước đó với cơ chế ưu đãi giá mua

Trang 9

điện 9.35 cents / kWh Tuy nhiên, đó chỉ là bước đầu để kích thích thị trường Nhiều quy định của pháp luật đã không còn đáp ứng được đầy đủ tình hình mới để điều chỉnh hiện trạng mới của thị trường, nhu cầu phát triển của thị trường và các quan hệ pháp luật mới trong giai đoạn hiện nay và tương lai gần

Đặc biệt, các quy định pháp luật về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT

ở Việt Nam đang còn nhiều vướng mắc, bất cập, hạn chế trong xây dựng pháp luật, quá trình tổ chức thực hiện, thiếu các quy định cho các cơ chế khuyến khích mới cần thiết, và một số quy định không còn phù hợp để áp dụng Việc đánh giá, cập nhật và hoàn thiện nhanh chóng hệ thống pháp luật sâu rộng và hiệu quả và đưa ra những giải pháp kịp thời tại thời điểm này có vai trò then chốt, rất quan trọng và cấp thiết cho Việt Nam

Xuất phát từ bối cảnh và nhu cầu cấp thiết đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp

luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo ở Việt Nam” với mong muốn đóng góp vào nghiên cứu, đánh giá, hoàn thiện và

cải cách hệ thống pháp luật Việt Nam, giúp nước ta thu hút hiệu quả hơn việc đầu tư vào lĩnh vực này, góp phần thực hiện được các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững

2 Tình hình nghiên cứu về lĩnh vực có liên quan đến đề tài

Các đề tài nghiên cứu về NLX, NLS, NLTT ở Việt Nam nói chung và các cơ chế, khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển trong lĩnh vực này đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu Trong những công trình này, chúng ta có thể nêu ra một

số công trình sau đây:

Thứ nhất, luận văn thạc sĩ luật học của Phan Duy An – Khoa Luật – Đại học

Quốc gia Hà Nội năm 2010: “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát

triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay”: Luận văn này đã có những phân tích

các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam tại thời điểm năm 2010, đánh giá thực trạng pháp luật tại thời điểm đó về các cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam Trên

cơ sở đó, tác giả này đã đề xuất ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về

Trang 10

các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam Một số đề xuất của tác giả này đã được cụ thể hóa một phần trong thực tiễn xây dựng pháp luật, như giải pháp kiện toàn Quỹ bảo vệ môi trường, hỗ trợ đầu tư, xây dựng quy hoạch phát triển NLTT, miễn, giảm thuế, phí khác theo quy định pháp luật Tuy nhiên, từ năm

2011 cho đến nay, hầu hết các văn bản pháp luật về cơ chế khuyến khích trong lĩnh vực NLTT cũng như các luật lớn có liên quan về đầu tư, doanh nghiệp, điện lực, xây dựng, bảo vệ môi trường, … đã được ban hành mới, sửa đổi, thay thế, bổ sung, cùng với rất nhiều thay đổi trong thực tiễn áp dụng và môi trường đầu tư, thị trường năng lượng của Việt Nam trong lĩnh vực này Một số phân tích và trình bày về quy định tại thời điểm đó đã không còn tương thích và cập nhật theo quy định pháp luật, thực trạng thực thi pháp luật, môi trường đầu tư, thị trường năng lượng, điện của Việt Nam hiện nay

Thứ hai, Nguyễn Thị Tuyền (2013), Pháp luật về phát triển năng lượng xanh

ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Tác giả

Nguyễn Thị Tuyền đã phân tích các cơ chế, ưu đãi, khuyến khích nhằm phát triển từng loại NLX khác nhau Những quy định pháp luật về ưu đãi phát triển từng loại NLX khác nhau là cơ sở để lý giải cho những phân tích tổng thể về cơ chế khuyến khích Việc khuyến khích sử dụng NLX không chỉ là việc sử dụng nhiều hơn các nguồn NLX mà còn thể hiện ở việc cải tiến các phương thức sử dụng năng lượng hóa thạch sao cho “xanh hơn” và ít chất thải hơn (như công nghệ than sạch) Đánh giá này gợi mở thêm cho tác giả về các quan điểm, cách hiểu khác nhau về khái niệm NLX, khái niệm NLS, khái niệm NLTT ở Việt Nam

Thứ ba, Nguyễn Thị Bình (2019), “Pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội: Tác giả Nguyễn Thị Bình đã có những

đánh giá, bình luận chi tiết về những vấn đề lý luận về năng lượng sạch, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện nay về năng lượng sạch, tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng pháp luật về năng lượng sạch và phân tích các định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn Về khái niệm năng lượng sạch, tác giả Nguyễn Thị Bình đã

Trang 11

đưa ra định nghĩa “năng lượng sạch là nguồn năng lượng tái tạo được và việc sản

xuất, sử dụng chúng thân thiện mới môi trường, tiết kiệm chi phí” Theo đó, tác giả

Nguyễn Thị Bình có quan điểm rằng năng lượng sạch phải là năng lượng tái tạo Theo đó, những đánh giá, phân tích của tác giả Nguyễn Thị Bình về năng lượng sạch cũng áp dụng tương tự như những đánh giá, phân tích về năng lượng tái tạo nói chung, bao gồm năng lượng từ gió, mặt trời, nước, địa nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học, sinh khối Đánh giá này gợi mở thêm cho tác giả về các quan điểm, cách hiểu khác nhau về khái niệm NLX, khái niệm NLS, khái niệm NLTT ở Việt Nam, cũng như những vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn áp dụng có liên quan trong lĩnh vực này Tác giả Nguyễn Thị Bình đã có những cập nhật quy định pháp luật về các cơ chế, ưu đãi, hỗ trợ NLS, bao gồm: ưu đãi vay vốn, ưu đãi về thuế, ưu đãi về

hạ tầng đất đai, và vai trò của khoa học công nghệ trong xây dựng các cơ chế ưu đãi, khuyến khích trong lĩnh vực này Tác giả Nguyễn Thị Bình cũng gợi mở về hướng xây dựng một văn bản luật chuyên biệt về phát triển năng lượng sạch để pháp điển hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực NLS tại Việt Nam Điều này cũng giúp tác giả gợi mở thêm về những hạn chế của những quy định pháp luật và từ đó, có sự đánh giá mang tính tổng thể và dài hạn hơn về định hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Bình chưa có những đánh giá cụ thể về cơ chế phân bổ rủi ro theo hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng mua bán điện (HĐMBĐ) mẫu đối với các dự án nguồn NLS, vì hiện nay các HĐMBĐ mẫu được ban hành dưới hình thức là một phần của các Thông tư của

Bộ Công thương, mang tính áp dụng bắt buộc áp dụng chung cho các dự án NLS, nên các điều khoản cụ thể của hợp đồng chứa đựng nhiều vấn đề cơ chế khuyến khích, ưu đãi quan trọng, ảnh hưởng đến cơ chế chia sẻ và quản lý rủi ro, tính khả thi của các dự án, môi trường đầu tư của Việt Nam hiện nay Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Bình xem pháp luật phát triển năng lượng sạch như là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường, nên trong các đánh giá, phân tích về năng lượng sạch,

có nhiều nội dung đánh giá chi tiết về pháp luật liên quan đến khía cạnh môi trường của lĩnh vực này

Trang 12

Điều này gợi mở cho tác giả mở rộng thêm phạm vi nghiên cứu và đi sâu cả vào phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh dưới góc độ của pháp luật về đầu

tư, kinh tế và pháp luật về năng lượng, những khía cạnh đầu tư, kinh tế, thương mại của lĩnh vực này, bao gồm phân tích cơ chế chia sẻ rủi ro theo HĐMBĐ, những đánh giá về thị trường điện, cung cầu và vấn đề an ninh năng lượng, cơ chế giá điện,

và đưa vào phân tích những vấn đề mới, bao gồm cơ chế đấu thầu cạnh tranh, HĐMBĐ trực tiếp, hệ thống lưu trữ điện theo xu hướng công nghệ thế giới

Ngoài ra, còn nhiều nhà nghiên cứu khoa học khác có những nghiên cứu khác về chủ đề năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo ở nhiều góc

độ khác nhau của Việt Nam, hay những nghiên cứu về một nguồn năng lượng cụ thể

(ví dụ: Nguyễn Thị Thúy Hà (2017), “Thực hiện chính sách phát triển điện mặt trời

tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ chính sách công, Hà Nội)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.2 Mục đích cụ thể

Mục tiêu cụ thể của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm để:

Một là, đưa ra giải pháp sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện các văn bản

pháp luật về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT (bao gồm: các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các thông tư của Bộ Công thương liên quan đến điện gió, điện sinh khối, điện sử dụng chất thải rắn, điện mặt trời);

Hai là, tạo tiền đề xây dựng các văn bản pháp luật về khuyến khích đầu tư

các nguồn NLX, NLS, NLTT khác (bao gồm: điện địa nhiệt, điện thủy triều); và

Trang 13

Ba là, đánh giá tính khả thi để ban hành một văn bản pháp luật mang giá trị

pháp lý cao hơn và tính toàn diện hơn về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT và

đề xuất những nội dung, cơ chế khuyến khích cơ bản cần có (ví dụ: Luật Năng lượng tái tạo)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, về thực trạng pháp luật Việt Nam về khuyến khích đầu tư NLX,

NLS, NLTT, cần phải làm rõ những vấn đề, vướng mắc, bất cập thực tế từ các văn bản pháp luật, những hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư vào NLX, NLS, NLTT ở Việt Nam hiện nay

Hai là, tại sao khung pháp luật hiện tại đã có những thu hút đáng kể sự quan

tâm của nhiều thành phần kinh tế, đạt được những thành tựu và những bước phát triển nhất định, song lại phát sinh những vấn đề bất cập, khó khăn mới, mức độ phát triển chưa thực sự có hiệu quả cao nhất, đồng đều, tính ổn định, bền vững, cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường, chưa đủ để tạo ta một thị trường NLX, NLS, NLTT của Việt Nam thực sự phát triển hiệu quả, minh bạch, mà quan trọng nhất là bền vững, lâu dài

Ba là, liên hệ và so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam với hệ thống pháp luật

của một số nước trên thế giới và trong khu vực về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT; từ đó rút ra những kinh nghiệm, thực tiễn tốt của các nước trên thế giới và các nước trong khu vực để áp dụng phù hợp với điều kiện và thực trạng của Việt Nam và đón đầu chuẩn bị và phát triển tương thích với xu thế phát triển NLX, NLS, NLTT trên thế giới, phù hợp với bối cảnh và thực trạng ngành năng lượng của Việt Nam, cùng với các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường đã đặt ra

Bốn là, những giải pháp nào cần có để sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh và hoàn

thiện khung pháp lý hiện tại của Việt Nam về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT để điều chỉnh phù hợp và có tính dự báo tốt hơn cho việc áp dụng trong những năm tới, trong ngắn hạn và trong dài hạn

Năm là, những sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, thay thế cần phải có đối với

khung pháp lý về hợp đồng và giao dịch, trong đó có các HĐMBĐ mẫu đối với các

Trang 14

dự án điện sử dụng nguồn NLX, NLS, NLTT (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện sử dụng chất thải rắn, …) HĐMBĐ là một hợp đồng quan trọng bậc nhất đối với các nhà đầu tư NLX, NLS, NLTT, vì tiền điện thanh toán từ bên mua điện (EVN và các đơn vị trực thuộc) thường là nguồn thu duy nhất của các dự án điện trong vòng đời dự án với thời hạn dài để bù đắp chi phí đầu tư, phát triển dự án, trả

nợ gốc, lãi vay và thu về một khoản lợi nhuận từ việc đầu tư)

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về quy định pháp luật liên quan đến khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT của Việt Nam và có cân nhắc đến thực tiễn tốt và kinh nghiệm của một số nước khác, và phân tích, đánh giá những khó khăn, bất cập khi áp dụng các quy định pháp luật đó vào thực tiễn thị trường năng lượng Việt Nam, và để từ đó đưa ra các giải pháp, phương án lựa chọn, thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các giải pháp, phương án đó để áp dụng phù hợp với điều kiện, bối cảnh và lộ trình phát triển của Việt Nam hiện nay

Hiện nay, NLX, NLS, NLTT được hiểu phổ biến là các nguồn năng lượng không phải các nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch, mà là các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường, ít hoặc không gây ảnh hưởng đến việc phát thải khí nhà kính, góp phần vào thực hiện các mục tiêu tăng tưởng xanh, phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu Các nguồn năng lượng này bao gồm năng lượng từ sức gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối, khí sinh học, thủy triều, chất thải rắn

Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay và trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, khi đề cập đến NLX, NLS, NLTT, tác giả tập trung hơn vào các nguồn năng lượng từ gió, mặt trời, sinh khối, là những nguồn NLX, NLS, NLTT mà Việt Nam có nhiều tiềm năng trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Hiện nay, các văn bản pháp luật Việt Nam chủ yếu sử dụng khái niệm “năng lượng tái tạo” khi đề cập đến các nguồn năng lượng này, cụ thể là dưới góc độ về pháp luật đầu tư, thương mại và năng lượng

Cụ thể, nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng chính sau đây:

Trang 15

Một là, các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực NLX, NLS, NLTT ở

Việt Nam, bao gồm: pháp luật về năng lượng, điện lực, cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện sử dụng NLX, NLS, NLTT (như điện gió, điện sinh khối, điện mặt trời, điện sử dụng chất thải rắn, …), pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, tài nguyên, tài chính – ngân hàng, giải quyết tranh chấp; và

Hai là, hệ thống pháp luật liên quan đến NLX, NLS, NLTT của một số nước

trong khu vực và trên thế giới (ví dụ: Hoa Kỳ, Đức, Úc, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện trong thời gian từ 01 tháng 01 năm 2019 đến 15 tháng 09 năm 2019 Phạm vi nghiên cứu là trong toàn lãnh thổ Việt Nam

Khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT được điều chỉnh bởi nhiều ngành luật khác nhau, trong đó có pháp luật về đầu tư, năng lượng, điện lực, quy hoạch, xây dựng, bảo vệ môi trường, đất đai, thuế

Về lĩnh vực NLX, NLS, NLTT, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung

pháp luật, trong đó có hai nhóm chính sau: Một là, tiếp cận dưới góc độ là một bộ phận của pháp luật về bảo vệ môi trường; và Hai là, tiếp cận dưới góc độ là một bộ phận của pháp luật về đầu tư Với đề tài “Pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh,

năng lượng sạch, năng lượng tái tạo”, Luận văn được thực hiện theo cách tiếp cận thứ

hai, tức là theo cách tiếp cận như là một bộ phận của pháp luật về đầu tư Theo đó, các

nội dung cơ bản của pháp luật khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT bao gồm: Thứ

nhất, pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT; Thứ hai, pháp

luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT

Tuy nhiên, trong luận văn thạc sỹ luật học này, tác giả không đi sâu vào phân tích, đánh giá các khía cạnh sau đây, mặc dù tác giả có cân nhắc và tìm hiểu trong quá trình nghiên cứu:

Thứ nhất, các khía cạnh kinh tế - thương mại, môi trường và kỹ thuật của thị

trường năng lượng của Việt Nam, và thay vào đó, tác giả chỉ đi sâu vào phân tích các khía cạnh pháp luật Các nội dung mà tác giả có đề cập có liên quan đến mặt kỹ

Trang 16

thuật và thương mại cơ bản chỉ cho mục đích thông tin, tham khảo để đánh giá các khía cạnh của pháp luật

Thứ hai, tác giả không đi sâu vào so sánh vai trò, vị trí và đánh giá tác động

giữa NLX, NLS, NLTT và các năng lượng truyền thống khác từ nhiên, nguyên liệu hóa thạch (như nhiệt điện than, nhiệt điện khí, dầu, …) hay giải pháp tổng thể để đảm bảo an ninh năng lượng tổng thể của Việt Nam Do vậy, tác giả không đánh giá

về vấn đề tỷ trọng giữa các nguồn năng lượng này trong cơ cấu năng lượng Việt Nam, hay những giải pháp khác nhau để đảm bảo an ninh năng lượng của Việt Nam hay so sánh vai trò giữa nhiệt điện than và NLX, NLS, NLTT hay những nội dung tương tự Thay vào đó, với chủ trương chính sách của Nhà nước là khuyến khích phát triển NLX, NLS, NLTT, tác giả chỉ tập trung vào phân tích thực trạng và giải pháp về mặt pháp luật về khuyến khích đầu tư để thực hiện mục tiêu này có hiệu quả hơn; hay nói cách khác, là làm thế nào để hoàn thiện hệ thống pháp luật về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT

Thứ ba, khi thực hiện đề tài này, tác giả không giải quyết những vấn đề xung

đột về lợi ích hay quan điểm trái chiều giữa khu vực tư nhân và khu vực công, giữa nhà đầu tư và ngân hàng trong nước hay nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay các bên khác có liên quan hay những ưu tiên khác nhau đối với NLX, NLS, NLTT, mà tập trung đánh giá độc lập về mặt pháp luật để góp phần giúp hệ thống pháp luật có thể được hoàn thiện hơn và góp phần đạt được các mục tiêu phát triển thị trường NLX, NLS, NLTT phát triển thuận lợi

và hiệu quả

5 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu là về các quy định pháp luật của Việt Nam về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT ở Việt Nam, bao gồm: các quy định pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT và các quy định pháp luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT tại Việt Nam

Trang 17

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu nói trên để xây dựng luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

Một là, phương pháp duy vật biện chứng của Triết học Mác – Lê Nin đối với

những vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp luật tại Chương 1 của Luận văn

Hai là, phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, thống kê, đối chiếu,

đánh giá, so sánh, phản biện từ cụ thể (từng cơ chế khuyến khích, từng nguồn năng lượng) cho đến tổng quát (tổng hợp các cơ chế khuyến khích chung) và ngược lại từ tổng quát đến cụ thể, làm rõ và đánh giá các quy định pháp luật của Việt Nam và thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực NLX, NLS, NLTT tại Chương 2

Ba là, phương pháp so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và

nước ngoài về lĩnh vực này, để tìm ra những mặt tích cực, thực tiễn tốt, kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam được trình bày tại Mục về Kinh nghiệm quốc tế về đầu tư NLX, NLS, NLTT và bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam tại Chương 1, cũng như đánh giá mặt hạn chế của quy định pháp luật của Việt Nam tại Chương 2

Bốn là, phương pháp tổng hợp, thống kê, chọn lọc các số liệu thực tế về thị

trường, thực trạng pháp luật về lĩnh vực này ở Việt Nam tại Chương 1 và Chương 2

Năm là, phương pháp phân tích, bình luận, so sánh, suy luận logic để đưa ra

các giải pháp, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Chương 3 dựa trên kết quả phân tích thực trạng pháp luật tại Chương 2

5.3 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu chủ yếu là tại Hà Nội, Việt Nam cho phạm vi nghiên cứu trên toàn lãnh thổ Việt Nam, mà tập trung chủ yếu ở các khu vực, tỉnh, thành phố có tiềm năng phát triển NLX, NLS, NLTT

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn có nhiều điểm mới và cập nhật hơn so với các đề tài khác, đề tài nghiên cứu trước đó đã được hoàn thành, cụ thể:

Thứ nhất, luận văn này góp phần cập nhật, bổ sung những điểm mới để phán

Trang 18

ảnh thực trạng và những sự phát triển trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau khi Việt Nam đã có sự thu hút đáng kể từ khu vực tư nhân tham gia vào đầu tư NLX, NLS, NLTT (đặc biệt là điện mặt trời và điện gió) và những chuyển biến mới sau khi Việt Nam đã có khoảng ba (3) năm để thực hiện Quy hoạch điện VII điều chỉnh

và đang nghiên cứu, chuẩn bị lập Quy hoạch Điện VIII và thực hiện những năm đầu của Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thứ hai, luận văn này đánh giá và phân tích sâu hơn từ nhiều góc độ của các

chủ thể khác nhau tham gia vào thị trường NLX, NLS, NLTT của Việt Nam, bao gồm không chỉ từ quan điểm của Chính phủ, Bộ Công thương, EVN và các doanh nghiệp trong nước, mà còn từ quan điểm của các nhà đầu tư nước ngoài, các định chế tài chính quốc tế, các bên cho vay quốc tế, nước ngoài (những tổ chức đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực NLX, NLS, NLTT trên thế giới và khu vực), cũng như kinh nghiệm quốc tế và liên hệ thực tiễn với hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới và trong khu vực

Thứ ba, luận văn này đưa ra những đánh giá, phân tích về khung pháp lý về

hợp đồng, giao dịch, đặc biệt là những vấn đề pháp lý cụ thể của một loại hợp đồng quan trọng bậc nhất cho các dự án NLX, NLS, NLTT, đó là HĐMBĐ áp dụng cho các dự án NLX, NLS, NLTT

Thứ tư, luận văn này góp phần làm rõ các khái niệm năng lượng xanh, năng

lượng sạch, năng lượng tái tạo và mối tương quan giữa các khái niệm này

Thứ năm, luận văn này đánh giá cả những mặt đạt được và mặt hạn chế của

pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng và thi hành

Thứ sáu, luận văn đưa ra những đánh giá, phân tích về các định hướng

hoàn thiện pháp luật và các giải pháp cụ thể về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Luận văn này có thể đóng góp cả về mặt khoa học cũng như thực tiễn tại

Trang 19

Việt Nam Cụ thể, Chính phủ Việt Nam và các cơ quan Nhà nước có liên quan (ví dụ: Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, …) có thể tham khảo và tiếp thu các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật được đưa ra Ngoài ra, các nhà đầu tư tư nhân, doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có thể tham khảo kết quả nghiên cứu khi cân nhắc đầu tư phát triển các dự án điện sử dụng NLX, NLS, NLTT (ví dụ: sử dụng năng lượng mặt trời từ các dự án điện mặt trời trên mái nhà)

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng

lượng tái tạo và pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Chương 2: Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh,

năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và thực tiễn thi hành tại Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng

xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LƯỢNG XANH,

NĂNG LƯỢNG SẠCH, NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ PHÁP LUẬT

VỀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ NĂNG LƯỢNG XANH,

NĂNG LƯỢNG SẠCH, NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

1.1 Những vấn đề lý luận về năng lượng xanh, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo

1.1.1 Khái niệm về năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

NLX, NLS, NLTT đều là các dạng năng lượng nên chúng đều có những đặc điểm cơ bản như mọi loại năng lượng khác trong tự nhiên Theo từ điển tiếng Việt:

“Năng lượng” là danh từ chỉ đại lượng vật lý đặc trưng cho khả năng sinh công của

một vật [53, tr.661] Theo thuyết tương đối của Albert Einstein, “năng lượng” được

xác định là một thước đó khác của lượng vật chất được xác định theo công thức liên quan khối lượng toàn phần E = mc2 (khối lượng nhân với một hằng số có đơn vị là vận tốc bình phương) Đơn vị để đo năng lượng trong hệ đo lường quốc tế là kg(m/s)

Cho đến ngày nay, các nguồn năng lượng nêu trên vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt và sản xuất, chủ yếu là sản xuất công nghiệp, đặc biệt là dầu khí Hiện nay, vị thế của nguồn năng lượng từ dầu khí vẫn đang đóng vai trò quan trọng, mặc dù thế giới đang có khuynh hướng đa dạng hóa việc khai thác và sử dụng nhiều nguồn năng lượng khác nhau Trong những năm gần đây, việc sử dụng các nguồn nguyên – nhiên – vật liệu hóa thạch tạo ra những quan ngại và nguy cơ

về viễn cảnh thiếu hụt nguồn năng lượng này trong tương lai, cũng như những quan ngại về việc phát sinh những tác động tiêu cực của nguồn năng lượng này đến môi trường và ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu

Ở Việt Nam, có những quan điểm khác nhau về các khái niệm NLX, NLS, NLTT và cách sử dụng các khái niệm này, song khái niệm “năng lượng tái tạo” là khái niệm được sử dụng phổ biết nhất trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam

Trang 21

Cụ thể, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về năng lượng tái tạo nằm trong các văn bản pháp luật khác nhau của Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa được đưa ra bằng việc liệt kê các nguồn năng lượng tái tạo Chẳng hạn, theo Thông tư số 32/2014/TT-BCT của Bộ Công thương ngày 09/10/2014 quy định về trình tự xây dựng, áp dụng Biểu giá chi phí tránh được và ban hành HĐMBĐ mẫu cho các nhà

máy thủy điện nhỏ, NLTT được định nghĩa như sau: “Năng lượng tái tạo là năng

lượng được sản xuất từ thủy điện nhỏ, gió, mặt trời, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối, đốt chất thải rắn trực tiếp, khí chôn lấp rác thải, khí của nhà máy xử lý rác thải và khí sinh học” [4, Điều 2, khoản 12] Theo Thông tư số 40/2014/TT-BCT của Bộ

Công Thương ngày 05 tháng 11 năm 2014 quy định quy trình điều độ hệ thống điện

quốc gia, “năng lượng tái tạo bao gồm: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng

lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học” [5, Điều 79, khoản 2]

Theo Quyết định số 2068/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, một trong các quan điểm phát triển của Việt Nam là:

Chú trọng sử dụng các công nghệ đã được kiểm chứng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, như thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, khí sinh học để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo cung cấp có hiệu quả điện năng cho hệ thống điện quốc gia và nhiệt năng cho nhu cầu nhiệt trong sản xuất và sinh hoạt [43 Điều 1, điểm 3, mục I] Theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05 tháng

12 năm 2011 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, một trong các chiến lược của Việt Nam là:

Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất năng lượng

từ các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới, bao gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học, năng lượng vũ trụ [40, Điều 1, điểm 5a) mục IV]

Nhìn chung, NLTT được hiểu là những nguồn năng lượng mà nếu đo bằng

Trang 22

các chuẩn mực của con người là vô hạn Khái niệm vô hạn ở đây nên được hiểu theo hai nghĩa Một là, năng lượng có thể nhiều đến mức không thể cạn kiệt trước sự sử dụng của con người (ví dụ: năng lượng mặt trời) Hai là, năng lượng có thể tự tái tạo được trong một khoảng thời gian ngắn và liên tục (ví dụ: năng lượng sinh khối)

Về khái niệm “năng lượng sạch” và “năng lượng xanh” thì còn có các quan điểm khác nhau và việc sử dụng các khái niệm này chưa được thống nhất và hoàn toàn rõ ràng trong các văn bản pháp luật

Hiện tại, ở nước ta, nhìn chung, còn có hai luồng quan điểm chính khác nhau

về khái niệm năng lượng sạch:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng năng lượng sạch là những nguồn năng lượng mà việc sử dụng, sản xuất chúng thân thiện với môi trường Những người

theo quan điểm này không xem tiêu chí “có thể tái tạo được” là bắt buộc đối với

năng lượng sạch Điều đó có nghĩa rằng, năng lượng sạch có thể có nguồn gốc từ nguyên, nhiên, vật liệu hóa thạch Những người theo quan điểm này đề cao giải pháp khoa học – công nghệ trong việc sản xuất, sử dụng năng lượng hóa thạch đảm bảo ít hoặc không gây ô nhiễm môi trường cũng có thể được xem là năng lượng sạch (ví dụ: than sạch, năng lượng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG))

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng năng lượng sạch là những nguồn năng lượng không phải năng lượng hóa thạch, có thể tái tạo được và việc sử dụng chúng thân thiện với môi trường hơn so với năng lượng hóa thạch Những người theo quan điểm này dường như đồng nhất khái niệm năng lượng sạch với khái niệm năng lượng tái tạo Thật vậy, trước đây, khoản 1 Điều 33 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã đưa ra khái niệm năng lượng sạch, năng lượng tái tạo như sau:

“Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ gió, mặt

trời, địa nhiệt, nước, sinh khối và các nguồn tái tạo khác” Theo cách định nghĩa

đó, Luật bảo vệ môi trường 2005 trước đây đồng nhất (hay không tách rời) hai khái niệm năng lượng sạch và khái niệm năng lượng tái tạo Đến nay, Luật Bảo vệ

môi trường 2014 đã khắc phục vấn đề này bằng việc đưa ra khái niệm: “Năng

lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa

Trang 23

nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học và các nguồn tài nguyên năng lượng có khả năng tái tạo khác” [32, Điều 43, khoản 1]

Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta chưa đưa ra khái niệm năng lượng sạch mà mang tính khái quát hóa hay xác nhận quan điểm chính thức của Chính phủ về vấn đề này Trên thực tế, năng lượng sạch thường được hiểu rộng rãi và đơn giản nhất là các nguồn năng lượng ít hoặc không gây ảnh hưởng đến môi trường Trên thực tế, khái niệm năng lượng sạch thường được sử dụng cho mục đích cụ thể nhất định, như để phân biệt với các nguồn năng lượng hóa thạch gây ảnh hưởng xấu hay đáng kể đến môi trường (như năng lượng từ than đá) hay khi đánh giá tác động của năng lượng đến môi trường

Khái niệm “năng lượng xanh” cũng được đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học hay một số văn bản pháp luật nhất định, nhưng khái niệm “năng lượng xanh” vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, thống nhất và mang tính khái quát trong các văn bản pháp luật hiện nay Năng lượng xanh thường được hiểu là các nguồn năng lượng mà việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường, và cách hiểu này có phần tương tự như khái niệm “năng lượng sạch” đã thảo luận trên đây Hiện nay, vẫn còn có những quan điểm khác nhau về việc liệu năng lượng xanh chỉ bao gồm các nguồn năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường thôi hay còn bao gồm cả các nguồn năng lượng hóa thạch với công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường (ví dụ: công nghệ sản xuất than sạch, công nghệ sản xuất điện, năng lượng từ khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), …)

Do vậy, khái niệm năng lượng sạch và năng lượng xanh hẹp hơn hay rộng hơn khái niệm năng lượng tái tạo vẫn còn chưa hoàn toàn rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật vì điều này còn phụ thuộc vào sự cải tiến và phát triển về công nghệ Các khái niệm “năng lượng sạch” và “năng lượng xanh” được hiểu là các nguồn năng lượng thân thiện với môi trường được sử dụng chủ yếu trong pháp luật

về bảo vệ môi trường

Mặc dù vậy, từ phân tích nêu trên, tác giả cho rằng khái niệm “năng lượng tái tạo” là khái niệm có nội hàm, đặc điểm, tính chất rõ ràng hơn cả và dễ sử dụng

Trang 24

nhất cho mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực này Như đã đề cập trên đây, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các văn bản pháp luật cũng chủ yếu sử dụng khái niệm năng lượng tái tạo cho mục đích lập pháp Khái niệm “năng lượng tái tạo” là khái niệm rõ ràng để phân biệt với các nguồn năng lượng từ nguyên – nhiên – vật liệu hóa thạch cho mục đích xây dựng hệ thống pháp luật liên quan Khái niệm “năng lượng tái tạo” được sử dụng trong pháp luật về đầu tư, pháp luật về năng lượng

1.1.2 Các nguồn năng lượng sạch, năng lượng xanh và năng lượng tái tạo

Những nguồn NLX, NLS, NLTT chủ yếu hiện nay bao gồm: năng lượng từ sức gió, mặt trời, sinh khối, thủy triều, sức nước, sóng biển, địa nhiệt Hầu hết các nguồn năng lượng này nhìn chung là các nguồn có thể tái tạo được và thân thiện với môi trường hơn so với các nguồn năng lượng từ nguyên – nhiên – vật liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ)

1.1.2.1 Năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời là dạng năng lượng của dòng bức xạ xuất phát từ Mặt trời đến Trái đất Theo tính toán của nhiều công trình nghiên cứu khoa học, khoảng

5 tỷ năm nữa, phản ứng hạt nhân trên Mặt trời hết nhiên liệu thì Trái đất sẽ không nhận được dòng bức xạ này nữa Với khoảng thời gian đó, ở thời điểm hiện tại, năng lượng mặt trời được coi là vô tận cho việc khai khác và sử dụng của con người trên Trái đất Nhờ hiệu ứng quang điện, năng lượng từ các photon của mặt trời được chuyển hóa thành điện năng, như trong tấm pin quang điện mặt trời Năng lượng của các photon mặt trời cũng có thể được chuyển thành nhiệt năng, được ứng dụng cho bình đun nước từ năng lượng mặt trời hoặc làm sôi nước trong các máy nhiệt điện của tháp mặt trời hoặc vận động của hệ thống nhiệt như máy điều hòa mặt trời

Năng lượng mặt trời được coi là vô tận và không sản sinh ra chất thải gây ô nhiễm môi trường Từ rất lâu, năng lượng mặt trời được ứng dụng cho đời sống dưới dạng nung nóng Tuy nhiên, việc sử dụng đó mang tính chất đơn giản Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc, các nước

Trang 25

Tây Âu, … đã sử dụng năng lượng mặt trời như một giải pháp thay thế một phần các nguồn năng lượng từ nguyên – nhiên – vật liệu hóa thạch

1.1.2.2 Năng lượng gió

Gió được tạo ra từ sự chuyển động của không khí dưới sự chênh lệch áp suất khí quyển Từ thời cổ đại, con người đã biết sử dụng năng lượng gió bằng cách lắp đặt và xây dựng các cối xay gió để xay xát mía hay lúa mạch Sau này, con người đã biết sử dụng sức gió để quay các tuabin phát điện Năng lượng gió cũng được coi là

vô tận và không có chất thải

1.1.2.3 Năng lượng sinh khối

Sinh khối là thuật ngữ có nội hàm rộng bao gồm những vật chất có nguồn gốc sinh học hoặc chứa một số thành phần hóa học đặc biệt có thể sử dụng như một số nguồn năng lượng Sinh khối bao gồm các loại thực vật, bã thải trong công nghiệp, lâm nghiệp, giấy vụn, meetan từ các bãi chôn lấp rác thải, phân trong chăn nuôi

Năng lượng sinh khối sử dụng để sản xuất điện bao gồm: phụ phẩm, phế thải trong sản xuất nông nghiệp, chế biến nông lâm sản và các loại cây trồng khác có thể sử dụng làm nhiên liệu cho sản xuất điện Dự án điện sinh khối là dự án nhà máy phát điện chủ yếu sử dụng năng lượng sinh khối để sản xuất điện

1.1.2.4 Năng lượng thủy triều

Năng lượng thủy triều là năng lượng được tạo ra từ dòng thủy triều lên xuống Dòng năng lượng này có thể giúp quay cánh quạt chạy máy phát điện Đây cũng được coi là một dạng năng lượng vô tận Với khoa học công nghệ hiện nay, thủy triều được dự báo tương đối chính xác Tuy nhiên, để sản xuất điện từ năng lượng thủy triều cần một diện tích tự nhiên rộng và lượng đầu tư lớn cho thiết bị, xây dựng Mô hình này cũng chỉ hoạt động được trong khoảng thời gian thủy triều lên xuống Thực tế, có thể có rất hạn chế những nơi trên thế giới có đủ mọi điều kiện để phát triển nguồn năng lượng này

1.1.2.5 Năng lượng từ sức nước (thủy điện nhỏ)

Việc sử dụng năng lượng từ sức nước đã diễn ra từ thời cổ đại như nước dùng trong các hạng mục thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, đồng hồ nước,

Trang 26

cối xay nước, … Khi xã hội ngày càng phát triển, con người biết ứng dụng khoa học

kỹ thuật tốt hơn để sử dụng nguồn năng lượng này hiệu quả hơn Ngày nay, sản xuất điện từ năng lượng sức nước được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn Nước được dự trữ trong hồ với những con đập rất lớn Khi nước được rơi tự do sẽ tạo ra một lượng năng lượng tương ứng với khối lượng của nước, tỷ lệ với lực hút của trái đất và độ cao Khối lượng năng lượng đó sẽ làm quay cánh quạt của máy phát điện (lúc này thế năng của nước chuyển hóa thành động năng) và tạo ra điện năng để sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất

Ưu điểm của việc sản xuất điện từ sức nước là nhiên liệu mà nó sử dụng gần như vô tận, ít chi phí bảo trì, không tạo chất thải hủy hoại môi trường, điện năng được sản xuất từ mô hình này có tính ổn định và có thể tăng, giảm lượng điện tức thì Bên cạnh đó, việc xây dựng các đập thủy điện còn có tác dụng điều tiết nước và chống lũ Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là chi phí đầu tư ban đầu lớn Ngoài ra, việc xây dựng đập ngăn nước thay đổi rất lớn đến môi trường sinh thái của thượng nguồn và hạ nguồn Các đập thủy điện nếu không được thiết kế hợp lý

có thể tiềm ẩn những ảnh hưởng tiêu cực đến việc điều tiết nước và gây lũ

1.1.2.6 Năng lượng sóng biển

Sóng trên mặt biển do gió thổi tạo ra Sóng biển mang một lượng năng lượng lớn Mặc dù vậy, nguồn năng lượng này trải khắp mặt biển nên rất khó khu gom Ngày nay, nhờ có khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhiều quốc gia đã thành công trong việc sử dụng năng lượng sóng biển để tạo ra cơ năng làm quay tuabin máy phát điện

và chuyển hóa thành điện năng Đây cũng là nguồn năng lượng không có chất thải

và không đòi hỏi chi phí bảo trì Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng thích hợp để

sử dụng công nghệ và xây dựng mô hình năng lượng này Việc sử dụng công nghệ năng lượng này cũng có vấn đề ảnh hướng đến môi trường do tiếng ồn của những tuabin máy phát điện gây ra

1.1.2.7 Năng lượng địa nhiệt

Năng lượng địa nhiệt là dạng năng lượng có sẵn trong lòng đất, có nguồn gốc

từ sự hình thành ban đầu của hành tinh Trái đất, từ hoạt động phân hủy phóng xạ

Trang 27

của các khoáng vật và từ năng lượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái đất Từ thời cổ đại, con người đã biết sử dụng năng lượng địa nhiệt để nung và tắm Ngày nay, loại năng lượng này còn được sử dụng để phát điện

Việc xây dựng nhà máy phát điện địa nhiệt thường không chiếm diện tích quá lớn Các giếng địa nhiệt có khuynh hướng giải phóng khí thải nhà kính bị giữ sâu trong lòng đất, nhưng sự phát thải này thấp hơn nhiều so với phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch thông thường Công nghệ này có khả năng giúp giảm thiểu

sự nóng lên toàn cầu nếu nó được triển khai rộng rãi Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề phải cân nhắc khi phát triển công nghệ và mô hình nhà máy phát điện địa nhiệt Đây

là loại tài nguyên phục hồi chậm, nên nếu khai thác quá mức có thể dẫn tới không hoặc khó phục hồi được Việc tìm và lựa chọn địa điểm thích hợp cho việc khai thác nguồn năng lượng này đòi hỏi kỹ thuật thăm dò và công nghệ cao mới định vị được

1.1.3 Tiềm năng phát triển các nguồn năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo tại Việt Nam

Theo các nghiên cứu của Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế và trong nước, Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng phát triển các nguồn NLX, NLS, NLTT, đặc biệt là năng lượng mặt trời, gió, sinh khối, chất thải rắn, thủy điện nhỏ

Chẳng hạn, đối với năng lượng mặt trời, Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng khá tốt về phát triển nguồn năng lượng mặt trời với độ bức xạ (GHI) đạt từ 4 –

5 kWh/m2/ngày, số giờ nắng khoảng từ 1.600 – 2.700 giờ/năm Đặc biệt, các khu vực phía Tây của vùng Tây Bắc, vùng Nam Trung Bộ, Tây nguyên và Nam Bộ, bức

xạ ở mức cao hơn so với các vùng khác, giá trị bức xạ đạt trên 4,8 kWh/m2/ngày đối với các tỉnh duyên hải từ Nha Trang tới Bà Rịa – Vũng Tàu và dải phía Tây từ Gia Lai đến An Giang, với số giờ nắng đạt khoảng 2.200 – 2.700 giờ/năm Theo nghiên cứu năm 2018 của một số tổ chức tài chính quốc tế và báo cáo của Bộ Công thương, tổng diện tích khả dụng để phát triển điện mặt trời chiếm gần 14% tổng diện tích toàn quốc, với tiềm năng lý thuyết khoảng 1.500 GW [52]

Về tiềm năng phát triển điện mặt trời trên mái nhà, các thành phố tại khu vực

Trang 28

miền Trung và miền Nam đều có tiềm năng lớn về điện mặt trời trên mái nhà Theo kết quả nghiên cứu đánh giá của Bộ Công thương phối hợp với Ngân hàng Thế giới năm 2017 về tiềm năng năng lượng mặt trời trên mái nhà, khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 316.535 tòa nhà có tiềm năng điện mặt trời trên mái nhà với tổng diện tích khoảng 50,4 triệu m2, tổng công suất khoảng 6.380 MWp tương đương 17,9 triệu MWh/năm; khu vực ngoại thành có tiềm năng điện mặt trời trên mái nhà ước tính sơ bộ khoảng 29.000 MWp Khu vực nội thành thành phố Đà Nẵng có khoảng 148.882 tòa nhà có tiềm năng điện mặt trời trên mái nhà với tổng diện tích khoảng 9,15 triệu m2, tổng công suất khoảng 1.140MWp tương đương 3,23 triệu MWp/năm; khu vực ngoại thành có tiềm năng điện mặt trời trên mái nhà ước tính sơ bộ khoảng 1.000 MWp [52]

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật khuyến khích đầu tƣ năng lƣợng xanh, năng lƣợng sạch, năng lƣợng tái tạo

1.2.1 Khái niệm pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

“Khuyến khích đầu tư” là cơ chế mà Nhà nước, chính phủ hoặc chính quyền địa phương thực hiện nhằm khuyến khích khu vực tư nhân, khu vực công đầu tư vốn, bỏ nhân lực, vật lực, tài lực nói chung hay vào một khu vực nhất định sao cho

có hiệu quả và phát triển về kinh tế - xã hội – môi trường

“Khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo” có nghĩa là cơ chế mà Nhà nước, chính phủ hoặc chính quyền địa phương thực hiện nhằm khuyến khích khu vực tư nhân, khu vực công đầu tư vốn, bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào đầu tư, phát triển NLX, NLS, NLTT Bằng các cơ chế khuyến khích đầu tư đó, NLX, NLS, NLTT được thay đổi theo hướng tích cực hơn, rộng hơn, nhiều hơn, cao hơn, hiệu quả hơn Tích cực hơn thể hiện ở chỗ có thêm các dự

án sản xuất NLX, NLS, NLTT, mở rộng quy mô các dự án năng lượng này, đặc biệt

là các dự án vào vận hành thương mại và phát điện, thay đổi và cải thiện các giải pháp về khoa học – công nghệ làm cho các dự án năng lượng này hoạt động hiệu quả hơn, thị trường năng lượng này hoạt động lành mạnh, minh bạch và góp phần

Trang 29

thực hiện tốt hơn các mục tiêu kinh tế - môi trường – xã hội của đất nước, … Ngoài

ra, nhiều chủ thể, các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường này được hưởng nhiều hơn các kết quả tích cực hơn từ hoạt động đầu tư, kinh doanh của họ, thu hút được sự tham gia, đóng góp và hiệu quả đầu tư của các thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia, từ Chính phủ, các cơ quan Nhà nước khác, nhà đầu tư, nhà phát triển, các ngân hàng, tổ chức tài chính, nhân dân và chính quyền địa phương

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin: “Pháp luật là hệ thống các

quy tắc xử sự mang tính bắt buộc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội” [49] Pháp luật là ý chí của Nhà nước và điều

chỉnh các quan hệ xã hội Khi nhà nước muốn bảo vệ các quan hệ xã hội nào, Nhà nước xây dựng, ban hành các quy định pháp luật để bảo vệ quan hệ xã hội đó và áp dụng có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể trong xã hội thực hiện Tương tự, khi Nhà nước nhận thấy việc đầu tư vào NLX, NLS, NLTT là cần thiết, Nhà nước ban hành các quy định pháp luật để khuyến khích và kích thích sự phát triển của lĩnh vực này Tức là xã hội sẽ tăng mạnh việc khai thác, sản xuất, sử dụng các dạng năng lượng này và dần dần, từng bước nâng cao vị thế của các nguồn năng lượng này trong cung ứng điện năng và trong tương quan tỷ trọng năng lượng và cán cân so với các nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch truyền thống

Từ sự phân tích nói trên, pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật

do Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích, thúc đẩy và kích thích sự đầu tư, phát triển, khai thác, sản xuất và sử dụng các nguồn năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đáp ứng các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường và phát triển bền vững

Pháp luật về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT là tổng hợp các quy phạm pháp luật khuyến khích và kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp tới lợi ích của chủ thể khai thác, sản xuất, sử dụng NLX, NLS, NLTT Những khuyến khích, ưu đãi trực tiếp mà các chủ thể này có được có thể là các lợi ích tài chính như giá mua

Trang 30

điện cao, ưu đãi tốt, miễn giảm thuế (thuế thu nhập, thuế nhập khẩu), miễn giảm tiền sử dụng đất, sử dụng mặt nước, mặt biển, Ngoài ra, những khuyến khích và

ưu đãi còn có thể thể hiện qua việc lập quy hoạch hiệu quả, quy trình đầu tư, xây dựng và vận hành dự án thuận lợi bảo đảm việc thực thi các cơ chế khuyến khích, xây dựng một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh, thống nhất, đầy đủ, toàn diện và tân tiến để khuyến khích và kích thích được sự đầu tư và phát triển NLX, NLS, NLTT

từ các thành phần kinh tế tham gia

1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT được điều chỉnh bởi nhiều ngành luật khác nhau, trong đó có pháp luật về đầu tư, năng lượng, điện lực, quy hoạch, xây dựng, bảo vệ môi trường, đất đai, thuế

Về lĩnh vực NLX, NLS, NLTT, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội

dung pháp luật, trong đó có hai nhóm chính sau: Một là, tiếp cận dưới góc độ là một

bộ phận của pháp luật về bảo vệ môi trường; và Hai là, tiếp cận dưới góc độ là một

bộ phận của pháp luật về đầu tư

Với đề tài “Pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng

sạch, năng lượng tái tạo”, Luận văn được thực hiện theo cách tiếp cận thứ hai, tức

là theo cách tiếp cận như là một bộ phận của pháp luật về đầu tư

Theo đó, các nội dung cơ bản của pháp luật khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT bao gồm:

Thứ nhất, pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT; Thứ hai, pháp luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT

Cách tiếp cận này phù hợp với quy định pháp luật về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối là các dự án NLX, NLS, NLTT phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay [47]

1.2.2.1 Pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT là tổng hợp

Trang 31

các quy phạm pháp luật điều chỉnh, chi phối, tác động đến các cơ chế khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT Các quy phạm này tác động đến các quan hệ xã hội cùng loại phát sinh từ các hoạt động, các giao dịch, các cơ chế nhằm đưa ra những giải pháp hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho việc đầu tư, khai thác, vận hành dự án, sử dụng các nguồn NLX, NLS, NLTT ở Việt Nam Các quy định pháp luật này tạo ra hành lang pháp lý an toàn, hỗ trợ và bảo đảm cho việc thực thi pháp luật về đầu tư, ứng dụng, khai thác những tiềm năng có lợi của các nguồn NLX, NLS, NLTT ở Việt Nam

Pháp luật về các cơ chế khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cơ chế áp dụng trách nhiệm mua điện bắt buộc bởi Nhà nước

thông qua Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Pháp luật quy định bên mua điện (là EVN hoặc đơn vị thành viên được ủy quyền) có trách nhiệm mua toàn bộ điện năng được sản xuất từ các dự án điện từ các nguồn NLTT; ưu tiên khai thác toàn bộ công suất, điện năng phát của các dự án điện NLTT đưa vào vận hành thương mại Các dự án điện sử dụng nguồn NLTT để sản xuất điện được ưu tiên đấu nối với hệ thống điện quốc gia Việc mua bán điện được thực hiện thông qua HĐMBĐ được lập theo HĐMBĐ mẫu áp dụng cho các

dự án điện từ nguồn NLTT do Bộ Công Thương ban hành Đây là cơ chế bảo đảm việc mua điện bởi Nhà nước thông qua các đơn vị điện lực trực thuộc EVN để tạo

sự chắc chắn, an tâm và rõ ràng trong việc thực hiện nghĩa vụ mua điện của EVN

Thứ hai, cơ chế giá điện ưu đãi để khuyến khích đầu tư và phát triển các dự

án NLX, NLS, NLTT

Giá mua bán điện tùy thuộc vào các điều kiện của các khu vực khác nhau và các đặc điểm của công nghệ phát điện từ các nguồn NLX, NLS, NLTT khác nhau, theo nguyên tắc giúp thúc đẩy sự phát triển và sử dụng NLX, NLS, NLTT, đủ khuyến khích để bảo đảm cho nhà đầu tư có thể thu hồi được chi phí và có lợi nhuận hợp lý; giá mua bán điện được điều chỉnh kịp thời, phù hợp với sự phát triển của các công nghệ sử dụng nguồn NLX, NLS, NLTT và môi trường đầu tư tại Việt Nam

Trang 32

Hiện nay, pháp luật quy định về mức giá mua điện FiT đối với từng nguồn NLX, NLS, NLTT mà Việt Nam có tiềm năng tốt, cụ thể như sau:

Một là, đối với năng lượng điện mặt trời: Theo Quyết định số

11/2017/QĐ-TTg ngày 11 tháng 04 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ, các dự án điện mặt trời được hưởng mức giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.086 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương với 9,35 UScents/kWh, theo tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ngày 10 tháng 4 năm 2017 là 22.316 đồng/USD) Giá bán điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD Mức giá này chỉ áp dụng cho các dự án đã vào vận hành thương mại trước ngày 30 tháng 06 năm 2019 và áp dụng cho thời hạn 20 năm

kể từ ngày vận hành thương mại [45]

Đối với các dự án điện mặt trời khác chưa vào vận hành trước ngày 30 tháng

06 năm 2019, các dự án điện mặt trời đang đề xuất triển khai sẽ được điều chỉnh và phụ thuộc vào cơ chế giá mua điện mới áp dụng cho giai đoạn từ ngày 01 tháng 07 năm 2019 Theo Dự thảo Quyết định cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam đề ngày 06 tháng 12 năm 2019, Bộ Công thương đã dự kiến đề xuất mức giá mua điện tương đương 7,69 UScents/kWh (đối với dự án điện mặt trời nổi), 7,09 UScents/kWh (đối với dự án điện mặt trời mặt đất) và 8,38 UScents/kWh (đối với dự án điện mặt trời mái nhà) cho một số dự án nhất định

Hai là, đối với năng lượng điện gió: Theo Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg

ngày 10 tháng 09 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ, mức giá mua điện gió là 8,5 UScent/kWh (đối với các dự án điện gió trong đất liền) và 9,8 UScent/kWh (đối với các dự án điện gió trên biển) Mức giá mua điện gió này áp dụng cho các dự án điện gió vào vận hành thương mại trước 01 tháng 11 năm 2021 [46]

Ba là, đối với năng lượng điện sinh khối: Theo Quyết định số

24/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 tháng 03 năm 2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam, đối với các dự án đồng phát nhiệt - điện: Bên mua điện (EVN) có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện dư từ các Dự án đồng phát nhiệt - điện sử dụng năng lượng sinh khối với giá điện tại điểm giao nhận là

Trang 33

1.220 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 5,8 UScents/kWh) Giá mua bán điện này được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD Dự án điện đồng phát nhiệt - điện là dự án điện sinh khối sản xuất và cung cấp đồng thời

cả nhiệt năng và điện năng [42]

Đối với các dự án điện sinh khối khác, cụ thể là các dự án nguồn điện sử dụng năng lượng sinh khối để phát điện, nhưng không phải là dự án đồng phát nhiệt

- điện, thì giá bán điện được áp dụng theo biểu giá chi phí tránh được áp dụng cho các dự án điện sinh khối

Biểu giá chi phí tránh được áp dụng cho dự án điện sinh khối là biểu giá được tính theo các chi phí tránh được của hệ thống điện quốc gia khi có một (01) kWh điện năng phát từ nhà máy điện sử dụng năng lượng sinh khối được phát lên

hệ thống điện quốc gia Chi phí tránh được của hệ thống điện quốc gia là chi phí sản xuất một (01) kWh của tổ máy nhiệt điện sử dụng than nhập khẩu trong hệ thống điện quốc gia, chi phí này có thể tránh được nếu Bên mua điện (EVN) mua một (01) kWh từ một nhà máy điện sử dụng năng lượng sinh khối thay thế

Bốn là, đối với năng lượng điện từ chất thải rắn: Dự án phát điện sử dụng

chất thải rắn là dự án nhà máy phát điện sử dụng năng lượng chính từ chất thải rắn, được đốt trực tiếp hoặc đốt khí thu gom từ các bãi chôn lấp chất thải rắn để sản xuất điện, cung cấp một phần hoặc toàn bộ điện năng sản xuất lên lưới điện quốc gia Chất thải rắn sử dụng để phát điện là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác, không chứa các chất thải nguy hại

Theo Quyết định số 31/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 05 tháng 05 năm 2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn tại Việt Nam, bên mua điện (EVN) có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện

từ các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn với giá mua điện tại điểm giao nhận điện (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) cụ thể như sau: đối với các dự án phát điện đốt chất thải rắn trực tiếp là 2.114 đồng/kWh (tương đương 10,05 US cents/kWh); đối với các dự án phát điện đốt khí thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải rắn là 1.532

Trang 34

đồng/kWh (tương đương 7,28 US cents/kWh) Giá mua điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD

Năm là, đối với thủy điện nhỏ sử dụng NLTT: Giá mua bán điện theo Hợp

đồng này được áp dụng theo Biểu giá chi phí tránh được do Cục Điều tiết điện lực công bố hằng năm Biểu giá chi phí tránh được là biểu giá được tính toán căn cứ vào các chi phí tránh được của hệ thống điện quốc gia khi có 01 (một) kWh công suất phát từ nhà máy thủy điện nhỏ được phát lên lưới điện phân phối Chi phí tránh được là chi phí sản xuất 01 (một) kWh của tổ máy phát có chi phí cao nhất trong hệ thống điện quốc gia, chi phí này có thể tránh được nếu Bên mua mua 01kWh từ một nhà máy thủy điện nhỏ thay thế

Thứ ba, cơ chế Hợp đồng mua bán điện (HĐMBĐ) mẫu áp dụng trong giao

dịch mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Bộ Công thương đã ban hành các HĐMBĐ mẫu cho điện mặt trời (cả dự án điện nối lưới và hệ thống điện mặt trời mái nhà), điện gió, điện sinh khối, điện phát

từ chất thải rắn, thủy điện nhỏ HĐMBĐ mẫu là HĐMBĐ do Bộ Công Thương ban hành làm cơ sở cho việc áp dụng trong giao dịch mua bán điện giữa bên bán điện và bên mua điện (EVN) Theo đó, việc sử dụng HĐMBĐ mẫu cho các dự án điện gió

là bắt buộc trong mua bán điện được sản xuất từ các nguồn NLTT Bên bán điện và EVN chỉ được bổ sung nội dung của HĐMBĐ mẫu để làm rõ trách nhiệm, quyền hạn của các bên mà không được làm thay đổi nội dung cơ bản của HĐMBĐ mẫu Thời hạn của HĐMBĐ đối với các dự án điện được sản xuất từ các nguồn NLTT là

20 năm kể từ ngày vận hành thương mại Sau 20 năm, hai bên có thể gia hạn thời gian hợp đồng hoặc ký hợp đồng mới theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó

Thứ tư, ưu đãi về huy động vốn đầu tư và tín dụng đầu tư

Tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các dự án điện mặt trời được huy động vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các

dự án điện mặt trời theo quy định của pháp luật Chính phủ quy định rằng các dự án phát triển và sử dụng nguồn NLX, NLS, NLTT được hưởng các ưu đãi về tín dụng đầu tư Theo đó, các quy định pháp luật về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu

Trang 35

của Nhà nước được áp dụng cho các dự án sử dụng nguồn NLX, NLS, NLTT Cụ thể, theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31 tháng 03 năm 2017

về tín dụng đầu tư của Nhà nước, các dự án đầu tư xây dựng nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng: gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh học, điện sinh khối và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo thuộc ngành, nghề, lĩnh vực thuộc danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước do Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện

Thứ năm, ưu đãi về thuế:

Về thuế nhập khẩu: Pháp luật quy định các dự án phát triển và sử dụng nguồn NLX, NLS, NLTT (như điện gió, mặt trời, sinh khối) được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho dự án; hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất của dự án theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Về thuế thu nhập doanh nghiệp: Pháp luật quy định về việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án phát triển và sử dụng nguồn NLTT được thực hiện như đối với dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về thuế Theo Luật Đầu tư, lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo là ngành ưu đãi đầu tư [33, Điều 16, khoản 1, điểm b]

Thứ sáu, ưu đãi về đất đai: Các dự án điện được sản xuất từ nguồn NLTT

(như điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối), công trình đường dây và trạm biến áp

để đấu nối với lưới điện được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước theo quy định của pháp luật áp dụng cho dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu

tư Theo Luật Đầu tư, lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo là ngành ưu đãi đầu tư [33, Điều 16, khoản 1, điểm b] Ngoài ra, căn cứ vào quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tạo điều kiện thu xếp quỹ đất để chủ đầu tư thực hiện các dự án Việc bồi thường,

hỗ trợ giải phóng mặt bằng được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai

Trang 36

1.2.2.2 Pháp luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Pháp luật về quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh, chi phối, tác động đến quy hoạch và đầu tư xây dựng các dự án đầu tư NLX, NLS, NLTT Các quy phạm này tác động đến nội dung, trình tự lập, thẩm định, phê duyệt, công bố và thực hiện quy hoạch, nội dung, trình tự thực hiện đầu tư, xây dựng, vận hành các dự án nhằm đảm bảo việc thực thi các cơ chế, khuyến khích đầu tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư, ứng dụng, khai thác những tiềm năng có lợi của các nguồn NLX, NLS, NLTT ở Việt Nam

Thứ nhất, nội dung pháp luật về quy hoạch phát triển các dự án NLX, NLS,

NLTT bao gồm nội dung, trình tự lập, thẩm định, phê duyệt, công bố và thực hiện quy hoạch

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch, “quy hoạch” là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để

sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định

Quy hoạch là một công cụ quan trọng để Nhà nước khuyến khích đầu tư vào NLX, NLS, NLTT Quy định khẳng định mục tiêu và nguyên tắc ưu tiên phát triển NLX, NLS, NLTT và sử dụng các nguồn năng lượng này cho phát điện, tăng tỷ trọng các nguồn NLX, NLS, NLTT trong cơ cấu nguồn năng lượng và phê duyệt danh sách các dự án NLX, NLS, NLTT cụ thể để đầu tư, xây dựng và vận hành trong thời gian dài hạn Điều này sẽ góp phần khuyến khích các nhà đầu tư tham gia đầu tư vào các dự án đó

Theo Luật Quy hoạch, hệ thống quy hoạch quốc gia bao gồm: (i) quy hoạch cấp quốc gia, (ii) quy hoạch vùng, (iii) quy hoạch tỉnh, và (iv) quy hoạch tỉnh Quy hoạch cấp quốc gia bao gồm quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia Quy

Trang 37

hoạch ngành quốc gia là quy hoạch cấp quốc gia, cụ thể hóa quy hoạch tổng thể quốc gia theo ngành trên cơ sở kết nối các ngành, các vùng có liên quan đến kết cấu

hạ tầng, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học

Liên quan đến lĩnh vực NLX, NLS, NLTT, Danh mục quy hoạch ngành quốc gia theo Luật Quy hoạch bao gồm: Quy hoạch tổng thể về năng lượng và Quy hoạch phát triển điện lực Cụ thể, nội dung Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia bao gồm phân tích, đánh giá về các yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh

và thực trạng phân bố, sử dụng không gian của hệ thống kết cấu hạ tầng năng lượng, bao gồm năng lượng mới, năng lượng tái tạo và các dạng năng lượng khác Nội dung Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia bao gồm đánh giá các nguồn năng lượng tái tạo cho phát điện và các năng lượng khác

Việc đầu tư xây dựng dự án NLX, NLS, NLTT phải phù hợp với quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (tương tự như các dự án năng lượng khác) Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch bao gồm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa quy hoạch với chiến lược và kế hoạch phát triển, bảo đảm sự tuân thủ, tính liên tục, kế thừa, ổn định, thứ bậc trong hệ thống quy hoạch quốc gia Nhà nước

có chính sách khuyến khích và huy động nguồn lực để thúc đẩy phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy hoạch đã được quyết định hoặc phê duyệt

Thứ hai, nội dung pháp luật về đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT

Nội dung pháp luật về đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT bao gồm nội dung, trình tự thực hiện đầu tư, xây dựng, vận hành các dự án Việc đầu

tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường và các quy định liên quan khác

Khi nội dung, quy trình thực hiện đầu tư, xây dựng và vận hành phải được thực hiện hiệu quả, minh bạch, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư thì sẽ khuyến khích các nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển dự án Thêm vào đó, pháp luật quy định các trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bảo đảm trách nhiệm

Trang 38

trong việc cấp các giấy phép, chấp thuận cần thiết để phát triển dự án cũng góp phần bảo vệ quyền của các nhà đầu tư, khuyến khích hoạt động đầu tư

Nội dung pháp luật về đầu tư xây dựng các dự án NLX, NLS, NLTT cụ thể bao gồm:

Một là, pháp luật về đầu tư và phát triển dự án: Đây là giai đoạn đầu tiên

trong quá trình phát triển dự án, bao gồm: lập, khảo sát, nghiên cứu, thẩm định và phê duyệt đầu tư, thực hiện các thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thành lập doanh nghiệp dự án, và sau đó là các thủ tục về mua bán điện với các đơn vị của EVN, thủ tục về bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy, đất đai, tài nguyên, thiết kế, xây dựng theo các quy định pháp luật liên quan

Hai là, pháp luật về triển khai xây dựng dự án: Ở giai đoạn này, chủ dự án đầu

tư thực hiện các hoạt động xây dựng, tạo lập cơ sở vật chất phục vụ cho việc thực hiện và vận hành dự án, trong đó: doanh nghiệp dự án ký kết các hợp đồng xây dựng, mua sắm thiết bị với các nhà thầu, tư vấn để bắt đầu xây dựng công trình năng lượng, nhà máy điện và các hạng mục, công trình đấu nối (trạm biến áp, đường dây điện)

Ba là, pháp luật về kiểm tra, nghiệm thu, đưa nhà máy điện, công trình năng

lượng vào vận hành thương mại và phát điện: Trong giai đoạn này, chủ dự án làm việc với các bên nhà thầu và các đơn vị có liên quan thuộc EVN để nghiệm thu công trình năng lượng và hoàn tất các thủ tục cần thiết để đóng điện điểm đấu nối, công nhận ngày vận hành thương mại và bắt đầu phát điện thương mại Các chủ dự

án và nhà thầu phải thực hiện các thủ tục với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như trong quá trình cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện trước

và trong quá trình hoàn tất thủ tục để được công nhận ngày vận hành thương mại

Bốn là, pháp luật về vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa nhà máy điện, công

trình năng lượng: Trong giai đoạn này, doanh nghiệp dự án và các nhà thầu thực hiện vận hành và bảo dưỡng (khi cần thiết) để đảm bảo việc vận hành dự án phát điện và nhận doanh thu tiền điện từ bên mua điện (EVN)

Năm là, pháp luật về hoàn thành và chấm dứt hoạt động của dự án năng

lượng: Dự án có thể chấm dứt hoạt động sau thời gian hoàn thành dự án (ví dụ: sau

Trang 39

20 năm vận hành thương mại và hoạt động phát điện mà không gia hạn tiếp hoặc do chấm dứt sớm trước thời hạn vì bất kỳ lý do gì hoặc khi chủ dự án muốn chấm dứt

dự án) Trong các trường hợp đó, về mặt thủ tục pháp luật doanh nghiệp và đầu tư,

sẽ có hai hình thức chấm dứt hoạt động chính của các dự án năng lượng này, đó là giải thể hoặc phá sản Trong mỗi trường hợp đó, doanh nghiệp dự án và chủ đầu tư

sẽ thực hiện các thủ tục có liên quan theo quy định pháp luật có liên quan về đầu tư, doanh nghiệp, phá sản Thủ tục áp dụng sẽ phụ thuộc vào lý do và trường hợp chấm dứt hoạt động dự án tương tự như các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác theo quy định pháp luật liên quan

1.2.3 Vai trò của pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT Vai trò của pháp luật về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT được thể hiện như sau:

Thứ nhất, pháp luật là phương tiện, công cụ hữu hiệu để Nhà nước khuyến

khích các thành phần kinh tế, nhà đầu tư trong xã hội tham gia đầu tư, kinh doanh vào NLX, NLS, NLTT, được thể hiện qua các khía cạnh sau đây:

Một là, pháp luật quy định các cơ chế, quy phạm pháp luật cụ thể để khuyến

khích đầu tư, quy định các nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các quyền và lợi ích của các chủ thể khi quản lý, khai thác, đầu tư, sản xuất, kinh doanh và sử dụng các nguồn năng lượng này;

Hai là, pháp luật còn quy định các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm

bảo hiệu quả đầu tư vào các dự án sử dụng nguồn NLX, NLS, NLTT;

Ba là, pháp luật thể chế hóa các cơ chế, chính sách, chủ trương, chiến lược

khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT của Đảng và Nhà nước

Thứ hai, pháp luật đảm bảo thực hiện và thực thi các cơ chế, ưu đãi, khuyến

khích đầu tư, được thể hiện qua các khía cạnh sau đây:

Một là, pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của các nhà đầu tư, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào NLX, NLS, NLTT;

Trang 40

Hai là, pháp luật quy định trình tự, thủ tục thực hiện, biện pháp thực thi các

ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế khuyến khích để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư lựa chọn đầu

tư vào lĩnh vực NLX, NLS, NLTT;

Ba là, pháp luật quy định các chế tài hành chính, kinh tế, hình sự, dân sự,

thương mại được áp dụng khi có hành vi vi phạm, không tuân thủ, không thực hiện của các chủ thể liên quan;

Bốn là, pháp luật quy định các biện pháp, cách thức giải quyết các bất đồng,

tranh chấp, khiếu nại phát sinh từ và liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh và

sử dụng các nguồn năng lượng này

1.2.4 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về khuyến khích đầu tư năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về khuyến khích đầu tư NLX, NLS, NLTT được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã

hội, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, NLX, NLS, NLTT ngày càng trở nên quan trọng, nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống từ nhiên liệu hóa thạch, năng lượng nhập khẩu, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường từ nguồn nhiên liệu hóa thạch, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và đóng góp vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội – năng lượng – môi trường bền vững trong bối cảnh mới của Việt Nam và trên thế giới; từng bước góp phần xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh và hiệu quả, minh bạch và phát triển công nghệ cho đất nước

Việc sử dụng các nguồn NLX, NLS, NLTT mang lại những lợi ích cụ thể:

Một là, việc khai thác và sử dụng NLX, NLS, NLTT góp phần tích cực trong

hoạt động bảo vệ môi trường Khi tỷ trọng NLX, NLS, NLTT tăng thì đồng nghĩa với việc sẽ giảm thiểu một phần và dần dần việc khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch và nhằm giảm thiểu một phần nguy cơ cạn kiệt các các tài nguyên thiên nhiên đó Hơn nữa, việc khai thác và sử dụng các nguồn

Ngày đăng: 20/05/2021, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w