Tài liệu là kết quả của dự án Cung cấp Đa Lợi ích từ REDD+ ở khu vực Đông Nam Á (MB-REDD), được thực hiện bởi Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV. Dự án MB-REDD là một phần của Chương trình Sáng kiến Khí hậu Quốc tế (ICI). Bộ Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên và An toàn Hạt nhân (BMU) Cộng hòa Liên bang Đức hỗ trợ sáng kiến này trên cơ sở quyết định được thông qua bởi Bundestag Đức.
Trang 1Mô hình khuyến khích đa lợi ích: các lựa chọn cho Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh Lâm Đồng
Adrian Enright
Ngày 21 tháng 10 năm 2013
Trang 2Tài liệu này là kết quả của dự án “Cung cấp Đa Lợi ích từ REDD+ ở khu vực Đông Nam
Á’ (MB-REDD), được thực hiện bởi Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV Dự án MB-REDD là
một phần của Chương trình Sáng kiến Khí hậu Quốc tế (ICI) Bộ Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên và An toàn Hạt nhân (BMU) Cộng hòa Liên bang Đức hỗ trợ sáng kiến này trên cơ sở quyết định được thông qua bởi Bundestag Đức
Tác giả muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến Ông Steve Swan, Ông Nguyễn Văn Bằng và Ông Phạm Thành Nam (SNV) vì những đóng góp vô giá cho báo cáo này
Trang 32.1 Mô hình khuyến khích dựa trên đầu vào và đầu ra 5
3 Kế hoạch hành động REDD+ của tỉnh tại Việt Nam 9
5 Các hoạt động REDD+ tiềm năng cho tỉnh Lâm Đồng 14
6 Các mô hình cung cấp Đa Lợi ích trong
6.1 Phát triển nông lâm kết hợp và chuỗi cung ứng bền vững 18
6.2 Nâng cao sản lượng nông nghiệp tại các khu vực
6.3 Hỗ trợ sáng kiến nông nghiệp gia tăng giá
6.4 Chi trả các-bon theo gói dịch vụ hay riêng lẻ trong
6.5 Thúc đẩy các tiêu chuẩn bền vững đối với
6.6 Sổ tiết kiệm kết hợp dựa trên đầu vào và đầu ra 24
Phụ lục 1: Lựa chọn các Chiến lược Hiệu quả cho tình trạng 29
phá rừng trong các Chuỗi Cung cấp
Trang 4Danh sách các bảng, hộp và hình
Hình 1 Rào cản và giải pháp quan trọng để đạt được đa lợi ích
Hình 2 Lựa chọn các Chiến lược Hiệu quả cho tình trạng p
Bảng 1 Các ví dụ điển hình quốc tế về mô hình khuyến khích
Bảng 3 Các hoạt động lựa chọn cho Kế hoạch Hành động REDD+
của tỉnh Lâm Đồng và đa lợi ích tiềm năng của
Bảng 4 Danh sách các chủ rừng tiềm năng thực hiện các
Trang 5
Nông nghiệp & PTNT
triển rừng
vệ và Phát triển rừng
nghiệp & PTNT
cáo, kiểm định
REDD+ Quốc gia
PSA-CABSA payments for carbon, biodiversity and agroforestry
services: chi trả cho carbon, đa dạng sinh học và dịch vụ rừng
đánh giá tác động có sự tham gia
REDD+ tỉnh
Degradation (including forest degradation and the role of conservation, sustainable management of forests and enhancement of forest carbon stocks): Giảm phát thải từ Suy thoái và Mất rừng (bao gồm suy giảm chất lượng rừng và vai trò của bảo tồn, quản lý rừng bền vững
và tăng trữ lượng carbon rừng)
Change: Hiệp ước về Biến đổi Khí hậu Liên hiệp quốc
Emissions from Deforestation and Forest Degradation in Developing Countries: Chương trình hợp tác Liên hiệp quốc về Giảm phát thải từ Suy thoái và Mất rừng
Các từ viết tắt
Trang 6Tóm tắt
Việt Nam là một trong những quốc gia có động lực mạnh mẽ trong việc chuẩn bị Giảm Phát
Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chương trình Hành động Quốc gia REDD+ Một phần của
kế hoạch này quy định sự cần thiết phải xây dựng Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh
(KHHĐ REDD+ tỉnh) cho tám tỉnh bước đầu tập trung vào các hoạt động REDD+ Một trong những tỉnh trọng tâm đó là tỉnh Lâm Đồng thuộc khu vực Tây nguyên Việt Nam Lâm Đồng trở thành trung tâm của các hoạt động thí điểm REDD+ trong giai đoạn I của UN-REDD Từ năm 2009, Lâm Đồng là địa điểm thực hiện một số sáng kiến của Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh Lâm Đồng đang được xây dựng và dự kiến sẽ được hoàn thành trong năm 2014
Mặc dù đã có nhiều tiến triển , nhưng vẫn còn những bất định ngày càng tăng về thời điểm thực hiện và quy mô tài chính các-bon trong tương lai Do đó, tâm điểm của sự chú ý chuyển sang vai trò của REDD+ để tạo ra ‘đa lợi ích’ (Karousakis, 2009; Dickson và cộng sự, 2009; Sasaki và Putz, 2009; Miles và Dickson, 2010; Swan & McNally,2011; Swan và cộng sự,
2010; Parotta và cộng sự, 2012; Rey và cộng sự, 2013; Pistorius và cộng sự, 2010) Đa lợi ích được cung cấp thông qua REDD+ xác định ở đây bao gồm năm loại hình: sinh kế nông thôn bền vững; cải thiện quản trị rừng; tăng cường nhân quyền; bảo tồn đa dạng sinh học
và các dịch vụ hệ sinh thái; và thích ứng với biến đổi khí hậu Tiếp cận theo đa lợi ích được
kỳ vọng vượt hơn cả các kết quả mà REDD+ có thể mang lại về mặt cung cấp tài chính trực tiếp để giảm phát thải đầu ra và khám phá những lợi ích xã hội và môi trường tiềm năng
khác trong REDD+ ngoài các lợi ích các-bon
Cách tiếp cận này trái ngược với tư duy hiện nay tại Việt Nam về mô hình chia sẻ lợi ích
trong REDD+ Cụ thể là những kỳ vọng về lợi ích đáng kể có sẵn để phân phối trực tiếp cho các hộ gia đình, sử dụng một hệ thống phân phối tài chính tập trung và đang được đặt trong bối cảnh không chắn chắn về nguồn tài chính REDD+ trong tương lai và thực tế thấy được các đa lợi ích quy mô rộng hơn Do đó, tài liệu này nhằm mở ra các cuộc đối thoại xung
quanh vấn đề chia sẻ lợi ích bằng cách kết nối các hoạt động lựa chọn của REDD+ với các khuyến khích để cung cấp đa lợi ích
Để đáp ứng sự quan tâm ngày càng tăng về đa lợi ích của REDD+, tài liệu này nghiên cứu các lựa chọn để khuyến khích cung cấp đa lợi ích trong bối cảnh Chương trình Hành động REDD+ của tỉnh Lâm Đồng (PRAP) trong tương lai Đặc biệt là, tài liệu này tham khảo Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển Rừng của tỉnh Lâm Đồng (KHBVPTR) như là một tài liệu hướng dẫn các loại hình hoạt động có khả năng được đưa vào trong PRAP Tài liệu này sẽ tổng
hợp các kết quả phân tích khi xem xét các điển hình quốc tế về mô hình khuyến khích cung cấp đa lợi ích Một loạt các mô hình khuyến khích cụ thể cho các hoạt động tiềm năng ở tỉnh Lâm Đồng sẽ được thảo luận dựa trên những điển hình này Những mô hình này không nên được xem là loại trừ lẫn nhau mà và có thể sử dụng kết hợp Các mô hình cần được xem xét trong bối cảnh của địa phương, như các nguyên nhân chính gây phá rừng và các hoạt động nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm phá rừng và suy thoái rừng
Ví dụ, cần xem xét các khoản đầu tư tiền REDD+ hỗ trợ phát triển nông lâm nghiệp và chuỗi cung ứng mặt hàng nông sản chính ở Lâm Đồng như cà phê Tiềm năng về các hoạt động này được kết hợp với các khoản đầu tư nhắm mục tiêu một cách hợp lý vào các khoản đầu
tư cho cơ sở chế biến sản xuất các mặt hàng thuộc các ngành gia tăng giá trị khác của địa phương (như cacao), bao gồm gần 75% mặt hàng mang lại giá trị cao (KHBVPTR 2011)
Những cơ hội này có thể đặc biệt phù hợp với các mặt hàng như tre nứa, hiện đang bị lãng phí trầm trọng và khó tiếp cận với nguồn vốn
1 Giảm Phát thải Khí Nhà kính thông qua các Nỗ lực để Giảm Mất Rừng và Suy thoái Rừng, Quản lý Bền vững Tài nguyên Rừng,
và Bảo tồn và Tăng cường Trữ lượng Các-bon Rừng
Trang 7Các lựa chọn khác được nghiên cứu bao gồm tìm kiếm cơ hội chia sẻ đất đai
tại các khu rừng bị lấn chiếm và là nguyên nhân chính của mất rừng Trong
trường hợp này, các thỏa thuận giữa các bên tham gia địa phương hướng
tới việc giảm phá rừng hoặc xóa bỏ nạn phá rừng ở khu vực rừng liền kề có
thể nhận được thưởng thông qua các dịch vụ khuyến nông được cải thiện,
hoặc thành lập mô hình “trung tâm và người trồng rừng” (trong đó người nông
dân sản xuất quy mô nhỏ sinh sống ở vùng lân cận các nhà sản xuất lớn hơn
được tiếp cận các dịch vụ khuyến nông và cơ sở chế biến) để tăng thu nhập
và thúc đẩy công tác bảo tồn (Streck và Zurek 2013)
Cũng cần xem xét vai trò của tiêu chuẩn gỗ và nông nghiệp bền vững trong
việc góp phần thúc đẩy sinh kế bền vững và tăng cường giảm mất rừng và
suy thoái rừng Do đó, các kế hoạch mở rộng thí điểm Khai thác Gỗ mang lại
tác động thấp (RIL) trong Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển Rừng (KHBVPTR) có
thể được hỗ trợ thông qua cung cấp tài chính đầu vào cho đào tạo tập huấn
và vốn thông qua REDD+ Các biện pháp này cần kết hợp với điều kiện tuân
thủ đối với các khoản vay để đảm bảo giảm phát thải được thực hiện thành
công tại một thời điểm trong tương lai Ngoài ra, kế hoạch thúc đẩy tái sinh tự
nhiên tại các khu vực suy thoái trong KHBVPTR có thể được lồng ghép với
các tiêu chuẩn nông nghiệp ở các khu rừng bị tàn phá hoặc suy thoái do xâm
lấn Chiến lược tương tự cũng có thể được áp dụng cho các khu vực có phân
giới nông nghiệp với diện tích rừng được bảo vệ Ví dụ trong nỗ lực bảo tồn
dự kiến tại Vườn Quốc gia Cát Tiên và Bidoup Núi Bà, có thể đưa cộng đồng
địa phương tham gia vào công tác tuần tra và giám sát rừng để giúp ngăn
chặn nạn săn bắn bất hợp pháp và phá rừng Việc bồi thường cho những nỗ
lực này theo REDD+ có thể được nghiên cứu thông qua khuyến khích giới
thiệu hệ thống canh tác bền vững để cấp chứng nhận
Điều quan trọng là cần xây dựng dựa trên hệ thống hiện có trong bối cảnh
khuyến khích đa lợi ích thông qua REDD+ Ví dụ, một hệ thống chi trả dựa
trên đầu vào và đầu ra đã được thử nghiệm trong các thí điểm trồng rừng
được KfW hỗ trợ có thể cung cấp một mô hình nhân rộng và có tiềm năng
cung cấp thu nhập lũy tiến song song với các lợi ích quan trọng về môi
trường Cũng cần xem xét các lựa chọn chi trả các-bon theo gói hay riêng lẻ
cho các dịch vụ hệ sinh thái khác trong Hệ thống Chi trả Dịch vụ Môi trường
Rừng (PFES), cung cấp nhiều lợi ích tài chính trung gian hữu hình hơn cho
các bên liên quan địa phương để bồi thường cho các cơ hội sử dụng đất
nông nghiệp trước đây
Khi nghiên cứu các mô hình khuyến khích, phải thừa nhận rằng cơ chế
khuyến khích phải được cân bằng với các hình thức phạt tương ứng Ví dụ,
trong hoạt động khuyến khích nỗ lực tuần tra rừng, cần xem xét các phương
pháp tăng cường thực thi pháp luật và đưa ra hình phạt đối với những đối
tượng không tuân thủ Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng Các nỗ lực lồng ghép
đa lợi ích vào KHHĐ REDD+ của tỉnh thông qua đánh giá tác động môi trường
và xã hội có sự tham gia sẽ bổ sung cho các lựa chọn khuyến khích để đạt
được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong kế hoạch phát triển
ngành lâm nghiệp và sử dụng đất của tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, trong khi
công nhận tầm quan trọng của các hình thức phạt và các cơ chế hỗ trợ khác,
báo cáo này sẽ tập trung cụ thể vào vai trò của REDD+ trong việc cung cấp
đa lợi ích thông qua các mô hình khuyến khích Đi kèm các hình thức phạt
phải được xem là một hoạt động mở rộng thí điểm tiềm năng, hoặc một hoạt
động được lồng ghép vào quá trình xây dựng Kế hoạch Hành động REDD+
của tỉnh Lâm Đồng (PRAP)
Trang 8Giới thiệu
1.1 Bối cảnh
Giảm Phát thải từ Phá rừng và Suy thoái rừng (REDD ) đã tạo ra sự quan tâm và tài chính quan trọng mang tầm quốc tế như một phương tiện để giải quyết vấn đề khí thải các-bon liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp và các ngành sử dụng đất khác Phá rừng và suy thoái rừng
đã đóng góp từ 4-14% lượng phát thải toàn cầu, tạo nỗ lực quan trọng để giảm các hoạt
động sử dụng đất không bền vững góp phần quan trọng cho cam kết toàn cầu về giảm thiểu biến đổi khí hậu (Vermeulen và cộng sự, 2012) Tuy nhiên, sau sự nhiệt tình ban đầu về
REDD+ và những kỳ vọng cung cấp một phương tiện giảm phát thải hiệu quả về chi phí, tiến triển chậm chạp tiếp theo ở với các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cấp quốc tế, sự bất
ổn dài hạn về tài chính, và các thách thức kỹ thuật đã làm hạn chế những tiến bộ đạt được
Do những thách thức này, đã có nhiều sự quan tâm hơn vào việc cung cấp đa lợi ích trong REDD+ (xem Karousakis, 2009; Dickson và cộng sự, 2009; Sasaki và Putz, 2009; SCBD, 2009; Miles và Dickson, 2010, Harvey và cộng sự, 2010; Midgley và cộng sự, 2010; Pistorius
và cộng sự, 2010; Cowling 2013) Đa lợi ích đề cập đến những lợi ích hơn cả việc hấp thụ các-bon, và có thể bao gồm cải thiện bảo tồn đa dạng sinh học, quản trị rừng, mở rộng vốn
xã hội và quyền sử dụng đất đảm bảo hơn cho các cộng đồng địa phương (xem Hộp 1)
Hộp 1: Danh mục Đa Lợi ích tiềm năng trong REDD+
Phát triển nông thôn hướng tới giảm nghèo - REDD+ có thể cung cấp các cơ hội
quan trọng để giảm nghèo nếu REDD+ có thể cung cấp các dòng tài chính đáng kể
cho nông thôn, là khu vực nghèo nhất ở các nền kinh tế đang phát triển
Cải thiện quản trị rừng - Tính chất dựa trên kết quả của REDD+ nên là động lực cho
những cải tiến đáng kể trong công tác quản lý rừng mà chỉ có thể đạt được thông
qua cải cách và tăng cường hệ thống quản trị rừng
Bảo vệ nhân quyền - Tăng cường giám sát quốc tế về quản lý rừng kèm theo tài
chính REDD+ có thể tăng cường thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn hiện có
và tạo tác động tích cực đến sự tôn trọng nhân quyền
Bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái khác - REDD+ mang lại cả
cơ hội và rủi ro cho đa dạng sinh học Những tác động tiêu cực có thể có thể được
giảm nhẹ và cơ hội tiềm năng được thúc đẩy thông qua sự cân bằng thích hợp giữa
các chính sách và khuyến khích kinh tế trên toàn quốc
Thích ứng với biến đổi khí hậu - Như một công cụ chính sách biến đổi khí hậu nhằm
bảo vệ và giảm tác động cho khu rừng nhiệt đới, REDD+ có thể giảm thiểu phát thải
khí nhà kính (GHG) và đồng thời hỗ trợ các cộng đồng sinh sống phụ thuộc vào
rừng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu
Nguồn: trích dẫn từ GlobalWitness 2010, Miles và Dickson 2010; Swan 2012,
Schmidt và cộng sự 2012; Mant và cộng sự 2013; Peskett & Todd 2013.
Trang 91
2 Quyết định số 799/QĐ-TTg
Với sự tập trung ngày càng tăng về tiềm năng đa lợi ích thông qua REDD+,
cũng cần phải chú trọng đến các cơ chế cung cấp đa lợi ích Những cơ chế
này có thể bao gồm: lựa chọn theo nhu cầu (ví dụ: Hiệp định Đối tác Tự
nguyện); hệ thống đảm bảo an toàn quốc gia (biện pháp để đảm bảo tính toàn
vẹn sinh thái của các hoạt động REDD+); lồng ghép đa lợi ích vào các chính
sách quốc gia và các kế hoạch của địa phương; mô hình khuyến khích và
hình phạt (ví dụ: thực thi pháp luật và hình phạt) (Gardner và cộng sự, 2011;
Swan và McNally, 2011; Rey và cộng sự, 2013; Ochieng và cộng sự, 2013;
Marfo và cộng sự 2013)
nhằm bảo vệ tính toàn vẹn hệ sinh thái trong hoạt động REDD+)
Tuy nhiên, trọng tâm cụ thể của tài liệu này sẽ nhằm khám phá các mô hình
khuyến khích cung cấp đa lợi ích Các mô hình này sẽ được xem xét cả về
điều kiện hỗ trợ đầu vào và phương pháp dựa trên kết quả đầu ra của các
chính sách và biện pháp REDD+ có thể được liên kết với hệ thống phân phối
lợi ích trong tương lai Các hệ thống phân phối lợi ích đề cập ở đây như là các
cơ chế sử dụng tài chính REDD+ để cung cấp cả lợi ích về tài chính và bằng
hiện vật cho các đối tác tham gia các hoạt động REDD+ (Enright và cộng sự,
2012) Tài chính REDD+ có thể thu được từ các thị trường tuân thủ trong
tương lai, các thỏa thuận song phương (ví dụ: thỏa thuận song phương giữa
Na Uy và Việt Nam) hay thị trường các-bon tự nguyện
Việc nghiên cứu các mô hình khuyến khích sẽ được đặt trong bối cảnh phát
triển REDD+ tại Việt Nam Cụ thể là, các mô hình sẽ được xem xét và đánh
giá về các hoạt động khả thi trong Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh Lâm
Đồng Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh có nhiệm vụ thực hiện Chương
này sẽ thiết lập một chương trình mười năm quy định các Hoạt động REDD+
có liên quan cho mỗi tỉnh trong 8 tỉnh ban đầu thí điểm REDD+ tại Việt Nam
Tỉnh Lâm Đồng, thuộc khu vực Tây Nguyên Việt Nam (xem Bản đồ 1), là tỉnh
tiên phong của Việt Nam với nỗ lực giới thiệu sản phẩm tài chính dựa trên
kết quả cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, trước hết thông qua thí điểm
PFES, và gần đây thực hiện các hoạt động sẵn sàng REDD+ và xây dựng
KHHĐ REDD+ của tỉnh Để đáp ứng các yêu cầu của tỉnh Lâm Đồng, SNV
hiện đang cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng KHHĐ REDD+ tỉnh Là một
phần của sự hỗ trợ này, SNV và nhóm soạn thảo KHHĐ REDD+ tỉnh đang
nghiên cứu các cách thức có hiệu quả về chi phí để kết hợp đa lợi ích từ
REDD+ ở tỉnh, cụ thể là đánh giá và giám sát tác động có sự tham gia (PIAM)
của KHHĐ REDD+ tỉnh; và phát hiện các cơ chế khuyến khích nêu trong tài
liệu này liên kết với các hoạt động lựa chọn của REDD+
Trang 10Bản đồ 1: Tỉnh Lâm Đồng
Trang 113 Trong quy trình KHHĐ REDD+ tỉnh, trong năm 2014, SNV sẽ hỗ trợ các bên liên quan chính của tỉnh Lâm Đồng xác định và đàm
phán thỏa hiệp về những lợi ích (và rủi ro) khác nhau về kinh tế, môi trường và xã hội của KHHĐ REDD+ tỉnh sử dụng phương
pháp đánh giá và giám sát tác động có sự tham gia
1.2 Mục đích, cấu trúc và đối tượng
Mục đích của tài liệu này là nhằm cung cấp một loạt các mô hình khả thi để khuyến khích đa
lợi ích có liên quan đến KHHĐ REDD+ tỉnh Lâm Đồng Những mô hình này chưa toàn diện
và được áp dụng để khuyến khích tư duy hơn nữa từ phía chính quyền địa phương tham gia
vào quá trình xây dựng KHHĐ REDD+ tỉnh (ví dụ: các cán bộ cấp quốc gia và cấp tỉnh) Tuy
nhiên, hoạt động này cũng nhận được sự quan tâm của các bên liên quan tương tự tại các
tỉnh khác đang tìm cách thực hiện KHHĐ REDD+ của tỉnh, cũng như các đối tác phát triển
quốc tế có quy mô rộng hơn hỗ trợ sự phát triển và thực hiện các hoạt động của các bên liên
quan
Tài liệu này trước hết sẽ xem xét một số kinh nghiệm quốc tế về cung cấp đa lợi ích thông
qua REDD+, chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) và các mô hình khác Điều này sẽ giúp cung
cấp một loạt các lựa chọn chung sẽ được xem xét sau trong các tài liệu sử dụng trong bối
cảnh của tỉnh Lâm Đồng
Thứ hai, tài liệu này sẽ trình bày tổng quan về các đặc điểm kinh tế xã hội cũng như hiện
trạng ngành lâm nghiệp của tỉnh Lâm Đồng Bao gồm một số đặc điểm quan trọng về lâm
nghiệp, nguyên nhân chính gây phá rừng và một số quyết định chính sách quan trọng tác
động đến ngành lâm nghiệp và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh
Thứ ba, những phân tích trên sẽ được sử dụng để cung cấp thông tin cho một cuộc thảo
luận về đa lợi ích cụ thể có thể phù hợp đến tỉnh Lâm Đồng Phần này chủ yếu sử dụng
thông tin trong Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển Rừng của tỉnh Lâm Đồng (KHBVPTR) giai
đoạn 2011-2020 để giúp phát hiện các loại hình đa lợi ích phổ biến trên toàn cầu được nêu
Như đã nêu trong KHHĐ REDD+ quốc gia và dưới sự chỉ đạo của Văn phòng REDD+
Việt Nam, KHBVPTR của tỉnh Lâm Đồng sẽ tạo cơ sở để xác định các hoạt động ưu tiên
bao gồm KHHĐ REDD+ tỉnh, các hoạt động này sẽ được thực hiện ở đâu và những ai sẽ
tham gia vào quá trình thực hiện Hoạt động này dựa trên hiểu biết là: danh sách các hoạt
động REDD+ nêu trong KHHĐ REDD+ của tỉnh Lâm Đồng sẽ được xây dựng phần lớn từ
KHBVPTR hiện có, theo sau các cuộc thảo luận trực tiếp giữa SNV và các đại diện của
chính phủ xác nhận rằng KHBVPTR sẽ tạo cơ sở cho Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh
Cuối cùng, dựa trên danh sách các hoạt động và các bên liên quan trong Kế hoạch Hành
động REDD+ của tỉnh, tài liệu này sẽ đưa ra khuyến cáo về các mô hình tiềm năng để
khuyến khích đa lợi ích Điều này được dựa vào các kinh nghiệm quốc tế và bối cảnh của
KHBVPTR như các loại hoạt động khả thi trong KHHĐ REDD+ của tỉnh Các lựa chọn này
sẽ được trình bày cho các bên liên quan chính trong cuộc họp tham vấn để cung cấp thông
tin cho quá trình phát triển của KHHĐ REDD+ tỉnh Lâm Đồng Đồng thời phục vụ như là
một ví dụ về cách liên kết các hoạt động REDD+ và các khuyến khích đa lợi ích cho các tỉnh
khác ở Việt Nam, cũng như các quy trình lập kế hoạch địa phương cho REDD+ ở các quốc
gia khác
Trang 12Mô hình cung cấp Đa Lợi ích
2.1 Mô hình khuyến khích dựa trên đầu vào và đầu ra
Như minh họa trong Hộp 1, đa lợi ích có thể được xem xét theo một bộ các danh mục Để giúp thu hẹp phạm vi các lựa chọn có sẵn nhằm khuyến khích các lợi ích này, sẽ rất hữu ích khi lồng bối cảnh các phương pháp khả thi theo hai cách Cách đầu tiên liên quan đến các phương pháp cung cấp các điều kiện thuận lợi để thúc đẩy đa lợi ích Các phương pháp
này thường được gọi là các hoạt động tiền REDD+ Dĩ nhiên, cách thứ hai đề cập đến các khuyến khích được cung cấp khi cho các hoạt động hậu REDD+ và có thể kết hợp với các biện pháp khuyến khích dựa vào hiệu quả thực hiện REDD+ Hai phương pháp này có thể được xem là các hình thức bổ trợ cho nhau; hình thức khuyến khích đầu vào cung cấp tài chính hỗ trợ đa lợi ích, trong khi phương pháp dựa trên đầu ra cung cấp khoản bồi thường cho việc cung cấp đa lợi ích
Điều kiện hỗ trợ đầu vào giúp tạo nền tảng cho việc thực hiện đa lợi ích Các điều kiện này
có thể được xem là việc loại bỏ các rào cản khi cung cấp đa lợi ích Trong trường hợp trước đây, các lựa chọn khuyến khích đa lợi ích có thể dưới hình thức thỏa thuận quyền sử dụng đất đảm bảo theo luật định được công nhận rộng rãi trong các tài liệu REDD+ như một điều kiện tiên quyết cho REDD+ (Larson và cộng sự 2013; Peskett và Brodnig 2011; Lindhjem
và cộng sự 2009) Các lựa chọn khác có thể bao gồm cải cách quản trị rừng để đảm bảo
tính minh bạch trong việc chia sẻ lợi ích REDD+ hoặc bảo đảm REDD+ được lồng ghép
một cách hợp lý vào các nỗ lực quản lý rừng và lập kế hoạch rộng hơn Các khoản chi trả REDD+ dựa trên kết quả thực hiện đầu kỳ cũng có thể giúp khắc phục rất nhiều chi phí dự chi liên quan đến các hoạt động REDD+ Các sáng kiến nông lâm nghiệp nói riêng được
thúc đẩy bằng cách giảm chi phí thiết lập cao của các dự án này thông qua các khoản chi trả dựa trên kết quả thực hiện REDD+ đầu kỳ Cung cấp tài chính tư nhân cũng có thể có sẵn để trợ cấp cho những nỗ lực liên quan đến REDD+ kết nối với chuỗi cung ứng của một sản phẩm có gắn nhãn các-bon Các khoản vay, tài trợ và mô hình bảo hiểm cũng được thúc đẩy như các nguồn tài chính đầu vào giúp khuyến khích cung cấp đa lợi ích trong REDD+ (Streck và Zurek 2013)
Hiểu được các rào cản chính trong việc cung cấp đa lợi ích giúp thiết kế các phương pháp tiềm năng dựa trên đầu vào để khuyến khích đa lợi ích Bốn rào cản đối với vấn đề được gọi
là “phương pháp tiếp cận dựa trên cảnh quan (landscape-biểu thị hệ thống tự nhiên xã hội trên tài nguyên đất-ND) trong quản lý đất đai có thể được xác định Khái niệm dựa trên cảnh quan hàm chứa các nguyên tắc tương tự cho đa lợi ích để khuyến khích xem xét các lợi
ích xã hội và môi trường quy mô rộng mà có thể được cung cấp ở một hình thái tự nhiên xã hội, chứ không phải hướng mục tiêu đến việc cung cấp dịch vụ cụ thể tại các khu vực tách biệt Do đó, cách tiếp cận dựa trên tự nhiên xã hội bền vững là một phương pháp đàm phán thỏa hiệp liên ngành giữa các lợi ích Điều này có liên quan đến KHHĐ REDD+ của tỉnh Lâm Đồng, chủ yếu dựa trên phương pháp tiếp cận dựa trên cảnh quan thiết yếu nhằm giảm phát thải và thúc đẩy lợi ích kinh tế Bốn loại rào cản liên quan với nhau được tóm tắt trong Hình
1, cùng với các tùy chọn tiềm năng để khắc phục các rào cản này (Emerton 2012) Bốn loại rào cản có liên quan với nhau được tóm tắt trong Hình 1, cùng với các tùy chọn tiềm năng
để khắc phục các rào cản này
Trang 132
Hình 1: Rào cản và giải pháp quan trọng để đạt được đa lợi ích từ việc
lập kế hoạch hiện trạng tự nhiên xã hội
(Trích từ Emerton 2012)
Các lựa chọn dựa trên đầu ra để cung cấp đa lợi ích được xem xét ở đây như
là các biện pháp có thể được lồng ghép vào các cơ cấu khuyến khích REDD+
dựa trên hiệu quả thực hiện (Enright và cộng sự 2012) Các biện pháp này
có thể bao gồm các khoản chi trả giá cao cho các hoạt động REDD+ được
chứng minh là đã tôn trọng các điều kiện xã hội và môi trường nhất định,
ví dụ theo nhãn hiệu chứng nhận Tiêu chuẩn Vàng (Macintosh và Waugh
2012) Chương trình cấp chứng nhận cũng có thể được kết hợp với các lựa
chọn dựa trên đầu vào Ví dụ, các lựa chọn có thể tồn tại trong đó các đối tác
REDD+ quy mô nhỏ có thể hoàn lại (một phần) khoản vay được cung cấp để
trang trải chi phí ứng trước để cấp chứng nhận để tạo ra nguồn một vốn bền
vững cho các bên liên quan REDD+ (Streck và Zurek 2013)
Vai trò của rừng trong sinh
kế nông thôn và cung cấp
dịch vụ hệ sinh thái được
đánh giá thấp trong việc ra
quyết định
Cần xem xét lợi ích của rừng và dịch vụ hệ sinh thái phù hợp với địa phương, và kết hợp những giá trị này vào các quyết định thương mại.
Phát triển thị trường dựa vào rừng địa phương để nhận ra giá trị thực sự của của các sản phẩm
và dịch vụ rừng để giúp khuyến khích đa lợi ích
Loại bỏ các hiệu ứng thị trường mang tính tiêu cực như thuế và trợ cấp phân biệt không có lợi cho sinh kế dựa vào rừng và quản lý rừng bền vững.
Trang bị cho người sử dụng rừng, người tiêu dùng và nhà đầu tư về quyền lợi, trách nhiệm
và thông tin để họ có thể tiếp cận lợi ích từ rừng.
Hàng hóa và dịch vụ rừng
thường không thu được
hoặc được thị trường định
Các công cụ dựa vào thị
trường không đủ để vượt
qua các rào cản
Trang 14Các mô hình khuyến khích dựa trên đầu ra cho việc cung cấp đa lợi ích bao gồm các lợi ích bằng hiện vật dựa trên kết quả thực hiện liên kết trực tiếp với những cải thiện về sinh kế, bao gồm cả tài sản sản xuất (ví dụ: vốn nông nghiệp), cơ sở hạ tầng hoặc thậm chí là quyền ở hữu tài sản Chi trả Dịch vụ Hệ Sinh thái cũng có thể được xem là biện pháp dựa trên đầu ra để khuyến khích đa lợi ích REDD+ (Streck và Zurek 2013) Ví dụ, chi trả theo gói dịch vụ hoặc chi trả riêng lẻ cho các dịch vụ đa dạng sinh học, dịch vụ hệ sinh thái đầu nguồn và hệ sinh thái khác đóng góp vào các khuyến khích REDD+ dựa trên các-bon đã được xem xét trong các bối cảnh khác nhau (Porras, I và cộng sự 2008) “Chi trả theo gói dịch vụ” đề cập đến việc kết hợp nhiều dịch vụ hệ sinh thái vào một khoản tín chỉ cho một giao dịch với một người mua duy nhất (Cooley và Olander 2011) “Chi trả riêng lẻ” khác với hình thức chi trả trên là do tách riêng từng dịch vụ và bán cho nhiều người mua đơn lẻ (Cooley và Olander 2011) Cả hai đều cần các hệ thống thị trường, cách quản lý và điều hành có sẵn để hỗ trợ các giao dịch.
2.2 Kinh nghiệm quốc tế
Sau khi phân loại một số lựa chọn và rào cản đối với việc cung cấp đa lợi ích, điều quan trọng
là bối cảnh hóa các phân tích này với các ví dụ thực tế Có thể rút ra kinh nghiệm từ các thí điểm đầu tiên trong REDD+ Tuy nhiên, kinh nghiệm phong phú cũng nằm trong các sáng kiến khác nhằm khuyến khích lợi ích xã hội và môi trường.Những sáng kiến này bao gồm chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES), mô hình cấp chứng nhận, các sáng kiến chuỗi giá trị được cải thiện
và các công cụ kinh tế truyền thống như thuế và trợ giá
Bảng 1 nêu một số kinh nghiệm quan trọng từ một loạt các quốc gia khác nhau và bối cảnh sử dụng hình thức dựa trên đầu vào và đầu ra được định nghĩa ở trên Mỗi ví dụ điển hình đều minh họa các lựa chọn khác nhau cho việc khuyến khích cung cấp đa lợi ích sau đó sẽ được xem xét trường hợp đối với Kế hoạch hành động REDD+ của tỉnh Lâm Đồng
Điều quan trọng cần lưu ý, tuy nhiên Bảng 1 chỉ cung cấp một bản tóm tắt ngắn gọn các
hoạt động can thiệp Như mô tả trong Hình 1, các mô hình khuyến khích này thường được
kết hợp với các phương pháp hỗ trợ khác Ví dụ, các trường hợp về cảnh quan (landscape) Champassak ở Lào, Lachuá ở Guatemala và Acre, Braxin đều yêu cầu cải cách quyền sử
dụng đất rừng để hỗ trợ các mô hình khuyến khích (Emerton 2012) Điều này cho thấy quan điểm rộng hơn đó là những can thiệp như vậy không nên được xem là loại trừ lẫn nhau, và
thường có thể được sử dụng kết hợp với nhau
Các lựa chọn trình bày trong Bảng 1 cũng không nắm bắt được bối cảnh quan trọng khác đã
hỗ trợ thiết kế các phương pháp tiếp cận khác nhau Các mô hình khuyến khích thực hiện
đa lợi ích hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động REDD+ đề xuất trong khu vực Chính các hoạt động này phải được cung cấp thông tin thông qua sự hiểu biết thấu đáo về các tác nhân gây mất rừng và suy thoái rừng, kết hợp với các hoạt động ngăn chặn hoặc làm giảm các tác nhân này, các mô hình khuyến khích có thể được thiết kế tốt nhất phù hợp với hoàn cảnh địa phương (Streck and Zurek 2013)
Trang 15Bảng 1: Các ví dụ điển hình quốc tế về mô hình khuyến khích đa lợi ích
Xác định giá trị sinh kế rừng và các dịch vụ hệ sinh thái
Mtanza Msona, Tanzania Cải thiện việc định giá các khu rừng lân cận bao gồm hệ sinh thái phi thị trường và giá trị sinh kế giúp tăng cường các khu bảo tồn song song với việc xây dựng kế hoạch phát triển kết hợp với mức độ khai thác bền vững và cơ sở chế biến (Emerton 2012; trang 5).
Kế hoạch quản lý rừng hỗ trợ thị trường
Áp dụng hệ thống quản lý cải tiến tại các khu rừng ươi sản xuất quả đười ươi (Mak Jong) có giá trị cao hơn Hệ thống này cho phép cộng đồng địa phương tiếp cận có kiểm soát với các khu rừng, chi phí thu hoạch và giá cả cao hơn (Emerton 2012;
Các điều kiện hỗ trợ thị trường lâm sản ngoài gỗ
Bougnounou- Nébiélianayou, Burkina Faso
Nỗ lực quy hoạch rừng được cải thiện dẫn đến việc tạo ra các mối liên kết thị trường cho phụ nữ địa phương bán mật ong, bơ đậu mỡ và thức ăn gia súc Những nỗ lực lập kế hoạch theo sát dự kiến thu hoạch và đầu tư vào nguồn vốn chế biến gia tăng giá trị (Emerton 2012;
An ninh chủ quyền đất đai
Collaborative resource management agreements with local actors, alongside by-laws stipulating more secure land tenure which led to improved NTFP
Creating a private certification system to ensure local people owned the trees on their land, leading to increased reforestation ef
Hỗ trợ nông lâm nghiệp và trồng rừng
Meru Betiri National Park, Indonesia
Cơ quan quản lý Vườn Quốc gia tuyển dụng cộng đồng địa phương trồng rừng trên đất bị suy thoái, sau đó họ được tạo cơ hội lồng ghép các sáng kiến nông lâm kết hợp vào các khu vực đó để tạo thu nhập bền vững lớn hơn các khoản chi trả cho việc trồng rừng (McDermott 2012; trang 127).
Đầu ra
Tiếp cận thị trường chứng nhận
Market access for certified wood, rubber and Brazil nut being facilitated through introduction of sustainable production and harvesting techniques, reducing pressures to clear neighbouring forests (Emerton 2012; pp 9).
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES)
Single payments for ecosystem service provision (including carbon payments) (McDermott 2012; pp128)
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES)
Giới thiệu các khoản chi trả cho các dịch vụ rừng đầu nguồn thông qua thu thuế chuyển giao cho nông dân trong khu vực rừng được bảo vệ trong phạm vi lưu vực (Emerton 2012; trang 9).
‘Bồi thường cho hệ sinh thái’
Các công ty tham gia ký kết thỏa thuận Khai thác Gỗ mang lại tác động thấp (RIL) được cung cấp đào tạo, tập huấn và hỗ trợ áp dụng trong thỏa thuận cấp thu hoạch chính thức (McDermott 2012; tr 28)
Trang 16Trong năm 2012, Chính phủ Việt Nam phê duyệt Chương trình Hành động Quốc gia REDD+
(KHHĐ REDD+ quốc gia) (Quyết định số 799/QĐ-TTg) Theo KHHĐ REDD+ quốc gia, quy
định đã được thực hiện để xây dựng từng Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh để hướng
dẫn các hoạt động REDD+ ở cấp tỉnh trong giai đoạn 2014-2020 KHHĐ REDD+ tỉnh sẽ thực
hiện KHHĐ REDD+ quốc gia với các hoạt động cụ thể liên quan đến kế hoạch lâm nghiệp
và sử dụng đất khác hiện có trên địa bàn tỉnh
Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh Lâm Đồng dự kiến chưa thể hoàn thành trước năm
2014 Như vậy, các Chính sách và Biện pháp chính xác được thực hiện dưới sự bảo trợ
của REDD+ tại tỉnh sẽ không được thông báo cho đến thời điểm này Tuy nhiên, có khả
năng Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh sẽ rút ra từ Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng
(KHBVPTR) giai đoạn 2011-2020 cho tỉnh Lâm Đồng Như vậy, việc xem xét các mô hình
khuyến khích tiềm năng cho đa lợi ích trong Kế hoạch Hành động REDD+ của tỉnh sẽ được
thực hiện trong bối cảnh của sự hiểu biết chi tiết về KHBVPTR của tỉnh
của tỉnh tại Việt Nam
Trang 17Phần này sẽ cố gắng nêu rõ một số yếu tố kinh tế xã hội chính và đặc điểm
chủ yếu về rừng của tỉnh Lâm Đồng Tóm tắt ngắn gọn về bối cảnh trước khi
xem xét các lựa chọn để khuyến khích đa lợi ích Một bức tranh đầy đủ hơn
có thể được trình bày trong các tài liệu khác, bao gồm KHBVPTR của tỉnh
Lâm Đồng mà hầu hết các tài liệu sau đây đã được trích dẫn
4.1 Bối cảnh kinh tế xã hội
Tỉnh Lâm Đồng có khoảng 1,2 triệu người, trong đó phần lớn (75%) là dân tộc
Kinh, còn lại bao gồm 41 nhóm dân tộc thiểu số Trên toàn tỉnh, có khoảng
70% người đang tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả
lâm nghiệp) với 85% số dân hoạt động sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông
thôn
Phải thừa nhận rằng nhiều khu vực ở tỉnh Lâm Đồng có tỷ lệ nghèo đói cao
và đặc biệt khó khăn Cụ thể là các xã Lộc Bắc, Lộc Bảo, Lộc Lâm và Đồng
Nai Thượng đã trải qua các vấn đề về an ninh lương thực dai dẳng (Nguyễn
và Enright 2011) Hoạt động trồng trọt nông sản hàng hóa (chè, cà phê, gạo,
v.v…) cung cấp nguồn thu nhập chính cho hầu hết người dân nông thôn của
tỉnh Lâm Đồng với khoản thu nhập vừa phải bằng tiền mặt và bằng hiện vật
thông qua thu gom lâm sản ngoài gỗ, chăn nuôi và tuần tra rừng Sự phụ
thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, kết hợp với nguy cơ biến động giá, mùa
màng thất bát và nguồn vốn eo hẹp tiếp tục là nguyên nhân hạn chế tiềm
năng tạo thu nhập của nhiều người dân nông thôn ở tỉnh Lâm Đồng Tuy
nhiên, cần phải thừa nhận rằng những nỗ lực của chính phủ, đặc biệt là trong
Chương trình 30A đã nhắm mục tiêu xóa đói giảm nghèo mang lại tỷ lệ thành
công cao Cụ thể là, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 5% trên toàn tỉnh trong
năm 2010; tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn tương đối cao giữa những người dân
nông thôn ở mức 20%
Song song các biện pháp để giải quyết đói nghèo, có một sự thay đổi rõ ràng
nêu rõ trong KHBVPTR giai đoạn 2011-2020 hướng tới phát triển ngành công
nghiệp như một phương tiện để tăng thu nhập và giảm sự phụ thuộc của
ngành nông nghiệp và lâm nghiệp Cụ thể là, KHBVPTR giai đoạn 2011-2020
cho thấy “đã đến lúc Lâm Đồng tạo tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế
trong các ngành công nghiệp và dịch vụ” (tr 37) Các nỗ lực cần tập trung hơn
nữa vào các hoạt động đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh
Các lĩnh vực phát triển khác được xác định trong KHBVPTR cũng liên quan
chặt chẽ hơn với hoạt động chế biến và bảo quản nông lâm sản Các hoạt
động này bao gồm xay xát và chế biến gạo (sản xuất mì, bún, mì khô, và
bánh tráng) và chế biến cà phê, chè, đường từ mía, atisô, và sản xuất các sản
phẩm mây tre (ví dụ: đồ nội thất và đũa) Các hoạt động này rất quan trọng
và cần được xem xét trong bối cảnh của REDD+, đặc biệt là khi sự phát triển
công nghiệp có thể hỗ trợ hoặc xung đột với các hoạt động REDD+
bối cảnh kinh tế xã hội và tổng quan về ngành lâm nghiệp
Trang 184.2 Ngành lâm nghiệp
Ngành lâm nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh với diện tích rừng bao phủ khoảng 61% diện tích toàn tỉnh (581.435 ha) Khu vực này có thể được phân loại theo ba loại rừng chính ở Việt Nam;
đất có rừng là 295.702 ha, đất không có rừng là 15.719 ha, đất nông nghiệp chiếm 30.754 ha
rừng là 147.631 ha; đất không có rừng là 7.924 ha; đất nông nghiệp chiếm 17.593 ha
Quốc gia Bidoup Núi Bà và Vườn Quốc gia Cát Tiên
Ngành lâm nghiệp là một hợp phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Ví dụ, hoạt
động lâm nghiệp kết hợp với sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 48,4% cơ cấu kinh tế của tỉnh, vượt xa so với trọng tâm đổi mới phát triển lâm nghiệp rừng trồng (keo và cao su) cùng với việc mở rộng diện tích các cây trồng chính bao gồm chè, cà phê, sắn và hạt điều Tuy nhiên, khai thác gỗ và công nghệ chế biến được xem là hạn chế so với các tỉnh lân cận trong khu vực Tây Nguyên, góp phần làm giảm tiềm năng của ngành lâm nghiệp để mang lại giá cao hơn, đặc biệt là giữa các nhà khai thác quy mô nhỏ
Rừng Lâm Đồng cũng rất quan trọng trong bối cảnh đầu nguồn cung cấp nguồn nước cho thành phố Hồ Chí Minh Theo Hệ thống Chi trả Dịch vụ Hệ Sinh thái Rừng (PFES) tại tỉnh Lâm Đồng, các nhà cung cấp nước tại TP HCM và khu vực lân cận phải thanh toán một
khoản tiền cố định cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng (Qũy BVPTR) của tỉnh Lâm Đồng bồi thường cho các hoạt động của các hộ dân để đảm bảo chất lượng nước thông qua những
nỗ lực bảo vệ rừng Các khoản thanh toán được thực hiện cho các hộ gia đình thông qua Quỹ BVPTR Hệ thống PFES của Lâm Đồng phát triển từ chương trình thí điểm trong năm
được quy định theo kế hoạch quốc gia bao gồm: chi trả cho hoạt động gây xói mòn đất, bon, du lịch sinh thái và bảo vệ bãi dành cho nuôi trồng thủy sản Lưu ý rằng, chỉ có khoản thanh toán khác hiện đang được thực hiện là khoản thanh toán của các nhà khai thác du lịch sinh thái Tỷ lệ thanh toán cho các hộ gia đình từ quỹ dịch vụ sinh thái môi trường rừng ở Lâm Đồng từ 300,000 đến 400,000 ha/năm
các-Mặc dù tổng diện tích đất rừng đã tăng lên trong những năm gần đây, nhưng chất lượng
rừng nói chung suy giảm do mở rộng rừng trồng gây tác động đến rừng tự nhiên, và các vấn
đề về phá rừng và suy thoái rừng do mở rộng nông nghiệp và cơ sở hạ tầng Mặc dù vậy, rừng của tỉnh Lâm Đồng vẫn được coi là hỗ trợ “đa dạng sinh học cao” (KHBVPTR 2011,
trang 3) bao gồm ước tính có 2.647 loài thực vật rừng, 91 loài thú, 301 loài chim, 102 loài bò sát, động vật lưỡng cư, 368 loài bướm, và 111 loài cá Tuy nhiên, đa dạng sinh học của tỉnh Lâm Đồng vẫn liên tục bị đe dọa Đặc biệt là, 206 loài động vật hoang dã đang bị đe dọa ở cấp quốc gia và được ghi trong Sách đỏ Việt Nam; 99 loài đang bị đe dọa trên toàn cầu và được liệt kê trong Sách đỏ của IUCN, và 110 loài được xem xét bảo vệ theo Nghị định số
4 Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về Chính sách Chi trả cho các Dịch vụ Môi trường Rừng, ngày 24/9/2010.