1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Những yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

7 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất chè của các hộ nông dân tại thành phố Thái Nguyên. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được điều tra thực tế từ 150 hộ nông dân sản xuất chè trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.

Trang 1

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT CHÈ Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thị Lan(1)

N ghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng

tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất chè của các hộ nông dân tại thành phố Thái Nguyên Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được điều tra thực tế từ 150 hộ nông dân sản xuất chè trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất chè của nông hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn, sự tham gia các tổ chức xã hội, tổng diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp sẽ tương quan thuận với quyết định ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ của nông hộ.

Từ khóa: Tiến bộ khoa học và công nghệ; sản xuất chè; nông hộ; thành phố Thái Nguyên

của tỉnh Thái Nguyên.

1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ

(KH&CN) vào sản xuất là xu thế của các nhà sản

xuất trong quá trình hội nhập kinh tế Kết quả của

sự ứng dụng là năng suất sản xuất được nâng cao

cũng như chất lượng sản phẩm được cải tiến Tại

Việt Nam cho đến nay, nhiều ý kiến cho rằng sự

đóng góp của KH&CN vào tốc độ tăng trưởng

nông nghiệp là khoảng 30% Trong thực tế việc

áp dụng các mô hình tiên tiến vào sản xuất nông

nghiệp nói chung và sản xuất chè nói riêng không

những giúp bà con nông dân tăng năng suất, chất

lượng và lợi nhuận mà còn góp phần giảm chi

phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường, hướng

tới xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền

vững

Thành phố Thái Nguyên là thành phố trung

du, miền núi Bắc Bộ, được thiên nhiên ưu đãi điều

kiện đất đai và khí hậu thời tiết khá thích hợp cho

việc phát triển cây chè So với các huyện trong

tỉnh, thành phố Thái Nguyên có diện tích chè khá

lớn được phân bố chủ yếu ở các xã phía Tây, với

vùng trọng điểm là 6 xã: Tân Cương, Phúc Trìu,

Phúc Xuân, Phúc Hà và Quyết Thắng Hiện nay,

cây chè đã trở thành một trong những cây trồng

mũi nhọn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và cải thiện đời sống nhân dân Trong những năm

qua, để phát triển bền vững ngành chè, thành phố

Thái Nguyên đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm ưu tiên phát triển cây chè, đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất được coi là khâu đột phá, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

so với một số cây trồng khác; năng suất, chất lượng sản phẩm chè ngày càng được cải thiện theo hướng bảo đảm an toàn thực phẩm

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng trên địa bàn Thành phố còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc khuyến nghị nông dân không canh tác chè theo thói quen và lối cảm tính mà thay bằng các biện pháp canh tác khoa học Thực tế, có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những khó khăn trên Vì thế, nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất chè của nông

hộ thành phố Thái Nguyên, đề xuất giải pháp đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN trong thời gian tới, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học cho ngành nông nghiệp thành phố Thái Nguyên để triển khai hiệu quả chương trình ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất chè nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn:

Trang 2

(1) Các báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố

Thái Nguyên, Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông:

Báo cáo kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên

hằng năm; Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN

hằng năm; Báo cáo tổng kết hằng năm của Phòng

Kinh tế; Báo cáo các mô hình khuyến nông trên

địa bàn thành phố và một số tài liệu liên quan đến

đối tượng nghiên cứu; (2) Các trường Đại học/

Viện nghiên cứu, các tổ chức khác: các đề tài,

dự án nghiên cứu, tài liệu hội thảo có liên quan

đến việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất

nông nghiệp, sản xuất chè; (3) Các nhận định,

đánh giá của các nhà chuyên môn, quản lý trong

lĩnh vực kinh tế nông nghiệp

Để đảm bảo tính khoa học, tính đại diện

của số liệu sơ cấp, phương pháp chọn mẫu ngẫu

nhiên phân tầng được sử dụng để tiến hành thu

thập số liệu

Bước 1: Liên hệ địa điểm điều tra chọn

vùng nghiên cứu Sau khi xin ý kiến và được tư

vấn, tác giả quyết định chọn địa bàn nghiên cứu

cụ thể 03 xã: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu

Theo ý kiến tư vấn, 3 xã này nằm trong vùng chè

trọng điểm của thành phố Thái Nguyên, tập trung

nhiều diện tích sản xuất chè của thành phố cũng

như nông hộ có tham gia ứng dụng KH&CN đa

dạng và điển hình Vì thế, việc chọn 3 địa bàn

trên có khả năng đại diện cho việc nghiên cứu

Bước 2: Sau khi đã có phiếu điều tra soạn

sẵn, tác giả tiến hành điều tra thử để kiểm tra tính

phù hợp của phiếu điều tra, đồng thời hiệu chỉnh

phiếu điều tra phù hợp với điều kiện thực tế của

địa bàn nghiên cứu

Bước 3: Tiến hành điều tra chính thức Cỡ

mẫu theo từng địa bàn cụ thể như sau:

2.2 Phương pháp phân tích

Các phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: (1) Thống kê mô tả với các chỉ tiêu nghiên cứu như: số trung bình,

tỉ lệ, tần suất để phân tích thực trạng ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên; (2) Mô hình Binary Logistic được

sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất chè của nông hộ ở thành phố Thái Nguyên

3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Nguồn lực của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

Nguồn lực của nông hộ được mô tả qua các chỉ tiêu như: diện tích canh tác, lực lượng lao động, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất chè,…

Bảng 2: Đặc điểm về nguồn lực sản xuất của nông hộ

Stt Chỉ tiêu ĐVT Cương Tân

(n = 50)

Phúc Xuân (n = 50)

Phúc Trìu (n = 50)

1 Diện tích đất 1000mhộ 2/ 1,95 2,11 2,23

2 Diện tích chè 1000mhộ 2/ 1,86 1,88 1,9

3 viên gia Thành

4 Lao động gia đình người/hộ 2,92 2,92 2,94

5 Trình độ học vấn Lớp 7,3 6,92 6,5 6

Kinh nghiệm sản xuất chè

7 Tỷ lệ nông hộ thiếu

Nguồn: Kết quả khảo sát 150 hộ tại vùng nghiên cứu

- Kinh nghiệm sản xuất: Theo kết quả khảo sát thực tế cho thấy, hầu hết nông hộ sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên đều có thời gian sống tại địa phương tương đối lâu Ngoài kiến thức sản xuất, hoạt động sản xuất, canh tác chè đòi hỏi người trực tiếp sản xuất phải nắm được những kỹ năng cơ bản để nhận diện các loại bệnh cũng như từng thời kỳ tăng trưởng của cây chè

để phun các loại thuốc, bón các loại phân thích hợp, đúng thời gian, đúng liều lượng nên kinh nghiệm là một trong những yếu tố khá quan trọng

Stt Tên xã Tên xóm được

chọn

Số mẫu được chọn

Tỷ trọng (%)

Thông tin thu thập

1 CươngTân

Hồng Thái II 25 16,67 Đặc điểm

chung, nguồn lực của nông

hộ sản xuất chè, khả năng tiếp cận thông tin, tập huấn tiến bộ KH&CN,…

Đội Cấn 25 16,67

2 XuânPhúc Xóm Giữa Cây Thị 25 16,67

3 Phúc Trìu Khuôn I 25 16,67

Đồng Nội 25 16,67

Bảng 1: Cỡ mẫu điều tra theo địa bàn khảo sát

Trang 3

Nhìn chung, nông hộ được phỏng vấn đều có kinh

nghiệm lâu năm, trung bình 30 năm tham gia canh

tác chè, đây là một yếu tố thuận lợi trong quá trình

sản xuất chè Đặc biệt, số năm kinh nghiêm cao

nhất của hộ là 66 năm và thấp nhất 1 năm, đây

là yếu tố quan trọng giúp cho nông hộ có thể tiếp

cận và áp dụng kỹ thuật thuận lợi hơn Ngoài sản

xuất chè thì nông hộ còn tham gia vào một số hoạt

động tạo thu nhập khác như: trồng lúa, chăn nuôi

gia súc, gia cầm và hoạt động phi nông nghiệp

- Nguồn lao động: Nguồn lao động sản

xuất chè của các nông hộ hầu hết là lao động sẵn

có trong gia đình Nhìn chung, trung bình mỗi

hộ trong vùng nghiên cứu có tổng số nhân khẩu

khoảng 5 người thì có 2 - 3 người tham gia sản

xuất chè, các thành viên còn lại là những người

sống phụ thuộc như người cao tuổi, trẻ nhỏ còn

đi học Phần lớn các hộ ít sử dụng lao động thuê

vì tốn kém chi phí, chỉ những hộ có diện tích sản

xuất lớn thì mới thuê mướn nhiều lao động theo

ngày để hái chè, chăm sóc Như vậy, có thể thấy

rằng, nếu việc sản xuất chè của nông hộ đạt hiệu

quả thì không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà

còn góp phần tạo công ăn việc làm cho lao động

trong gia đình

- Trình độ học vấn: Nhìn chung, trình độ

học vấn bình quân của các hộ sản xuất chè trong

vùng nghiên cứu là không cao Trình độ học vấn

là nhân tố quan trọng góp phần giúp nông hộ tiếp

thu và vận dụng hiệu quả tiến bộ kỹ thuật vào sản

xuất Qua nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn

trung bình của chủ hộ tham gia sản xuất chè tại

các địa bàn nghiên cứu từ lớp 6 đến lớp 7 Số chủ

hộ có trình độ đại học chiếm tỷ lệ rất thấp Điều

kiện được nâng cao đã giúp nông hộ nắm bắt vấn

đề một cách nhanh nhạy hơn, họ mạnh dạn hơn

trong việc thử nghiệm ứng dụng những tiến bộ

mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất chè

- Diện tích canh tác: Với nguồn thu nhập

chính chỉ từ sản xuất chè nên hầu hết nông hộ ở

các xã sử dụng hầu hết toàn bộ diện tích đất sản

xuất hiện có của gia đình để trồng chè Kết quả

nghiên cứu cho thấy, diện tích đất sản xuất trung

bình/hộ trên 2.000m2, trong đó diện tích đất trung

bình mà nông hộ trong vùng nghiên cứu dùng để

sản xuất chè là trên 1.800m2 Diện tích đất sản xuất của các nông hộ tương đối ổn định trong vòng 5 năm trở lại đây, một số ít nông hộ có tăng diện tích đất sản xuất nhưng chủ yếu là do nông

hộ mua đất sản xuất để tích lũy thêm tài sản hoặc

mở rộng quy mô sản xuất bằng hình thức thuê mướn thêm đất

- Nguồn vốn sản xuất: Thực tế cho thấy, có 58,7 % nông hộ sử dụng vốn tự có trong gia đình

để sản xuất chè, 41,3 % nông hộ còn lại là thiếu vốn Các nông hộ mua vật tư, phân bón chịu lãi, cuối vụ thanh toán, 6% nông hộ vay qua kênh chính thức (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Đối với những hộ vay từ nguồn vay chính thức để sản xuất nông nghiệp, họ phải thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản

- Tham gia hoạt động xã hội: Ngoài thời gian tham gia sản xuất thì thành viên của nông

hộ còn tham gia hoạt động của các tổ chức chính quyền, đoàn thể và xã hội tại địa phương Theo kết quả điều tra 150 hộ cho thấy trong số 68 hộ

có tham gia các tổ chức xã hội (45,3%), như: chính quyền địa phương, hội nông dân, hợp tác

xã, hoặc tổ hợp tác, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên… Khi được hỏi về lợi ích khi tham gia các tổ chức trên họ cho rằng tổ chức

là nơi để trao đổi thông tin sản xuất, thị trường đối với thành viên hội nông dân, hoặc giúp họ có thể tiếp cận nguồn tín dụng, đối với những thành viên tham gia tổ chức chính quyền giúp cho họ có thể tiếp cận thông tin sớm hơn so với nông dân bình thường bởi vì thông tin được truyền đạt theo chiều dọc của hệ thống quản lý

3.2 Thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học

- công nghệ vào sản xuất chè của nông hộ

Qua khảo sát, số nông hộ sản xuất chè trong vùng nghiên cứu có ứng dụng tiến bộ KH&CN chiếm 57,3 % số nông hộ được khảo sát Nhóm đối tượng này bao gồm những hộ sản xuất chè có ứng dụng các mô hình tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất chè như: van phun tưới, máy vò chè, sao chè, VietGap, UTZ Certified,… Nhóm đối tượng còn lại chủ yếu sản xuất chè theo phương pháp truyền thống, ngoài việc sử dụng giống mới trong canh

Trang 4

tác thì hầu như nhóm hộ này không ứng dụng bất

cứ mô hình tiến bộ kỹ thuật nào (số này chiếm

42,7 % số nông hộ được khảo sát)

Bảng 3: Tình hình ứng dụng tiến bộ KH&CN của

nông hộ sản xuất chè

Địa bàn

nghiên cứu Tổng số hộ

Có ứng dụng Không ứng dụng

Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát năm 2017

- Nguồn thông tin tiến bộ KH&CN: Nông

hộ trong vùng nghiên cứu tiếp cận thông tin tiến

bộ kỹ thuật mới trong sản xuất bằng nhiều hình

thức đa dạng Nông hộ sản xuất chè tại vùng

nghiên cứu chủ yếu biết đến thông tin tiến bộ kỹ

thuật chủ yếu từ các chương trình khuyến nông

trên phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình,

đài, báo…), cán bộ khuyến nông và nhân viên

công ty thuốc bảo vệ thực vật Các phương tiện

thông tin truyền thông phổ biến trên phạm vi rộng,

kiến thức trình bày dễ hiểu, phù hợp với mọi trình

độ, thuận tiện về thời gian Bên cạnh đó, đội ngũ

cán bộ khuyến nông cũng là đầu mối thông tin

quan trọng, tỷ lệ nông dân tiếp xúc được những

kiến thức tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất chè từ

đối tượng này là khá nhiều Ngoài ra, nông hộ còn

tiếp cận tiến bộ kỹ thuật thông qua người quen,

nhân viên công ty thuốc bảo vệ thực vật, cán bộ

hội nông dân, các viện trường…

- Tình hình tập huấn tiến bộ KH&CN: Mục

tiêu và nội dung chủ yếu của chính sách khuyến

nông là truyền bá kiến thức cho nông dân ngay

tại địa bàn sản xuất của họ, giúp họ đưa ra những

quyết định để xử lý đúng đắn trước những tình

huống liên tiếp nảy sinh trong quá trình sản xuất

mà không cần qua các lớp đào tạo tập trung ở

trường học Hình thức phổ biến nhất hiện nay là tổ

chức các lớp tập huấn, hội thảo kỹ thuật, hội thảo

đầu bờ, xây dựng mô hình trình diễn “mắt thấy

tai nghe”,… để tăng cường khả năng tiếp cận của

nông dân đối với kỹ thuật mới bằng những cách

tiếp cận sinh động, gây ấn tượng, phù hợp với cách tiếp thu mang tính thực tiễn của nông dân

Bảng 4: Hình thức tiếp cận nguồn thông tin tiến bộ

kỹ thuật của nông hộ Vùng nghiên cứu Tân Cương Phúc Xuân Phúc Trìu Nguồn thông tin Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)

Phương tiện thông tin đại

Cán bộ khuyến

Nhân viên công

ty thuốc BVTV 31 93,94 23 85,19 10 38,46 Người quen, hàng

Cán bộ hội nông

Cán bộ các

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát năm 2017

Kết quả khảo sát tại vùng nghiên cứu cũng cho thấy, phần lớn nông dân tham gia tập huấn chủ yếu dưới sự hướng dẫn trực tiếp của các cán

bộ khuyến nông Bên cạnh đó, nhân viên các công

ty thuốc bảo vệ thực vật cũng là một trong những lực lượng nòng cốt trong phong trào phổ biến kỹ thuật mới và hướng dẫn sử dụng các loại thuốc mới đến nông dân Đây là hoạt động có lợi cho cả hai bên, công ty thuốc bảo vệ thực vật có thể giới thiệu, quảng cáo được các loại phân bón, thuốc họ sản xuất còn nông dân tham gia tập huấn thì được

hỗ trợ các loại phân bón, thuốc từ công ty về áp dụng thử nghiệm trong sản xuất Ngoài ra, nông dân còn được các tổ chức khác chuyển giao kỹ thuật như Đại học Thái Nguyên, hội nông dân địa phương, chủ yếu những buổi tập huấn này được diễn ra trên đồng ruộng mang tính thực nghiệm hơn là truyền đạt thông tin

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất chè của hộ nông dân ở thành phố Thái Nguyên

Mô hình Binary Logistic được áp dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất chè của

Trang 5

nông hộ ở thành phố Thái Nguyên Trong nghiên cứu này, mô hình Binary Logistic được xây dựng như sau:

log e [ P(Y = 1) ] = Bo + B1X1 + B2X2 + B3X3 + B4X4 + B5X5 + B6X6 + B7X7

P(Y = 0)

Trong đó: Y là biến nhị phân, thể hiện ứng dụng tiến bộ KH&CN của nông hộ vào sản xuất chè và được đo lường bằng hai giá trị 1 và 0 (1 là nông hộ có ứng dụng ít nhất một mô hình TBKT,

0 là nông hộ không ứng dụng ứng dụng tiến bộ KH &CN hay gọi là nông hộ sản xuất chè theo truyền thống) Các biến X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7 là các biến độc lập (biến giải thích).

Bảng 5: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình Binary Logistic

X1: Số lao động trong nông hộ Tổng số người trong tuổi lao động trong gia đình của nông hộ sản xuất chè X2: Trình độ học vấn chủ hộ Lớp mà chủ hộ đã học tính đến thời điểm nghiên cứu.

X3: Kinh nghiệm của chủ hộ Số năm nông hộ tham gia sản xuất chè tính đến thời điểm nghiên cứu X4: Tham gia tổ chức xã hội Biến giả, nhận giá trị 1 nếu nông hộ có tham gia tổ chức xã hội, nhận giá trị 0 tức là nông tham gia bất kỳ tổ chức nào X5: Diện tích đất sản xuất Tổng diện tích đất sản xuất (1.000 m2) mà hộ đang sử dụng X6: Vay vốn sản xuất Biến giả, nhận giá trị 1 tức là nông hộ có vay vốn và giá trị 0 tức là nông hộ không vay vốn. X7: Cơ sở hạ tầng nông nghiệp Đánh giá của nông hộ đối với cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp (1= kém, 4 = tốt)

Sử dụng phần mềm SPSS để chạy mô hình Binary Logistic cho kết quả như sau: (1) Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp tổng quát có mức ý nghĩa quan sát Sig = 0,00 nên ta bác bỏ giả thuyết H0 là

hệ số hồi quy của các biến độc lập bằng không (2) Mức độ dự báo trúng của toàn bộ mô hình là 97,3 %

Bảng 6: Kết quả phân tích hồi quy bằng mô hình Binary Logistic

X1: Số lao động trong nông hộ -1.867 0.997 3.508 1 0.061 0.155 X2: Trình độ học vấn của chủ hộ 2.404 1.089 4.871 1 0.027 11.067 X3: Kinh nghiệm của chủ hộ -0.070 0.062 1.263 1 0.261 0.933 X4: Tham gia tổ chức xã hội 7.775 3.059 6.462 1 0.011 2.381 X5: Diện tích đất sản xuất 3.186 1.380 5.327 1 0.021 24.194 X6: Vay vốn sản xuất 3.848 2.395 2.582 1 0.018 46.883 X7: Cơ sở hạ tầng nông nghiệp 2.251 1.236 3.318 1 0.029 9.493

Hằng số -22.980 11.283 4.148 1 0.042 0.000

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra năm 2017

Mức ý nghĩa thống kê của các biến X2 (trình độ học vấn), X4 (tham gia tổ chức xã hội), X5 (diện tích đất sản xuất), X6 (vay vốn sản xuất), X7 (cơ sở hạ tầng nông nghiệp) đều có sig nhỏ hơn 0,05 Như vậy, các hệ số hồi quy tìm được có ý nghĩa và mô hình của chúng ta sử dụng tốt Từ các hệ

Trang 6

số hồi quy này ta viết được phương trình:

Dựa vào phương trình trên cho thấy, cả 5 biến đều tác động cùng chiều với biến phụ thuộc log e [ P(Y = 1) ] = -22,980 + 2,404X2 + 7,775X4 + 3,186X5 + 3,848X6 + 2,251X7

P(Y = 0)

Các biến trình độ học vấn, tham gia các tổ chức

xã hội, tổng diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn

sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp sẽ tương

quan thuận với quyết định ứng dụng tiến bộ

KH&CN của nông hộ, hay nói cách khác là khi

tăng trình độ học vấn chủ hộ, diện tích đất sản

xuất của nông hộ, nông hộ có tham gia các tổ

chức xã hội, có vay vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng

phục vụ sản xuất nông nghiệp địa phương tốt sẽ

làm tăng khả năng ứng dụng tiến bộ KH&CN của

nông hộ Cụ thể, từng biến tác động đến quyết

định ứng dụng tiến bộ KH&CN được giải thích

như sau:

Hai biến định lượng trình độ học vấn (X2)

và diện tích đất sản xuất (X5) có mối quan hệ

thuận chiều với biến quyết định ứng dụng tiến

bộ KH&CN của nông hộ Giá trị 2 biến này càng

tăng thì giá trị của biến Y càng gần 1 Lý do là

trình độ học vấn sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới khả

năng tiếp thu thông tin tiến bộ KH&CN và ứng

dụng tiến bộ KH&CN vào thực tế sản xuất; trong

khi đó, diện tích đất sản xuất càng lớn thì càng tạo

động lực cho nông hộ ứng dụng tiến bộ KH&CN

nhằm làm giảm chi phí, sức lao động, thời gian

chăm sóc đến mức tối thiểu

Biến tham gia tổ chức xã hội (X4) có ảnh

hưởng lớn nhất tới quyết định ứng dụng tiến bộ

KH&CN vào trong sản xuất chè của nông hộ Do

biến X4 là một biến định danh nhận 2 giá trị đại

diện (0: không tham gia tổ chức, 1: có tham gia

tổ chức) nên xác suất biến Y nhận giá trị 1 (có

ứng dụng tiến bộ KH&CN) là rất lớn nếu biến

X4 bằng 1 Nói cách khác, khả năng ứng dụng

tiến bộ KH&CN vào sản xuất đối với nông hộ

có tham gia tổ chức và đoàn thể xã hội là rất cao

Điều này hoàn toàn hợp lý với thực tế, bởi vì

thông qua hoạt động đoàn hội như: hội cựu chiến

binh, hội nông dân, phụ nữ, tổ hợp tác, hợp tác

xã,… nông dân sẽ thường xuyên tiếp nhận thông

tin khoa học cũng như là tham gia các lớp tập

huấn đầy đủ, hiệu quả hơn Nếu chính quyền địa

phương có biện pháp phổ biến thông tin, mô hình

tiến bộ kỹ thuật tiên tiến nhanh chóng, kịp thời

thì sẽ sớm giúp cho nông dân thay đổi nhận thức sản xuất, chuyển từ trồng chè truyền thống sang

áp dụng mô hình kỹ thuật mới

Biến vay vốn (X6) cũng là một biến định danh nhận 2 giá trị đại diện (0: không có vay, 1:

có vay) Ta giải thích mối quan hệ giữa biến Y

và X6 tương tự như biến Y và X4 Như vậy, khả năng ứng dụng tiến bộ KH&CN của nông hộ sẽ rất cao nếu hộ có vay vốn để hỗ trợ sản xuất Mục đích của việc đi vay là đầu tư trang thiết bị, máy móc,… để phục vụ phát triển sản xuất Thường thì nông hộ phải bỏ ra số vốn cơ bản trong vài năm đầu hoặc cập nhật thông tin kỹ thuật mới Việc này chỉ tốn kém trong ngắn hạn, xét về dài hạn thì có lợi ích rất lớn do tiết kiệm được chi phí vật tư nông nghiệp, chi phí lao động, chi phí thuê mướn, cơ giới hóa,… cho từng vụ tiếp theo Đối với biến X7 (đánh giá cơ sở hạ tầng địa phương), khi biến này tiến gần về giá trị lớn nhất của chính nó (là 4) thì Y sẽ dần tiến về giá trị lớn nhất là 1 Có nghĩa là khi điều kiện cơ sở

hạ tầng địa phương thuận lợi sẽ góp phần thúc đẩy nông dân ứng dụng tiến bộ KH&CN Trong quá trình khảo sát, một số nông dân cho rằng lý

do họ không ứng dụng tiến bộ KH&CN nhiều là do: cán bộ khuyến nông không tiếp xúc nhiều với dân, ít xuống tập huấn và chỉ sản xuất mô hình thí nghiệm ở những nơi có điều kiện thuận lợi hơn; nông dân tại các cơ sở hạ tầng không thuận lợi cũng không có nhiều điều kiện ứng dụng tiến

bộ KH&CN hoặc áp dụng mô hình không đồng

bộ, không đúng cách nên dẫn đến hiệu quả không cao Vì vậy, biến yếu tố cơ sở hạ tầng là nhân tố khách quan có ảnh hưởng quan trọng tới quyết định ứng dụng tiến bộ KH&CN của nông dân thành phố Thái Nguyên

Các biến X1 (lao động) và X3 (kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ) có quan hệ nghịch chiều với việc ứng dụng tiến bộ KH&CN Hộ

có số lao động càng lớn, kinh nghiệm sản xuất chè càng lâu năm thì xu hướng ứng dụng tiến bộ KH&CN trong sản xuất càng ít

4 Kết luận

Trang 7

Qua nghiên cứu thực trạng ứng dụng tiến

bộ KH&CN và phân tích các yếu tố ảnh hưởng

đến ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất chè

của hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái

Nguyên, tác giả rút ra một số kết luận như sau:

(1) Nông hộ tiếp cận tiến bộ KH&CN chủ yếu

thông qua các phương tiện thông tin đại chúng,

cán bộ khuyến nông, công ty thuốc bảo vệ thực

vật Phần lớn nông hộ hài lòng về các khóa tập

huấn tiến bộ KH&CN và đánh giá cao khả năng

triển khai ứng dụng Khá nhiều nông hộ sản xuất

chè ở thành phố Thái Nguyên đã và đang ứng

dụng các mô hình tiến bộ KH&CN vào sản xuất

chè (chiếm tỷ lệ 57,3%) Nông hộ ứng dụng tiến

bộ KH&CN vào sản xuất chè chủ yếu là: Giống

mới, thâm canh chè, sản xuất chè an toàn theo quy

trình VietGap, UTZ, tưới van xoay, chế biến bằng

tôn sao inox,… (2) Quyết định ứng dụng tiến bộ

KH&CN vào sản xuất chè của nông hộ chịu ảnh

hưởng bởi các yếu tố chính: Lao động gia đình,

Trình độ học vấn; Kinh nghiệm sản xuất của chủ

hộ; Tham gia tổ chức xã hội, Diện tích đất, Vay

vốn; Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp tốt

Kết quả của nghiên cứu đã xác định được

những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết

định ứng dụng tiến bộ KH&CN của nông hộ

trong sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên Hạn

chế của nghiên cứu là chưa phân tích được các

nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng tiến

bộ KH&CN trong sản xuất chè của nông hộ trên

địa bàn thành phố Thái Nguyên và so sánh sự

khác biệt về hiệu quả sản xuất chè giữa các nhóm

hộ có mức độ ứng dụng tiến bộ KH&CN khác

nhau, các nghiên cứu tiếp theo có thể thực hiện

trên phạm vi rộng hơn và tiếp cận theo hướng giải

quyết hạn chế này./

Tài liệu tham khảo

[1]Phạm Văn Việt Hà (2007), Thực trạng

và những giải pháp chủ yếu nhằm nhằm phát triển sản xuất chè tại thành phố Thái Nguyên,

Luận văn Thạc sĩ kinh tế;

[2] Hà Thị Bích Hồng (2011), Nâng cao khả năng ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất của thanh niên nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Luận

văn thạc sĩ kinh tế;

[3] Huỳnh Thanh Chí (2004) “Vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong nâng cao hiệu quả sản xuất của nông hộ tại xã Viên An, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng”, Luận văn tốt nghiệp, Khoa Kinh tế -

QTKD, Trường Đại học Cần Thơ;

[4] Phan Văn Hùng (2009), Một số vấn đề

về chuyển giao KH&CN vào vùng dân tộc thiểu

số, NXB Lý luận Chính trị, Hành chính;

[5] Nguyễn Công Sự (2014), Phân tích

các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, Luận văn thạc sĩ kinh tế;

[6] PGS.TS Trịnh Xuân Ngọ (2009), Cây chè và kỹ thuật chế biến;

[7] Tổng quan phát triển chè Việt Nam

2001-2010, Bùi Quang Toản, Nguyễn Cảnh Khâm, Vụ QHKH - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; [8] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng

Ngọc, (2008), Phân tích dữ liệu với SPSS”, tập 2

NXB Hồng Đức, Hà Nội;

[9] Đinh Phi Hổ và Đoàn Ngọc Phả, (2009)

“Một số giải pháp nâng cao chất lượng tập huấn công nghệ mới cho nông dân ở An Giang”, Tạp

chí Quản lý Kinh tế

FACTORS AFFECTING THE APPLICATION OF SCIENCE AND TECHNOLOGY ADVANCES IN TEA PRODUCTION IN THAI NGUYEN CITY, THAI NGUYEN PROVINCE Abstract: This study was conducted to determine the factors that affect the application

of scientific and technological advances in tea production of farmer households in Thai Nguyen city Data used for the study was actually surveyed by 150 tea farmers in Thai Nguyen city Binary logistic regression analysis is used to determine the factors influencing the decision

to apply advanced science and technology to tea production of the household The results showed thateducation level, participation in social organizations, total production land area

of household, loan for production, and agricultural infrastructure positively correlated with farmer’s decision of application of advanced techniques.

Keywords: Advances in science and technology; tea production; farmers; Thai Nguyen city

Ngày đăng: 20/05/2021, 13:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w