Mục tiêu nghiên cứu luận án là nghiên cứu hoàn thiện quy trình phân tích và xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp xác định đồng thời 10 hợp chất siloxanes và 10 hợp chất phthalates của mẫu không khí trong nhà trên thiết bị sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS). Áp dụng quy trình tối ưu để đánh giá sự phân bố và ước lượng rủi ro phơi nhiễm siloxanes và phthalates đối với sức khỏe con người qua con đường hít thở không khí cho các nhóm lứa tuổi khác nhau.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Hạnh
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
NHẰM QUAN TRẮC VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHƠI NHIỄM SILOXANES VÀ
PHTHALATES TRONG KHÔNG KHÍ
Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 9440112.03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Hóa học – Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
- PGS.TS Từ Bình Minh
- TS Trần Mạnh Trí
Trang 3A GIỚI THIỆU VỀ LUẬN ÁN
1 Đặt vấn đề
Chất lượng không khí là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý môi trường cùng cả xã hội quan tâm và có tính thời sự, cấp thiết trên phạm vi toàn cầu Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp cùng với hoạt động sống của con người đã và đang gây ô nhiễm môi trường trong đó có không khí Sống trong môi trường không khí bị ô nhiễm bởi các loại hóa chất khác nhau là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và tác động đến các hệ sinh thái, gây ra biến đổi khí hậu như: hiệu ứng nhà kính, mưa acid và suy giảm tầng ozone,… Trong số các hóa chất tổng hợp, siloxanes và phthalates đã và đang được sản xuất với lượng lớn và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Siloxanes là các hợp chất của silic có chứa liên kết Si-O, chúng có tính chất vật lý như độ ổn định cao, kỵ nước và hòa tan trong dung môi phân cực kém, năng lượng kết dính và sức căng bề mặt thấp, khả năng chống tia bức xạ,… Phthalates là nhóm các diester của acid phthalic, chúng có đặc tính mềm dẻo, độ bền cơ lý cao, sức căng bề mặt thấp…Cả hai nhóm chất siloxanes và phthalates được biết đến như là các phụ gia được sử dụng nhiều trong các vật liệu xây dựng, thiết bị điện tử, y tế, sản phẩm cá nhân và vật dụng gia đình
Do nhu cầu sử dụng rộng rãi của siloxanes và phthalates trong đời sống của con người mà chúng đã có thể phân bố vào hầu hết các môi trường khác nhau như đất, nước, không khí, cơ thể sinh vật và đi vào chuỗi thức ăn Nhiều công bố trên thế giới chỉ ra mức
độ ô nhiễm siloxanes và phthalates ở nồng độ cao trong môi trường và tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm trực tiếp cho con người theo cách chủ định hoặc không chủ định Mối quan tâm đối với các hợp chất siloxanes và phthalates càng trở nên cấp thiết hơn khi có nhiều bằng chứng về độc tính của chúng trên động vật phòng thí nghiệm Siloxanes và phthalates được biết đến là các hóa chất gây rối loạn nội tiết (endocrine disrupting chemicals), trong đó chúng tác động trực tiếp lên hormone sinh dục (entrogen và estrogen) của chuột trong phòng thí nghiệm Đối với con người, hiện nay các nhà khoa học đang tìm kiếm các mối liên hệ giữa mức độ phơi nhiễm của các nhóm chất này đối với căn nguyên của các loại bệnh khác nhau Nhìn chung, những hiểu biết về sự phân bố
và những ảnh hưởng trực tiếp đến con người của các lớp hợp chất siloxanes và phthalates đến nay vẫn còn rất hạn chế Ở một số nước phát triển trên thế giới như Liên minh Châu
Trang 4Âu, Hoa kỳ, Canada và Nhật Bản đã ban bố các lệnh cấm sản xuất hoặc hạn chế tiêu thụ đối với một số chất thuộc nhóm siloxanes và phthalates
Tại Việt Nam, hiện nay việc phát triển các phương pháp phân tích chính xác thành phần hóa học ở mức độ lượng vết trong các đối tượng mẫu khác nhau vẫn còn rất hạn chế Một số phương pháp xác định các hợp chất vô cơ trong không khí và với giới hạn phát hiện ở nồng độ rất cao, trong khi đó, các phương pháp xác định và đánh giá các hợp chất hữu cơ trong không khí vẫn còn rất yếu và thiếu Đặc biệt, thiếu các phương pháp phân tích đối với các nhóm hợp chất mới như siloxanes và phthalates trong các đối tượng
mẫu khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển phương pháp phân tích nhằm quan trắc và đánh giá mức độ phơi nhiễm siloxanes và phthalates trong không khíˮ là cần thiết và có tính khoa học, thực tiễn sâu sắc
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình phân tích và xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp xác định đồng thời 10 hợp chất siloxanes và 10 hợp chất phthalates của mẫu không khí trong nhà trên thiết bị sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS)
- Áp dụng quy trình tối ưu để đánh giá sự phân bố và ước lượng rủi ro phơi nhiễm siloxanes và phthalates đối với sức khỏe con người qua con đường hít thở không khí cho các nhóm lứa tuổi khác nhau
2 Nội dung nghiên cứu của luận án:
- Khảo sát lựa chọn các điều kiện tối ưu để phân tích các các hợp chất siloxanes và phthalates trên thiết bị sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS)
- Khảo sát tối ưu hoá quy trình xử lý mẫu: lựa chọn dung môi, thể tích và tỉ lệ dung môi, loại màng lọc đối với pha hạt và pha hơi,
- Xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp: xác định khoảng tuyến tính, đường chuẩn, giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng, hệ số thu hồi và độ lặp lại của phương pháp
- Phân tích hàm lượng siloxanes và phthalates trong mẫu không khí lấy tại Hà Nội và một số tỉnh thành phía Bắc, Việt Nam trên thiết bị sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS)
- Đánh giá sự phân bố siloxanes và phthalates trong mẫu không khí tại mỗi vi môi trường
- Ước lượng mức độ rủi ro phơi nhiễm siloxanes và phthalates qua con đường hít thở không khí đối với sức khỏe con người theo nhóm lứa tuổi khác nhau
Trang 53 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tổng quan tài liệu, phương pháp thực nghiệm (khảo sát hiện trường, lấy mẫu, xử lý mẫu không khí, phân tích bằng GC/MS), phương pháp xử lý thống kê số liệu thu được
4 Những đóng góp mới của luận án:
Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về xây dựng phương pháp phân tích đồng thời siloxanes và phthalates trong mẫu không khí ở cả pha hạt và pha hơi
Đây là nghiên cứu đầu tiên về đánh giá sự phân bố, ước lượng mức độ rủi ro phơi nhiễm của 2 nhóm chất siloxanes và phthalates trong không khí trong nhà tại 1 số tỉnh thành phía Bắc, Việt Nam
5 Bố cục của luận án:
Luận án gồm 122 trang, có 47 bảng, 27 sơ đồ, đồ thị và hình minh họa Phần mở đầu:
3 trang; Chương 1, Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 34 trang; Chương 2, Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 25 trang; Chương 3, Kết quả và thảo luận: 57 trang; Kết luận: 2 trang; Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án: 2 trang; Tài liệu tham khảo:
15 trang với 146 tài liệu nước ngoài; Phần phụ lục: 20 trang các số liệu và sắc đồ
B NỘI DUNG LUẬN ÁN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Giới thiệu chung về khái niệm, phân loại, độc tính cơ bản, hiện
trạng sử dụng của các nhóm siloxanes và phthalates trong phạm vi nghiên cứu của luận
án gồm 10 siloxanes 10 phthalates đó là: Hexamethylcyclotrisiloxane (D3), octamethylcyclotetrasiloxane (D4), decamethylcyclopentasiloxane (D5), dodecamethylcyclohexasiloxane (D6), decamethyltetrasiloxane (L4), dodecamethylpentasiloxane (L5), tetradecamethylhexasiloxane (L6), các polydimethylsiloxane mạch thẳng (L7, L8, L9), Dimethyl phthalate (DMP), diethyl phthalate (DEP), dipropyl phthalate (DPP), diisobutyl phthalate (DiBP), benzyl butyl
phthalate (BzBP), hexyl phthalate (DnHP), di(2-ethylhexyl) phthalate (DEHP), octyl phthalate (DnOP), dicyclohexyl phthalate (DCHP) và di-n-butyl phthalate (DBP)
di-n-Giới thiệu về con đường lan truyền của siloxanes và phthalates trong môi trường
Khu vực nghiên cứu: Tiến hành khảo sát thực tế về nguồn phát thải các hợp chất
siloxanes và phthalates, từ đó, tiến hành thu thập mẫu khí trong một số môi trường khác
Trang 6nhau như: Nhà ở, phòng thí nghiệm, trong ô tô, văn phòng, salon tóc, nhà trẻ tại một số tỉnh thành phía Bắc, Việt Nam bao gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình và Tuyên Quang
Phương pháp nghiên cứu: Giới thiệu về phương pháp lấy mẫu không khí trong nhà;
giới thiệu các phương pháp xử lý mẫu để phân tích các nhóm siloxanes và phthalates
nghiên cứu trên nền mẫu bụi, nhựa, sản phẩm chăm sóc cá nhân, không khí trong nhà,… CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Tổng quan tài liệu về siloxanes và phthalates: công thức tổng quát, tính chất, độc tính, nguồn phát sinh và tồn tại trong môi trường; tổng quan về các kỹ thuật lấy mẫu, xử
lý mẫu và phương pháp phân tích Khảo sát khu vực nghiên cứu để xác định vị trí lấy mẫu và thiết kế phương án lấy mẫu không khí trong nhà tại khu vực nghiên cứu; tiến hành xử lý mẫu tại phòng thí nghiệm; phân tích xác định hàm lượng các chất trên thiết bị GC/MS; Xử lý số liệu để đánh giá kết quả phân tích qua phần mềm Excel 10 và GraphPad Prism phiên bản 7.0
2.3 Hóa chất, dụng cụ, thiết bị
Các dung dịch chuẩn: Dung dịch chuẩn gốc của các hợp chất siloxanes và phthalates; dung dịch chuẩn chất đồng hành M4Q đối với siloxanes và 7 chất đồng hành đối với phthalates Các dung môi hữu cơ, các thiết bị và các dụng cụ thủy tinh khác
Phân tích xác định hàm lượng siloxanes và phthalates trên thiết bị sắc ký khí Agilent 8790B ghép nối khối phổ Agilent 5977A tại Phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam
Trang 72.4 Điều kiện định lƣợng các siloxanes và phthalates nghiên cứu
Các điều kiện khảo sát và tối ưu gồm nhiệt độ cổng bơm mẫu (injector), chương trình nhiệt độ lò cột, nhiệt độ detector, các mảnh phổ đặc trưng, nhiệt độ nguồn ion đối với sắc
ký ghép nối khối phổ, đánh giá sự ổn định của tín hiệu phân tích, xác định giới hạn phát hiện của thiết bị (IDL) và giới hạn định lượng của thiết bị (IQL),…
2.5 Quá trình chuẩn bị mẫu
Màng lọc thạch anh (đường kính 32 mm, kích thước lỗ 2,2 µm, của hãng Whatman) và ống polyurethane foam: PUF (đường kính 2,2 cm và chiều dài 7,6 cm, của hãng Sulpeco) mới mua về được làm sạch bằng cách chiết lắc với hỗn hợp
dichloromethane và n-hexane (tỷ lệ 3:2 về thể tích), sau đó sấy khô ở 100oC và bảo quản tránh tiếp xúc với không khí cho đến khikhi sử dụng Trước và sau khi thu mẫu, màng lọc thạch anh đã được cân (sử dụng cân phân tích, sai số 0,0001 mg) nhằm xác định lượng hạt bụi thu được từ trong không khí Các dụng cụ đi kèm như ống thủy tinh, hộp bằng
Teflon cũng được tráng rửa bằng acetone, sau đó là n-hexane
2.6 Nghiên cứu quá trình chuẩn bị mẫu trắng
Với mục đích, lựa chọn được điều kiện chiết tách đồng thời 2 nhóm chất siloxanes
và phthalates, quá trình xử lý mẫu được tiến hành khảo sát với mẫu trắng trên màng lọc thạch anh và PUF sạch đã chuẩn bị
Đồng thời khảo sát loại dung môi và tỉ lệ dung môi chiết, trong đó các dung môi
chiết được lựa chọn là acetone, dichloromethane, n-hexane và hỗn hợp dichloromethane (DCM): n-hexane có thay đổi tỉ lệ giữa DCM và n-hexane lần lượt là: 3:1, 3:2 và 2:1 để
tìm ra tỉ lệ dung môi phù hợp nhất cho quá trình chiết đồng thời nhóm chất siloxanes và phthalates
Sau khi khảo sát tìm được hỗn hợp dung môi phù hợp, nghiên cứu của luận án tiến hành xác định độ thu hồi và độ lặp lại đối với nhóm chất siloxanes và phthalates Để xác định độ thu hồi và lặp lại, tiến hành thêm chất đồng hành vào các pha trên nền mẫu trắng
ở cả pha hạt (trên màng lọc thạch anh) và pha hơi (trên PUF) Ở mỗi mức nồng độ, tiến hành xử lý mẫu và phân tích lặp lại 7 lần
2.7 Quá trình xử lý mẫu ở pha hạt và pha hơi
Pha hạt thu giữ trên màng lọc thạch anh, pha hơi thu giữ trên hai ống polyurethane
foam (PUF) và được tiêm 200 ng chất đồng hành M4Q và 500ng d4-phthalate vào màng
Trang 8lọc Sau đó chiết tách với hỗn hợp dichloromethane (DMC) và n-hexane (3:2, v:v) và
dịch chiết sau đó được cô cạn bằng dòng N2 đến 1 mL để tiến hành phân tích sắc kí
Tính toán hàm lƣợng các chất trong mẫu
Nồng độ hoạt chất trong pha hạt:
( ) =
Trong đó:
- Cp: nồng độ chất ở pha hạt trong dung dịch mẫu cuối cùng khi bơm vào máy (ng/mL)
- V (mL): thể tích mẫu sau cùng (1mL)
- Hhạt là hiệu suất thu hồi ở pha hạt của mỗi hoạt chất có trong mẫu (%)
- mhat là khối lượng bụi thu được trên màng lọc (g)
Nồng độ hoạt chất trong pha hơi:
( ) =
Trong đó:
- Cg: nồng độ chất ở pha hạt trong dung dịch mẫu cuối cùng khi bơm vào máy (ng/mL)
- V (mL) : thể tích mẫu sau cùng (1mL)
- Hhơi là hiệu suất thu hồi ở pha hơi của mỗi hoạt chất có trong mẫu (%)
- Vkk là thể tích không khí trong quá trình thu mẫu
Nồng độ hoạt chất trong không khí:được tính bởi tổng của hoạt chất ở pha hạt và
pha hơi theo công thức như sau:
( ) = (
) ( ) ( )
2.8 Đánh giá sự phân bố và rủi ro phơi nhiễm
* Sự phân bố siloxanes và phthalates trong không khí
Trong nghiên cứu này, siloxanes và phthalates đã được xác định trong cả pha hạt và
pha hơi Hằng số phân bố (Kp) và hằng số phân tán octanol/nước (Kow) của siloxanes và
phthalates được ước lượng dựa trên nồng độ đo được trong pha hơi và pha hạt từ các mẫu
không khí trong nhà
Hằng số phân bố (Kp) có đơn vị m3/μg được xác định như sau: KP = (F/TSP)/A Trong đó: F (ng/m3) và A (ng/m3) là nồng độ phathalate tương ứng trong pha hạt và pha khí;
TSP (μg/m3) là nồng độ của các hạt trong không khí
Trang 9Ngoài ra, mối quan hệ cơ bản giữa Kp và Kow như sau: Kp = (fom - Kow)/ρpart Trong đó: fom = 0,4 (là lượng chất hữu cơ có trong pha hạt) và mật độ hạt là ρpart = 1000 kg/m3 = 1.1012 ng/m3,
Thu được phương trình: log (Kow) = log (Kp) + 12,40
Kp và log(Kp) được xác định dựa trên tỷ lệ nồng độ trung bình của các siloxanes cũng như phthalate trong pha hạt và pha hơi
* Đánh giá rủi ro phơi nhiễm siloxanes và phthalates qua hít thở không khí
Trong nghiên cứu này, mức độ phơi nhiễm siloxanes và phthalates đã được ước lượng dựa theo công thức:
Trong đó:
DI (daily intakes): mức độ phơi nhiễm trung bình (ng/kg-bw/giờ)
C: tổng nồng độ siloxanes (phthalates) tìm thấy trong mẫu không khí (ng/m3
)
f: tốc độ hít thở không khí trung bình (m3/24 giờ)
M: khối lượng cơ thể (kg)
Theo Việt Nam bách khoa tri thức (2014), trọng lượng trung bình (bw) của người Việt Nam được áp dụng như sau: trẻ sơ sinh (6-12 tháng): 8 kg, trẻ mẫu giáo (1-5 tuổi):
15 kg, nhi đồng (6-11 tuổi): 25 kg, thiếu niên (12-18 tuổi): 48 kg và người trường thành (≥ 19 tuổi): 66 kg Tốc độ hít thở trung bình đối với trẻ sơ sinh là 4,5 m3/ngày, mẫu giáo
là 7,0 m3/ngày, nhi đồng là 10 m3/ngày, thiếu niên và người trưởng thành là 13,5 m3/ngày (U.S EPA, 2008)
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 TỐI ƯU HÓA QUY TRÌNH PHÂN TÍCH
3.1.1 Kết quả nghiên cứu trên thiết bị sắc kí khí
Điều kiện phân tích của detector khối phổ
Điều kiện phân tích hai nhóm chất siloxanes và phthalates trên detector khối phổ (MS) đã được nghiên cứu và lựa chọn từ các tài liệu tham khảo Điều kiện phân tích siloxanes và phthalates được thực hiện trên chế độ quan sát chọn lọc ion (SIM), mỗi siloxanes hoặc phthalates lấy 3 ion, 1 ion định lượng và 2 ion xác nhận theo quyết định Châu Âu 2002/657/EC
Trang 10 Khảo sát chương trình nhiệt độ
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 2 chương trình nhiệt độ đối với mỗi nhóm chất siloxanes và phthalates Chương trình nhiệt độ lò cột đối với siloxanes như sau: từ 40oC, giữ trong 2phút; tăng đến 220oC với tốc độ 20oC/phút; tăng đến 280oC với tốc độ
5oC/phút, giữ 10phút; tăng đến 300oC với tốc độ 8oC/phút, giữ trong 5 phút để rửa giải các cấu tử bị lưu giữ mạnh Sau khi chọn được chương trình nhiệt độ phù hợp, tiến hành chạy mẫu chuẩn siloxanes, thu được sắc ký đồ như sau:
Hình 3 1 Sắc ký đồ của mẫu chuẩn siloxanes
+ Đối với nhóm chất phthalates: chương trình nhiệt độ tối ưu là: nhiệt độ ban đầu từ 80ºC, giữ 1 phút; tăng đến 180ºC với tốc độ 12ºC/phút, giữ 1 phút; tăng lên 230ºC với tốc
độ 6ºC/phút; tăng lên 270ºC với tốc độ 8ºC/phút, giữ 2 phút; tăng lên 300ºC với tốc độ 30ºC/phút, giữ 12 phút Sau khi chọn được chương trình nhiệt độ phù hợp, tiến hành chạy mẫu chuẩn phthalates, thu được sắc ký đồ như sau:
Hình 3 2 Sắc ký đồ của mẫu chuẩn phthalates
Kết quả khảo sát điều kiện bơm mẫu
Trang 11Nghiên cứu của luận án đã tiến hành khảo sát với cả 2 kĩ thuật chia dòng và không chia dòng khi phân tích các hợp chất siloxanes và phthalates trên thiết bị GC-MS Chế độ bơm mẫu không chia dòng được lựa chọn để xác định siloxanes và phthalates trong quá trình nghiên cứu
Xác định giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng của thiết bị
Giá trị IDL của thiết bị sắc ký GC-MS đối với siloxanes nằm trong khoảng từ 0,085 ppb đến 0,5 ppb và phthalates nằm trong khoảng từ 0,075 ppb đến 0,25 ppb Các giá trị IQL của thiết bị GC-MS đối với các chất siloxanes nằm trong khoảng từ 0,25 ppb đến 1,5 ppb và phthalates nằm trong khoảng từ 0,225 ppb đến 0,75 ppb Nhìn chung, với các giá trị này đều đáp ứng yêu cầu định lượng siloxanes và phthalates trong các mẫu môi trường
Kết quả độ ổn định của tín hiệu phân tích
Từ diện tích peak thu được của 7 lần bơm mẫu lặp lại của các dung dịch chuẩn:
Dung dịch chuẩn siloxanes: ở nồng độ thấp là 0,5 ng/mL và nồng độ cao là 500 ng/mL Dung dịch chuẩn phthalates: ở nồng độ thấp là 1 ng/mL và nồng độ cao là 500 ng/mL Nghiên cứu đã tiến hành tính toán được độ lệch chuẩn tương đối diện tích peak của nhóm chất siloxanes và phthalates trong nghiên cứu Kết quả thu được các giá trị RSD nhỏ hơn 10,7 điều này cho thấy độ lặp lại của tín hiệu phân tích tốt, có tính ổn định cao
3.1.2 Kết quả thẩm định phương pháp phân tích siloxanes và phthalates
Xác định khoảng tuyến tính của đường chuẩn
Bơm hỗn hợp các chất chuẩn có nồng độ từ cao đến thấp vào thiết bị GC/MS Nhóm chất siloxanes được xác định từ giới hạn định lượng đến điểm nồng độ lớn nhất của đường chuẩn và khoảng đó từ 0,5 ng/mL đến 500 ng/mL; còn nhóm chất phthalates, được xây dựng từ 1 ng/mL đến 500 ng/mL Kết quả đều có hệ số hồi quy tuyến tính (R2) lớn hơn 0,999
Kết quả khảo sát nồng độ siloxanes và phthalates trong mẫu trắng
Tiến hành xác định nồng độ siloxanes và phthalates trong mẫu trắng ở cả pha hạt
và pha hơi Kết quả cho thấy, nồng độ siloxanes trong các màng lọc thạch anh đều rất nhỏ hoặc hầu như không có Còn trong 2PUF, nồng độ D3, D4, D5 và D6 lần lượt là 3,31 ± 0,91 ng, 4,2 ± 2,46 ng, 7,18 ± 3,52 ng và 1,8 ± 0,36 ng; đối với các siloxanes còn lại của nghiên cứu thì gần như không có trong 2PUF của mẫu trắng Ngoài ra, nồng độ các
Trang 12phthalates cũng đã được tìm thấy trong màng lọc thạch anh là DIBP (0,5-3,3 ng), DBP (1,0-6,7 ng), DEHP (2,1-4,9 ng) và trong 2PUF các phthalates có nồng độ là DEP (1,9-14,8 ng), DIBP (1,2-11,7 ng), DBP (3,1-22,1 ng), BzBP (1,0-3,2 ng) và DEHP (3,2-26,1 ng); Còn các phthalates khác của nghiên cứu thì gần như không có trong các màng lọc
thạch anh và 2PUF của mẫu trắng
Kết quả giới hạn phát hiện & giới hạn định lượng của phương pháp
Kết quả cho thấy giá trị MQL của các siloxanes dao động từ 0,12 ng/m3 đến 0,7 ng/m3 đối với pha hơi và từ 1,5 μg/g đến 9,0 μg/g đối với pha hạt Đối với các phthalates, giá trị MQL dao động từ 0,1ng/m3 đến 0,3 ng/m3 đối với pha hơi và từ 1,5 μg/g đến 4,5 μg/g đối với pha hạt Như vậy, giới hạn định lượng và giới hạn phát hiện của phương pháp phù hợp để thực hiện quá trình phân tích siloxanes và phthalates trong mẫu không khí
Kết quả khảo sát dung môi và tỉ lệ dung môi chiết
Các dung môi chiết được lựa chọn gồm: acetone, n-hexane, dichloromethane, hỗn hợp DCM : n-hexane lần lượt có tỉ lệ 3:1; 3:2; 2:1 và tiến hành như đã trình bày ở trên
Với mỗi loại dung môi và hỗn hợp dung môi với tỉ lệ khác nhau đều được tiến hành lặp
lại 3 lần để so sánh lựa chọn Kết quả thu được cho thấy tỉ lệ hỗn hợp DCM: n-hexane là
3:2 cho hiệu suất thu hồi chưa cao (dao động trong khoảng từ 79% đến 87%), tuy nhiên, đây được coi là hiệu suất phù hợp cho quá trình chiết tách đồng thời cả siloxanes và phthalates trong mẫu không khí Do đó, nghiên cứu của luận án đã chọn hỗn hợp DCM:
n-hexane với tỉ lệ 3:2 cho quá trình chiết tách đồng thời siloxanes và phthalates trong
mẫu không khí
Kết quả xác định độ thu hồi và độ lệch chuẩn tương đối
Trong nghiên cứu này, tiến hành thêm chất đồng hành đã được chuẩn bị trên nền mẫu trắng ở cả pha hạt (trên màng lọc thạch anh) và pha hơi (trên PUF), tiến hành xử lý mẫu như mục 2.3.6, mỗi mức nồng độ đều được tiến hành lặp lại 7 lần Việc lựa chọn
dung môi chiết là DCM: n-hexane (3:2), khi phân tích nhóm chất siloxanes, cho kết quả
độ thu hồi ở pha hạt từ 89,9% đến 103% và độ lặp lại từ 1,49% đến 1,71%; ở pha hơi từ 82,9% đến 106% và độ lặp lại từ 1,37% đến 1,76% Còn đối với nhóm chất phthalates, cho kết quả độ thu hồi ở pha hạt từ 87,2% đến 103% và độ lặp lại từ 1,45% đến 1,71%; ở pha hơi từ 85,5% đến 105% và độ lặp lại từ 1,42% đến 1,74%