Mục tiêu nghiên cứu của luận án là định lượng và so sánh tỷ lệ phân loại sai của sinh phẩm BED và LAg- Avidity EIA trong nhóm bệnh nhân đang điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú (PKNT) để ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV-1 tại Việt Nam. Ứng dụng kỹ thuật LAg Avidity EIA để ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao lây nhiễm HIV: NCMT, PNBD, TDĐGN ở Việt Nam;
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2Công trình được hoàn thành tai:
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương & Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
2 PGS.TS Nguyễn Quang Huy
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam;
2 Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
Tính đến 2016, UNAIDS ghi nhận số người lớn mới nhiễm HIV trên thế giới nằm chủ yếu độ tuổi lớn hơn 15 [111] Tuy nhiên đến năm 2017 UNAIDS ước tính số người trưởng thành mới nhiễm HIV giảm 8% so với giữa 2010 và 2015, giảm 11% so với giữa 2010 và
2016 [113]
Theo thống kê của UNAIDS Việt Nam, tổng số người nhiễm HIV ở Việt Nam có khoảng 250,000 người lớn và trẻ em Nhóm người lớn trong độ tuổi 15 - 49 có tỷ lệ hiện nhiễm HIV khoảng 0,4% Ước tính có khoảng 11,000 người mới nhiễm HIV trong năm
2016 [112] So sánh số liệu nhiễm HIV/AIDS, tử vong báo cáo năm 2016, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 1,1%, số bệnh nhân AIDS giảm 39% và người nhiễm HIV
tử vong giảm 15% [2] Trên thế giới, các phương pháp xét nghiệm HIV hiện nay chủ yếu chỉ tính được tỷ lệ hiện nhiễm [1] là một tỷ lệ mặc dù quan trọng nhưng có những hạn chế trong việc tìm hiểu sự lan truyền HIV mới nhất
Sinh phẩm miễn dịch gắn men tóm bắt BED là sinh phẩm đầu tiên được thương mại hóa xác định được tỷ lệ mới nhiễm HIV Sinh phẩm BED dựa trên nguyên tắc xác định thời gian nhiễm HIV bằng xác định sự có mặt của một số yếu tố trong huyết thanh hoặc huyết tương Sinh phẩm BED sử dụng một peptide có 3 nhánh được thiết kế đặc hiệu, sử dụng các trình tự, hay các đoạn, gp41 của các phân nhóm HIV‐1 khác nhau Đoạn peptide chung cho nhiều phân nhóm này sau đó được dùng để đo tỷ lệ đang tăng lên của kháng thể IgG đặc hiệu HIV so với IgG toàn phần sau giai đoạn chuyển đổi huyết thanh [1]
Tỷ lệ kháng thể IgG kháng HIV so với kháng thể IgG toàn phần tăng lên theo thời gian
nhiễm cho phép ước tính thời gian nhiễm Hạn chế của sinh phẩm BED là ước lượng cao tỉ
lệ mới nhiễm HIV‐1 do phân loại sai một số các trường hợp nhiễm đã lâu (đã nhiễm hơn 1 năm) thành mới nhiễm trong các nghiên cứu cắt ngang [2] Tỉ lệ nhiễm đã lâu bị phân loại sai là mới nhiễm được gọi là tỷ lệ phân loại sai gần đây (tỷ lệ FRR) Để hiệu chỉnh sai
số này, chúng ta cần sử dụng công thức hiệu chỉnh [3,4] Sinh phẩm BED chỉ mới được thẩm định và tính toán tỷ lệ phân loại sai FRR với một số quần thể tại Châu Phi, Châu Âu
và Mỹ; do đó vẫn chưa thể biết có thể áp những tỷ lệ này cho các khu vực khác như Châu Á hay không
Kỹ thuật miễn dịch gắn men ái tính kháng nguyên giới hạn rIDR‐m – rIDR-m Limiting Antigen Avidity Enzyme Immunoassay (sinh phẩm LAg-Avidity) là kỹ thuật thế
hệ mới xác định tỷ lệ mới nhiễm tập trung vào các đặc tính kháng thể bao gồm cả ái lực của kháng thể kháng HIV dựa trên nguyên tắc là các kháng thể được tổng hợp sớm trong quá trình nhiễm HIV sẽ gắn với kháng nguyên không mạnh bằng những kháng thể hoàn chỉnh hơn được tổng hợp ở giai đoạn sau Ái lực kháng thể tăng lên theo quá trình nhiễm bệnh là do đáp ứng miễn dịch đối với quá trình nhiễm bệnh hoàn thiện hơn Kỹ thuật mới này sử dụng một protein tái tổ hợp chung cho nhiều phân nhóm (rIDR‐M) gộp 3 trình tự của các khu vực quyết định miễn dịch (rIDR) của gp41, đại diện cho các đa dạng phân nhóm HIV‐1 từ A đến E (nhóm M) Kết quả nghiên cứu ở một số nước cho thấy sinh phẩm này cho kết quả tốt như nhau đối với tất cả các phân nhóm HIV‐1 khác nhau đang lưu hành trên thế giới Tuy nhiên, cần những nghiên cứu đánh giá trên thực địa nhằm xác định độ chính xác của sinh phẩm LAg-Avidity để ước tính tỷ lệ mới nhiễm
Với sự hỗ trợ của CDC, Viện VSDTTƯ đã tiến hành nghiên cứu “ Ứng dụng kỹ thuật xét nghiệm ái tính kháng nguyên giới hạn (LAg-Avidity) để ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV trên các nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV ở Việt Nam” để tìm ra cách tính toán tỷ lệ
mới nhiễm HIV phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam
Trang 4MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Định lượng và so sánh tỷ lệ phân loại sai của sinh phẩm BED và LAg- Avidity EIA trong nhóm bệnh nhân đang điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú (PKNT) để ước tính
tỷ lệ mới nhiễm HIV-1 tại Việt nam
2 Ứng dụng kỹ thuật LAg Avidity EIA để ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao lây nhiễm HIV: NCMT, PNBD, TDĐGN ở Việt Nam;
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cắt ngang trên quần thể những người tham gia điều trị tại các phòng khám ngoại trú ở Việt Nam, và
- Sử dụng mẫu điều tra trong nghiên cứu Lồng ghép các chỉ số hành vi và sinh học (IBBS) của hai vòng 2006 và 2009
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm 120 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục; gồm 3 chương,
30 bảng, 38 hình, tham khảo 185 tài liệu trong và ngoài nước Bố cục luận án gồm: Mở đầu
4 trang, tổng quan 45 trang, vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết quả và bàn luận 50 trang, kết luận 1 trang, kiến nghị 1 trang; 3 bài báo có liên quan trực tiếp đến luận
án đã được công bố
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dặcđiểm vi rút HIV
Nhiễm HIV (vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người) và AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) là một quá trình bệnh lý do một loại vi rút thuộc chi Lentivi rút, họ Retroviridae gây ra Thời gian trung bình từ khi nhiễm HIV đến khi tiến triển thành AIDS khoảng 10 năm Hai loại HIV đã được định rõ đặc điểm: HIV-1 và HIV-2 HIV có dạng hình cầu, kích thước khoảng 80 - 120 nm, nhỏ hơn khoảng 60 lần so với một tế bào hồng cầu Cấu tạo HIV gồm 3 lớp: bao ngoài, phần vỏ trong, phần lõi
1.2 Một số thuật ngữ trong dịch tễ học và xét nghiệm HIV
1.3 Các phương pháp và kỹ thuật xét nghiệm xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở Việt Nam
Xét nghiệm HIV được tiến hành theo ba chiến lược khác nhau tùy thuộc vào mục đích xét nghiệm, tỷ lệ hiện nhiễm HIV của quần thể xét nghiệm [1]
1.3.1 hương pháp xét nghiệm gián ti p HIV
Là phương pháp phát hiện sự hiện diện của kháng thể kháng HIV trong máu hoặc dịch tiết của cơ thể người để xác định tình trạng nhiễm HIV
1.3.2 hương pháp xét nghiệm trực ti p
Tóm bắt trực tiếp tác nhân gây bệnh (hay còn gọi chung là xét nghiệm vi rút học) như phát hiện kháng nguyên vi rút trong máu (P24), các axit nucleotit của virut: ARN hoặc ADN provirut (tế bào nhiễm) hoặc phân lập vi rút bằng nuôi cấy tế bào
1.4 Các kỹ thuật xét nghiệm xác định tỷ lệ mới nhiễm HIV trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Các kỹ thuật xét nghiệm mới nhiễm HIV trên th giới
Từ năm 2008, WHO/ UNAID đã thành lập một nhóm chuyên gia kỹ thuật để phát triển các hướng dẫn quốc gia, đánh giá và sử dụng các xét nghiệm phát hiện sớm nhiễm HIV Đến năm 2017, tám kỹ thuật xét nghiệm mới nhiễm HIV đã được sử dụng trên thế giới
1.4.2 Các kỹ thuật xét nghiệm mới nhiễm ở Việt Nam
Các kỹ thuật phát hiện p24, ARN/ADN, Western Blot được sử dụng là xét nghiệm thường quy trong phát hiện tỷ lệ hiện nhiễm Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào sử dụng các sinh phẩm này để ước tính tỷ lệ mới nhiễm trong giám sát dịch
tễ học cho một quần thể nào đó do giá thành cao và cỡ mẫu cần quá lớn
Đến năm 2010, sinh phẩm BED và LAg-Avidity mới chính thức đưa vào nghiên cứu ở Việt Nam với quy mô lớn
1.4.3 Những nghiên cứu ước tính tỷ lệ mới nhiễm trên th giới
Đến 2011 đã có ít nhất 7 nghiên cứu trên thực địa về tỷ lệ mới nhiễm HIV tại: Việt Nam, Ethiopia, Nam Phi, Mozambique, Đông Phi, Kenya, và Mỹ
1.5 Ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV trên thế giới
Tỷ lệ mới nhiễm là một chỉ số đo lường mức độ lan truyền HIV trong cộng đồng Ước tính tỷ lệ mới nhiễm được ứng dụng trong các trường hợp sau [115]:
- Giám sát quần thể những người nhiễm HIV
- Đánh giá ảnh hưởng của các tác động can thiệp phòng chống HIV,
- Lựa chọn quần thể để đưa vào thử nghiệm lâm sàng, theo dõi tính hiệu quả đối với việc can thiệp sớm hoặc điều trị sớm
Phương pháp xác định trực tiếp : là phương pháp sử dụng các xét nghiệm sớm mới
nhiễm HIV để tính được tỷ lệ mới nhiễm trong quần thể
Phương pháp xác định gián tiếp: là phương pháp sử dụng số liệu trong giám sát
dịch tễ học để ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nghiên cứu định lượng và so sánh tỷ lệ phân loại sai (PLS) trên quần thể những người tham gia điều trị tại các phòng khám ngoại trú
Đối tượng nghiên cứu: chưa từng điều trị thuốc kháng vi rút ART; đã nhiễm HIV
hơn 12 tháng; ít nhất 18 tuổi tại thời điểm tham gia và; đồng ý tham gia nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, phân tích tìm tỷ lệ phân loại sai PLS Các kỹ thuật xét nghiệm trong nghiên cứu:
Các mẫu trong nghiên cứu đã được xét nghiệm chẩn đoán HIV theo chiến lược III của
Bộ Y tế: sử dụng 3 loại sinh phẩm khác nhau về nguyên lý hoặc chuẩn bị kháng nguyên khác nhau
Các kỹ thuật sử dụng tiếp cho xét nghiệm mới nhiễm: BED, LAg-Avidity, Western
Blot được tiến hành làm trực tiếp ở phòng xét nghiệm Tham chiếu quốc gia HIV – Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương
Các xét nghiệm bổ sung khác: xét nghiệm kiểu gen, đo tải lượng, xét nghiệm phát hiện người đang điều trị ARV được thực hiện tại CDC Atlanta trên những mẫu lưu gửi từ Viện
Vệ sinh dịch tễ Trung ương để khẳng định lại đối với những mẫu khó và kết,
Các y u tố cần đánh giá trong nghiên cứu
- Phân tích ý nghĩa các dặc điểm của quần thể tham gia nghiên cứu về: độ tuổi, giới tính, thời gian nhiễm; các kết quả xét nghiệm HIV, CD4, đo tải lượng HIV với lâm sàng; các bệnh nhiễm trùng cơ hội; các nhóm có nguy cơ cao)
- Phân tích tỷ lệ phân loại sai FRR là mới nhiễm của từng sinh phẩm: sinh phẩm BED, LAg- Avidity theo từng miền: Bắc và Nam,
- Xem xét các trường hợp nghi ngờ bằng xét nghiệm bổ sung: XN Western Blot, XN kiểu gen, XN đo tải lượng HIV,
- Phân tích tỷ lệ phân loại sai PLS cho cả hai sinh phẩm sau khi loại những bệnh nhân đang điều trị ART
- Phân tích tỷ lệ phân loại sai PLS theo từng phòng khám ngoại trú theo từng miền,
- Tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tỷ lệ phân loại sai PLS
- So sánh tỷ lệ phân loại sai PLS, ngưỡng OD cut-off của các nghiên cứu xét nghiệm sớm HIV ở Việt Nam với các nước trên thế giới
- Tính khả thi của các sinh phẩm khi áp dụng trong tương lai
2.2 Nghiên cứu thử nghiệm sinh phẩm LAg- Avidity sử dụng mẫu điều tra trong nghiên cứu “Lồng ghép các chỉ số hành vi và sinh học (IBBS)” của hai năm 2006 và 2009
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu sử dụng lại toàn bộ thông tin, các mẫu huyết tương được lưu giữ tại Viện từ các nghiên cứu “Lồng ghép các chỉ số
hành vi và sinh học” IBBS 2006 (vòng I) và IBBS 2009 (vòng II)
hương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu này áp dụng theo phương pháp “Ước tính tỷ
lệ mới nhiễm dựa trên việc sử dụng kết hợp hai hoặc nhiều kỹ thuật xét nghiệm mới”
Trang 7Kỹ thuật xét nghiệm: Phòng thí nghiệm tham chiếu quốc gia HIV – Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương trực tiếp làm các xét nghiệm LAg-Avidity, BED và xét nghiệm đo tải lượng HIV trên hệ thống máy Roche
Cơ sở nhập liệu: Số liệu xét nghiệm được nhập vào phần mềm exel do CDC thiết kế,
các mẫu chứng được kiểm soát độ tuyến tính, độ chính xác bằng biểu đồ Levey-Jennings và quy
tắc Westgard Các bộ câu hỏi phỏng vấn sẽ được nhập vào phần mềm STATA để phân tích
Các y u tố phân tích trong nghiên cứu:
- Phân tích trên kết quả XN mới nhiễm trên các nhóm PNBD, NCMT, MSM theo vùng,
- Phân loại các tỷ lệ hiện nhiễm và tỷ lệ mới nhiễm HIV trên từng nhóm riêng biệt: PNBD, NCMT theo vùng và năm triển khai IBBS, sử dụng FRR đã tìm ra trong nghiên cứu trước đó với FRR của miền Bắc là 2,62, FRR miền Nam là 0,69
- Phân loại các tỷ lệ hiện nhiễm và tỷ lệ mới nhiễm HIV trên từng nhóm riêng biệt: PNBD, NCMT theo vùng và năm triển khai IBBS, chỉ sử dụng giá trị FRR = 0,69 (miền Nam),
- So sánh các tỷ lệ mới nhiễm HIV trên 3 nhóm nguy cơ cao theo từng miền khác nhau
và FRR khác nhau (theo kết quả FRR của nghiên cứu trước đó),
- Phân tích tính chính xác của kỹ thuật LAg-Avidity và tính khả thi khi áp dụng trong thực tế
Đạo đức trong nghiên cứu: Hai nghiên cứu trên đã được thông qua hội đồng y đức
của CDC Atlanta và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Trang 8CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Nghiên cứu định lượng và so sánh tỷ lệ phân loại sai (PLS) của sinh phẩm BED và LAg- Avidity EIA trong nhóm bệnh nhân đang điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú ở Việt Nam
Tổng số có 1927 mẫu đã được thu thập từ các phòng khám ngoại trú (PKNT) gửi về
Viện VSDTTƯ và Pasteur thành phố HCM Sau khi loại bỏ những mẫu bệnh phẩm thiếu thông tin trong bộ phỏng vấn, các mẫu bệnh phẩm không trùng khớp với thông tin thu thập
và những mẫu không đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn ban đầu của nghiên cứu, tổng số mẫu được đưa vào phân tích cuối cùng là 1845 người trong đó: miền Bắc chọn được 972 người, miền Nam là 873 người
3.1.1 Đánh giá đặc điểm chung của những người tham gia nghiên cứu
Các đặc điểm ở các mức độ khác nhau của 1845 người tham gia nghiên cứu về: tuổi, giới tính, thời gian nhiễm HIV, tế bào CD4, các bệnh nhiễm trùng cơ hội, các nhóm nguy cơ thì đều cho giá trị p<0,01: có nghĩa là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.1 Đặc điểm của những người tham gia nghiên cứu
Đặc điểm
Miền Bắc, (n,%)
n = 972
Miền Nam (n,%) n= 873
p-value
Tổng số (n,%) n=1845
phát hiện HIV dương
Trang 9Đặc điểm
Miền Bắc, (n,%)
n = 972
Miền Nam (n,%) n= 873
p-value
Tổng số (n,%) n=1845
29/111 (26,1) 0/111 (0) 11/111 (9,9) 6/111 (5,4) 6/111 (5,5)
< 0,001 0,39 0,60 0,06 0,84
122/1079 (11,3) 15/1079 (1,4) 95/1079 (8,8) 28/1079 (2,6) 68/1079 (6,3)
303/823 (36,8) 1/823 (0,1) 4/823 (0,5)
< 0,001 0,13 1,00
756/1759 (43,0) 7/1759 (0,4) 9/1760 (0,5)
3.1.2 Xác định tỷ lệ phân loại sai mới nhiễm của từng sinh phẩm BED, Avidity
Bảng 3.2 Kết quả xét nghiệm mới nhiễm HIV bằng hai sinh phẩm BED,
LAg-Avidity (n= 1845)
Kỹ thuật xét
nghiệm
Số mẫu làm xét nghiệm
Số mẫu phát hiện mới nhiễm HIV
Tỷ lệ phân loại sai (PLS) mới nhiễm (%) ( với khoảng tin cậy 95%)
Bảng 3.2 cho thấy trong số 1845 mẫu đã nhiễm HIV > 1 năm: sinh phẩm BED phân loại sai mới nhiễm (<1 năm) là 67 mẫu tương đương với tỷ lệ PLS = 3,6% với khoảng tin cậy 95 CI (2,8 – 4,5); sinh phẩm LAg-Avidity phân loại sai mới nhiễm 50 mẫu tương đương với tỷ lệ PLS= 2,7% với khoảng tin cậy 95 CI (2,1 -3,6) Với kết quả sơ bộ
Trang 10ban đầu này ta thấy sinh phẩm LAg-Avidity có tỷ lệ PLS mới nhiễm HIV thấp hơn so với sinh phẩm BED và điều đó cũng có nghĩa là sinh phẩm LAg-Avidity có vẻ như tốt hơn so với sinh phẩm BED
Tuy nhiên vì đây là nghiên cứu đầu tiên về tỷ lệ phân loại sai ở Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á trên cả hai loại sinh phẩm BED, LAg-Avidity và đặc biệt đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về việc xác định tỷ lệ phân loại sai cho sinh phẩm LAg- Avidity, vì vậy để kết luận tỷ lệ phân loại sai nào là chính xác nhất ở Việt Nam thì cần
phải xem xét và đánh giá nhiều khía cạnh khác nhau
3.1.2.1 Phân tích các mẫu phân loại sai mới nhiễm trên những đặc điểm chung của quần thể nghiên cứu đối với sinh phẩm BED
Khi phân tích số lượng mẫu phân loại sai mới nhiễm HIV theo từng miền Bắc, Nam và theo từng đặc điểm của quần thể nghiên cứu đối với sinh phẩm BED kết quả ở bảng 3.3 phía dưới cho thấy: tổng số mẫu phân loại sai mới nhiễm cả hai miền Nam Bắc
là 67/1845 (=3,6%) khoảng tin cậy (95 CI: 2,8-4,5) trong đó: 57/972 (=5,86%) với khoảng tin cậy (95 CI: 4,38-7,34) ở miền Bắc và 10/873 (=1,15%) khoảng tin cậy (95 CI: 0,36-1,70) ở miền Nam, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,00 Tuy nhiên khi phân tích các mẫu PLS mới nhiễm theo từng miền với các đặc điểm về: nhóm tuổi (p=0,32), thời gian đã nhiễm HIV (p= 0,90), mức độ tế bào CD4 (p=0,18), các bệnh nhiễm trùng cơ hội (p=KXĐ), và nhóm nguy cơ cao (p=0,16) thì đều cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, chưa có đủ số liệu để phân tích, chỉ riêng giới tính (p=0,01<0,05) sự khác nhau có ý nghĩa thông kê
Vì vậy xét trên đặc điểm chung sự khác biệt có ý nghĩa thống kê thì tỷ lệ PLS mới nhiễm HIV có sự khác biệt rõ rệt giữa miền Bắc 5,86% và miền Nam 1,15%
Bảng 3.3 Tỷ lệ phân loại nhầm là m ới nhiễm của sinh phẩm BED
(n/N,%)
Miền Nam (n/N,%) Giá trị p
Tổng số (n/N, %)
Tỷ lệ xác định nhầm là mới
nhiễm 57/972 (5,86) 9/873 (1,03) < 0,001
66/1845 (3,58) Nhóm tuổi (theo tuổi)
2/133 (1,5) 7/599 (1,2) 0/121 (0) 0/17 (0) 0/3 (0)
0,32
6/203 (3,0) 45/1199 (3,8) 11/365 (3,0) 2/68 (2,9) 2/10 (20) Giới
Nam
Nữ
36/577 (6,2) 21/386 (5,4)
1/411 (0,2) 8/462 (1,7)
0,01 37/988 (3,7)
29/848 (3,4)
Trang 11Đặc điểm Miền Bắc
(n/N,%)
Miền Nam (n/N,%) Giá trị p
Tổng số (n/N, %)
Thời gian xét nghiệm
phát hiện HIV dương
5/445 (1,1) 2/327 (0,6) 2/101 (2,0)
0,90
33/869 (3,8) 13/575 (2,3) 20/401 (5,0) Mức tế bào CD4
0/31 (0) 2/105 (1,9) 0/249 (0) 2/257 (0,8) 5/229 (2,2)
0,18
7/148 (4,7) 9/263 (3,4) 13/467 (2,8) 18/520 (3,5) 19/442 (4,3)
0/29 (0,0) 0/0 (0,0) 0/11 (0,0) 0/6 (0,0) 0/6 (0,0)
NA
6/122 (4,9) 0/15 (0,0) 9/95 (9,5) 0/28 (0,0) 2/68 (2,9)
2/303 (0,7) 0/1 (0,0) 0/4 (0,0)
0,16
31/757 (4,1) 0/7 (0,0) 0/9 (0,0)
NA: không tính được vì có ít số liệu; không có trường hợp nào cho kết quả sai báo cáo
là mắc nhiễm trùng cơ hội ở miền Nam
3.1.2.2 Phân tích các mẫu phân loại sai mới nhiễm trên những đặc điểm chung của quần thể nghiên cứu đối với sinh phẩm LAg-Avidity
Bảng 3.4 phía dưới cho thấy khi phân tích trên tổng số mẫu xét nghiệm mới nhiễm HIV bằng sinh phẩm LAg - Avidity theo từng miền Bắc, Nam kết quả cho thấy: tổng số mẫu PLS mới nhiễm cả hai miền Bắc, Nam là 50/1845 (=2,7%) với khoảng tin cậy (95 CI: 2,1-3,6) trong đó: miền Bắc 38/972 (3,9%) với khoảng tin cậy (95 CI: 2,69-5,13), miền Nam 12/873 (1,3%) với khoảng tin cậy (95 CI: 0,07-1,5), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Nhưng khi phân tích các mẫu PLS mới nhiễm theo từng miền với các đặc điểm về: nhóm tuổi (p=0,69), giới tính (p=0,14), thời gian đã nhiễm HIV (p= 0,66), mức độ tế bào CD4 (p=0,50), các bệnh nhiễm trùng cơ hội (p=KXĐ), và nhóm nguy cơ cao (p=0,36) thì đều cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trang 12Vì vậy cũng như sinh phẩm BED, đa số các mẫu xét nghiệm bị phân loại sai là mới nhiễm HIV bằng sinh phẩm LAg-Avidity đều nằm trong nhóm tuổi 25–34 và đã bị nhiễm HIV chưa đến 2 năm, không phân tích được theo nhóm tuổi, giới tính, thời gian nhiễm HIV, mức đôh tế bào và nhóm quần thể nếu phân biệt ra từng miền do số liệu chưa đủ để phân tích Tuy nhiên nếu xem xét trên tổng số cỡ mẫu xét nghiệm cho từng miền Nam, Bắc cho thấy tỷ lệ PLS mới nhiễm HIV có sự khác biệt giữa miền Bắc 3,9% và miền Nam 1,3% Theo hướng dẫn của WHO/UNAIDS 2010 cần làm thêm những xét nghiệm khác để đủ căn cứ kết luận tỷ lệ phân loại sai cho từng loại sinh phẩm Nhóm nghiên cứu đã làm thêm xét nghiệm Western Lot, xét nghiệm kiểu gen, xét nghiệm phát hiện thành phần thuốc ARV trong huyết tương và xét nghiệm đo tải lượng HIV trên các mẫu nghi ngờ và mẫu phân loại sai mới nhiễm HIV của hai sinh phẩm BED, LAg-Avidity
Bảng 3.4 Tỷ lệ phân loại nhầm là m ới nhiễm của sinh phẩm
LAg-Avidity
(n/N,%)
Miền Nam (n/N,%)
Giá trị
p
Tổng số (n/N, %)
Tỷ lệ xác định nhầm là mới
nhiễm
38/972 (3,91) 5/873 (0,57) < 0,001
43/1845 (2,33) Nhóm tuổi (theo tuổi)
1/133 (0,8) 4/599 (0,7) 0/121 (0) 0/17 (0) 0/3 (0)
0,69
5/203 (2,5) 29/1199 (2,4) 7/365 (1,9) 0/68 (0) 2/10 (20) Giới
Nam
Nữ
24/577 (4,2) 14/386 (3,6)
1/411 (0,2) 4/462 (0,9)
0,14 25/988 (2,5)
18/848 (2,1) Thời gian ghi nhận kể từ lần
xét nghiệm HIV dương tính
lần đầu tiên (theo năm)
1-2
2-3
3+
23/424 (5,4) 8/248 (3,2) 7/300 (2,3)
3/445 (0,7) 2/327 (0,6) 0/101 (0,0)
0,66 26/869 (3,0)
10/575 (1,7) 7/401 (1,7) Mức tế bào CD4
<50 tế bào/mm3
50-199 tế bào/ mm3
200-349 tế bào/ mm3
6/117 (5,1) 6/158 (3,8) 6/218 (2,8)
0/31 (0,0) 0/105 (0,0) 0/249 (0,0)
0,50
6/148 (4,1) 6/263 (2,3) 6/467 (1,3)
Trang 13>=500 tế bào/ mm3 12/213 (5,6) 4/229 (1,8) 16/442 (3,6) Các nhiễm trùng cơ hội
0/29 (0,0) 0/0 (0,0) 0/11 (0,0) 0/6 (0,0) 0/6 (0,0)
6/122 (4,9) 0/15 (0,0) 6/95 (1,5) 0/68 (0,0) 1/68 (1,5) Nhóm nguy cơ
Nghiện chích ma túy
Nam tình dục đồng giới
Phụ nữ mại dâm
18/453 (3,7) 0/6 (0) 0/5 (0)
1/303 (0,3) 0/1 (0) 0/4 (0)
0,36
19/756 (2,5) 0/7 (0) 0/9 (0)
NA: không tính được vì có ít số liệu; không có trường hợp cho kết quả sai báo cáo là mắc nhiễm trùng cơ hội ở miền Nam
3.1.2.3 Xác định tỷ lệ phân loại sai dựa vào các xét nghiệm bổ sung: Western Blot, xét nghiệm kiểu gen, xét nghiệm thành phần thuốc ARV có trong huyết tương bệnh nhân, đo tải lượng HIV
Tất cả các mẫu bệnh phẩm có kết quả phân loại sai là mới nhiễm với một trong hai sinh phẩm đều được làm xét nghiệm kiểu gen và đã xác định các mẫu này đều thuộc HIV‐ 1 phân nhóm CRF01_AE Như vậy, xét nghiệm kiểu gien vi rút HIV khẳng định tỷ lệ PLS khác biệt theo vùng không phải do sự khác biệt về các phân nhóm HIV‐1 vì tất cả các mẫu bệnh phẩm đều là phân nhóm CRF01_AE Mặt khác xét nghiệm kiểu gen cũng phát hiện ra đột biến kháng thuốc trong huyết tương của bệnh nhân Có hai loại kháng thuốc: kháng thuốc
tự nhiên đối với người chưa từng điều trị thuốc ARV và kháng thuốc khi bệnh nhân không tuân thủ theo quy định trong thời gian điều trị ARV Biết được điều này giúp cán bộ tại các phòng khám ngoại trú kịp thời tư vấn cho bệnh nhân cách điều trị thuốc ARV phù hợp nhất, thêm vào đó cũng là một lần phỏng vấn lại để xác định rõ ràng bệnh nhân đã điều trị ARV hay chưa Một ưu điểm nữa của xét nghiệm kiểu gen trong nghiên cứu này đó là đã phát hiện
ra bốn mẫu có mã nghiên cứu khác nhau ở cùng một phòng khám ngoại trú nhưng có kiểu gen và kiểu hình trùng khớp hoàn toàn nhau Nhờ đó nhóm nghiên cứu đã làm điều tra lại và phát hiện ra để đạt được cỡ mẫu theo hợp đồng đã ký với Viện, phòng khám ngoại trú đã sử dụng một mẫu chia ra bốn ống với 4 mã khác nhau Đây cũng là thực tế đã xảy ra ở một số nghiên cứu khác Vì vậy để có tính chặt chẽ trong nghiên cứu thì những xét nghiệm hiện đại phải được đưa vào nghiên cứu để loại bỏ những sai sót làm ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng Xét nghiệm khẳng định Western Blot cho tất cả các mẫu PLS mới nhiễm HIV, bảng 3.5 cho thấy: sáu mẫu bệnh phẩm (5 của miền Bắc và 1 của miền Nam) có kết quả xét nghiệm Western Blot là mới nhiễm, các mẫu bệnh phẩm này đều có số lượng tế bào CD4 lớn hơn 450 tế bào/mm3 Điều này xảy ra có thể do thông tin từ các bệnh án cũng như sự khai báo của mỗi cá nhân đã có những sai số đáng kể Mặt khác các mẫu phân loại sai mới nhiễm này có thể là nằm trong nhóm chứng đặc biệt (được gọi là Elite Controller) đây là