Đắk Nông là tỉnh có nhiều hồ chứa không những có nhiều chức năng quan trọng như thủy lợi, thủy điện mà còn là nơi có nguồn lợi thủy sản khá đa dạng, phong phú, là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho cộng đồng địa phương. Nghiên cứu thành phần loài cá ở 2 hồ chứa hồ Tây và Đắk R’Tang (tỉnh Đắk Nông) được thực hiện từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016, với mục tiêu lập danh mục thành phần loài, xác định sự biến động của các loài cá ở mùa mưa và mùa khô.
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, trong bối cảnh môi trường ngày
càng suy thoái và nguồn lợi thủy sản ngày càng
bị suy giảm nghiêm trọng, vấn đề cấp thiết đặt
ra chính là cần có những biện pháp bảo vệ và
phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản Nguồn
lợi thủy sản trong tự nhiên rất đa dạng với
nhiều giống loài cá Cá là một nhóm động vật
có xương sống có số loài tương đối lớn Theo
thống kê hiện trên thế giới có khoảng 29.000
loài cá sống ở các thủy vực có ý nghĩa quan
trọng trong tự nhiên Cá là một mắc xích hữu cơ
trong hệ sinh thái ở nước, góp phần làm tăng độ
đa dạng sinh học, tạo sự phát triển bền vững cho
môi trường Ngoài ra, cá còn là một nguồn thực
phẩm quan trọng cho đời sống của con ngườivà
phục vụ phát triển kinh tế đất nước
Việt Nam là quốc gia có diện tích bề mặt
nước ngọt lớn với 653.000 ha sông ngòi, 394.000
ha hồ chứa (Nguyễn Hữu Quyết, 2009) Theo
kết quả điều tra khoa học, hiện nay đã xác định
được 1027 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo, 2005) Vì vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú và
đa dạng Có thể thấy, hồ chứa là thủy vực rất
có tiềm năng về nguồn lợi thủy sản Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về động vật thủy sinh, đặc biệt là cá ở các hồ chứa tự nhiên ở nước ta và Tây Nguyên còn hạn chế Đắk Nông-một tỉnh có nhiều hồ chứa, trong đó, có hồ Tây (116 ha), hồ Đắk R’Tang (46 ha) có chức năng trữ nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất cho người dân trên địa bàn thị trấn Đắk Mil (huyện Đắk Mil) và Kiến Đức (huyện Đắk R’Lấp) (Trần Văn Phước, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Lê Việt Phương, 2015)
Tuy nhiên, theo tìm hiểu hiện nay, các công trình nghiên cứu về thành phần các loài cá và biến động số lượng loài ở hồ chứa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông còn ít và hạn chế Lê Việt Phương
và Nguyễn Đình Mão (2015) đã “Nghiên cứu thành phần loài khu hệ cá, hiện trạng khai thác
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở 2 HỒ CHỨA: HỒ TÂY VÀ
HỒ ĐẮK R’TANG THUỘC TỈNH ĐẮK NÔNG
Đặng Ngọc Hảo1*, Ngô Thị Thu Hiền1, Lê Thị Tuyết Mai1, Võ Thị Thanh Nhàng1,
Nguyễn Võ Thanh Thúy1, Trần Văn Phước1
TÓM TẮT
Đắk Nông là tỉnh có nhiều hồ chứa không những có nhiều chức năng quan trọng như thủy lợi, thủy điện mà còn là nơi có nguồn lợi thủy sản khá đa dạng, phong phú, là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho cộng đồng địa phương Nghiên cứu thành phần loài cá ở 2 hồ chứa hồ Tây và Đắk R’Tang (tỉnh Đắk Nông) được thực hiện từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016, với mục tiêu lập danh mục thành phần loài, xác định sự biến động của các loài cá ở mùa mưa và mùa khô Thông tin được thu thập từ phiếu điều tra, khảo sát và các loài cá được thu thông qua các ngư cụ như lưới rê, chài,
vó đèn, vợt và kết hợp cá được thu mua từ người dân đánh bắt trong 04 đợt thu mẫu tại 02 hồ chứa với tần suất 1 đợt/quý Kết quả đã ghi nhận được 25 loài cá thuộc 18 giống, 13 họ và 7 bộ, trong đó
bộ cá vược (Perciformes) là bộ chiếm ưu thế nhất ở cả 2 hồ chứa (8 loài) Biến động số lượng các loài không thay đổi nhiều giữa hai mùa (16 – 19 loài), nhưng có sự thay đổi về thành phần loài và tần số bắt gặp Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang lần lượt có 4 loài và 10 loài cá có giá trị kinh tế, có 3 loài (cá lóc, cá thát lát, cá bống tượng) vi phạm quy định về mùa vụ khai thác trong năm Nghiên cứu đã
đề xuất một số nhóm giải pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên.
Từ khóa: Bảo vệ, cá nước ngọt, Đắk Nông, hồ chứa, thành phần loài
1 Viện Nuôi trồng Thủy sản, Đại học Nha Trang.
* Email: dangngochao.ntu@gmail.com
Trang 2và giải pháp quản lý nguồn lợi cá tại hồ chứa
hồ Tây, tỉnh Đắk Nông” đề cập đến thành phần
loài cá và hiện trạng khai thác cá Ngoài ra, hiện
chưa tìm thấy nghiên cứu nào đề cập đến thành
phần loài và biến động thành phần loài cá ở các
hồ chứa thuộc tỉnh Đắk Nông
Nhằm đánh giá thành phần loài và biến
động của các loài cá ở hai hồ chứa hồ Tây và hồ
Đắk R’Tang, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên
cứu thành phần loài cá ở hai hồ chứa hồ Tây
và Đắk R’Tang thuộc tỉnh Đắk Nông”, nhằm
đạt được 5 mục tiêu chính là lập danh mục thành
phần các loài cá, xác định sự biến động của cá
ở mùa mưa và mùa khô, điều tra phỏng vấn
khả năng tình hình khai thác, tiêu thụ các loài
cá phân bố ở hai hồ chứa hồ Tây và hồ Đắk
R’Tang, từ đó đề xuất các giải pháp, định hướng bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở tỉnh Đắk Nông
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cá có trong 02 hồ chứa: hồ Tây và
hồ Đắk R’Tang thuộc tỉnh Đắk Nông
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: hồ Tây, huyện Đắk Mil và hồ Đắk R’Tang, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 5 năm
2015 đến tháng 5 năm 2016
- Tần suất thu mẫu: 1 đợt/quý (2 đợt mùa mưa, 2 đợt mùa khô), với 3 trạm thu mẫu/hồ
Hình 1 Các vùng thu mẫu ở hồ chứa
(Nguồn: https://www.google.com/maps/place; truy cập ngày 15/5/2016)
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài cá và biến động
của chúng
- Xác định các loài cá có giá trị kinh tế và
cần bảo vệ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Số liệu thứ cấp đượcthu thập từ các tài liệu,
bài báo và báo cáo đã công bố trong nước và
ngoài nước, các cơ quan nhà nước có liên quan,
các tài liệu về khóa phân loại cá, các đặc điểm
hình thái
Số liệu sơ cấp được thu thập thông tin trực
tiếp từ các tổ chức, cá nhân sinh sống, khai thác
thủy sản ở hai hồ chứa và trực tiếp thu mẫu thực
địa, kết hợp đặt mua mẫu do người dân đánh bắt
để phân tích, đánh giá
Mẫu được thu trực tiếp bằng cách sử dụng các dụng cụ chài, lưới rê, vó đèn, vợt và thuyền của người dân được sử dụng để thu các mẫu cá
ở ven bờ Đồng thời, người dân có các ngư cụ khai thác tại hồ như lờ, lợp, đăng, vó đèn, rọ tôm cũng được liên hệ để thu các mẫu cá được đánh bắt từ các ngư cụ trên Đồng thời, mẫu cũng được thu gián tiếp bằng cách mua cá từ người dân khai thác tại hồ và đặt vào lọ đựng mẫu có chứa formol 10% nhằm bổ sung thêm nguồn mẫu Mẫu cá thu được định hình trong formol 10%và đem lưu giữ tại phòng thí nghiệm Môi trường, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
Định loại các loài cá bằng phương pháp so sánh hình thái theo các khóa phân loại lưỡng phân và mô tả của Vương Dĩ Khang (1963),
Trang 3Mai Đình Yên (1978, 1992), Rainboth (1996),
Kotellat (2001), Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005)
Mỗi loài cá được nêu tên khoa học và tên Việt
Nam
Đối chiếu thông tư số 62/2008/TT-BNN
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
để xác định các loài cá kinh tế, kích thước khai
thác tối thiểu
Tần số bắt gặp của các loài được đánh giá
dựa vào các loài thu được và khảo sát và được
chia thành 4 mức độ: thường gặp nhất (++++)
khi có tần số gặp từ 75 – 100% tổng số điểm
thu mẫu, thường gặp (+++) khi có tần số gặp 50
-74% tổng số điểm thu mẫu, ít gặp (++) khi tần
số gặp 25 – 49% tổng số điểm thu mẫu và hiếm
gặp khi tần số gặp ít hơn 25% tổng số điểm thu
mẫu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010, thông qua việc phân tích
và tính toán chiều dài trung bình của các mẫu
cá, đối chiếu với quy định để đưa ra kết luận
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài cá
Kết quả khảo sát tại hai hồ chứa hồ Tây và Đắk R’Tang đã xác định được 25 loài cá, thuộc
18 giống, 13 họ, 07 bộ (Bảng 1) Trong đó, họ
cá chép (Cyprinidae) có số lượng loài lớn nhất, với 06 loài chiếm 24% tổng số loài được phát hiện
Bảng 1 Danh mục thành phần loài cá tại hồ chứa hồ Tây và hồ Đắk R’Tang
TT Tên Việt Nam Tên khoa học Hồ
Tây
Hồ Đắk R’Tang Hình mẫu
I BỘ CÁ CHÉP CYPRINIFORMES
(1) Họ cá chép Cyprinidae
1 Cá mè vinh* Barbonymus gonionotus
2 Cá chép* Cyprinus carpio
4 Cá trắm cỏ* Ctenopharyngodon idella
Trang 45 Cá trôi mrigalab Cirrhinus mrigala
6 Cá rầm đất Puntius brevis
II BỘ CÁ
BẠC ĐẦU CYPRINODONTIFORMES
(2) Họ cá khổng
7 Cá muỗi Gambusia affinis
(Baird & Girard, 1853) + +
III BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES
(3) Họ cá lăng Bagridae
8 Cá lăng nhaa Hemibagrus wyckioides
(Fang & Chaux, 1949) +
9 Cá lăng vàngb Hemibagrus filamentus
(Fang & Chaux, 1949) + (4) Họ cá Trê Claridae
10 Cá trê trắng* Clariasbatrachus
11 Cá trê vàng*ab Clarias macrocephalus
Trang 512 Cá trê đenb Clarias fuscu
IV BỘ CÁ
LÌM KÌM BELONIFORMES
(5) Họ cá lìm kìm Hemiramphidae
13 Cá lìm kìm ao Dermogenys siamensis
V BỘ
MANG LIỀN SYNBRANCHIFORMES
(6) Họ lịch đồng Synbranchidae
14 Lươn đồng* Monopterusalbus (Zuiew,1793) +
VI BỘ CÁ VƯỢC PERCIFORMES
(7) Họ cá rô đồng Anabantidae
15 Cá rô đồng*ab Anabas testudineus
(8) Họ cá rô phi Cichlidae
16 Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus(Linnaeus, 1758 ) + +
17 Cá rô phi đenab Oreochromis mossambicus
(9) Họ cá tai tượng Osphronemidae
Trang 618 Cá sặc bướm Trichogaster trichopterus
19 Cá sặc điệp Trichogaster microlepis
20 Cá bã trầu Trichopsis vitatus
(10) Họ cá bống đen Eleotridae
21 Cá bống tượng* Oxyeleotris marmorata
(11) Họ cá bống trắng Gobiidae
22 Cá bống trứng Pseudogobiopsis oligactis
23 Cá bống
chấm đen
Acentrogobius viridipunctatus
(Valencienes, 1837)
(12) Họ cá quả Channidae
24 Cá lóc đồng*a Channastriata
VII BỘ CÁ
THÁT LÁT OSTEOGLOSSIFORMES
(13) Họ cá thát lát Notopteridae
Trang 725 Cá thát lát* Notopterusnotopterus
Ghi chú: *:loài kinh tế (Bộ NN&PTNT, 2008)
a:loài xuất hiện tại hồ Tây (Trần Văn Phước và cộng sự, 2016)
b:loài xuất hiện tại hồ Đắk R’Tang (Trần Văn Phước và cộng sự, 2016)
Hình 2 Cấu trúc taxon bậc họ, giống, loài trong các bộ cá hồ Tây
Ghi chú: a) Cấu trúc taxon bậc họ; b) Cấu trúc taxon bậc giống; c) Cấu trúc taxon bậc loài
Kết quả nghiên cứu thành phần các loài cá
ở hồ Đắk R’Tang đã xác định được 21 loài thuộc
17 giống, 12 họ, 06 bộ Trong đó, bộ cá vược
(Perciformes) là bộ đa dạng và chiếm ưu thế với
06 họ (chiếm 50% tổng số họ), 07 giống (chiếm
41,1% tổng số giống), 08 loài (chiếm 38,1% tổng
số loài) như cá rô phi vằn Oreochromis noloticus
(Linnaeus, 1758), cá bã trầu Trichopsis vitatus
(Cuvier, 1831), cá bống chấm đen Acentrgobius
viridipunctatus (Valencienes, 1837), cá lóc
đồng Channa striata (Bloch, 1797).
Như vậy, hồ Đắk R‘Tang có thành phần loài
cá đa dạng hơn ở hồ Tây Các loài cá có giá trị kinh tế như cá chép, cá rô đồng, cá trê vàng đều
có mặt ở hai hồ chứa
3.2 Biến động thành phần loài cá
Qua khảo sát và thu thập thông tin tại hồ
Thành phần các loài cá ở hồ Tây đã được
xác định gồm có 18 loài thuộc 15 giống, 11 họ,
06 bộ Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) là
bộ đa dạng và chiếm ưu thếvới 05 họ (chiếm
45,4% tổng số họ), 06 giống (chiếm 40% tổng
số giống) và 08 loài (chiếm 44,4% tổng số loài)
Có thể kể đến một số loài như cá rô phi vằn
Oreochromis noloticus (Linnaeus, 1758), cá
bống trứng Pseudogobiopsis oligactis (Bleeker, 1875), cá sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770), cá sặc điệp Trichogaster
microlepis (Gunther, 1861) Tiếp theo là bộ cá
nheo (Siluriformes), bộ cá chép (Cypriformes),
bộ cá bạc đầu (Cyprinodontiformes), bộ
cá lìm kìm (Beloniformes), bộ cá thát lát (Osteoglossiformes) có số họ, giống, loài ít hơn
Hình 3 Cấu trúc taxon bậc họ, giống, loài trong các bộ cá hồ Đắk R’Tang
Ghi chú: a) Cấu trúc taxon bậc họ; b) Cấu trúc taxon bậc giống; c) Cấu trúc taxon bậc loài
Trang 8Hình 4 Biến động số lượng loài cá theo mùa ở hồ Tây và hồ Đắk R’Tang
Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang là hồ kép kín,
lượng nước cấp vào chủ yếu dựa vào lượng
mưa Vì vậy, ở mùa mưa số mẫu bắt gặp sẽ ít
hơn theo cơ chế “loãng mẫu” Ở mùa mưa, nhiệt
độ nước sẽ giảm, một số yếu tố về thủy sinh
không thích hợp cho một số loài phát triển, từ
đó có sự biến động về thành phần loài giữa hai mùa mùa mưa và mùa khô ở hai hồ chứa kể trên
Bảng 2 Tần số bắt gặp các loài cá theo mùa ở hồ Tây STT Tên Việt Nam Tên khoa học Tần số bắt gặp
Mùa khô Mùa mưa
1 Cá mè vinh Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1850) +
4 Cá muỗi Gambusia affinis (Baird & Girard, 1853) ++++ +
5 Cá lìm kìm ao Dermogenys siamensis (Fowler, 1834) +++ +
6 Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus (Linnaeus, 1758) ++++ ++
7 Cá sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770) + ++
8 Cá sặc điệp Trichogaster microlepis (Gunther, 1861) + ++
9 Cá bống trứng Pseudogobiopsis oligactis (Bleeker, 1875) +++ ++
Ghi chú: Mùa khô: thu mẫu đợt 1,2;Mùa mưa: thu mẫu đợt 3,4
Tây và hồ Đắk R’Tang, thành phần loài cá ở
hai hồ có sự thay đổi giữa hai mùa (thay đổi về
thành phần loài và tần số bắt gặp) Hồ Tây có
số loài bắt gặp tại mùa khô và mùa mưa gồm
17 loài Hồ Đắk R’Tang có số loài bắt gặp là 19 loài ở mùa khô và 16 loài ở mùa mưa (Hình 4)
Trang 9Bảng 3 Tần số bắt gặp các loài cá theo mùa ở hồ Đắk R’Tang STT Tên Việt Nam Tên khoa học
Tần số bắt gặp Mùa
khô
Mùa mưa
1 Cá mè vinh Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1850) +
2 Cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idella (Valenciennes, 1844) +
3 Cá muỗi Gambusia affinis (Baird & Girard, 1853) +++ +
4 Cá trê trắng Clariasbatrachus (Linnaeus, 1758) ++
6 Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus (Linnaeus, 1758 ) +++ +
9 Cá bống trứng Pseudogobiopsis oligactis (Bleeker, 1875) +
10 Cá bống chấm đen Acentrgobius viridipunctatus (Valencienes, 1837) +++
Ghi chú: Mùa khô: thu mẫu đợt 1,2;Mùa mưa: thu mẫu đợt 3,4
3.3 Các loài cá có giá trị kinh tế và cần
bảo vệ
Qua quá trình thu mẫu, điều tra và phỏng
vấn tại hồ Tây kết hợp đối chiếu thông tư số
62/2008/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thông, chúng tôi đã xác định được 04
loài có giá trị kinh tế thuộc 04 giống, 03 họ, 03
bộ Tương tự, tại hồ Đắk R’Tang, xác định được
10 loài có giá trị kinh tế thuộc 09 giống, 07 họ,
05 bộ (được trình bày ở Bảng 1)
Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang có 05 loài cá
có giá trị kinh tế cần bảo vệ vì vi phạm kích
thước khai thác tổi thiểu và mùa vụ khai thác,
gồm cá chép Cyprinus carpio (Linnaeus,
1758), cá bống tượng Oxyeleotris marmorata
(Bleeker, 1852), cá lóc đồng Channastriata
(Bloch,1797), cá thát lát Notopterusnotopterus
(Pallas,1769), lươn đồng Monopterusalbus
(Zuiew,1793)
Chúng tôi đề xuất một số nhóm biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên như mùa vụ khai thác, kích thước khai thác, thả và tái tạo bổ sung, tuyên truyền, tập huấn, khuyến ngư, khoa học công nghệ, chính sách Cụ thể, một số biện pháp phù hợp với 2 hồ như sau:
- Nghiêm cấm sử dụng các loại ngư cụ có tính hủy diệt như xiệt điện, vó đèn, lờ
- Xây dựng kế hoạch về mùa vụ khai thác
cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn, thực hiện giám sát, kiểm tra và xử lý về các hành vi vi phạm về mùa vụ khai thác, kích cỡ mắt lưới khai thác không đúng theo quy định để bảo vệ các loài cá nhỏ và cá con
- Các cơ quan, ban ngành và tổ chức của địa
Trang 10phương cần tăng cường công tác tuyên truyền,
tập huấn và khuyến ngư vào thực tế cuộc sống
người dân thông qua khuyến ngư, tập huấn, hội
thảo, báo chí, loa đài, tờ rơi, băng rôn
- Cần có chính sách để thu hút, khuyến
khích các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thủy sản, nghiên cứu
thử nghiệm, chuyển giao công nghệ trong nuôi
trồng thủy sản đặc biệt là các đối tượng truyền
thống và đặc sản của địa phương
IV THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu thành phần loài cá ở hồ
Tây khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của
Trần Văn Phước và ctv., (2016) với 23 loài, Lê
Việt Phương và Nguyễn Đình Mão (2015) với
18 loài cá Ở hồ Đắk R’Tang, kết quả này tương
tự với kết quả nghiên cứu của Trần Văn Phước
và ctv., (2016) về cấu trúc thành phần loài cá ở
hồ Đắk R’Tang với 16 loài cá
Với tính chất là hồ khép kín và có chức
năng phục vụ nước sinh hoạt cho người dân, nên
tại hai hồ chứa Tây và hồ Đắk R’Tang không có
các hoạt động nuôi trồng thủy sản
Theo khảo sát, đa số các hộ khai thác tại hai
hồ chứa đều là các hộ khai thác nhỏ lẻ nên hầu
hết các loài đều được ngư dân khai thác ở đủ
mọi kích thước
Trần Văn Phước và ctv., (2016) đã xác
định sự có mặt của loài ngoại lai cá lau kính
Hypostomus punctatus (Valenciennes, 1840) ở
hồ thủy điện Đồng Nai 3 (huyện Đắk Giong,
tỉnh Đắk Nông) Tuy nhiên, ở hai hồ chứa hồ
Tây và hồ Đắk R’Tang chưa xuất hiện loài
ngoại lai kể trên
V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
Đã xác định được thành phần các loài cá
tại hồ chứa hồ Tây và hồ Đắk R’Tang (tỉnh Đắk
Nông) gồm 25 loài, thuộc 18 giống, 13 họ, 07
bộ, trong đó, hồ Tây có 18 loài thuộc 15 giống,
11 họ, 06 bộ, hồ Đắk R’Tang có 21 loài thuộc 17
giống, 12 họ,06 bộ
Hai hồ không có sự biến động lớn về số
lượng loài giữa mùa mưa và mùa khô Bộ cá vược (Perciformes) là bộ chiếm ưu thế ở cả hai
hồ về thành phần loài và tần số bắt gặp
Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang lần lượt có 04 loài và 10 loài cá có giá trị kinh tế Số loài cá cần bảo vệ tại hồ Tây và hồ Đắk R’Tang lần lượt
là 02 và 03 loài
5.2 Đề nghị
Cần nghiên cứu bổ sung, tái tạo nguồn cá
tự nhiên thông qua các hình thức thả con giống, nuôi quảng canh, kết hợp tuyên truyền cho người dân về kiến thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Cần tiến hành nghiên cứu đánh giá trữ lượng
cá trong hai hồ chứa Tây và hồ Đắk R’Tang Từ
đó, đưa ra những chính sách quản lý nghề cá tại địa phương
Để đảm bảo nguồn lợi cá tự nhiên và kích
cỡ khai thác, cần thực hiện một số nhóm biện pháp mà chúng tôi đã đã đề xuất kể trên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Tiếng Việt
Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, 2008 Thông tư số 62/2008/TT/BNN về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ - CP ngày 4 tháng 5 năm
2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản
Nguyễn Văn Hảo, 2001 Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 1, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
Nguyễn Văn Hảo, 2005 Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 2 và Tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Vương Dĩ Khang, 1963 Ngư loại phân loại học (Nguyễn Bá Mão dịch), Nxb Nông thôn, Hà Nội
Trần Văn Phước, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Lê Việt Phương, 2015 Sinh kế cộng đồng và hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản tại Hồ Tây và Hồ Đắk R’Tang, tỉnh Đắk Nông, Tạp chí Khoa học
- Công nghệ Thủy sản, số 2/2015, trang 49-55 Trần Văn Phước, Nguyễn Đình Mão, Phạm Quốc Hùng, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Trương Thị Bích Hồng và Nguyễn Thị Thúy, 2016 Nghiên