1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu thành phần loài cá ở 2 hồ chứa: Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang thuộc tỉnh Đắk Nông

11 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 468,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đắk Nông là tỉnh có nhiều hồ chứa không những có nhiều chức năng quan trọng như thủy lợi, thủy điện mà còn là nơi có nguồn lợi thủy sản khá đa dạng, phong phú, là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho cộng đồng địa phương. Nghiên cứu thành phần loài cá ở 2 hồ chứa hồ Tây và Đắk R’Tang (tỉnh Đắk Nông) được thực hiện từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016, với mục tiêu lập danh mục thành phần loài, xác định sự biến động của các loài cá ở mùa mưa và mùa khô.

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, trong bối cảnh môi trường ngày

càng suy thoái và nguồn lợi thủy sản ngày càng

bị suy giảm nghiêm trọng, vấn đề cấp thiết đặt

ra chính là cần có những biện pháp bảo vệ và

phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản Nguồn

lợi thủy sản trong tự nhiên rất đa dạng với

nhiều giống loài cá Cá là một nhóm động vật

có xương sống có số loài tương đối lớn Theo

thống kê hiện trên thế giới có khoảng 29.000

loài cá sống ở các thủy vực có ý nghĩa quan

trọng trong tự nhiên Cá là một mắc xích hữu cơ

trong hệ sinh thái ở nước, góp phần làm tăng độ

đa dạng sinh học, tạo sự phát triển bền vững cho

môi trường Ngoài ra, cá còn là một nguồn thực

phẩm quan trọng cho đời sống của con ngườivà

phục vụ phát triển kinh tế đất nước

Việt Nam là quốc gia có diện tích bề mặt

nước ngọt lớn với 653.000 ha sông ngòi, 394.000

ha hồ chứa (Nguyễn Hữu Quyết, 2009) Theo

kết quả điều tra khoa học, hiện nay đã xác định

được 1027 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo, 2005) Vì vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú và

đa dạng Có thể thấy, hồ chứa là thủy vực rất

có tiềm năng về nguồn lợi thủy sản Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về động vật thủy sinh, đặc biệt là cá ở các hồ chứa tự nhiên ở nước ta và Tây Nguyên còn hạn chế Đắk Nông-một tỉnh có nhiều hồ chứa, trong đó, có hồ Tây (116 ha), hồ Đắk R’Tang (46 ha) có chức năng trữ nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất cho người dân trên địa bàn thị trấn Đắk Mil (huyện Đắk Mil) và Kiến Đức (huyện Đắk R’Lấp) (Trần Văn Phước, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Lê Việt Phương, 2015)

Tuy nhiên, theo tìm hiểu hiện nay, các công trình nghiên cứu về thành phần các loài cá và biến động số lượng loài ở hồ chứa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông còn ít và hạn chế Lê Việt Phương

và Nguyễn Đình Mão (2015) đã “Nghiên cứu thành phần loài khu hệ cá, hiện trạng khai thác

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở 2 HỒ CHỨA: HỒ TÂY VÀ

HỒ ĐẮK R’TANG THUỘC TỈNH ĐẮK NÔNG

Đặng Ngọc Hảo1*, Ngô Thị Thu Hiền1, Lê Thị Tuyết Mai1, Võ Thị Thanh Nhàng1,

Nguyễn Võ Thanh Thúy1, Trần Văn Phước1

TÓM TẮT

Đắk Nông là tỉnh có nhiều hồ chứa không những có nhiều chức năng quan trọng như thủy lợi, thủy điện mà còn là nơi có nguồn lợi thủy sản khá đa dạng, phong phú, là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho cộng đồng địa phương Nghiên cứu thành phần loài cá ở 2 hồ chứa hồ Tây và Đắk R’Tang (tỉnh Đắk Nông) được thực hiện từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016, với mục tiêu lập danh mục thành phần loài, xác định sự biến động của các loài cá ở mùa mưa và mùa khô Thông tin được thu thập từ phiếu điều tra, khảo sát và các loài cá được thu thông qua các ngư cụ như lưới rê, chài,

vó đèn, vợt và kết hợp cá được thu mua từ người dân đánh bắt trong 04 đợt thu mẫu tại 02 hồ chứa với tần suất 1 đợt/quý Kết quả đã ghi nhận được 25 loài cá thuộc 18 giống, 13 họ và 7 bộ, trong đó

bộ cá vược (Perciformes) là bộ chiếm ưu thế nhất ở cả 2 hồ chứa (8 loài) Biến động số lượng các loài không thay đổi nhiều giữa hai mùa (16 – 19 loài), nhưng có sự thay đổi về thành phần loài và tần số bắt gặp Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang lần lượt có 4 loài và 10 loài cá có giá trị kinh tế, có 3 loài (cá lóc, cá thát lát, cá bống tượng) vi phạm quy định về mùa vụ khai thác trong năm Nghiên cứu đã

đề xuất một số nhóm giải pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên.

Từ khóa: Bảo vệ, cá nước ngọt, Đắk Nông, hồ chứa, thành phần loài

1 Viện Nuôi trồng Thủy sản, Đại học Nha Trang.

* Email: dangngochao.ntu@gmail.com

Trang 2

và giải pháp quản lý nguồn lợi cá tại hồ chứa

hồ Tây, tỉnh Đắk Nông” đề cập đến thành phần

loài cá và hiện trạng khai thác cá Ngoài ra, hiện

chưa tìm thấy nghiên cứu nào đề cập đến thành

phần loài và biến động thành phần loài cá ở các

hồ chứa thuộc tỉnh Đắk Nông

Nhằm đánh giá thành phần loài và biến

động của các loài cá ở hai hồ chứa hồ Tây và hồ

Đắk R’Tang, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên

cứu thành phần loài cá ở hai hồ chứa hồ Tây

và Đắk R’Tang thuộc tỉnh Đắk Nông”, nhằm

đạt được 5 mục tiêu chính là lập danh mục thành

phần các loài cá, xác định sự biến động của cá

ở mùa mưa và mùa khô, điều tra phỏng vấn

khả năng tình hình khai thác, tiêu thụ các loài

cá phân bố ở hai hồ chứa hồ Tây và hồ Đắk

R’Tang, từ đó đề xuất các giải pháp, định hướng bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở tỉnh Đắk Nông

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài cá có trong 02 hồ chứa: hồ Tây và

hồ Đắk R’Tang thuộc tỉnh Đắk Nông

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: hồ Tây, huyện Đắk Mil và hồ Đắk R’Tang, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 5 năm

2015 đến tháng 5 năm 2016

- Tần suất thu mẫu: 1 đợt/quý (2 đợt mùa mưa, 2 đợt mùa khô), với 3 trạm thu mẫu/hồ

Hình 1 Các vùng thu mẫu ở hồ chứa

(Nguồn: https://www.google.com/maps/place; truy cập ngày 15/5/2016)

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài cá và biến động

của chúng

- Xác định các loài cá có giá trị kinh tế và

cần bảo vệ

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Số liệu thứ cấp đượcthu thập từ các tài liệu,

bài báo và báo cáo đã công bố trong nước và

ngoài nước, các cơ quan nhà nước có liên quan,

các tài liệu về khóa phân loại cá, các đặc điểm

hình thái

Số liệu sơ cấp được thu thập thông tin trực

tiếp từ các tổ chức, cá nhân sinh sống, khai thác

thủy sản ở hai hồ chứa và trực tiếp thu mẫu thực

địa, kết hợp đặt mua mẫu do người dân đánh bắt

để phân tích, đánh giá

Mẫu được thu trực tiếp bằng cách sử dụng các dụng cụ chài, lưới rê, vó đèn, vợt và thuyền của người dân được sử dụng để thu các mẫu cá

ở ven bờ Đồng thời, người dân có các ngư cụ khai thác tại hồ như lờ, lợp, đăng, vó đèn, rọ tôm cũng được liên hệ để thu các mẫu cá được đánh bắt từ các ngư cụ trên Đồng thời, mẫu cũng được thu gián tiếp bằng cách mua cá từ người dân khai thác tại hồ và đặt vào lọ đựng mẫu có chứa formol 10% nhằm bổ sung thêm nguồn mẫu Mẫu cá thu được định hình trong formol 10%và đem lưu giữ tại phòng thí nghiệm Môi trường, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

Định loại các loài cá bằng phương pháp so sánh hình thái theo các khóa phân loại lưỡng phân và mô tả của Vương Dĩ Khang (1963),

Trang 3

Mai Đình Yên (1978, 1992), Rainboth (1996),

Kotellat (2001), Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005)

Mỗi loài cá được nêu tên khoa học và tên Việt

Nam

Đối chiếu thông tư số 62/2008/TT-BNN

của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

để xác định các loài cá kinh tế, kích thước khai

thác tối thiểu

Tần số bắt gặp của các loài được đánh giá

dựa vào các loài thu được và khảo sát và được

chia thành 4 mức độ: thường gặp nhất (++++)

khi có tần số gặp từ 75 – 100% tổng số điểm

thu mẫu, thường gặp (+++) khi có tần số gặp 50

-74% tổng số điểm thu mẫu, ít gặp (++) khi tần

số gặp 25 – 49% tổng số điểm thu mẫu và hiếm

gặp khi tần số gặp ít hơn 25% tổng số điểm thu

mẫu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010, thông qua việc phân tích

và tính toán chiều dài trung bình của các mẫu

cá, đối chiếu với quy định để đưa ra kết luận

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài cá

Kết quả khảo sát tại hai hồ chứa hồ Tây và Đắk R’Tang đã xác định được 25 loài cá, thuộc

18 giống, 13 họ, 07 bộ (Bảng 1) Trong đó, họ

cá chép (Cyprinidae) có số lượng loài lớn nhất, với 06 loài chiếm 24% tổng số loài được phát hiện

Bảng 1 Danh mục thành phần loài cá tại hồ chứa hồ Tây và hồ Đắk R’Tang

TT Tên Việt Nam Tên khoa học Hồ

Tây

Hồ Đắk R’Tang Hình mẫu

I BỘ CÁ CHÉP CYPRINIFORMES

(1) Họ cá chép Cyprinidae

1 Cá mè vinh* Barbonymus gonionotus

2 Cá chép* Cyprinus carpio

4 Cá trắm cỏ* Ctenopharyngodon idella

Trang 4

5 Cá trôi mrigalab Cirrhinus mrigala

6 Cá rầm đất Puntius brevis

II BỘ CÁ

BẠC ĐẦU CYPRINODONTIFORMES

(2) Họ cá khổng

7 Cá muỗi Gambusia affinis

(Baird & Girard, 1853) + +

III BỘ CÁ NHEO SILURIFORMES

(3) Họ cá lăng Bagridae

8 Cá lăng nhaa Hemibagrus wyckioides

(Fang & Chaux, 1949) +

9 Cá lăng vàngb Hemibagrus filamentus

(Fang & Chaux, 1949) + (4) Họ cá Trê Claridae

10 Cá trê trắng* Clariasbatrachus

11 Cá trê vàng*ab Clarias macrocephalus

Trang 5

12 Cá trê đenb Clarias fuscu

IV BỘ CÁ

LÌM KÌM BELONIFORMES

(5) Họ cá lìm kìm Hemiramphidae

13 Cá lìm kìm ao Dermogenys siamensis

V BỘ

MANG LIỀN SYNBRANCHIFORMES

(6) Họ lịch đồng Synbranchidae

14 Lươn đồng* Monopterusalbus (Zuiew,1793) +

VI BỘ CÁ VƯỢC PERCIFORMES

(7) Họ cá rô đồng Anabantidae

15 Cá rô đồng*ab Anabas testudineus

(8) Họ cá rô phi Cichlidae

16 Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus(Linnaeus, 1758 ) + +

17 Cá rô phi đenab Oreochromis mossambicus

(9) Họ cá tai tượng Osphronemidae

Trang 6

18 Cá sặc bướm Trichogaster trichopterus

19 Cá sặc điệp Trichogaster microlepis

20 Cá bã trầu Trichopsis vitatus

(10) Họ cá bống đen Eleotridae

21 Cá bống tượng* Oxyeleotris marmorata

(11) Họ cá bống trắng Gobiidae

22 Cá bống trứng Pseudogobiopsis oligactis

23 Cá bống

chấm đen

Acentrogobius viridipunctatus

(Valencienes, 1837)

(12) Họ cá quả Channidae

24 Cá lóc đồng*a Channastriata

VII BỘ CÁ

THÁT LÁT OSTEOGLOSSIFORMES

(13) Họ cá thát lát Notopteridae

Trang 7

25 Cá thát lát* Notopterusnotopterus

Ghi chú: *:loài kinh tế (Bộ NN&PTNT, 2008)

a:loài xuất hiện tại hồ Tây (Trần Văn Phước và cộng sự, 2016)

b:loài xuất hiện tại hồ Đắk R’Tang (Trần Văn Phước và cộng sự, 2016)

Hình 2 Cấu trúc taxon bậc họ, giống, loài trong các bộ cá hồ Tây

Ghi chú: a) Cấu trúc taxon bậc họ; b) Cấu trúc taxon bậc giống; c) Cấu trúc taxon bậc loài

Kết quả nghiên cứu thành phần các loài cá

ở hồ Đắk R’Tang đã xác định được 21 loài thuộc

17 giống, 12 họ, 06 bộ Trong đó, bộ cá vược

(Perciformes) là bộ đa dạng và chiếm ưu thế với

06 họ (chiếm 50% tổng số họ), 07 giống (chiếm

41,1% tổng số giống), 08 loài (chiếm 38,1% tổng

số loài) như cá rô phi vằn Oreochromis noloticus

(Linnaeus, 1758), cá bã trầu Trichopsis vitatus

(Cuvier, 1831), cá bống chấm đen Acentrgobius

viridipunctatus (Valencienes, 1837), cá lóc

đồng Channa striata (Bloch, 1797).

Như vậy, hồ Đắk R‘Tang có thành phần loài

cá đa dạng hơn ở hồ Tây Các loài cá có giá trị kinh tế như cá chép, cá rô đồng, cá trê vàng đều

có mặt ở hai hồ chứa

3.2 Biến động thành phần loài cá

Qua khảo sát và thu thập thông tin tại hồ

Thành phần các loài cá ở hồ Tây đã được

xác định gồm có 18 loài thuộc 15 giống, 11 họ,

06 bộ Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) là

bộ đa dạng và chiếm ưu thếvới 05 họ (chiếm

45,4% tổng số họ), 06 giống (chiếm 40% tổng

số giống) và 08 loài (chiếm 44,4% tổng số loài)

Có thể kể đến một số loài như cá rô phi vằn

Oreochromis noloticus (Linnaeus, 1758), cá

bống trứng Pseudogobiopsis oligactis (Bleeker, 1875), cá sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770), cá sặc điệp Trichogaster

microlepis (Gunther, 1861) Tiếp theo là bộ cá

nheo (Siluriformes), bộ cá chép (Cypriformes),

bộ cá bạc đầu (Cyprinodontiformes), bộ

cá lìm kìm (Beloniformes), bộ cá thát lát (Osteoglossiformes) có số họ, giống, loài ít hơn

Hình 3 Cấu trúc taxon bậc họ, giống, loài trong các bộ cá hồ Đắk R’Tang

Ghi chú: a) Cấu trúc taxon bậc họ; b) Cấu trúc taxon bậc giống; c) Cấu trúc taxon bậc loài

Trang 8

Hình 4 Biến động số lượng loài cá theo mùa ở hồ Tây và hồ Đắk R’Tang

Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang là hồ kép kín,

lượng nước cấp vào chủ yếu dựa vào lượng

mưa Vì vậy, ở mùa mưa số mẫu bắt gặp sẽ ít

hơn theo cơ chế “loãng mẫu” Ở mùa mưa, nhiệt

độ nước sẽ giảm, một số yếu tố về thủy sinh

không thích hợp cho một số loài phát triển, từ

đó có sự biến động về thành phần loài giữa hai mùa mùa mưa và mùa khô ở hai hồ chứa kể trên

Bảng 2 Tần số bắt gặp các loài cá theo mùa ở hồ Tây STT Tên Việt Nam Tên khoa học Tần số bắt gặp

Mùa khô Mùa mưa

1 Cá mè vinh Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1850) +

4 Cá muỗi Gambusia affinis (Baird & Girard, 1853) ++++ +

5 Cá lìm kìm ao Dermogenys siamensis (Fowler, 1834) +++ +

6 Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus (Linnaeus, 1758) ++++ ++

7 Cá sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770) + ++

8 Cá sặc điệp Trichogaster microlepis (Gunther, 1861) + ++

9 Cá bống trứng Pseudogobiopsis oligactis (Bleeker, 1875) +++ ++

Ghi chú: Mùa khô: thu mẫu đợt 1,2;Mùa mưa: thu mẫu đợt 3,4

Tây và hồ Đắk R’Tang, thành phần loài cá ở

hai hồ có sự thay đổi giữa hai mùa (thay đổi về

thành phần loài và tần số bắt gặp) Hồ Tây có

số loài bắt gặp tại mùa khô và mùa mưa gồm

17 loài Hồ Đắk R’Tang có số loài bắt gặp là 19 loài ở mùa khô và 16 loài ở mùa mưa (Hình 4)

Trang 9

Bảng 3 Tần số bắt gặp các loài cá theo mùa ở hồ Đắk R’Tang STT Tên Việt Nam Tên khoa học

Tần số bắt gặp Mùa

khô

Mùa mưa

1 Cá mè vinh Barbonymus gonionotus (Bleeker, 1850) +

2 Cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idella (Valenciennes, 1844) +

3 Cá muỗi Gambusia affinis (Baird & Girard, 1853) +++ +

4 Cá trê trắng Clariasbatrachus (Linnaeus, 1758) ++

6 Cá rô phi vằn Oreochromis noloticus (Linnaeus, 1758 ) +++ +

9 Cá bống trứng Pseudogobiopsis oligactis (Bleeker, 1875) +

10 Cá bống chấm đen Acentrgobius viridipunctatus (Valencienes, 1837) +++

Ghi chú: Mùa khô: thu mẫu đợt 1,2;Mùa mưa: thu mẫu đợt 3,4

3.3 Các loài cá có giá trị kinh tế và cần

bảo vệ

Qua quá trình thu mẫu, điều tra và phỏng

vấn tại hồ Tây kết hợp đối chiếu thông tư số

62/2008/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát

triển Nông thông, chúng tôi đã xác định được 04

loài có giá trị kinh tế thuộc 04 giống, 03 họ, 03

bộ Tương tự, tại hồ Đắk R’Tang, xác định được

10 loài có giá trị kinh tế thuộc 09 giống, 07 họ,

05 bộ (được trình bày ở Bảng 1)

Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang có 05 loài cá

có giá trị kinh tế cần bảo vệ vì vi phạm kích

thước khai thác tổi thiểu và mùa vụ khai thác,

gồm cá chép Cyprinus carpio (Linnaeus,

1758), cá bống tượng Oxyeleotris marmorata

(Bleeker, 1852), cá lóc đồng Channastriata

(Bloch,1797), cá thát lát Notopterusnotopterus

(Pallas,1769), lươn đồng Monopterusalbus

(Zuiew,1793)

Chúng tôi đề xuất một số nhóm biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên như mùa vụ khai thác, kích thước khai thác, thả và tái tạo bổ sung, tuyên truyền, tập huấn, khuyến ngư, khoa học công nghệ, chính sách Cụ thể, một số biện pháp phù hợp với 2 hồ như sau:

- Nghiêm cấm sử dụng các loại ngư cụ có tính hủy diệt như xiệt điện, vó đèn, lờ

- Xây dựng kế hoạch về mùa vụ khai thác

cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn, thực hiện giám sát, kiểm tra và xử lý về các hành vi vi phạm về mùa vụ khai thác, kích cỡ mắt lưới khai thác không đúng theo quy định để bảo vệ các loài cá nhỏ và cá con

- Các cơ quan, ban ngành và tổ chức của địa

Trang 10

phương cần tăng cường công tác tuyên truyền,

tập huấn và khuyến ngư vào thực tế cuộc sống

người dân thông qua khuyến ngư, tập huấn, hội

thảo, báo chí, loa đài, tờ rơi, băng rôn

- Cần có chính sách để thu hút, khuyến

khích các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ

và phát triển nguồn lợi thủy sản, nghiên cứu

thử nghiệm, chuyển giao công nghệ trong nuôi

trồng thủy sản đặc biệt là các đối tượng truyền

thống và đặc sản của địa phương

IV THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu thành phần loài cá ở hồ

Tây khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của

Trần Văn Phước và ctv., (2016) với 23 loài, Lê

Việt Phương và Nguyễn Đình Mão (2015) với

18 loài cá Ở hồ Đắk R’Tang, kết quả này tương

tự với kết quả nghiên cứu của Trần Văn Phước

và ctv., (2016) về cấu trúc thành phần loài cá ở

hồ Đắk R’Tang với 16 loài cá

Với tính chất là hồ khép kín và có chức

năng phục vụ nước sinh hoạt cho người dân, nên

tại hai hồ chứa Tây và hồ Đắk R’Tang không có

các hoạt động nuôi trồng thủy sản

Theo khảo sát, đa số các hộ khai thác tại hai

hồ chứa đều là các hộ khai thác nhỏ lẻ nên hầu

hết các loài đều được ngư dân khai thác ở đủ

mọi kích thước

Trần Văn Phước và ctv., (2016) đã xác

định sự có mặt của loài ngoại lai cá lau kính

Hypostomus punctatus (Valenciennes, 1840) ở

hồ thủy điện Đồng Nai 3 (huyện Đắk Giong,

tỉnh Đắk Nông) Tuy nhiên, ở hai hồ chứa hồ

Tây và hồ Đắk R’Tang chưa xuất hiện loài

ngoại lai kể trên

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1 Kết luận

Đã xác định được thành phần các loài cá

tại hồ chứa hồ Tây và hồ Đắk R’Tang (tỉnh Đắk

Nông) gồm 25 loài, thuộc 18 giống, 13 họ, 07

bộ, trong đó, hồ Tây có 18 loài thuộc 15 giống,

11 họ, 06 bộ, hồ Đắk R’Tang có 21 loài thuộc 17

giống, 12 họ,06 bộ

Hai hồ không có sự biến động lớn về số

lượng loài giữa mùa mưa và mùa khô Bộ cá vược (Perciformes) là bộ chiếm ưu thế ở cả hai

hồ về thành phần loài và tần số bắt gặp

Hồ Tây và hồ Đắk R’Tang lần lượt có 04 loài và 10 loài cá có giá trị kinh tế Số loài cá cần bảo vệ tại hồ Tây và hồ Đắk R’Tang lần lượt

là 02 và 03 loài

5.2 Đề nghị

Cần nghiên cứu bổ sung, tái tạo nguồn cá

tự nhiên thông qua các hình thức thả con giống, nuôi quảng canh, kết hợp tuyên truyền cho người dân về kiến thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Cần tiến hành nghiên cứu đánh giá trữ lượng

cá trong hai hồ chứa Tây và hồ Đắk R’Tang Từ

đó, đưa ra những chính sách quản lý nghề cá tại địa phương

Để đảm bảo nguồn lợi cá tự nhiên và kích

cỡ khai thác, cần thực hiện một số nhóm biện pháp mà chúng tôi đã đã đề xuất kể trên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu Tiếng Việt

Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, 2008 Thông tư số 62/2008/TT/BNN về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ - CP ngày 4 tháng 5 năm

2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản

Nguyễn Văn Hảo, 2001 Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 1, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

Nguyễn Văn Hảo, 2005 Cá nước ngọt Việt Nam, Tập 2 và Tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Vương Dĩ Khang, 1963 Ngư loại phân loại học (Nguyễn Bá Mão dịch), Nxb Nông thôn, Hà Nội

Trần Văn Phước, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Lê Việt Phương, 2015 Sinh kế cộng đồng và hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản tại Hồ Tây và Hồ Đắk R’Tang, tỉnh Đắk Nông, Tạp chí Khoa học

- Công nghệ Thủy sản, số 2/2015, trang 49-55 Trần Văn Phước, Nguyễn Đình Mão, Phạm Quốc Hùng, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Trương Thị Bích Hồng và Nguyễn Thị Thúy, 2016 Nghiên

Ngày đăng: 20/05/2021, 12:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm