1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài học kinh nghiệm: 8 năm hoạt động hỗ trợ kỹ thuật tăng cường ứng phó khẩn cấp với cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam

120 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Học Kinh Nghiệm: 8 Năm Hoạt Động Hỗ Trợ Kỹ Thuật Tăng Cường Ứng Phó Khẩn Cấp Với Cúm Gia Cầm Độc Lực Cao Tại Việt Nam
Tác giả Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Phạm Văn Đông, Nguyễn Thu Thủy, Đàm Xuân Thành, Mai Văn Hiệp, Đỗ Hữu Dũng, Trần Thị Thu Phương, Bùi Thị Cẩm Hương, Nguyễn Văn Long, Chu Đức Huy, Nguyễn Tùng, Văn Đăng Kỳ, Phan Quang Minh, Phạm Thành Long, Nguyễn Ngọc Tiến, Phạm Thị Thu Hiển, Lê Hồng Phong, Tô Liên Thu, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Thị Thược, Đỗ Thúy Nga, Nguyễn Hoàng Tùng, Phùng Minh Phong, Nguyễn Hoài Nam, Lê Thị Kim Oanh, Nguyễn Thanh Sơn, Hoàng Thanh Vân, Nguyễn Văn Trọng, Trần Trọng Tùng, Hoàng Thị Lan, Phạm Thị Kim Dung, Phạm Văn Duy, Võ Trọng Thành, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Hữu Nam, Bùi Thị Tố Nga, Nguyễn Văn Phương, Lại Thị Lan Hương, Nguyễn Phương Nhung, Nguyễn Hương Giang, Lương Thế Phiệt, Trần Kim Long, Bùi Mỹ Bình, Vũ Thị Hồng Hạnh, Ngô Thị Hoàng Lâm, Nguyễn Thị Phương Oanh, Nguyễn Thị Thanh Diệp, Vũ Thị Thu Phương, Đỗ Việt Hà, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thúy Hằng, Vũ Minh Hiền, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thanh Hải, Nhữ Văn Thụ, Võ Ngân Giang, Nguyễn Quang Trung, Phan Duy Linh, Thái Thị Minh Lệ, Tạ Ngọc Sính, Vũ Quang Cường, Nguyễn Trúc Hà, Kenjiro Inui, Scott Howard Newman, Aurelie Brioudes, Astrid Tripodi, Jeffrey Gilbert, Santanu Bandyopadhayay, Ken Shimizu, Rosanne Marchesich, Andrew Geoffrey Bisson, Ki Jung Min, Leopold Loth, Laurence Gleeson, Tony Forman, Annechielli Payumo, Aphaluck Bhatiasevi, Davide Fezzardi, Felicia Zaengel, Andrew Speedy, Yuriko Shoji, Jong Ha Bae, Trinh Duy Hung, Vu Van Thuoc, Tran Thi Ngoc Hien, Chu Kim Oanh, Vu Ngoc Diep, Vu Ngoc Tien, Nguyen Song Ha, Subhash Morzaria, Wantanee Kalpravidh, Priya Markanday, Arwa Khalid, Mirela Hasibra, Ariella Glinni, Juan Lubroth
Người hướng dẫn L. Gleeson, S. H. Newman, Đỗ Hữu Dũng, A. Tripodi, K. Inui, L. Loth
Trường học Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
Chuyên ngành Kỹ thuật tăng cường ứng phó khẩn cấp
Thể loại Bài học kinh nghiệm
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 6,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung tài liệu giới thiệu về điều phối và quản lý, công tác giám sát, năng lực phòng thí nghiệm và chẩn đoán, công tác tiêm phòng cúm gia cầm, an ninh sinh học, kinh tế-xã hội và kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam và truyền thông Vận động.

Trang 1

8 năm hoạt động hỗ trợ kỹ thuật tăng cường ứng phó khẩn cấp với cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam

Trang 3

8 năm hoạt động hỗ trợ kỹ thuật tăng cường ứng phó khẩn cấp

với cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam

Đơn vị xuất bản:

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc

Và Cục Thú y

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 4

Cộng tác

Hiệu đính: L Gleeson, S H Newman, Đỗ Hữu Dũng, A Tripodi, K Inui, L Loth, and Nguyễn Thúy Hằng

Thiết kế: K Min

Đóng góp kỹ thuật: Bùi Quang Anh, Hoàng Văn Năm, Phạm Văn Đông, Nguyễn Thu Thủy, Đàm Xuân Thành, Mai Văn Hiệp, Đỗ

Hữu Dũng, Trần Thị Thu Phương, Bùi Thị Cẩm Hương, Nguyễn Văn Long, Chu Đức Huy, Nguyễn Tùng, Văn Đăng Kỳ, Phan Quang Minh, Phạm Thành Long, Nguyễn Ngọc Tiến, Phạm Thị Thu Hiển, Lê Hồng Phong, Tô Liên Thu, Phạm Trung Kiên, Nguyễn Thị Thược, Đỗ Thúy Nga, Nguyễn Hoàng Tùng, Phùng Minh Phong, Nguyễn Hoài Nam, Lê Thị Kim Oanh, Nguyễn Thanh Sơn, Hoàng Thanh Vân, Nguyễn Văn Trọng, Trần Trọng Tùng, Hoàng Thị Lan, Phạm Thị Kim Dung, Phạm Văn Duy, Võ Trọng Thành, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Hữu Nam, Bùi Thị Tố Nga, Nguyễn Văn Phương, Lại Thị Lan Hương, Nguyễn Phương Nhung, Nguyễn Hương Giang, Lương Thế Phiệt, Trần Kim Long, Bùi Mỹ Bình, Vũ Thị Hồng Hạnh, Ngô Thị Hoàng Lâm, Nguyễn Thị Phương Oanh, Nguyễn Thị Thanh Diệp, Vũ Thị Thu Phương, Đỗ Việt Hà, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thúy Hằng, Vũ Minh Hiền, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thanh Hải, Nhữ Văn Thụ, Võ Ngân Giang, Nguyễn Quang Trung, Phan Duy Linh, Thái Thị Minh Lệ, Tạ Ngọc Sính, Vũ Quang Cường, Nguyễn Trúc Hà, Kenjiro Inui, Scott Howard Newman, Aurelie Brioudes, Astrid Tripodi, Jeffrey Gilbert, Santanu Bandyopadhayay, zKen Shimizu, Rosanne Marchesich, Andrew Geoffrey Bisson, Ki Jung Min, Leopold Loth, Laurence Gleeson, Tony Forman, Annechielli Payumo, Aphaluck Bhatiasevi, Davide Fezzardi, Felicia Zaengel, Andrew Speedy, Yuriko Shoji, Jong Ha Bae, Trinh Duy Hung, Vu Van Thuoc, Tran Thi Ngoc Hien, Chu Kim Oanh, Vu Ngoc Diep, Vu Ngoc Tien, Nguyen Song Ha, Subhash Morzaria, Wantanee Kalpravidh, Priya Markanday, Arwa Khalid, Mirela Hasibra, Ariella Glinni, Juan Lubroth

Đề nghị trích dẫn

FAO 2016 Legacy Document: 8 years of immediate technical assistance activities strengthening emergency preparedness for HPAI in Viet

Nam Ha Noi.

Ảnh trang bìa

© FAO/C Y Gopinath; © FAO/Ki Jung Min

FAO khuyến khích việc sử dụng, tái xuất bản và tuyên truyền nội dung của sản phẩm thông tin này Ngại trừ các trường hợp đã được nêu rõ, tài liệu này có thể được sao chép, tải về và in ra cho mục đích học tập, nghiên cứu và giảng dạy của các cá nhân, hoặc được sử dụng cho các sản phẩm và dịch vụ phi thương mại, với điều kiện trích nguồn là FAO trong tư cách là đơn vị nắm giữ bản quyền và thể hiện rõ việc FAO không chứng thực gì đối với các quan điểm, sản phẩm và dịch vụ của người sử dụng.

Tất cả các yêu cầu dịch thuật và quyền điều chỉnh tài liệu cho phù hợp mục đích sử dụng, cũng như quyền bán lại và sử dụng cho các mục đích thương mại khác cần được gửi qua địa chỉ www.fao.org/contact-us/licence-request hoặc copyright@fao.org.

Các sản phẩm thông tin của FAO hiện có trên trang web của FAO (www.fao.org/publications) hoặc có thể được mua qua địa chỉ: publications-sales@fao.org

Ấn phẩm này là sản phẩm chung của Cục Thú y, Cục Chăn nuôi và Trung tâm Khuyến nông quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc Đây là kết quả của 8 năm hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Trung tâm khẩn cấp kiểm soát bệnh động vật lây truyền qua biên giới của FAO (ECTAD) tại Việt Nam.

Các thiết kế đã được thực hiện và các dữ liệu đã được trình bày trong sản phẩm thông tin này không có hàm ý thể hiện bất kỳ ý kiến chủ quan nào của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc cũng như Cục Thú y liên quan đến tình trạng pháp lý cũng như tình hình phát triển của bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ, thành phố hoặc khu vực nào của các quốc gia đó, hoặc liên quan đến quy định phạm vi biên giới của các quốc gia Việc đề cập đến các công ty hoặc các sản phẩm của các nhà sản xuất cụ thể, dù đã được đăng ký bản quyền sáng chế hay chưa, đều không có nghĩa là các sản phẩm hay công ty đó được FAO hay Cục Thú y chứng thực hay tiến cử Các quan điểm thể hiện trong sản phẩm thông tin này là ý kiến cá nhân của (các) tác giả và không đại diện cho quan điểm hoặc chính sách của FAO hay Cục

ISBN 978-92-5-009214-0 (FAO)

© FAO, 2016

Trang 5

Giới thiệu

1 Điều phối và quản lý

Tóm tắt

Giới thiệu

Phối hợp và quản lý trong bối cảnh quốc gia

Điều phối xuyên biên giới

Phối hợp giữa các cơ quan Liên hợp quốc

Phối hợp với các tổ chức quốc tế và các nhóm kỹ thuật khác

Phối hợp giữa các đơn vị của FAO

Phối hợp trong tương lai

Các điểm nổi bật trong công tác phối hợp và quản lý

Các vấn đề và thách thức đặt ra cho công tác phối hợp và quản lý

10

12131416161717181819

2 Công tác Giám sát

Tóm tắt

Giới thiệu

Tình hình giám sát dịch bệnh giai đoạn 2004-2006

Hoạt động giám sát dịch bệnh giai đoạn 2006 - 2010

Xây dựng năng lực ứng phó dịch bệnh giai đoạn 2006-2010

Các hoạt động giám sát dịch bệnh giai đoạn 2011-2014

Hỗ trợ ứng phó dịch bệnh giai đoạn 2011-2014

Quản lý thông tin

Phân tích dữ liệu và mô hình hóa dịch bệnh

Công tác giám sát vi rút giai đoạn 2006-2010

Công tác giám sát vi rút giai đoạn 2011-2014

Xây dựng năng lực – dịch tễ học

Định hướng tương lai

Các điểm nổi bật trong công tác giám sát dịch bệnh

Các vấn đề tồn đọng và thách thức trong công tác giám sát dịch bệnh

Kết luận

20

22242729313236363839404344464749

3 Năng lực phòng thí nghiệm và chẩn đoán

Tóm tắt

Giới thiệu

Năng lực phòng thí nghiệm và chẩn đoán giai đoạn 2006-2010

Năng lực phòng thí nghiệm và chẩn đoán giai đoạn 2011-2014

Các điểm nổi bật trong công tác xây dựng năng lực phòng thí nghiệm và chẩn đoán

Các vấn đề và thách thức đối với mạng lưới phòng thí nghiệm

50

525354585959

Trang 6

4 Công tác tiêm phòng cúm gia cầm

Tóm tắt

Giới thiệu

Tình hình năm 2006

Kết quả của chương trình tiêm phòng giai đoạn 2006-2010

Thực tế triển khai Chiến dịch tiêm phòng quốc gia

Các vấn đề tồn tại và thách thức trong công tác tiêm phòng

62

646566707071

5 An ninh sinh học

Tóm tắt

Giới thiệu

Tình hình năm 2006

Tình hình giai đoạn 2006-2010

Tình hình giai đoạn 2010 - 2014

Tương lai và tính bền vững

Các câu chuyện thành công

Các hạn chế và thách thức còn tồn tại

72

7476777981828386

6 Kinh tế-xã hội và kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam

Tóm tắt

Giới thiệu

Tình hình năm 2006

Diễn biến dịch bệnh giai đoạn 2006-2010

Tình hình giai đoạn 2010-2014

Các hoạt động trong tương lai

Các kết quả chính đạt được sau khi áp dụng các phương pháp tiếp cận kinh tế-xã hội trong kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao ở Việt Nam

Điểm yếu và thách thức

88

909192949798100101

7 Truyền thông Vận động

Tóm tắt

Truyền thông Vận động trong giai đoạn 2006-2010

Truyền thông Vận động trong giai đoạn 2011-2014

Những điểm nổi bật trong công tác truyền thông vận động

Những nhược điểm của công tác truyền thông vận động

Kết luận

100

102103106107108108

Trang 7

AVET Chương trình đào tạo dịch tễ học thú y ứng dụng

CTY Cục Thú y

CCN Cục Chăn nuôi

ECTAD Trung tâm khẩn cấp kiểm soát bệnh động vật lây truyền qua

biên giới

GETS Thu thập bằng chứng cho việc chuyển đổi chiến lược tiêm

phòng cúm gia cầm độc lực cao H5N1 ở Việt Nam

Bộ NN và PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

OIE Tổ chức Thú y thế giới

PAHI Đối tác phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm ở người

PVM Theo dõi sau tiêm phòng

CCTY Chi cục Thú y

UNJP Chương trình chung Liên hợp quốc

WHO Tổ chức Y tế thế giới

Sở NN và PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 9

Cúm gia cầm độc lực cao và ngành nông nghiệp Việt Nam

Trang 10

Dân số hiện nay của Việt Nam đã tăng từ 82 triệu

dân năm 2004 lên khoảng 92 triệu vào năm 2014,

cho thấy một số dấu hiệu của quỹ đạo tăng trưởng

hiện nay Hầu hết dân số hiện tập trung ở khu vực

đồng bằng lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi đây là khu

vực có diện tích đất màu mỡ nhất cho sản xuất nông

nghiệp trồng lúa Tuy nhiên, tác động của đô thị hóa

đang ngày càng rõ rệt đặc biệt là ở các trung tâm dân

số chính của cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí

Minh Mặc dù khoảng 70% dân số vẫn đang sống tại

các khu vực nông thôn, nhưng 77% tăng trưởng dân

số trong vòng 10 năm qua lại diễn ra ở dân cư đô thị

Quá trình đô thị hóa này đã tách nhiều người tiêu

dùng khỏi nguồn sản xuất và các nguồn thu nhập

ngày càng tăng do quá trình tự do hóa nền kinh tế

mang lại đã làm tăng nhu cầu tiêu thụ đạm động vật

Các nhu cầu văn hóa cũng như việc thiếu thốn cơ sở

hạ tầng dẫn đến thực tế là có những chợ buôn bán

gia cầm sống quy mô lớn đang giải quyết nhu cầu

gia cầm cho các trung tâm đô thị này và vì vậy, các đàn gia cầm có xu hướng được tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long

Một vấn đề nền tảng quan trọng là sự chuyển đổi lớn diễn ra trong ngành gia cầm Việt Nam trong giai đoạn ngay trước khi xác định phát hiện thấy H5N1

ở gia cầm tại Việt Nam, và kéo theo đó là sự thay đổi trong cơ cấu của hệ thống sản xuất gia cầm Cả chăn nuôi gia cầm và lợn đều là những lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có những thay đổi trong chính sách kinh tế của Chính phủ và tăng trưởng GDP trong những năm trước năm 2003 cùng với những bất cân bằng do hậu quả của tăng trưởng nhanh đã khiến cả gia cầm và lợn trở thành những đối tượng dễ bị tổn thương cao trước các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm Minh họa cho điều này là số gia cầm tại Việt Nam đã tăng từ 133 triệu con năm 1993 lên 254 triệu con vào năm 2003, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm

Cúm gia cầm độc lực cao và ngành nông nghiệp Việt Nam

Lịch sử phòng chống kiểm soát cúm gia cầm độc lực

cao ở Việt Nam khá ngắn ngủi, tuy nhiên 10 năm

qua là thời gian chúng ta đã có thêm những hiểu biết

sâu sắc cũng như đã trải qua những quanh co, khúc

khuỷu trên con đường đến thành công ngày nay Nỗ

lực của FAO trong công tác hỗ trợ phòng chống cúm

gia cầm độc lực cao đang đi vào giai đoạn kết thúc,

mặc dù đã được áp dụng theo cách tiếp cận rộng hơn

của Sáng kiến Một sức khỏe đối với ngành thú y và

các bệnh lây truyền từ động vật sang người, đây là

lúc để chúng ta đưa ra đánh giá đối với chương trình

đã thực hiện để rút ra các bài học và các chú ý quan

trọng qua quá trình thực hiện Một phần bổ sung

quan trọng cho đánh giá này là bộ tài liệu của FAO

về “Các bài học rút ra sau cúm gia cầm độc lực cao

– tổng kết kết quả, tác động, các thực hành tốt nhất

và các bài học rút ra từ công tác phòng chống cúm

gia cầm độc lực cao tại châu Á giai đoạn 2005-2011”

Cùng với tài liệu này, đánh giá nhìn lại nỗ lực kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam không có tham vọng đưa ra một tài liệu hoàn chỉnh tổng kết tất cả kết quả và tác động của Chương trình kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao mà chỉ mang tính chất là một tài liệu tóm tắt lại những kinh nghiệm và thách thức chính đặt ra cho Việt Nam trong công tác giải quyết vấn đề dịch bệnh phức tạp này, tập trung vào các đóng góp của USAID, đồng thời có sự liên hệ đến các khu vực dự án khi phù hợp Tài liệu này đánh giá tình hình cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam vào một số thời điểm trong vòng 8 năm qua qua lăng kính của các hoạt động và tác động ở các lĩnh vực chính như công tác phối hợp, giám sát, công tác chẩn đoán xét nghiệm, tiêm phòng, an toàn sinh học, kinh tế- xã hội và truyền thông vận động

Giới thiệu

Thông tin chung

Bối cảnh quốc gia

Trang 11

đạt 9,1% trong vòng 3 năm trước khi xảy ra dịch

Một chỉ số nữa của sự tăng trưởng do nhu cầu này là

nhập khẩu chiếm khoảng 10% sản xuất trong nước

Đồng thời, không có sự thay đổi nào về năng lực kỹ

thuật và vận hành của các dịch vụ thú y nhà nước cho công tác xử lý các thách thức đang nổi lên Điều quan trọng là khoảng 8 triệu hộ gia đình tham gia sản xuất gia cầm trong đó khoảng 50% số gia cầm được nuôi bởi các hộ sản xuất có quy mô dưới 50 con gia cầm và có đến 95% số hộ sản xuất nuôi số

lượng dưới 50 con gia cầm Các con số này cho thấy những hạn chế đặt ra cho bất kỳ công tác can thiệp nào có sự tham gia của các hộ sản xuất cá thể do thời gian công sức của mỗi hộ phải đầu tư vào sản

xuất và các vấn đề liên quan đến cung cấp dịch vụ cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã đặt ra những thách thức lớn cho công tác kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao Số lượng gia cầm sụt giảm trong giai đoạn 2003-2006 do hậu quả của cúm gia cầm độc lực cao H5N1 và các biện pháp được tiến hành để kiểm soát dịch bệnh Năm 2004 là năm mà lĩnh vực chăn nuôi gia cầm bị ảnh hưởng nặng nề nhất, số lượng gia cầm giảm xuống 26% ở khu vực miền Nam và 19%

ở miền Bắc so với năm 2003 (Hình 1, Bảng 2-3) Từ năm 2007 trở đi, số lượng gia cầm bắt đầu tăng trở lại và phục hồi hoàn toàn, và đến năm 2009 đã vượt mức trước khi xảy ra dịch bệnh Các số liệu không bao gồm số gia cầm buôn bán không chính thức đặc

Hình 1: Số liệu gia cầm toàn quốc giai đoạn 1996-2013

Nguồn: FAO stat, DLP (2013)

Bảng 3: Thịt gia cầm được nhập lậu vào Việt nam (nghìn tấn)

Trang 12

biệt với Trung Quốc nên thực tế là chúng ta không

có số liệu thống kê chính thức Tuy nhiên, nhu cầu

này cũng mở ra triển vọng mới cho các chủng vi rút

mới xâm nhập vào trong nội địa

Trong phạm vi ngành gia cầm, một nhân tố quan

trọng nữa là sự gia tăng số lượng vịt với tỷ lệ lớn hơn

gà và đến năm 2003, số lượng vịt lên đến khoảng 60

triệu con Một bằng chứng không chính thức cho

thấy đến năm 2006, số lượng vịt đã giảm đáng kể

mặc dù không có các số liệu thống kê chính thức Từ

năm 2007, số lượng vịt ước tính tăng khoảng 12,4%

hàng năm tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long lên

đến 67,5 triệu con năm 2012 và 84,7 triệu con trên

cả nước Sự phục hồi này cho thấy khả năng chống

chịu của hệ thống sản xuất cũng như nhu cầu đối với

sản phẩm này Một thực tế quan trọng nữa là dường

như tất cả vịt đều được nuôi trong các hệ thống thả

đồng và đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Cửu

Long, phần lớn số vịt nuôi là vịt chạy đồng được

chăn thả từ nơi này đến nơi khác và từ tỉnh này sang

tỉnh khác theo thời vụ thu hoạch lúa Thực tế là các

hình thức chăn nuôi vịt chạy đồng này không đảm

bảo an toàn sinh học giữa các đàn gia cầm và tạo

điều kiện cho tiếp xúc với các loài thủy cầm hoang

dã Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng vịt thả đồng có

vai trò quan trọng trong ngành trồng lúa bởi chúng

mang lại nhiều lợi ích khác nhau cho hệ sinh thái

Nhìn chung, những thay đổi ở hệ thống này và các

hệ thống sản xuất khác cần có để phòng ngừa cúm

gia cầm cần phải được quản lý để duy trì các lợi ích

mang lại cho người nông dân gắn liền với phương

pháp chăn nuôi Trong trường hợp vịt nuôi thả đồng,

các lợi ích bao gồm việc sẵn có nguồn thức ăn rẻ

chính là số lúa còn sót lại sau thu hoạch, vịt thả đồng

giúp kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại và phân vịt trở

thành nguồn phân bón cho đất trồng Hai nhóm vịt

thả đồng nhận diện được – các đàn vịt nuôi thương

phẩm được nuôi thả di cư trên diện rộng, thậm chí

thả đồng từ tỉnh này sang tỉnh khác, và số vịt được

nuôi thả đồng tại một khu vực Sự khác nhau trong

các hệ thống quản lý đối với các nhóm này cần phải

được cân nhắc tính toán khi thiết kế và thực hiện

các chương trình kiểm soát dịch bệnh Chẳng hạn

như, tỷ lệ tiếp xúc với các loại gia cầm khác ở vịt thả

đồng tại một khu vực có thể cao hơn trong khi đó

nhóm vịt thả đồng đi xa lại có khả năng lây lan vi

rút trên diện rộng hơn trong trường hợp chúng bị

nhiễm

Ở cấp độ chính sách chăn nuôi và thú y, hiện vẫn đang tồn tại khoảng cách trong việc thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân, chính vì vậy kinh nghiệm hợp tác và đối tác công-tư hiện vẫn còn rất hạn chế, đây là lĩnh vực đòi hỏi ngành gia cầm phải thực hiện tái cơ cấu dài hạn để tăng hiệu quả, giảm các nguy

cơ dịch bệnh nguy hiểm và tăng cường an toàn thực phẩm Sự hạn chế các diễn đàn và nền tảng cho các bên liên quan có cơ hội đối thoại chính là một hạn chế đối với việc xây dựng chính sách hiệu quả.Tóm lại, với sự gia tăng của dân số đô thị dẫn đến việc gia tăng nhu cầu, các hệ thống chợ đã phải mở rộng và số lượng buôn bán cũng cần phải tăng thêm Cùng lúc, nhiều cơ sở chăn nuôi thương phẩm đã mọc lên trong khi kiến thức kỹ thuật hầu như không

có và thực tế là không chú ý gì đến an toan sinh học Hậu quả là, các mạng lưới chợ vô cùng phức tạp đã được hình thành và các chợ này đang diễn ra một số lượng giao dịch gia cầm lớn hàng ngày (ước tính khoảng 1 triệu con/ngày) và các quy định quản lý thì hầu như không có gì mới Hệ thống chợ có đặc điểm là bao gồm số lượng lớn các cơ sở sản xuất quy

mô nhỏ, các chợ gia cầm sống có tính lưu động cao và điều kiện vệ sinh kém khiến gia cầm khỏe mạnh

có nguy cơ bị nhiễm bệnh Thêm vào đó, một thực tế nữa là đội ngũ cán bộ thú y với nguồn lực còn hạn chế lại thiếu cam kết với các hệ thống sản xuất gia cầm và các hộ sản xuất hầu như không tiếp xúc với các dịch vụ thú y Trong khu vực nhà nước, kinh nghiệm về thú y và sản xuất gia cầm còn rất hạn chế và vì vậy khi dịch bệnh được phát hiện thì vi rút đã lan rộng trong đàn gia cầm và vấn đề đã trở nên rất khó xác định Việc thiếu kiến thức chuyên môn của một ngành khiến việc đề ra các hoạt động ứng phó hướng tới đối tượng và hiệu quả trở nên rất khó khăn, đó chính là một bài học mà các cơ quan thú

y đã rút ra được ở nhiều nơi, kể cả ở các nước phát triển Ở một chừng mực nào đó, việc thiếu tương tác này thể hiện ở việc không có các hiệp hội được liên kết chặt chẽ giữa các hộ sản xuất để đại diện và thực hiện các mong muốn của người sản xuất Mặc dù ngày càng có nhiều dịch vụ thú y tư nhân ở Việt Nam và một số cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi và giống đã tăng cường năng lực kỹ thuật nhưng nhóm này lại chưa có sự liên kết chặt chẽ với ngành y tế công cộng và tỷ trọng gia cầm tính trong tổng số các

cơ sở chăn nuôi thương phẩm có quy mô lớn hơn vẫn chiếm phần khá nhỏ

Trang 13

Cơ cấu của các dịch vụ thú y

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc ở Việt Nam

FAO và cúm gia cầm độc lực cao ở Việt Nam

Cơ quan kỹ thuật thú y đầu ngành ở Việt Nam là

Cục Thú y của Bộ NN và PTNT Ở cấp trung ương, Cục Thú y có một số đơn vị phụ trách chuyên môn kỹ thuật bao gồm Phòng dịch tễ, kiểm dịch, thú y cộng đồng, quản lý thuốc, kế hoạch, và Trung tâm Chẩn đoán thú y trung ương Với mục đích phối hợp và để phục vụ công tác quản lý của cục, Cục Thú y

đã thành lập 7 Cơ quan Thú y vùng để tạo điều kiện hỗ trợ và hướng dẫn kỹ thuật cho công tác thú y cấp tỉnh Mỗi vùng gồm 8-10 tỉnh và mỗi Cơ quan thú

y vùng có một đơn vị phụ trách dịch tễ và phòng thí

nghiệm đi kèm Ở cấp độ hoạt động, trong hệ thống

cơ cấu chính thức của cơ quan chính phủ, mỗi tỉnh đều có Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do tỉnh quản lý với Phòng chăn nuôi và các hoạt động thú y do Chi cục thú y trực thuộc Sở NN và PTNT thực hiện Gần đây, ở một số tỉnh, các dịch vụ thú

y và chăn nuôi đã được gộp lại ở cấp tỉnh và cán bộ phòng chăn nuôi chuyển về trực thuộc Chi cục Thú

y tỉnh Cục Thú y ở cấp trung ương không trực tiếp quản lý các Chi cục thú y Mỗi tỉnh được chia thành các huyện, mỗi huyện có văn phòng hành chính riêng trong đó có Trạm Thú y huyện, có trách nhiệm báo cáo lên Chi cục Thú y tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện Ở cấp xã, một số cán bộ thú y ở cấp xã cũng là những người cung cấp dịch vụ tư nhân chỉ được nhận một khoản thù lao nhỏ từ chính quyền cho những nhiệm vụ công Ở phạm vi các khu vực nông thôn, nhân viên thú y thường tham gia ở một mức

độ nào đó vào các hoạt động tư nhân, và có nhiều ý kiến lo ngại là việc này sẽ dẫn đến một số xung đột lợi ích liên quan đến công tác kiểm soát dịch bệnh theo quy định

Cơ quan đại điện FAO hoạt động liên tục từ khi được thành lập ở Việt Nam năm 1978 và đã thực hiện các chương trình với hợp phần kỹ thuật và/hoặc chính sách ở nhiều lĩnh vực bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, môi trường, và

thủy lợi FAO cũng đóng vai trò chủ chốt trong hỗ

trợ Chính phủ Việt Nam về các vấn đề chính sách

liên quan đến an toàn thực phẩm Đặc biệt, FAO đã tham gia vào nhiều hoạt động ứng phó khẩn cấp tại Việt Nam liên quan đến các thiên tai như lũ lụt và mưa bão Dịch cúm gia cầm độc lực cao có thể được coi là một thảm họa đối với ngành nông nghiệp chăn nuôi

Từ đầu khủng hoảng cúm gia cầm độc lực cao H5N1 tại Việt Nam vào cuối năm 2003, FAO đã liên tục phối hợp cùng Chính phủ Việt Nam, các cơ quan quốc tế khác và các nhà tài trợ nỗ lực kiểm soát bệnh lây từ động vật sang người và giảm ảnh hưởng của dịch bệnh lên động vật và sức khỏe người dân Ở những giai đoạn đầu khi dịch bệnh bắt đầu lây lan, đại diện của FAO và WHO đã chủ động tiến hành họp với các bên liên quan khác nhau để chia sẻ thông tin và điều phối hoạt động trong phạm vi cộng đồng quốc tế Đồng thời, Chính phủ Việt Nam cũng thành lập Ủy ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, trong đó các cơ quan LHQ (FAO, UNDP, UNICEF và WHO) giữ vai trò là quan sát viên của diễn đàn chính sách và phối hợp quan trọng này Nhìn chung, cho đến cuối năm 2005, hầu hết

nguồn tài chính cần thiết cho hoạt động kiểm soát gia cầm tại nguồn được Chính phủ Việt Nam cấp, mặc dù trong phạm vi nguồn lực có giới hạn FAO

đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật quan trọng để giúp xây dựng chiến lược, cụ thể là công tác tiêm phòng Cho đến cuối năm 2005, Hội thảo liên ngành đầu tiên về cúm gia cầm và đại dịch cúm đã được tổ chức tại Bắc Kinh và tại hội thảo đó một khoản viện trợ quốc tế lớn đã được công bố, trong đó có Việt Nam Các nguồn tài chính quan trọng nhất chuyển đến FAO gồm có viện trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á, ADB (dành cho các hoạt động trong khu vực), Quỹ Tín thác Nhật Bản, JTF (dành cho các hoạt động khu vực và quốc gia), và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ, USAID (dành cho các hoạt động khu vực và quốc gia) Thêm vào đó còn có một khoản hỗ trợ từ nhiều

Trang 14

Các vấn đề kỹ thuật và cúm gia cầm độc lực cao

nhà tài trợ toàn cầu do Ngân hàng Thế giới, WB

quản lý và một khoản hỗ trợ tập trung cho các hoạt

động quốc gia được UNDP quản lý tại Việt Nam

Dự án thứ hai, được biết đến dưới tên gọi Chương

trình chung Liên hợp quốc (UNJP), điều chuyển

các khoản vốn dành cho các hoạt động của lĩnh vực

nông nghiệp về Cục Thú y, Bộ NN và PTNT và FAO

Chương trình chung LHQ cũng cấp một khoản vốn

đáng kể cho lĩnh vực y tế Các khoản vốn chuyển về

cho Việt Nam từ Quỹ tín thác Ngân hàng thế giới

đã hỗ trợ cho Dự án Kiểm soát cúm gia cầm và cúm

ở người tại Việt Nam Mặc dù FAO không có trách

nhiệm quản lý đối với hợp phần nông nghiệp của

dự án này nhưng các chuyên gia của FAO đã tham

gia tư vấn kỹ thuật cho Ban quản lý dự án Một khía cạnh quan trọng của hoạt động ứng phó ở Việt Nam là việc xây dựng “Chương trình hành động quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm ở người (OPI) giai đoạn 2006-2010 Chương trình bao trùm này đưa ra khung chung cho tất cả các hoạt động tài trợ hỗ trợ cúm gia cầm độc lực cao ở Việt Nam Về công tác phối hợp giữa FAO và Chính phủ Việt Nam trong phòng chống cúm gia cầm độc lực cao, hầu hết trọng tâm được dành cho hoạt động được USAID hỗ trợ bởi đó cũng là chương trình viện trợ của nhà tài trợ lâu dài và có giá trị lớn nhất (khoảng 21 triệu đô

la trong vòng hơn 9 năm)

Để giúp bạn đọc tiếp cận được thông tin trình bày

trong phần sau, chúng tôi tóm tắt một cách ngắn gọn

một số khía cạnh chính về lịch sử tự nhiên của các

chủng vi rút cúm gia cầm và bối cảnh dịch bệnh gia

cầm tại châu Á đã thay đổi nhiều như thế nào từ

năm 2003 trở đi Vi rút cúm gia cầm là một thực thể

vi sinh vật lây truyền một cách tự nhiên trong hệ

sinh thái thủy cầm toàn cầu và rộng rãi trên các đàn

gia cầm khác nhau tại các nơi khác nhau mà không

có dấu hiệu độc lực và gây bệnh Tuy nhiên, qua thời

gian, cùng với sự gia tăng số lượng gia cầm nuôi là

việc xâm nhập của các chủng vi rút cúm gia cầm độc

lực thấp có nguồn gốc từ các loài thủy cầm hoang

dã vào sự lũy tiến trái tự nhiên của các vật chủ dễ bị

tổn thương và trong quá trình lây lan không ngừng ở

gia cầm, các vi rút này đã biến đổi chủng vi rút cúm

gia cầm độc lực cao và gây tỷ lệ tử vong cao Mặc dù

người ta đã xác định rằng vi rút này đã lưu hành trên

các đàn gia cầm tại các nước phát triển nhưng phải

đến năm 1996 mới có báo cáo về việc phát hiện cúm

gia cầm độc lực cao tại các nước đang phát triển

Vẫn còn tồn tại câu hỏi tại sao, tuy nhiên các ý kiến

thống nhất rằng do cơ cấu chăn nuôi nông hộ nhỏ

và chăn nuôi thương mại chiếm tỷ trọng nhỏ ở các

nước đang phát triển mà dịch cúm gia cầm thể độc

lực cao đã không bùng phát thành dịch lớn hơn nữa

nhưng đồng thời do những lý do này cũng không thể

thiết lập được hệ thống giám sát hiệu quả tại đây Có

một ngoại lệ đáng chú ý là sự xâm nhập của vi rút

H7N3 ở Pakistan năm

1955 nơi vi rút cúm gia cầm độc lực cao xâm nhập lĩnh vực chăn nuôi gia cầm thương phẩm và nhanh chóng lây lan cho đến khi các biện pháp kiểm soát được thực hiện Môi trường sản xuất tại một số nướclại cho thấy có những giao diện nhiều lỗ hổng giữa các loài thủy cầm hoang dã với các loài gia cầm nuôi, và điểm xâm nhập dễ xảy ra nhất chính là việc gia tăng các đàn vịt nuôi thả đồng Một nhân tố khác

có vai trò quan trọng trong việc lây lan vi rút H5N1 chính là việc hội nhập quốc tế của một số hoạt động tại các công ty không có quy định nghiêm ngặt về việc di chuyển của nhân viên, vận chuyển các trang thiết bị, và giống Vài năm trước khi xảy ra cúm gia cầm độc lực cao H5N1, ngành sản xuất gia cầm

đã trải qua sự lây lan toàn cầu của vi rút gây bệnh Gumboro thể độc lực cao và vi rút bệnh cúm gia cầm độc lực thấp H9N2, và trong cả hai trường hợp

đó, sự liên kết trong ngành sản xuất gia cầm có thể chính là một nhân tố rủi ro

Nếu cúm gia cầm độc lực cao chưa xâm nhập lĩnh vực chăn nuôi gia cầm tại Đông Nam Á trước khi

có dịch H5N1 thì cúm gia cầm độc lực cao sẽ không được nhận biết, báo cáo và chắc chắn là không được thiết lập một cách đầy đủ như vậy Đó có thể là trường hợp ở Việt Nam, và thực tế là H5N1 đã được phát hiện qua giám sát nghiên cứu từ đầu năm

2001 mà không có báo cáo về bệnh này Vì vậy, cuộc chiến chống H5N1 là đi ngược lại với những gì mà lĩnh vực thú y trải nghiệm cho đến thời điểm đó Mặc dù vi rút đã lây lan và tiến hóa ở Trung Quốc

Trang 15

Những ngày đầu của cúm gia cầm độc lực cao ở Việt Nam

ít nhất là từ năm 1996 và đã có thể hiện một số dấu hiệu nhưng việc thiếu thông tin về tình hình địa bàn đã dẫn đến việc đánh giá sai về nguy cơ và thiếu chuẩn bị trên toàn cầu Một diễn biến quan trọng nữa diễn ra ở cấp toàn cầu là khi vi rút này trở nên bám rễ trên gia cầm hơn nữa – chính là loại vi rút cúm gia cầm độc lực cao đã được phân lập trực tiếp

từ chim hoang dã, vì vậy chim hoang dã có khả năng phát tán vi rút độc H5N1 ở khoảng cách xa Trước thời gian này, trừ một hay hai trường hợp ngoại lệ, các chủng vi rút thu được từ chim hoang dã không thuộc nhóm chủng vi rút cúm gia cầm độc lực cao nhưng lại có khả năng gây bệnh chỉ khi có những biến đổi cần thiết diễn ra khi vi rút quay vòng trên các loại gia cầm mẫn cảm Hơn nữa, việc vi rút cúm gia cầm độc lực cao gây bệnh trên vịt nuôi là điều

không thường gặp, tuy nhiên vào những thời điểm khác nhau khi xảy dịch ở Việt Nam, đã có ghi nhận

tỷ lệ chết ở vịt Thêm vào đó, vi rút cũng có một biểu hiện quan trọng và nghiêm trọng nữa là việc gây bệnh ở người Tình hình ở Việt Nam đã tổng kết lại được phần nhiều những đặc điểm riêng của chủng vi rút cúm gia cầm mới này cũng như biểu hiện không điển hình của vi rút Và những kinh nghiệm của cơ quan thú y quốc gia cùng với các cơ quan quốc tế trong công tác giải quyết các vấn đề đặt ra ở Việt Nam ở mức độ nào đó đã phản ảnh được những kinh nghiệm của các quốc gia khác, nơi vi rút đã tồn tại lâu trên các đàn gia cầm Các bên liên quan còn đang phải đối mặt với rất nhiều những thách thức chưa từng gặp phải trước đây và vì thế tất cả các bên vẫn trong quá trình “vừa học vừa làm”

Những trường hợp cúm gia cầm độc lực cao đầu tiên được phát hiện ở khu vực gần Hà Nội, miền Bắc Việt Nam vào tháng 12 năm 2003 Do vi rút có thể

đã bắt đầu lây lan trong các đàn gia cầm trước khi được phát hiện nên dịch diễn biến thành dịch lây lan nhanh Các số liệu thống kê cho thấy dịch đã lan rộng như thế nào và vì thế mức độ khẩn cấp của dịch bệnh lớn như thế nào Từ tháng 12/2003 đến tháng 5/2004, 24% số xã ở Việt Nam đã bị nhiễm vi rút và

57 trong số 64 tỉnh thành, cùng với khoảng 45 triệu con gia cầm đã bị chết hoặc giết hủy - chiếm khoảng 17% tổng số gia cầm của cả nước Tính từ thời gian cao điểm của dịch bệnh năm 2004, số lượng ổ dịch bùng phát và số gia cầm chết bệnh hoặc bị giết bỏ

đã giảm xuống đáng kể Một đặc điểm rõ rệt của quy luật dịch bệnh trong những năm đầu mới xảy

ra dịch là đỉnh dịch thường được ghi nhận vào thời gian giáp Tết Trước Tết, số lượng gia cầm tăng cao để chuẩn bị cho nhu cầu trong thời gian nghỉ lễ và

kéo theo sự gia tăng trong vận chuyển và buôn bán gia cầm Kết quả cuối cùng là tình trạng đó khiến

tăng nguy cơ vi rút lây nhiễm sang các vật chủ mới và di động và vì vậy mà thời gian này thường có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất Chương trình tiêm phòng đầu tiên được thực hiên năm 2005 vào những tháng ngay trước Tết với mục tiêu giảm số lượng gia cầm mẫn cảm có thể xâm nhập vào các hệ thống chợ

Dự án khu vực của USAID được bắt đầu thực hiện

từ tháng 10/2005 và đến đầu năm 2006, Văn phòng ECTAD bắt đầu hoạt động tại Hà Nội Tài liệu này đánh giá các hoạt động đã được thực hiện từ đầu năm 2006 đến giữa năm 2014

Trang 16

Trong suốt thời gian diễn ra dịch bệnh, Chính phủ

Việt Nam đã thể hiện sự quyết tâm cao trong việc

giải quyết vấn đề ngày càng lớn khi phải đối mặt với

H5N1 và công tác kiểm soát Tính từ cuối năm

2003, quốc gia đã dành rất nhiều nỗ lực và ngân sách

cùng với những hỗ trợ lớn chưa từng có của cộng

đồng quốc tế, và đã đạt được rất nhiều kết quả Mặc

dù hiện nay tình hình dịch bệnh đã được coi trong

tầm kiểm soát và ổn định nhưng thực tế cho thấy

việc thanh toán tận gốc vi rút khỏi các đàn gia cầm

vẫn là một mục tiêu dài hạn chỉ có thể đạt được sau

khi một loạt các nhân tố đóng góp chính được thay

đổi và vì vậy cần phải duy trì cảnh giác liên tục và

luôn dành tâm sức củng cố và duy trì bền vững các

kết quả đã đạt được

Như đã khẳng định rằng có ba nhân tố lớn phối

hợp để phòng ngừa, loại trừ cúm gia cầm độc lực

cao tại các quốc gia và khu vực có dịch Ba nhân tố

đó là gia cầm (đã nêu ở phần trên), chất lượng của

ngành chăn nuôi thú y phục vụ ngành gia cầm (đã

nêu ở phần trên), và phạm vi và cấp độ cam kết ở tất

cả các cấp chính quyền trong công tác thanh toán

vi rút Liên quan đến điểm cuối cùng, các bên liên

quan đều có cam kết rất cao trong việc kiểm soát

dịch bệnh và điều này được tiếp tục ở các cấp chính

quyền trung ương nhưng đến địa phương thì lại bị

suy giảm, và đặc biệt là với những người sản xuất và

buôn bán gia cầm do họ không nhìn thấy nguy cơ

sát sườn và mệt mỏi với hoạt động kiểm soát Còn

có một nhân tố liên quan đến việc các bên liên quan nhìn nhận về phạm vi vai trò của mình trong một bức tranh lớn hơn và có vẻ như việc còn thiếu các hiệp hội ngành dẫn đến hậu quả là không có một môi trường mà các doanh nghiệp tự đưa ra quy định và trách nhiệm trên cơ sở tầm nhìn của hiệp hội và sức ép từ chính các thành viên Nhìn chung, với tất cả các bên tham gia cũng như các cá nhân thì vai trò quản lý vẫn đang còn bị đè nặng bởi quá nhiều

sự phức tạp Có lẽ một ví dụ của phương pháp tiếp cận bên liên quan xuyên suốt chính là dòng hàng gia cầm sống bất hợp pháp liên tục đổ vào từ Trung Quốc, là dòng sản phẩm có chất lượng thấp hơn và nguy cơ dịch bệnh cao hơn nhưng cũng là dòng sản phẩm mang lại lợi nhuận biên cao trong hệ thống chợ gia cầm sống Trong điều kiện ngành thú y còn nhiều hạn chế, thường xuyên không có đủ nguồn lực, thiếu chuẩn bị sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp và ở một mức độ nào đó vẫn còn yếu kém về mặt kỹ thuật thì những kết quả đã đạt được trong 8 năm qua chính là nhờ có nỗ lực và tâm sức dành cho các nhiệm vụ đặt ra

Kết luận

Trang 18

O

Trang 19

Điều phối và

quản lý

Trang 20

Chính phủ Việt Nam và tổ chức FAO bắt đầu phối

hợp xử lý khủng hoảng Cúm gia cầm độc lực cao từ

đầu năm 2004 mặc dù cho đến tận cuối năm 2005

Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì (USAID) mới

chính thức hỗ trợ tài chính qua FAO để hỗ trợ cho

Việt Nam Việt Nam là một quốc gia thành viên

của FAO, Văn phòng đại diện FAO đã hoạt động

tại đây trong nhiều năm và gây dựng mối quan hệ

đối tác chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, bao gồm quan hệ cấp Bộ trưởng và Vụ

Hợp tác quốc tế Cùng với việc thành lập Trung tâm

khẩn cấp kiểm soát bệnh động vật lây truyền qua

biên giới (ECTAD) tại Hà Nội, Chính phủ Việt Nam

và FAO đã không ngừng phối hợp trong các hoạt

động phòng chống cúm gia cầm độc lực cao từ đầu

năm 2006 cho đến khi kết thúc dự án 604 vào cuối

năm 2014 Trong thời gian này, FAO cùng với Cục

Thú y và Cục Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn đã phối hợp rất hiệu quả Một

phần trong chức năng hoạt động của ECTAD tại

Việt Nam là FAO có thể hỗ trợ một cách hiệu quả

việc thực hiện dự án và các hoạt động khác như việc

tham gia của Chính phủ Việt Nam tại các hội nghị

quốc tế Mặc dù đội ngũ cố vấn kỹ thuật chủ chốt đôi

khi có thay đổi nhưng Văn phòng ECTAD luôn đảm

báo một cố vấn cấp cao về thú y có mặt gần như liên

tục, và tương tự như vậy tại bộ phận hành chính

Điều này đảm bảo việc thực hiện hiệu quả các dự

án của các nhà tài trợ khác nhau do FAO điều phối

Thiết kế dự án này đã hỗ trợ Chính phủ Việt Nam điều phối các hoạt động của các đối tác để đảm bảo

có phương thức tiếp cận hài hòa trong công tác kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao và xây dựng các công cụ giám sát và đánh giá để hỗ trợ quản lý việc thực hiện dự án Là một cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, FAO được yêu cầu hỗ trợ các cơ quan khác của Liên hiệp Quốc (LHQ) trong các vấn đề liên quan đến kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao cũng như cung cấp dịch vụ cố vấn kỹ thuật và phối hợp với các đối tác của USAID, và dự án đã hỗ trợ FAO thực hiện nhiệm vụ này

Dự án này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tư vấn cho Cục Thú y về chiến lược kiểm soát dịch bệnh và tham gia cùng Ban thư ký của Đối tác phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm ở người (PAHI), hỗ trợ liên kết hoạt động này với các chương trình chính sách của Việt Nam Chương trình chung LHQ (UNJP) đã hỗ trợ đáng kể cho Chính phủ Việt Nam, các hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp cho chương trình truyền thông do UNICEF là đơn vị đầu mối, và Nhóm công tác về an toan sinh học do Cục Chăn nuôi và FAO tổ chức Trong quá trình hỗ trợ công tác phòng chống cúm gia cầm độc lực cao, FAO cũng đã trực tiếp phối hợp với Tổ chức

Y tế thế giới (WHO) và thông qua Tiểu nhóm Các bệnh truyền nhiễm của Nhóm chương trình chung về y tế, thúc đẩy một mối quan hệ công việc chặt chẽ hơn giữa Bộ NN và PTNT và Bộ Y tế Thông qua các

TÓM TẮT

Nhóm công tác An toan sinh học, 2013

Trang 21

Khi xảy ra trường hợp khẩn cấp như cúm gia cầm độc lực cao, nhiều tổ chức quốc tế với các sứ mệnh khác nhau sẽ tham gia và hỗ trợ Tuy nhiên, trường hợp khẩn cấp ở phạm vi hẹp như dịch bệnh ở động vật như cúm gia cầm độc lực cao H5N1, thì có thể

xảy ra cạnh tranh trong việc tiếp cận và thực hiện chương trình Hệ quả rất có thể là quốc gia được hỗ

trợ gặp khó khăn trong việc tiếp nhận nguồn hỗ trợ, nguồn nhân lực hạn chế của chính phủ sẽ phải tham gia hoạt động dự án hoặc có thể làm mất cân bằng

cơ cấu lương do các khoản phụ cấp từ dự án Điều quan trọng là khi chính quyền trung ương bị quá tải

do các chương trình “hỗ trợ” mang lại thì có nguy

cơ chồng chéo hoạt động, gây lãng phí các nguồn lực quý giá Trong trường hợp của Việt Nam,một số hệ quả nêu trên không xảy ra vì hệ thống chính quyền trung ương của Việt Nam khá vững mạnh và

Việt Nam đã dồn nỗ lực đảm bảo có các kế hoạch sẵn sàng cho các chương trình hỗ trợ Tuy nhiên,

do trọng tâm kỹ thuật của nhiều dự án hỗ trợ cho ngành thú y rất hẹp nên cần phải có cơ chế phối hợp để giảm hoạt động chồng chéo và đảm bảo hài hòa

Do Việt Nam là nước thành viên của FAO nên Văn phòng đại diện của FAO đã được thành lập tại Việt Nam trong nhiều năm với mối quan hệ chính thức với Bộ NN và PTNT, giúp FAO hợp tác chặt chẽ với các cơ quan và cơ chế của chính phủ Làm việc với Cục Thú y, FAO đã tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ cho Ban chỉ đạo quốc gia về Cúm gia cầm (NSCAI) do

Bộ NN và PTNT chủ trì Hơn nữa, FAO cũng đã ký các thỏa thuận với Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Tổ chức Thú y thế giới (OIE) và

các tổ chức khác của LHQ như Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)

Những thỏa thuận có từ trước này đã hỗ trợ năng lực cho FAO thực hiện và điều phối với các đối tác trong các dự án ở cả cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu Điều quan trọng đứng từ góc độ của Chính phủ

Việt Nam là tất cả đóng góp cho chương trình kiểm

soát cúm gia cầm độc lực cao ở cả lĩnh vực nông nghiệp và y tế công cộng đều được hướng dẫn trong cuốn “ Chương trình hành động quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm ở người giai đoạn 2006-2010 (viết tắt là OPI hoặc “Sách xanh”) FAO tham gia trong nhóm kỹ thuật đã soạn thảo “Sách xanh” và chính điều này đã tạo nên sự gắn kết chặt chẽ với chương trình của Chính phủ Việt Nam Một

cơ quan giúp việc quan trọng nữa là Đối tác Phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm ở người (PAHI) do Chính phủ Việt Nam thành lập Cơ chế phối hợp này

đã được các nhà tài trợ và các đối tác phát triển trong

đó có FAO ký kết và Ban thư ký PAHI chịu trách nhiệm hỗ trợ

Sứ mệnh toàn cầu của FAO là kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao nên ECTAD Việt Nam phải tuân thủ hướng dẫn của rất nhiều liên minh và thỏa thuận toàn cầu Và ECTAD Việt Nam đã sử dụng các hướng dẫn này để định hướng đóng góp và các mối quan hệ trên phương diện kỹ thuật Các văn bản này bao gồm Khung toàn cầu về kiểm soát diễn biến dịch bệnh xuyên biên giới trên động vật giữa FAO và OIE đã được chính thức hóa năm 2004 (GF- TADS), và một phần trong đó là Hệ thống cảnh báo sớm toàn cầu (GLEWS) đối với các bệnh ở động vật được kết nối với ECTAD Việt Nam và được ECTAD Việt Nam cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh Giữa năm 2004, FAO và OIE đã cùng soạn thảo bộ quy tắc hướng dẫn công tác giám sát và kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao tại châu Á Nhóm cán bộ trong nước của FAO đã sử dụng bộ quy tắc này làm

cơ sở để hài hòa hóa các hoạt động Sau đó, Khung kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao cấp khu vực do ASEAN và Văn phòng khu vực châu Á-Thái Bình Dương của FAO đã cùng xây dựng đã đưa ra hướng dẫn chiến lược và là cơ sở cho liên liên kết và phối hợp rộng khắp khu vực Mặc dù FAO đã tham gia một số hoạt động hình thành chiến lược cho Việt Nam trong giai đoạn đầu xảy ra dịch nhưng nguồn

sẻ thông tin thú y và y tế, thực hiện diễn tập chung

trong phòng họp, và thông điệp truyền thông chung Phương pháp tiếp cận liên ngành trong công tác phòng chống và ứng phó các bệnh lây từ động vật sang người đã đóng góp đáng kể vào việc hình thành Sáng kiến Một sức khỏe tại Việt Nam

Trang 22

tài chính hạn hẹp đã hạn chế hoạt động này Tuy

nhiên, đầu năm 2006, FAO đã có được nguồn hỗ

trợ lớn hơn, cũng thời điểm đó Văn phòng ECTAD

được thành lập và bắt đầu một vai trò quan trọng

hơn ở Việt Nam

Như đã đề cập trong phần thông tin cơ sở của tài liệu

này, FAO đã luôn là cơ quan phối hợp chính trong nỗ

lực kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao ở Việt Nam

ngay khi bắt đầu xảy ra dịch Cuối năm 2013 và đầu

năm 2014 khi khắp nơi đều lo lắng về nguy cơ bùng

nổ đại dịch, WHO và FAO đã tổ chức nhóm các nhà

tài trợ chính để điều phối các hoạt động ứng phó

của các tổ chức quốc tế và cập nhật thông tin liên tục

cho cộng đồng quốc tế về tình hình dịch bệnh trong

nước Bắt đầu từ đây, trong dự án này, FAO đóng vai

trò vừa là cơ quan điều phối chính vừa tham gia tích

cực trong các hoạt động điều phối do các tổ chức

khác giám sát Vai trò tăng cường, củng cố, hỗ trợ và

duy trì bền vững quan hệ đối tác giữa nhiều đơn vị

tham gia và nhiều bên liên quan khác nhau đã được

coi là một trong những điểm mạnh đặc biệt mà FAO

đã đóng góp vào các nỗ lực kiểm soát dưới tư cách là một đơn vị trung gian phi chính trị, không thiên kiến và “trung thực” Vì vậy dự án này đã kết nối rất nhiều mối quan hệ đối tác trong đó có mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với các ban ngành và các cơ quan hành chính khác nhau; các nhà tài trợ, các tổ chức và các cơ quan phát triển quốc tế, các

tổ chức LHQ khác, các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGOs), các nhóm/tổ chức chuyên gia kỹ thuật trong nước và quốc tế, các ban kỹ thuật của chính quyền nước láng giềng, và trong phạm vi FAO.Trong phạm vi của dự án, FAO đã điều phối nguồn chuyên gia kỹ thuật quốc tế của mình để tiến hành kiểm tra hoặc ứng phó với các vấn đề nổi lên trong chương trình kiểm soát quốc gia, và phối hợp các

cơ quan kỹ thuật quốc gia đưa ra các đề xuất chính sách kỹ thuật để Chính phủ Việt Nam nghiên cứu, xem xét

Đối tác chính tại Việt Nam của FAO là Cục Thú y và

Cục Chăn nuôi Bên cạnh đó, FAO đã từng là quan

sát viên của Ban Chỉ đạo quốc gia về bệnh cúm gia

cầm và đã có những trao đổi tương tác quan trọng

với Đối tác PAHI là đơn vị điều phối được thành

lập để hỗ trợ sự phối hợp toàn chính phủ cần thiết

phải có để kiểm soát dịch bệnh Bằng việc tham

gia các hội thảo và hội nghị hàng năm của Đối tác

PAHI, FAO đã có cơ hội đóng góp vào các thảo luận

chính sách và giám sát việc thực hiện các đóng góp

chung của ‘ Sách xanh” vào lĩnh vực nông nghiệp

FAO đã được yêu cầu đánh giá định kỳ đối với

chiến lược tiêm phòng và các khía cạnh khác của

chiến lược kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao của

Chính phủ và thực hiện các hoạt động này với sự

hợp tác của Đối tác PAHI, đảm bảo các kết quả được

chuyển về cho Ban chỉ đạo quốc gia về cúm gia cầm

(BCĐQGVCGC) và được Ban chỉ đạo này xem xét

Trong suốt thời gian chương trình kiểm soát cúm

gia cầm độc lực cao ở Việt Nam, FAO đã thực hiện 4

đánh giá về chiến lược tiêm phòng trong đó có việc

ngừng tiêm phòng đại trà dùng vốn ngân sách do

Cục Thú y đề xuất Mỗi lần thực hiện đánh giá FAO

đều có báo báo kỹ thuật gửi Cục Thú y xem xét và

sử dụng cho mục đích vận động FAO cũng hỗ trợ

Bộ NN và PTNT xây dựng và ban hành Thông tư số 53/2013/TT-BNNPTNT, ra ngày 12/12/ 2013 về việc báo cáo dịch bệnh ở động vật trên cạn Cục Thú y coi đây là một đóng góp quan trọng vào công tác điều phối phát triển chính sách

Dự án phòng chống cúm gia cầm, cúm ở người và

dự phòng đại dịch (VAHIP) do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ là đóng góp lớn nhất vào các hoạt động của ngành nông nghiệp Mặc dù FAO không có vai trò quản lý trong dự án VAHIP nhưng FAO đã cử một cố vấn kỹ thuật làm việc toàn thời gian tham gia nhóm kỹ thuật của dự án VAHIP Sự có mặt và tham gia của cố vấn kỹ thuật này trong các hoạt động kỹ thuật của ECTAD đã giúp đảm bảo sự hài hòa và phối hợp cho các hoạt động do FAO hỗ trợ với các hoạt động của dự án được quản lý và thực hiện ở cấp quốc gia có quy mô lớn này

Chương trình chung LHQ (UNJP) được một số cơ quan chính phủ, trong đó có Cục Thú y, thực hiện với sự giám sát quản lý của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) Đội ngũ tư vấn từ

Phối hợp và quản lý trong bối cảnh quốc gia

Trang 23

Hội thảo Một sức khỏe toàn quốc, 2013

ECTAD tham gia tích cực vào nhóm cố vấn dự án và giám sát kỹ thuật nguồn vốn cấp để thực hiện ở cấp quốc gia theo yêu cầu quản lý của UNDP Dự án này cũng có đóng góp lớn trong việc xây dựng chiến lược truyền thông thay đổi hành vi do UNICEF thực hiện dưới sự quản lý của Chương trình chung UNJP, đặc biệt để đảm bảo các thông điệp về dịch bệnh và

quản lý vừa mang tính thực tế và đảm bảo yếu tố kĩ thuật FAO đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phối hợp và hỗ trợ công việc của Nhóm công tác về an toan sinh học (NCTVANSH) do Cục Chăn nuôi quản lý Nhóm công tác họp thường xuyên và FAO có vai trò là Ban thư ký phụ trách chuẩn bị

chương trình họp, chuẩn bị báo cáo, hỗ trợ cán bộ ở cấp quốc gia tham gia và giám sát kỹ thuật cho các hoạt động của Nhóm công tác Nhóm công tác đã đưa ra thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động chăn nuôi và an toan sinh học ở các cơ sở chăn nuôi cá thể và xây dựng các đề xuất chính sách trình lên Cục Chăn nuôi xem xét và vận động chính sách trong phạm vi Bộ NN và PTNT

Tại Việt Nam, USAID đã hỗ trợ tài chính cho nhiều

tổ chức phi chính phủ quốc tế (Abt Associates và

Viện Phát triển giáo dục Hoa Kỳ-AED) để thực hiện các hoạt động ở cấp cơ sở USAID điều phối các chương trình tài trợ thông qua một mạng lưới đối tác, và thực hiện giám sát chặt chẽ để cung cấp hướng dẫn và điều phối các đóng góp kỹ thuật trong các lĩnh vực như an toan sinh học, giám sát và xây

dựng thông điệp Hội nghị lập kế hoạch hàng năm cho chương trình của USAID là một diễn đàn vô cùng quan trọng cho tất cả các đối tác của dự án và FAO luôn có đại diện ECTAD tham gia là cán bộ kỹ thuật và hành chính

Như đã đề cập ở trên, FAO đã có những đóng góp quan trọng vào các chiến lược quốc gia, có thể kể đến như Sách xanh hoặc OPI – đây là tài liệu đã được FAO sử dụng như cẩm nang hướng dẫn để tìm kiếm và thực hiện chương trình hỗ trợ của nhà tài trợ Khi tổng kết đánh giá OPI năm 2010, với

tư cách là một bên liên quan, FAO đã đưa ra nhiều khuyến nghị hợp lý được đưa vào báo cáo đánh giá và sau đó đã gây được ảnh hưởng đến việc xây dựng phương pháp tiếp cận chiến lược mới có tên gọi Chương trình phối hợp hành động quốc gia phòng chống cúm gia cầm, dự phòng đại dịch và các bệnh truyền nhiễm mới nổi (AIPED) Chiến lược này kêu gọi cần có một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn đối với các vấn đề dịch bệnh và mô tả mô hình sáng kiến Một sức khỏe như một trụ cột trung tâm của kế hoạch Bằng cách này, dự án hỗ trợ vai trò điều phối của Văn phòng ECTAD là một đóng góp quan trọng vào sự tiến bộ không ngừng trong các hoạt động ứng phó của Chính phủ Việt Nam đối với cúm gia cầm độc lực cao H5N1 và các dịch bệnh mới nổi khác

Trang 24

Phối hợp giữa các cơ quan Liên hợp quốc

Đánh giá chung FAO-WHO về công tác chuẩn bị cho cúm gia cầm

Điều phối xuyên biên giới

FAO đóng vai trò chủ chốt trong việc hỗ trợ đối

thoại giữa Cục Thú y Trung Quốc với Cục Thú y Việt

Nam Các cuộc họp được dự án tổ chức và hỗ trợ,

dựa trên đóng góp và phối hợp của các nhóm cán

bộ ECTAD Trung Quốc và Việt Nam Các cuộc họp

giúp mở rộng khái niệm thị trường hoặc chuỗi giá trị

truy ngược trở lại từ nguồn gia cầm ở Trung Quốc

và thị trường đích ở Việt Nam Dự án cũng đã hỗ

trợ các cuộc họp và tiếp cận đối thoại giữa Cục Thú

y và Chăn nuôi Campuchia với Cục Thú y Việt Nam

nhằm xây dựng một phương pháp tiếp cận hài hòa

để tìm hiểu về sinh thái học của vi rút H5N1 ở khu vực Đồng bằng sông Mê Kông Các nỗ lực xuyên biên giới này cho thấy phương pháp tiếp cận dựa trên vùng can thiệp dịch tễ học căn cứ vào sự phân bố của nhánh vi rút và các đặc điểm sinh thái nông nghiệp vượt khỏi các ranh giới quốc tế Mới gần đây,

dự án đã hỗ trợ hợp tác xuyên biên giới ở quy mô rộng hơn bao gồm cả ngành y tế, cơ quan kiểm dịch, các nhà khoa học xã hội, và những người chăn nuôi và buôn bán tại địa phương của cả hai phía

Phối hợp với WHO là hoạt động rõ nét ngay từ khi

bắt đầu xuất hiện dịch cúm gia cầm độc lực cao ở

Việt Nam và sự phối hợp đó vẫn tiếp tục suốt thời

gian dự án Hai cơ quan của LHQ đã họp thường

xuyên để trao đổi thông tin về tình hình dịch bệnh

tại địa bàn và phối hợp các hoạt động như tập huấn

về dịch tễ học cho cán bộ y tế và cán bộ thú y Các

cuộc họp bàn về kỹ thuật cũng được tổ chức giữa

các chuyên gia phòng thí nghiệm của cả hai tổ chức

để hài hòa các kỹ thuật chẩn đoán được sử dụng để

xác định bệnh Khi các hoạt động tập trung nhiều

hơn vào truyền thông để thay đổi hành vi, dự án đã đặc biệt tập trung vào tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho UNICEF - do cơ quan này thiếu năng lực kỹ thuật liên quan Dự án đã hỗ trợ mạng lưới truyền thông Một sức khỏe của Đối tác phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm ở người (PAHI) và tham gia các cuộc họp và thảo luận do UNDP tổ chức để điều phối việc thực hiện Chương trình chung UNJP và hướng dẫn tiểu nhóm về các bệnh truyền nhiễm trong phạm vi Nhóm chương trình chung về y tế

Trang 25

Phối hợp với các tổ chức quốc tế và các nhóm kỹ thuật khác

Phối hợp giữa các đơn vị của FAO

Các tổ chức quốc tế khác cũng tham gia kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao tại Việt Nam gồm có Tổ chức Thú y thế giới (OIE) và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ Cả hai cơ quan này đều tham gia vào hoạt động xây dựng Luật thú y mới, và FAO cũng hợp tác trong quy trình này Ngoài FAO và OIE, dự án của Quỹ tín thác Nhật Bản cũng tham gia tổ chức các khóa tập huấn chung tại chỗ về dịch tễ học và hỗ

trợ phòng thí nghiệm FAO hỗ trợ một dự án của Chính phủ Ai-len đầu tư lắp đặt các dây chuyền lạnh Ở lĩnh vực nghiên cứu, FAO đã tham gia dự

án nghiên cứu sự lây lan của vi rút ở vịt tại khu vực Đồng bằng sông Mê Kông do tổ chức viện trợ New Zealand tài trợ, và tham gia cùng với tổ chức CIRAD

Pháp trong chương trình giám sát cúm gia cầm độc lực cao Cùng với đó là sự hợp tác với Viện nghiên cứu Istituto Zooprofilattico Sperimentale (Padova) trong dự án tiêm phòng cúm gia cầm độc lực cao cho vịt Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ cũng đã nhiều lần hỗ trợ phát triển năng lực phòng thí nghiệm và FAO cũng đã hợp tác cùng trong lĩnh vực này FAO cũng đã có các hoạt động hợp tác và phối hợp với Tổ chức Bảo tồn động vật hoang dã (CWS), Đại học Thú y Hoàng gia Luân Đôn, Tổ chức Công viên động vật ở Thái Lan và Viện Nghiên cứu phát triển của Trường Đại học Carlifornia, Berkeley

Với tư cách là một trong những cơ quan kỹ thuật quốc tế đã tham gia vào nỗ lực kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao, FAO đã đề xuất thực hiện một cơ chế xử lý khủng hoảng nội bộ Cơ chế này là đối tác kỹ thuật và vận hành duy nhất có tên gọi Trung tâm Khẩn cấp kiểm soát bệnh động vật lây truyền qua biên giới (ECTAD) Cùng với việc thành lập Văn phòng ECTAD tại Việt Nam, một văn phòng khu vực cũng được thành lập tại Văn phòng khu vực châu Á -Thái bình dương đặt tại Bangkok có nhiệm vụ quản lý các hoạt động địa bàn ở cấp khu vực Mô

hình kỹ thuật và vận hành này đã giúp công tác ứng phó của FAO được điều phối hợp lý từ trụ sở chính

ra địa bàn Các văn phòng ECTAD ở các nước châu

Á tham gia thường xuyên các cuộc họp kỹ thuật của ECTAD khu vực và đôi khi cũng tham gia các cuộc họp toàn cầu và đã đưa ra các phương pháp tiếp cận hài hòa với mỗi quốc gia FAO có sự hỗ trợ từ các đơn vị kỹ thuật của của Trụ sở chính gồm có thú y, chăn nuôi, an toàn thực phẩm, và trung tâm quản lý khủng hoảng

Trang 26

Các hoạt động dự án được Cục Thú y, Cục Chăn

nuôi thực hiện và kết hợp với PAHI để tiến hành

đánh giá toàn diện về chiến lược tiêm phòng và kiểm

soát dịch bệnh đã đóng góp quan trọng vào công tác

phối hợp nỗ lực kiểm soát dịch bệnh đứng từ góc độ

của Chính phủ Việt Nam

Dự án đã có đóng góp rất quan trọng vào việc điều

chỉnh và xây dựng lại các thông điệp nâng cao nhận

thức của người dân cho dự án truyền thông để thay

đổi hành vi do UNICEF thực hiện

Mặc dù giữ một vai trò khá khiêm tốn nhưng dự án

cũng đã đóng góp quan trọng vào việc hỗ trợ USAID

trong công tác hài hòa hóa chương trình kiểm soát

cúm gia cầm độc lực cao ở Việt Nam, đặc biệt là ở

cấp thôn Đây là một ví dụ rõ nét về vai trò FAO

có thể đảm nhận trong phạm vi hỗ trợ kỹ thuật mà không cần phải chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện

dự án

Các mối quan hệ công việc xuyên biên giới với Trung Quốc và Campuchia đã được cải thiện rõ rệt trong thời gian diễn ra chương trình này Thành tựu lớn nhất là việc hai bên có thể gặp gỡ và trao đổi tình hình dịch bệnh ở mỗi nước và trao đổi ý tưởng về việc làm thế nào để hài hòa công tác giám sát và tiến tới có một môi trường an toàn cho động vật và các sản phẩm động vật Xây dựng được niềm tin sẽ giúp cả hai nước thực hiện các phương thức tiếp cận vùng dịch tễ tích hợp

Họp song phương Việt Nam – Trung Quốc để giải quyết các bệnh xuyên biên giới trên động vật và

các bệnh gây nguy cơ cho y tế công cộng, Tháng 08/2013

Phối hợp trong tương lai

Khi các hoạt động hỗ trợ của FAO không quá tập

trung vào cúm gia cầm độc lực cao mà đã mở rộng

sang các nguy cơ y tế mới nổi do sự tương tác giữa hệ

sinh thái-con người-động vật thì công tác phối hợp

sẽ cần thiết ở lĩnh vực dự án rộng hơn với nhiều bên

liên quan hơn Chẳng hạn như, bệnh dại luôn cần

phải có sự phối hợp với ngành y tế nay đã mở rộng

phạm vi tham gia của các tổ chức phi chính phủ,

ASEAN và Bộ Giáo dục và Đào tạo Cơ chế phối hợp

Một sức khỏe cũng đã mở rộng bao gồm cả sự tham

gia không chỉ của Bộ Y tế và Bộ NN và PTNT mà còn cần đến cả sự tham gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, và các cơ quan khác để có thể thực hiện được ở trong nước Nguy cơ H7N9 ở Việt Nam đã tái khởi động hợp tác giữa Tổ chức Y tế thế giới và FAO, và sự hợp tác này sẽ còn tiếp tục vì nhiều khả năng là các tác nhân gây bệnh

sẽ xâm nhập vào Việt Nam và báo trước sự phức tạp trong công tác quản lý bệnh cúm gia cầm lây sang người

Các điểm nổi bật trong công tác phối hợp và quản lý

Trang 27

Hàng loạt hoạt động phòng ngừa và kiểm soát cúm gia cầm độc lực cao đã được thực hiện trong thời gian diễn ra dự án, đòi hỏi phối hợp với nhiều cơ quan đối tác và các lĩnh vực kỹ thuật không chỉ giới hạn ở Cục Thú y (CTY), Cục chăn nuôi (CCN), Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (TTKNQG), các

cơ quan kiểm dịch, thanh tra, truy xuất nguồn gốc, chuỗi giá trị… Vì nhiều lý do, có những khoảng thời gian hoạt động này gặp khá nhiều khó khăn, một phần là do sự thay đổi nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm của chính các cục, việc phân cấp quản l‎ý và

tình hình diễn biến dịch bệnh

Mặc dù các nhà tài trợ đã chỉ định các tổ chức khác chịu trách nhiệm truyền thông rủi ro liên quan đến

cúm gia cầm độc lực cao nhưng FAO vẫn được yêu cầu dành thời gian và nhân lực để đảm bảo các thông điệp chính xác và có cơ sở khoa học do các tổ chức chịu trách nhiệm truyền thông nguy cơ lại không có chuyên gia kỹ thuật

Những tiến độ của các giải pháp xuyên biên giới là một quá trình chậm mà chắc vì lý do cần phải tiến hành nhiều cuộc họp và tạo dựng niềm tin với các đối tác Việc áp dụng các phương pháp tiếp cận tương tự vào công tác phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh ở cả hai bên đường biên có thể cũng rất khó khăn do không đồng đều về năng lực kỹ thuật, phân

bổ ngân sách và chính sách quốc gia

Các vấn đề và thách thức đặt ra cho công tác phối hợp và quản lý

Trang 28

© F

Trang 29

Công tác Giám sát

Trang 30

Trong bối cảnh của dự án này, các hoạt động giám

sát bao gồm hỗ trợ tăng cường phát hiện ổ dịch, xác

nhận ổ dịch, ứng phó ổ dịch, báo cáo về ổ dịch, quản

lý thông tin, và theo dõi virút Ở giai đoạn đầu của

dịch cúm gia cầm độc lực cao H5N1, mục tiêu của

công tác giám sát đã được thông báo rất rõ ràng đến

tất cả các bên liên quan – cần nhanh chóng phát hiện

và kiểm soát ổ dịch –vì đã có bằng chứng thuyết

phục về nguy cơ lây bệnh và tử vong ở người Để

đạt được mục đích này, cần khuyến cáo người dân

thông báo các trường hợp nhiễm bệnh ngay lập tức

vì lợi ích chung Trong trường hợp dịch cúm gia cầm

độc lực cao H5N1, lo lắng của người dân về nguy

cơ với chính cá nhân họ hoặc gia đình họ có thể là

một động lực nữa khuyến khích họ thông báo về

các trường hợp nghi ngờ nhiễm bệnh Cũng có khi

thông báo dịch bệnh là do bên thứ ba đưa lại do họ

e ngại có thể có vi rút ngay trong chính đàn vật nuôi

của họ Tuy nhiên sau một thời gian, nỗi sợ hãi của

người dân đã giảm xuống, và mặc dù lo ngại về một

đại dịch H5N1 có thể xảy ra vẫn còn nhưng người

dân đã không còn lo lắng nhiều về điều đó nữa Sau

khi tỷ lệ nhiễm bệnh đã giảm xuống đáng kể nhờ

các chiến dịch tiêm phòng thì người dân bắt đầu áp

dụng các cơ chế ứng phó khác để xử lý các ổ dịch

như bệnh thông thường Thêm vào đó, việc báo cáo

dịch bệnh lại khiến chính quyền địa phương vướng

phải một số trở ngại, chẳng hạn như thông báo hạn

chế các hoạt động trong chợ hoặc sự phê bình của

cấp trên, và điều đó khiến chính quyền địa phương

không còn hăng hái thông báo tình hình nữa Việc

này đã khiến Cục Thú y lo ngại về hiệu quả của công

tác giám sát và Cục đã yêu cầu mạng lưới giám sát cần phải chú ý nhiều hơn

Dự án có vai trò hỗ trợ Chính phủ trong nỗ lực giám sát và tư vấn về các phương pháp có thể thực hiện để thu thập thông tin về các ổ dịch một cách đáng tin cậy hơn, hiệu quả hơn và tiết kiệm về mặt chi phí Để thiết kế chương trình, các hoạt động được thực hiện để cải thiện công tác điều tra, ứng phó và báo cáo ổ dịch đều thuộc phạm trù giám sát Để làm được điều này, FAO và Cục Thú y đã thử nghiệm nhiều phương pháp giám sát dịch bệnh và các phương pháp này đều nhận được hỗ trợ đầu tư để tổ chức tập huấn, trang bị phần cứng và phần mềm để quản lý thông tin và được cung cấp các trang thiết bị để tạo điều kiện kiếm soát dịch bệnh Mặc dù tất cả các hoạt động này đều được đánh giá là đảm bảo về mặt kỹ thuật, FAO và Cục Thú y vẫn chưa kiểm soát được các vấn đề về giảm thiểu thiệt hại khiến các mô hình thực hiện chưa thực sự hiệu quả và vì vậy các nỗ lực đầu vào chưa thực sự cải thiện được kết quả đầu ra của hệ thống giám sát

Thêm vào đó, được xem là cấu phần của chương trình giám sát là một hoạt động có quy mô rộng để theo dõi biến đổi gene của vi rút H5N1 qua các mẫu lấy về từ ổ dịch và từ chợ gia cầm sống Hoạt động này đã và vẫn tiếp tục đóng góp quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ về vai trò của các chủng vi rút khác nhau gây ra dịch bệnh, về thời gian và địa điểm xâm nhập của vi rút , và cung cấp thông tin để làm cơ

sở lựa chọn vắc xin phù hợp Trong phân tích cuối

TÓM TẮT

Biên giới Việt Nam – Trung Quốc tại tỉnh Lạng Sơn

Trang 31

cùng, dịch được kết luận là dịch địa phương và vì

vậy mục đích của công tác giám sát khác đi một chút vì trọng tâm lúc này là để duy trì theo dõi tình hình dịch bệnh và thận trọng theo dõi vi rút để có thể

cảnh báo sớm khi có sự thay đổi quan trọng về độc tính hoặc tính trạng gien Thực tế cho thấy việc lấy mẫu liên tục theo thời gian từ các chợ gia cầm sống để phát hiện vi rút cúm gia cầm có giá trị nhất định với chương trình chung về giám sát vi rút cúm gia cầm độc lực cao H5N1 ở Việt Nam, tuy nhiên có thể

giảm bớt quy mô

Với ngành chăn nuôi ở Việt Nam, do có nhiều bệnh thường gặp ở vật nuôi với các bệnh truyền nhiễm khác ở gia cầm và thêm vào đó là các hệ thống chợ

gia cầm sống và khu vực giáp ranh còn nhiều kẽ hở với Trung Quốc đã tạo nên một môi trường rất khó kiểm soát dịch bệnh Để giải quyết được các thách thức này, dự án đã hỗ trợ cho một chương trình đầy tham vọng là tập huấn về dịch tễ học cơ bản cho các cán bộ thú y hoạt động tại thực địa Chương trình

này đã đạt được các kết quả đáng khích lệ nâng cao chất lượng dịch vụ thú y và các nỗ lực kiểm soát các loại bệnh truyền nhiễm nói chung

Trong tương lai, hiệu quả của công tác giám sát dịch bệnh phụ thuộc rất nhiều vào giá trị của sản phẩm mà người sản xuất trông đợi ở đàn gia cầm và chất lượng của ngành thú y cũng như mối quan hệ được tin tưởng giữa người chăn nuôi và cơ quan thú y Vì vậy, Việt Nam cần phải nâng cao các tiêu chuẩn chăn nuôi và thú y hơn nữa để công tác giám sát đáng tin cậy trở thành một tài sản rất quý giá của ngành thú

y Thêm vào đó, khi quốc gia đang trong giai đoạn thực hiện chuyển đổi kinh tế thì các cán bộ quản lý ở cả cấp quốc gia và địa phương sẽ đều phải coi trọng hơn nữa tầm quan trọng của chăn nuôi gia cầm đối với sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn cũng như quan tâm hơn nữa đến các môi trường chính sách và kỹ thuật cần thiết để phòng chống các biến cố tương tự khi chúng xảy ra

Hình 2.1: Sơ đồ dạng cột thể hiện số ca nhiễm cúm A H5N1 trên người tại Việt Nam hàng năm Đầu năm 2016, chương

trình tiêm phòng đại trà cho gia cầm đã được bắt đầu, kết quả là giảm được đáng kể số ca nhiễm H5N1 ở người (mũi tên màu xanh da trời phía trên đánh dấu thời điểm bắt đầu thực hiện chiến dịch tiêm phòng) (Nguồn: WHO)

Số người sống sót

Tử vong ở người

Trang 32

Giám sát dịch bệnh đã và luôn là một hợp phần

chính của hoạt động kiểm soát dịch cúm gia cầm

độc lực cao H5N1 tại Việt Nam Các lĩnh vực quan

trọng của công tác giám sát có sự trợ giúp của dự án

bao gồm: phát hiện ổ dịch, xác nhận ổ dịch, ứng phó

ổ dịch, quản lý thông tin, và theo dõi và xác định

đặc tính vi rút Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu

cho công tác giám sát là phát hiện và kiềm chế dịch

bệnh nhằm giảm tác động đến chăn nuôi gia cầm,

thu thập thông tin diễn biến của bệnh ở các loài gia

cầm để đảm bảo thông tin tốt hơn cho các chiến

thuật kiểm soát và để cung cấp thông tin kịp thời

cho ngành y tế công cộng về việc nguy cơ gia tăng

nguy cơ phơi nhiễm vi rút ở người Tình trạng dịch

bệnh nghiêm trọng nổi lên ở người được minh họa

trong Hình 2.1, cũng chỉ ra tỷ lệ giảm các ca nhiễm

ở người đi kèm với nỗ lực tiêm phòng đàn gia cầm

từ cuối năm 2005 Đặc điểm cơ bản trong một hệ

thống giám sát là việc phát hiện yếu tố bất lợi sẽ kích

hoạt công tác ứng phó đã được lập kế hoạch sẵn và vì

lý do như vậy, phần nội dung này của tài liệu sẽ nói

về việc thực hiện hợp tác tăng cường ứng phó dịch

bệnh Nói rộng ra, giám sát có thể là cả chủ động và

bị động; giám sát bị động là hệ thống thú y chỉ phản

ứng khi có thông tin về dịch bệnh được gửi về qua

các kênh thông tin; giám sát chủ động là khi cán bộ

thú y chủ động tìm kiếm thông tin về sự hiện diện

của dịch bệnh hoặc vi rút Thuật ngữ “phù hợp mục

đích” thường được sử dụng khi nói về mục tiêu của

hoạt động giám sát và tính hiệu quả chi phí, và điều

này có thể áp dụng trong bối cảnh của Việt Nam

Hệ thống cảnh báo bị động phụ thuộc vào sự phối

hợp hợp tác giữa các bên liên quan trong nỗ lực

kiểm soát dịch bệnh và thông báo về các trường

hợp giống cúm gia cầm độc lực cao cho ngành thú y

địa phương Phần lớn thông tin bệnh cúm gia cầm

độc lực cao ở Việt Nam là do hệ thống giám sát bị

động đưa về Từ lúc nhận được thông báo, các biện

pháp ứng phó tại địa phương bao gồm việc chuyển

tiếp thông tin theo hệ thống dây chuyền thông báo

dịch bệnh là những bước không thể thiếu tiếp theo

Ngay từ đầu chương trình kiểm soát, mục tiêu đặt ra

thanh toán dịch bệnh và có kỳ vọng là phát hiện sớm

tất cả ổ dịch thông qua hệ thống giám sát bị động và

nhổ tận gốc các ổ dịch này Tuy nhiên do người dân

ít báo tin hơn và thông tin được chuyển theo dây

chuyền trao đổi thông tin cũng ít hơn nên hệ thống này không còn hiệu quả như trước nữa Khi thấy rõ là không thể thanh toán dịch bệnh kể cả ngắn hạn và trung hạn thì mục tiêu của chương trình kiểm soát đổi sang thành duy trì tình hình ổn định đảm bảo số ổ dịch thấp và phòng ngừa nhiễm bệnh ở người Hiện nay, khi hệ thống giám sát phát hiện ổ dịch, các biện pháp kiểm soát tại chỗ có thể vẫn bao gồm việc giết bỏ gia cầm, tuy nhiên nhìn chung thì quy

mô đã được thu hẹp chỉ trong phạm vi các khu vực nhiễm bệnh

Việc giám sát chủ động để phát hiện bệnh rất tốn kém và hiệu quả chi phí phụ thuộc nhiều vào mức

độ lưu hành bệnh và phương pháp phát hiện Ở Việt Nam, việc huy động số lượng lớn cán bộ thú

y tham gia tìm kiếm thông tin dịch bệnh để kiểm soát gặp phải rất nhiều khó khăn cả về mặt hậu cần và tài chính, đặc biệt là với một hệ thống chợ gia cầm được tổ chức theo cách khiến việc theo dõi vận chuyển của gia cầm vốn đã và đang là việc vô cùng khó khăn Khi dịch bệnh được xác định là bệnh địa phương thì chương trình giám sát chủ động ở quy

mô lớn không còn hiệu quả về mặt chi phí nữa Tuy nhiên trong một số trường hợp, chương trình giám sát chủ động có thể mang tính mục tiêu rõ ràng và chỉ nhằm một mục đích cụ thể là phát hiện nhiễm bệnh trong một nhóm gia cầm nguy cơ cao cụ thể nào đó, ví dụ như gà thải loại nhập khẩu hoặc như trường hợp hệ thống giám sát đã được sử dụng rộng rãi từ cuối năm 2011 đến nay để phát hiện các loại vi rút ở vịt tại các chợ với mục tiêu theo dõi sự tiến hóa của vi rút Trong trường hợp này việc giám sát chủ động được coi là “phù hợp mục đích”

Mật độ phân bố của gà và vịt ở Đông Nam Á và mật

độ phân bổ về mặt thời gian và không gian của ổ dịch H5N1 ở gia cầm và các trường hợp nhiễm bệnh

ở người được thể hiện ở Hình 2.2 đến 2.5 Các số liệu cho thấy các ổ dịch liên quan đến mật độ gia cầm, tương tự như vậy đối với các ca nhiễm bệnh ở người, với tỷ lệ nhiễm cao nhất được ghi nhận ở các khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long.Điều tra ổ dịch bao gồm việc gửi mẫu về các phòng thí nghiệm chẩn đoán để xác nhận sự tồn tại của vi rút Kết quả sàng lọc sơ bộ các mẫu thu về từ các Cơ

Giới thiệu

Trang 34

quan thú y vùng có thể xác nhận sự tồn tại của vi

rút cúm A H5N1 Sau đó, các mẫu có kết quả dương

Tính được gửi về phòng thí nghiệm chủ đạo quốc

gia (Trung tâm Chẩn đoán thú y trung ương) để

phân tích thêm, trong đó có phân tích trình tự gien

để xác định nhánh nhóm vi rút Những thay đổi

trong trình tự gien sẽ cảnh báo phòng thí nghiệm

chủ đạo tiến hành kiểm tra mức độ bảo hộ của vắc

xin đối với chủng vi rút phân lập được từ thực địa

hoặc tiến hành thay đổi trình tự của cặp mồi sử dụng

để chẩn đoán phát hiện bệnh tại phòng thí nghiệm

Cơ cấu và việc quản lý các dịch vụ thú y đóng góp

quan trọng vào hiệu quả của hệ thống giám sát Tình

hình dịch bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam đã có nhiều

thay đổi kể từ năm 2003 khi ổ dịch cúm gia cầm độc

lực cao H5N1 đầu tiên được phát hiện Cục Thú y

trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

có chức năng tư vấn chính sách, hướng dẫn kỹ thuật,

thu thập thông tin và phân tích dịch bệnh, và cũng

có các chức năng kiểm dịch ở cấp quốc gia Cục Thú

y có mạng lưới gồm 7 Cơ quan thú y vùng, mỗi Cơ

quan thú y vùng đều có phòng thí nghiệm chẩn đoán

thú y và phòng dịch tễ đóng vai trò quan trọng trong

hệ thống giám sát Hoạt động kiểm soát dịch bệnh

ở tuyến đầu do các nhóm cán bộ kỹ thuật phối hợp

với đội ngũ cán bộ địa phương thực hiện Một vấn

đề quan trọng trong công tác quản lý là Cục Thú y

không có thẩm quyền quản lý trực tiếp đối với các

Chi cục thú y tỉnh hoặc các Trạm thú y huyện mà

qua Ủy ban nhân dân tỉnh và huyện và điều này gây

ảnh hưởng đến tiếp nhận thông tin ở cả hai phía

cũng như việc thiếu đồng bộ trong thực hiện chiến

lược Các cán bộ thú y của chi cục thú y làm việc

và báo cáo lên cho chính quyền tỉnh Thực tế này

cũng tương tự tại cấp huyện - ở đó Phòng Nông

nghiệp huyện chịu trách nhiệm giám sát Trạm thú

y Ở cấp xã, có thể có hoặc không có cán bộ thú y và

công việc này có thể do một cán bộ kỹ thuật nông

nghiệp chung đảm nhận Ở Chi cục thú y, có các bác

sỹ thú y được đào tạo chuyên nghiệp đảm nhận vai

trò của cán bộ kỹ thuật, tuy nhiên càng xuống các

cấp thấp hơn trong cơ cấu này thì số bác sỹ thú y có

trình độ càng ít đi Tại cấp huyện và xã, nhiều cán bộ

thú y là cán bộ kỹ thuật với trình độ kiến thức khoa

học hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực chăn nuôi và

thú y Trình độ bằng cấp và cơ cấu quản lý như vậy

có nghĩa là các hoạt động không phải lúc nào cũng

được thực hiện đồng bộ và theo đúng quy trình đề

ra, và các chính quyền địa phương ít nhiều có ảnh hưởng đến mảng kỹ thuật của chương trình giám sát Những hạn chế về mặt cơ cấu của hệ thống giám sát sẽ còn được đề cập ở các đề mục cụ thể bên dưới.Một yếu tố quan trọng khác liên quan đến hiệu quả của hệ thống giám sát là năng lực dịch tễ học của các

cơ quan thú y Ngay từ đầu dịch, thực tế đã cho thấy

sự thiếu hụt lớn cần phải giải quyết là tăng cường chất lượng kỹ thuật của công tác điều tra và báo cáo

ổ dịch cũng như quản lý thông tin Cả Cục Thú y và dự án đều coi việc giải quyết sự thiếu hụt này là nhiệm vụ ưu tiên

Trang 35

Chiến lược quốc gia về Kiểm soát dịch cúm gia cầm độc lực cao do Chính phủ Việt Nam công bố từ năm 2004 đề cao ưu tiên cho công tác giám sát bị động tại các tỉnh có nguy cơ cao với hệ thống giám sát mục tiêu dựa trên cơ sở rủi ro và áp dụng các biện pháp giám sát để

giảm thiểu lây nhiễm tập trung và phòng ngừa lây lan Kỳ vọng đặt ra lúc đó là trong vòng 4-6 năm sẽ giảm được đáng kể tỷ lệ dịch bệnh và

trong vòng 7-10 năm sẽ hình thành các khu vực không có dịch bệnh Ở giai đoạn đầu sau khi xảy ra dịch, FAO đã hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam củng cố trình độ cho đội ngũ cán bộ thú

y ở cấp tỉnh và cấp huyện, đồng thời hỗ trợ các chiến dịch nâng cao nhận thức cho người dân nhằm cảnh báo các hộ chăn nuôi về việc cần thông báo sự xuất hiện dịch bệnh Hệ thống giám sát bị động này (còn được gọi là Giám sát bệnh ở vật nuôi dựa vào cộng đồng – CADS) đã được thực hiện thí điểm ở một số tỉnh, dựa vào năng lực nhận biết và báo cáo dịch bệnh, điều tra ổ dịch và lẫy mẫu, cùng với các hoạt động ứng phó và khống chế dịch Ngoài ra FAO còn hỗ trợ đáng kể cho hệ thống giám sát này thông qua việc hỗ trợ điều chỉnh phần mềm quản lý thông tin dịch bệnh của FAO cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam (ví dụ như dịch giao diện phần mềm sang tiếng Việt, tích hợp các cơ

sở dữ liệu tên địa phương vào hệ thống) và thiết lập thành một ứng dụng chung trên web kết nối với các chi cục thú y với Cục Thú y

Đầu năm 2006, một số hạn chế trong hệ thống Đầu năm 2006, một số hạn chế trong hệ thống giám sát bắt đầu thể hiện rõ ràng hơn do ảnh hưởng của hai nguyên nhân cùng lúc Các hộ chăn nuôi bắt đầu giảm dần lo ngại về dịch bệnh sau khi chương trình tiêm phòng được bắt đầu thực hiện cuối năm 2005, và “sự mệt mỏi với dịch cúm gia cầm độc lực cao” của các bên liên quan Các hộ chăn nuôi nhỏ không lo lắng nhiều về nguy cơ lây bệnh sang người, và họ

cũng giảm dần việc thông báo dịch bệnh bởi lý

do là số tiền đền bù cho những thiệt hại do tác động của hoạt động chống dịch (ví dụ như giết hủy gia cầm khỏe mạnh và hạn chế bán gia cầm để được đền bù của nhà nước cao hơn), sự hỗ trợ của nhà nước không thỏa đáng khiến người dân không báo cáo dịch bệnh Một thực tế nữa là dịch cúm gia cầm độc lực cao H5N1 có thể cứ

âm ỉ diễn ra trong số gà thả vườn và không có biểu hiện gì khác với các bệnh dịch địa phương khác, đặc biệt là bệnh Newcastle hoặc bệnh tụ huyết trùng Và như vậy việc tiêm phòng đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ gia cầm chết ở quy mô lớn tại các trang trại nhỏ đồng thời khiến sụt giảm lượng thông tin báo cáo dịch bệnh trong hệ thống giám sát và có vẻ như tình trạng dịch bệnh đối với gà thả vườn còn bị báo cáo thấp hơn mức thực tế Một yếu tố khác khiến việc báo cáo dịch bệnh giảm đi là việc xác nhận dịch cúm gia cầm độc lực cao H5N1 cũng có nghĩa là khu vực có gia cầm nhiễm bệnh sẽ phải tuân thủ quy định hạn chế buôn bán gia cầm và các sản phẩm gia cầm trong vòng 21 ngày Việc này

sẽ gây ảnh hưởng đến kinh tế cho người dân, cho nên mặc dù cơ quan chính quyền tăng cường thực hiện các biện pháp kiểm soát tại địa phương nhưng lại không báo cáo về các trường hợp nghi nhiễm bệnh lên Cục Thú y

Tình hình giám sát dịch bệnh giai đoạn 2004-2006

Trang 37

Hình 2.5: Phân bố không gian của các ổ dịch cúm A H5N1 ở người tại Việt nam tính theo các giai đoạn (các năm)

2003 - 2004

Trong giai đoạn này, dự án đã hỗ trợ đáng kể

cho Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện kết quả giám sát bằng việc thử nghiệm một số

mô hình tại địa bàn thực tế Mục đích của mỗi

mô hình là nâng cao hiệu quả đến mức cao nhất của công tác phát hiện và báo cáo dịch bệnh, đồng thời tăng cường ứng phó ổ dịch bao gồm điều tra và chẩn đoán xác nhận Các hoạt động thực tế tại địa bàn do cán bộ địa phương thực hiện tại các tỉnh thí điểm dưới sự hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp của Cục Thú y Quỹ Tín thác Nhật Bản đã hỗ trợ một mô hình và USAID hỗ trợ hầu hết các mô hình khác Cùng với các hoạt động tại địa bàn các tỉnh thí điểm dự án, đội ngũ cán bộ dự án đã tham gia giám sát chu trình thông tin để giảm độ vênh thông tin giữa các nguồn tin khác nhau, nhập dữ liệu liên tục vào cơ sở dữ liệu của dự án, cập nhật bản đồ

không gian và thời gian của các ổ dịch và các chủng vi rút (các phân nhánh), đồng thời cung cấp thông tin cho các hệ thống thông tin cúm gia cầm toàn cầu như GLEWS (Hệ thống cảnh báo sớm toàn cầu cho dịch cúm gia cầm độc lực cao) và EMPRES-I (hệ thống thông tin của FAO dùng để theo dõi các bệnh khẩn cấp)

Trong mô hình do Quỹ Tín thác Nhật Bản hỗ

trợ, giám sát dựa trên rủi ro được các cán bộ thú

y địa phương thực hiện tại 4 tỉnh và huyện Mô hình này bao gồm các yếu tố của hệ thống cảnh báo có sự tham gia đã thực hiện ở Indonesia, và đặc biệt có sự cam kết của các ban chỉ đạo phòng chống cúm gia cầm tại cấp tỉnh, huyện và xã Trước tiên, một đánh giá nhu cầu đã được thực hiện để tìm hiểu về nguồn nhân lực và cách thức tổ chức của các hoạt động thú y cũng như các cơ quan phòng chống dịch bệnh tại mỗi cấp hành chính trong trường hợp xảy ra dịch Tiến hành đánh giá kinh nghiệm từ các đợt dịch trước để hiểu rõ hơn các hạn chế và yêu cầu đối với các hoạt động dự án tại các tỉnh đã lên kế hoạch với chính quyền địa phương và cơ quan thú y Sau đó, các cán bộ dự án tiến hành các hoạt động cần thiết để tăng cường hệ thống giám sát tùy theo kết quả đánh giá nhu cầu như cung cấp trang thiết bị, tổ chức tập huấn đào tạo để chuẩn hóa các hoạt động kiểm soát tại địa bàn Thêm vào đó, các cán bộ dự án đã có mặt tại địa bàn để chia sẻ kiến thức kỹ thuật và

áp dụng an ninh sinh học và giám sát dịch bệnh phù hợp với điều kiện tại địa phương Các hoạt động trong mô hình này cũng lồng ghép và hỗ trợ chức năng của đường dây nóng cúm gia cầm độc lực cao tại các tỉnh thí điểm để thông báo về các trường hợp nghi ngờ Dự án cũng cố gắng chuẩn hóa công tác thu thập dữ liệu tại các khâu

Hoạt động giám sát dịch bệnh giai đoạn 2006 - 2010

Chú giải

Chú giải

Trang 38

khác nhau của quy trình giám sát Cách thức

báo cáo đơn giản nhất đã được thiết lập để giúp

các cán bộ thu thập thông tin qua đường dây

nóng có thể chia sẻ thông tin đến các các trạm

thú y liên quan Các biểu mẫu phiếu điều tra ổ

dịch cũng đã được xây dựng để giúp các trạm

thú y có thể hỗ trợ đánh giá các trường hợp

nghi nhiễm cúm gia cầm độc lực cao và hỗ trợ

việc báo cáo về chi cục thú y Biểu mẫu thứ ba

đã được chuẩn hóa để hỗ trợ việc gửi mẫu bệnh

phẩm và gia cầm chết để điều tra tại phòng thí

nghiệm Cuối cùng, mẫu phiếu đánh giá được

gửi đến các xã hàng tháng để hỗ trợ công tác

báo cáo về tình hình dịch bệnh chung Công

tác hỗ trợ chu trình thông tin giám sát đã nhận

được rất nhiều sự chú ý

Mô hình dự án này mới được đưa vào thực hiện

một năm nay nhưng đã tạo ra được những ảnh

hưởng quan trọng, không phải ở phương diện

số lượng ổ dịch được phát hiện (số ổ dịch xuất

hiện trong thời gian này thấp), mà bởi vì mô

hình này khiến các cơ quan chính quyền và các

cán bộ thú y địa phương cảm nhận rõ quyền sở

hữu của mình trong việc đề ra các hình thức

giám sát và thực hiện thu thập tin tức Khi dự

án kết thúc, một số tỉnh bày tỏ mong muốn

được tiếp tục các hoạt động này bằng nguồn lực

địa phương, tuy nhiên chưa có quy định chính

thức về việc này

Một mô hình giám sát bị động đối với cúm

gia cầm độc lực cao H5N1 nhằm tăng cường

liên kết với các hộ sản xuất và củng cố công tác

điều tra ổ dịch được USAID tài trợ đã thu hút

được sự tham gia của các cơ quan thú y huyện

và tỉnh Các cán bộ của cơ quan thú y huyện và

và chi cục thú y được hỗ trợ tiền đi lại để về địa

bàn điều tra các báo cáo dịch bệnh, và để gửi

các mẫu bệnh phẩm đến các phòng thí nghiệm

chẩn đoán Thêm vào đó là việc tổ chức khóa

tập huấn bổ sung cần thiết về lấy mẫu, gửi mẫu,

và xây dựng các quy trình thực hành chuẩn

trong điều tra và ứng phó ổ dịch

Cùng với hệ thống giám sát bị động, hai hoạt động hỗ trợ đã được tiến hành để đánh giá sự

ưu việt của hệ thống trong việc nâng cao số lượng ổ dịch được báo cáo Thứ nhất là thành lập đường dây nóng tại các tỉnh dự án để báo cáo về các trường hợp nghi bệnh Hoạt động này đã được duy trì trong 2 năm Thứ hai là việc các cán bộ thú y xã thuộc một tỉnh dự án vào cuối năm 2008 đã thử nghiệm dịch vụ gửi tin nhắn để báo cáo về các trường hợp bị nhiễm bệnh Hoạt động thử nghiệm báo tin qua tin nhắn không nhận được sự cam kết và gắn bó của các cán bộ xã tham gia nên sau đó đã không được tiếp tục thực hiện nữa

Trong khi FAO tham gia vào mô hình giám sát truyền thống có sự tham gia của Cục Thú y-Chi cục thú y-Trạm thú y huyện thì tổ chức Abt Associates (một đối tác khác của USAID) hỗ trợ cán bộ thú y tại các thôn điều tra và báo cáo các trường hợp nghi ngờ nhiễm cúm gia cầm độc lực cao Cuối năm 2009, thông tin đầu tiên nổi lên từ dự án Thu thập bằng chứng cho việc chuyển đổi chiến lược tiêm phòng cúm gia cầm độc lực cao H5N1 ở Việt Nam đã cho thấy chính cấp xã, hoặc tổ trưởng tổ thú y xã, là những mắt xích cuối cùng của hệ thống thú y được công nhận chính thức, là nguồn thông tin đáng tin cậy về tình hình dịch bệnh tại địa bàn

Dự án phối hợp với một số Chi cục thú y đã xây dựng một mô hình mới hỗ trợ riêng cho cán bộ thú y xã tại 5 tỉnh dự án Mô hình này được gọi là Giám sát dựa vào cộng đồng được liên kết với chương trình của tổ chức Abt Associates do có

sự trùng lặp cùng một địa điểm thực hiện các hoạt động dự án Mô hình này được coi là giám sát chủ động bởi cứ mỗi tháng hai lần (vào mùa

có nguy cơ cao) hoặc một lần cán bộ thú y xã

sẽ đến tất cả các thôn trong xã Mô hình này

đã được áp dụng trong 6 tháng và sau đó được điều chỉnh thêm trong 3 tháng để phát triển thành hệ thống giám sát dựa trên sự cố Trong

mô hình này, giám sát chủ động được thực hiện tích cực tại các xã lân cận với ổ dịch đã được xác nhận là cúm gia cầm độc lực cao

Trang 39

Giám sát vi rút chủ động tại các chợ buôn bán gia cầm sống sẽ được đề cập ở phần sau, tuy nhiên ý tưởng này cũng xuất phát từ những quan sát của dự án Thu thập bằng chứng cho việc chuyển đổi chiến lược tiêm phòng cúm gia cầm độc lực cao H5N1 ở Việt Nam Trong dự

án đó người ta đã thấy là tỷ lệ phát hiện vi rút

tại chợ cao hơn gấp 10 lần so với việc lấy mẫu

ở địa bàn Một điều tra thí điểm thực hiện tại các chợ đã được tiến hành tại một tỉnh dự án và

đã phát hiện thành công vi rút cho thấy đây có thể là khu vực mang lại hiệu quả cao cho hoạt động này

Đầu năm 2004, Cục Thú y ban hành văn bản hướng dẫn phòng chống cúm gia cầm trong bối cảnh dịch bệnh đang lan rộng và chỉ có ít

cơ hội hoặc không có cơ hội tập huấn cho các cán bộ làm việc tại địa bàn Trong giai đoạn hỗ

trợ ban đầu của FAO, Việt Nam đã nhận được số lượng lớn các thiết bị bảo hộ cá nhân và chất khử trùng cộng với một số hoạt động đào tạo nhất định theo đúng mục đích Với sự hỗ trợ

từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có FAO, Cục Thú y đã tổ chức một chương trình đào tạo quy mô lớn cho toàn bộ cán bộ kỹ thuật tham gia ứng phó ổ dịch, đặc biệt là ở các khu vực nguy cơ cao Tuy nhiên, có một số ý kiến

lo ngại cho rằng dù số người được đào tạo rất

ấn tượng nhưng vẫn tồn tại một số thiếu sót trong các quy trình thực hành chuẩn Một số chuyên gia quốc tế nhận thấy việc quản lý các tình huống dịch bệnh khẩn cấp ở vật nuôi tại Việt Nam có những đặc trưng nhất định - các lãnh đạo ngành thú y thực ra không quản lý gì được nhiều trong công tác kiểm soát việc thực hiện các biện pháp kiểm soát dịch bệnh bởi vì việc này thuộc thẩm quyền của cấp chính quyền địa phương Ngành thú y chỉ có thể đưa ra tư vấn kỹ thuật Hệ thống ứng phó ổ dịch lý tưởng là phải có các cán bộ được đào tạo bài bản để

có thể giám sát các hoạt động tại địa phương và giao nhiệm vụ và trách nhiệm theo cẩm nang hướng dẫn chuẩn Đó chính là Phương pháp

Xây dựng năng lực ứng phó dịch bệnh giai đoạn 2006-2010

Trang 40

Trung tâm ứng phó ổ dịch, tuy nhiên lại không

thực hiện được như vậy ở Việt Nam do sự phân

chia vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa

phương Chính vì vậy, một loạt hoạt động điều

phối cần thiết để kiểm soát ổ dịch hiệu quả đã

được đưa vào phiếu ghi công việc và thực hiện

ở nhiều khu vực có nguy cơ cao, tập huấn kỹ

thuật cũng được tổ chức cho cán bộ thú y Tuy

nhiên, không thể lồng ghép phương pháp phiếu

công việc vào các thông tư hướng dẫn quản lý

ứng phó ổ dịch

Năm 2006, một chương trình tập huấn để tăng

cường điều tra và ứng phó ổ dịch đã được thực

hiện trên khắp các địa phương ở Việt Nam với

sự hỗ trợ của một số dự án khác Tuy nhiên, việc

tiến hành tập huấn ở tất cả trường hợp đều được

Cục Thú y chỉ đạo kỹ thuật và điều đó đã đảm bảo

tính đồng bộ và tuân thủ chính sách kiểm soát

dịch bệnh theo nghị định của chính phủ Chương

trình tập huấn đã diễn ra rất tốt và đã áp dụng

phương pháp xử lý xác gia cầm chết để đào tạo

cán bộ của Chi cục thú y và các trạm thú y phù

hợp trở thành giảng viên Trong hợp phần đào

tạo năm 2007 của dự án, khoảng 368 học viên từ

211 huyện của 22 tỉnh miền Nam đã được tham

gia các khóa tập huấn thực tế Kết quả của nỗ lực

này đã giúp nâng cao sự đồng bộ trong các hoạt động ứng phó do các chính quyền địa phương thực hiện Tuy nhiên, dự án cho rằng công tác quản lý sẽ năng động và đồng bộ hơn nếu các quy định hướng dẫn chi tiết hơn Thêm vào

đó, thực tế cho thấy quy trình điều tra ổ dịch thường xuyên thay đổi và không phải lúc nào cũng kết thúc bằng chẩn đoán của phòng thí nghiệm Để khắc phục các hạn chế này, dự án đã hỗ trợ xây dựng Quy trình thực hành chuẩn chi tiết hơn để quản lý ổ dịch và thực hiện điều tra

ổ dịch Đặc biệt, đã nhấn mạnh nhiều hơn vào các hoạt động truy xuất xuôi và truy xuất ngược trong điều tra và như đã đề cập ở phần trước, việc lấy mẫu và nộp mẫu bệnh phẩm cũng được đặc biệt chú trọng Đặc điểm chung của Quy trình thực hành chuẩn trong ứng phó ổ dịch là tất cả các vai trò trách nhiệm trong hoạt động ứng phó đều được ghi rõ trong phiếu công việc Tuy nhiên có điều rõ ràng là một số vai trò trong khuôn khổ công tác phòng chống dịch bệnh ở cấp huyện và đặc biệt là cấp xã lại do các thành viên không có chuyên môn kỹ thuật của Ban chỉ đạo cúm gia cầm độc lực cao tại địa phương đảm nhận Thực tế này đòi hỏi họ phải được đào tạo bài bản để đảm bảo hoạt động ứng phó khẩn cấp có tính liên kết tốt hơn

Năm 2011, với sự hỗ trợ của Cục Thú y, một

chuyên gia tư vấn quốc tế đã tiến hành đánh giá

cả mô hình giám sát bị động và chủ động đã nêu

ở phần trên

Đánh giá những hoạt động hỗ trợ

dành cho hệ thống giám sát bị động

Hệ thống giám sát bị động dựa vào cộng đồng

đã được hỗ trợ thực hiện tại 5 tỉnh dự án trong

vòng 3 năm Nhìn chung, thực tế cho thấy mô

hình đã mô tả ở phần trên không giúp tăng

thêm độ nhạy cảm của hệ thống giám sát bởi vì

số lượng báo cáo không có thay đổi gì đáng kể

trong thời gian diễn ra hoạt động này Rõ ràng là việc hỗ trợ tài chính để tạo điều kiện cho công tác giám sát của ngành thú y đã không giúp khắc phục các hạn chế tồn tại trong hợp phần thú y của quy trình Có một điểm đáng chú ý trong báo cáo đánh giá là ngành thú y đã bớt

lo ngại hơn thời gian trước đây về ảnh hưởng của dịch bệnh đối với chăn nuôi gia cầm bởi kinh nghiệm cho thấy các ổ dịch tại địa phương thường “được giải quyết” mà không cần đến sự can thiệp nào Mặc dù năng lực tác nghiệp tại địa bàn đã được tăng cường trong những năm qua, một số ổ dịch quan trọng vẫn cần phải có

sự hỗ trợ ở cấp quốc gia bởi những bệnh này là

Các hoạt động giám sát dịch bệnh giai đoạn 2011-2014

Ngày đăng: 20/05/2021, 12:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w