Câu 1: Phân tích các cấp độ trong quản lý chất lượng và xác định xem trong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ nào trong quản lý chất lượng là phù hợp? Hãy giải thích tại sao? TRẢ LỜI 1. Kiểm soát chất lượng (Quality Control) Trên thực tế, tư tưởng về quản lí chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưng mang tính tự phát. Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công đã làm việc vừa với tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cách khắc phục những khiếm khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là có chất lượng tốt. Nhận thức về tiêu chuẩn chất lượng đượcghi nhận vào thế kỉ XVIII, khi Honore Le Blannc, một nhà sản xuất người Pháp đã phát triển một hệ thống sản xuất đúng tiêu chuẩn với các chi tiết có khả năng lặp lại nhiều lần. Nhưng trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỉ XX, khi Frederick Winslow Taylor (18561915) đưa ra thuyết “Quản trị theo khoa học”. Bằng cách chia công việc thành từng phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tập trung vào phần việc của mình, bảo đảm chất lượng được giao cho nhân viên kiểm soát. Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người ta dựa vào bộ phận “kiểm soát chất lượng”. “Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa học quản lí. Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó. Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi. Thanh tra nội bộ và thử nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất. Hệ thống chất lượng dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất. Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận. Vì thế, cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu. Trong nhà trường phổ thông việc kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua các kỳ kiểm trathi khi kết thúc môn học, năm học hay tốt nghiệp. Mục đích của các kỳ thikiểm tra này là xác định mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình học tập 2. Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” thực chất là loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu – đã không làm thoả mãn các nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ và cả khách hàng của họ. Thuật ngữ “đảm bảo chất lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỉ XX, khi nhân viên bộ phận kiểm soát chất lượng của Công ty Western Electric (Mỹ) được giao nhiệm vụ phát triển lí thuyết mới và phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến và duy trì chất lượng dịch vụ. Những người tham gianhóm cùng Walter Shewhart, Harold Dodge, George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiết lập ra hệ thống đảm bảo chất lượng mà họ còn phát triển nhiều kĩ thuật hữu ích để cải tiến chất lượng và giải quyết những vấn đề liên quan đến chất lượng. “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lí đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814). Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện. Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào. Đảm bảo chất lượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kĩ thuật một cách ổn định. Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ. Hệ thống đảm bảo chất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào. Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền. Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng. Các tiêu chuẩn chất lượng được duy trì bằng cách tuân thủ qui trình vạch ra trong hệ thống đảm bảo chất lượng. Đảm bảo chất lượng quan tâm đến kiểm soát hệ thống chất lượng, Kiểm soát quá trình bằng thống kê (Statistical Quality Control – SQC), phân tích nhân quả để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự không trùng hợp.Để đánh giá và duy trì hệ thống đảm bảo chất lượng, sự can thiệp của bên ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến như Thanh tra chất lượng (Quality Inspection) và Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation). Trong giáo dục phổ thông đảm bảo chất lượng được thực hiện bởi một hệ thống các biện pháp bao gồm: thi tuyển đầu vào (lớp 10), các hình thức kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ trong suốt năm học. Trong giáo dục đại học, cao đẳng các hình thức đảm bảo chất lượng diễn ra đa dạng và phong phú hơn. Ngoài hình thức thi tuyển đầu vào khá chặt chẽ, nghiêm túc, cạnh tranh cao, các hình thức kiểm tra đanh giá diễn ra trong suốt quá trình đào tạo là chính là các biện pháp “phòng ngừa” giúp sinh viên tự hoàn thiện để cuối cùng đạt chất lượng. Ngoài ra các điều kiện đảm bảo chất lượng khác, như chương trình, học liệu, các phòng. thí nghiệm, xưởng thực hành… cũng góp phần đảm bảo và nâng cao chấtlượng đào tạo. 3. Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management) Thuật ngữ “Quản lí chất lượng tổng thể” (Total Quality Management TQM) được A.V.Feigenbaum sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX. TQM đã bén rễ trên thực tế từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi hai chuyên gia người Mỹ về chất lượng Dr. Joseph Juran vàDr.W.Edwards Deming đã giới thiệu kĩ thuật kiểm soát quá trình bằng thống kê cho người Nhật. Và kết quả là cải tiến chất lượng tại Nhật đã diễn ra một cách vững chắc. Đến đầu thập niên 70 của thế kỉ XX “chất lượng Nhật Bản” đã không có đối thủ nào sánh kịp. Đến thập niên 80 “cuộc cách mạng chất lượng” đã được hưởng ứng ở Mỹ, dần lan rộng trên khắp thế giới. Chất lượng toàn diện được bàn đến ngày càng nhiều trong các cuốn sách, giáo trình và công trình khoa học. TQM đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng, nhưng mở rộng và phát triển thêm. quản lí chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá chất lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên, của toàn bộ nhân viên là làm hài lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm điều này. Trong quan niệm về chất lượng toàn diện, khách hàng là thượng đẳng. Điều này có nghĩa là công việc của mỗi thành viên trong tổ chức phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể. Đó là cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cách thức họ cần, thoả mãn và vượt cả những mong đợi của họ. sản theo quy định; quy chế chi tiêu nội bộ được bổ sung, cập nhật phù hợp với điều kiện thực tế và các quy định hiện hành 2.6. Hệ thống thông tin Trường có kết nối internet và hệ thống Wifi phủ sóng toàn trường phục vụ tốt các hoạt động giáo dục, hành chính 2.7. Quan hệ với cộng đồng Nhà trường luôn tạo mối quan hệ tốt với CMHS, nhân dân địa phương, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể của xã Phước Đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục trong nhà trường, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng CSVC trường học và xây dựng môi trường xã hội giáo dục học sinh. Nhà trường phối hợp với Ban đại diện CMHS tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học và các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả, III. Nhiệm vụ và giải pháp 1. Phát triển hoạt động giáo dục 1.1. Phát triển giáo dục Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường về vai trò, vị trí và sự cần thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể sư phạm đối với sự nghiệp phát triển nhà trường. Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa chính quyền và Công đoàn trong nhà trường. Tăng cường kiểm tra các hoạt động chuyên môn trong nhà trường. Đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý và công khai hóa, minh bạch hoạt động giáo dục của nhà trường. Tiếp tục triển khai các chuyên đề về đổi mới phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục “Lấy học sinh làm trung tâm”, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, chú trọng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, thực hiện kiểm tra đánh giá nhằm khắc phục những hạn chế sớm tạo ra được sự chuyển biến cụ thể về chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo của nhà trường; Nâng cao chất lượng các hoạt động khám phá, trải nghiệm, thí nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức các hoạt động giáo dục. 1.2. Đảm bảo chất lượng 1.2.1. Các điều kiện đảm bảo chất lượng 1.2.1.1 Thể chế và chính sách: Xây dựng cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và quy chế chi tiêu nội bộ theo hướng phát huy nội lực, khuyến khích phát triển cá nhân và tăng cường hợp tác với bên ngoài. Hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chế về mọi hoạt động trong trường học mang tính đặc thù của trường đảm bảo sự thống nhất. Duy trì xây dựng và cụ thể hóa Quy chế dân chủ và Quy tắc ứng xử trong trường học, tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả. 1.2.1.2 Tổ chức bộ máy: Kiện toàn cơ cấu tổ chức, phân công bố trí lao động hợp lý, phát huy năng lực, sở trường của từng CB, GV, NV phù hợp với yêu cầu giảng dạy, công tác. Tiếp tục thực hiện phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền chủ động cho các tổ chuyên môn trong trường. 1.2.1.3. Đổi mới quản lý và dạy học: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đội ngũ về yêu cầu đổi mới, thay đổi tư duy kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội. Hàng năm, mỗi cán bộ quản lý, giáo viên tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của bản thân trong công tác để từ đó xây dựng và có biện pháp phấn đấu thực hiện nhằm tạo uy tín, xây dựng thương hiệu cho bản thân mình. Từ kết quả kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên trong năm học qua, ngay từ đầu năm học mới, mỗi giáo viên tiếp tục xây dựng kế hoạch cá nhân thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình trường tiểu học mới trong năm học. BGH và tổ chuyên môn có kế hoạch tổ chức kiểm tra, ghi nhận, đánh giá mức độ, hiệu quả đổi mới ở từng thời điểm trong năm học nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời, nâng cao chất lượng giáo dục. Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên phải phù hợp với đối tượng học sinh, đặc điểm tình hình thực tế trên lớp. Giáo viên vận dụng sáng tạo, hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có để thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục. Thực hiện dạy học và đánh giá kết quả dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình, chú trọng phát triển năng lực học sinh. Thực hiện Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy: sử dụng các phần mềm hỗ trợ cho soạn giảng, nâng cao hiệu quả giờ dạy. Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học sẵn có và tăng cường làm thêm ĐDDH để nâng cao hiệu quả giảng dạy, chuẩn bị chu đáo phương tiện hỗ trợ các hoạt động trong tiết dạy. 1.2.2. Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng 1.2.2.1 Quản lý hoạt động chuyên môn: Dự giờ, kiểm tra chuyên môn đảm bảo đánh giá, phản ảnh đúng năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, việc thực hiện quy chế chuyên môn của từng giáo viên. Tổ chức theo dõi, đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học đúng quy trình, có đủ cơ sở đánh giá đúng thực chất (hồ sơ minh chứng). Chỉ đạo giảng dạy và đánh giá học sinh theo chương trình GDPT 2018. Tổ chức phổ biến, quán triệt đến giáo viên việc thực hiện dạy học, đánh giá kết quả dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, đánh giá học theo Thông tư 302014TTBGDĐT Thông tư 222016TTBGDĐT; TT 272020TTBGDĐT và tổ chức theo dõi, kiểm tra, tư vấn, hỗ trợ thường xuyên thông qua các hình thức dự giờ, kiểm tra chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn, ... Tổ chức chuyên đề, hội thảo chia sẻ, học tập thực hiện đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học, phương pháp đánh giá học sinh, đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện theo yêu cầu. Tăng cường trật tự kỉ cương, xây dựng và củng cố nề nếp, thực hiện tốt quy chế dân chủ, bố trí sử dụng hợp lí đội ngũ, kịp thời giải quyết khiếu nại tố cáo, tránh để vượt cấp. kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế họach dạy học, thực hiện quy chế chuyên môn, đánh giá xếp lọai học sinh, tránh chạy theo bệnh thành tích. Chú trọng việc tổ chức các hoạt động chuyên môn như hội thảo, chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, phong trào thi đua Hai tốt, … tập
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI KIỂM TRA TIỂU LUẬN
Trang 2Hạn nộp bài theo qui định: ngày tháng 02 năm 2021
Thời gian nộp bài: ngày tháng 02 năm 2021
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm: Giảng viên (kí tên):
Trang 3Câu 1: Phân tích các cấp độ trong quản lý chất lượng và xác định xemtrong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ nào trong quản
lý chất lượng là phù hợp? Hãy giải thích tại sao?
TRẢ LỜI
1 Kiểm soát chất lượng (Quality Control)
Trên thực tế, tư tưởng về quản lí chất lượng xuất hiện rất sớm, nhưngmang tính tự phát Từ trước cách mạng công nghiệp, những người thợ thủ công
đã làm việc vừa với tư cách là người sản xuất vừa là người kiểm tra, tìm cáchkhắc phục những khiếm khuyết trong thao tác để tạo ra sản phẩm mà họ cho là
có chất lượng tốt Nhận thức về tiêu chuẩn chất lượng đượcghi nhận vào thế kỉXVIII, khi Honore Le Blannc, một nhà sản xuất người Pháp đã phát triển một hệthống sản xuất đúng tiêu chuẩn với các chi tiết có khả năng lặp lại nhiều lần
Nhưng trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỉ XX, khiFrederick Winslow Taylor (1856-1915) đưa ra thuyết “Quản trị theo khoa học”.Bằng cách chia công việc thành từng phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tậptrung vào phần việc của mình, bảo đảm chất lượng được giao cho nhân viênkiểm soát Để đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất một cách chính xác, người
ta dựa vào bộ phận “kiểm soát chất lượng”
“Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoahọc quản lí Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩmcuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó Đây là công đoạnxảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏhoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Thanh tra nội bộ và thửnghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất Hệ thống chất lượngdựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất Các tiêu chíchất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận Vì thế,cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lạicác sản phẩm không đạt yêu cầu Trong nhà trường phổ thông việc kiểm soátchất lượng được thực hiện thông qua các kỳ kiểm tra/thi khi kết thúc môn học,
Trang 4năm học hay tốt nghiệp Mục đích của các kỳ thi/kiểm tra này là xác định mức độđạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình học tập
2 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)
Với sự phát triển, mở rộng sản xuất, “kiểm soát chất lượng” - thực chất làloại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu – đã không làm thoả mãn các nhà sảnxuất, cung ứng dịch vụ và cả khách hàng của họ Thuật ngữ “đảm bảo chấtlượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỉ XX, khi nhân viên bộ phận kiểm soátchất lượng của Công ty Western Electric (Mỹ) được giao nhiệm vụ phát triển líthuyết mới và phương pháp mới để kiểm soát việc cải tiến và duy trì chất lượngdịch vụ Những người tham gianhóm cùng Walter Shewhart, Harold Dodge,George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiếtlập ra hệ thống đảm bảo chất lượng mà họ còn phát triển nhiều kĩ thuật hữu ích
để cải tiến chất lượng và giải quyết những vấn đề liên quan đến chất lượng
“Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, đượctiến hành trong hệ thống quản lí đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo
sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chấtlượng” (TCVN 5814)
Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ratrước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những saiphạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngaytrong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩnnghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảo chấtlượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kĩ thuật một cách ổn định Chất lượng của sảnphẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ Hệ thống đảm bảochất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩnnào Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền Đảm bảochất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trongcác đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng
có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng Các tiêu chuẩn chất
Trang 5lượng được duy trì bằng cách tuân thủ qui trình vạch ra trong hệ thống đảm bảochất lượng Đảm bảo chất lượng quan tâm đến kiểm soát hệ thống chất lượng,Kiểm soát quá trình bằng thống kê (Statistical Quality Control – SQC), phân tíchnhân quả để có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự khôngtrùng hợp.Để đánh giá và duy trì hệ thống đảm bảo chất lượng, sự can thiệp củabên ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến như Thanh tra chấtlượng (Quality Inspection) và Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation).Trong giáo dục phổ thông đảm bảo chất lượng được thực hiện bởi một hệ thốngcác biện pháp bao gồm: thi tuyển đầu vào (lớp 10), các hình thức kiểm tra đánhgiá thường xuyên và định kỳ trong suốt năm học Trong giáo dục đại học, caođẳng các hình thức đảm bảo chất lượng diễn ra đa dạng và phong phú hơn.Ngoài hình thức thi tuyển đầu vào khá chặt chẽ, nghiêm túc, cạnh tranh cao, cáchình thức kiểm tra đanh giá diễn ra trong suốt quá trình đào tạo là chính là cácbiện pháp “phòng ngừa” giúp sinh viên tự hoàn thiện để cuối cùng đạt chấtlượng Ngoài ra các điều kiện đảm bảo chất lượng khác, như chương trình, họcliệu, các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành… cũng góp phần đảm bảo và nângcao chấtlượng đào tạo.
3 Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management)
Thuật ngữ “Quản lí chất lượng tổng thể” (Total Quality Management TQM) được A.V.Feigenbaum sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX
-TQM đã bén rễ trên thực tế từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, khihai chuyên gia người Mỹ về chất lượng Dr Joseph Juran vàDr.W.Edwards Deming
đã giới thiệu kĩ thuật kiểm soát quá trình bằng thống kê cho người Nhật Và kết quả
là cải tiến chất lượng tại Nhật đã diễn ra một cách vững chắc Đến đầu thập niên
70 của thế kỉ XX “chất lượng Nhật Bản” đã không có đối thủ nào sánh kịp.Đến thập niên 80 “cuộc cách mạng chất lượng” đã được hưởng ứng ở Mỹ,dần lan rộng trên khắp thế giới Chất lượng toàn diện được bàn đến ngày càngnhiều trong các cuốn sách, giáo trình và công trình khoa học TQM đồng nghĩavới đảm bảo chất lượng, nhưng mở rộng và phát triển thêm quản lí chất lượng
Trang 6tổng thể tạo ra văn hoá chất lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên, củatoàn bộ nhân viên là làm hài lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của
cơ sở cho phép họ làm điều này Trong quan niệm về chất lượng toàn diện,khách hàng là thượng đẳng Điều này có nghĩa là công việc của mỗi thành viêntrong tổ chức phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể Đó
là cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cáchthức họ cần, thoả mãn và vượt cả những mong đợi của họ
TQM là tầng bậc cao nhất nếu so sánh với các cấp độ khác trong quản líchất lượng Tính thứ bậc của quan hệ chất lượng trong quản lí có thể khái quáttrong sơ đồ về tầng bậc của khái niệm chất lượng (Phỏng theo sơ đồ của SallisE.) sau đây:
Sự tiến triển theo tầng bậc của phương thức quản lí chất lượng đã chothấy ưu điểm nổi trội của TQM
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng vàTQM là rất mềm dẻo Trong thực tế các cấp độ chất lượng đan xen, hỗ trợ lẫnnhau trong một tổ chức, quản lí chất lượng tổng thể là sự tiếp tục của đảm bảochất lượng theo chiều sâu, với sự hiện diện của văn hóa chất lượng, đảm bảochất lượng là sự mở rộng phạm vi quản lí chất lượng tới mọi thành viên của tổchức Còn ở nhiều khâu, kiểm soát chất lượng vẫn cần thiết trong hệ thống đảmbảo chất lượng Thông thường kiểm soát chất lượng được chuyển giao cho cấpđiều hành hay tốt hơn là do những người sản xuất trực tiếp đảm nhiệm
m b o ch t Đảm bảo chất ảm bảo chất ất
l ượng ng (Quality Assurance)
Trang 7Trong điều kiện cụ thể của giáo dục Việt Nam hiện nay thì cấp độ “Đảm bảochất lượng” là phù hợp bởi “Chất lượng là sự phù hợp vớimục tiêu” Đây là mộtđịnh nghĩa phù hợp nhất đối với giáo dục nước ta Mục tiêu trong định nghĩa nàyđược hiểu theo nghĩa rộng và do từng nhà trường xác định.
Năm học 2020-2021, ngành Giáo dục tập trung triển khai Kế hoạch thựchiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiệnNghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo; Kế hoạch thực hiện Kết luận số 49-Toàn ngành tiếp tục tập trung thựchiện 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu Mục tiêu xuyên suốt trong 9 nhóm nhiệm vụ chủyếu năm học 2020-2021 là tiếp tục đổi mới và đảm bảo chất lượng giáo dục
Để đảm bảo chất lượng giáo dục, Chỉ thị đặt ra nhiệm vụ quan trọng làthúc đẩy chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dụcđào tạo Trong đó, tập trung hoàn thiện chính sách phát triển phương thức giáodục đào tạo trực tuyến, quản lý giáo dục trên môitrường mạng Phát triển khohọc liệu số toàn ngành; triển khai hiệu quả hệ thống quản lý học tập qua mạng
để bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý theo phương thức thường xuyên, liên tụcngay tại nhà trường
1Do vậy, “Đảm bảo chất lượng” là mô hình quản lý chất lượng giáo dụcphù hợp với điều kiện của nước ta hiện nay Đảm bảo chất lượng là những quanđiểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủtục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng các mụctiêu đã đề ra đang được thực hiện, các chuẩn mực học thuật phù hợp đang đượcduy trì và không ngừng nâng cao ở cấp trường và ở chương trình đào tạo củanhà trường./
Trang 8Câu 2: Đánh giá chất lượng giáo dục, quản lý chất lượng giáo dục nóichung và của bậc học mà anh/chị đang công tác nói riêng Liên hệ thực tế tại cơ
sở giáo dục của anh/chị
Việc đánh giá chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay:
Năm 2018, Bộ GDĐT ban hành 03 Thông tư số 17, 18, 19 Quy định vềkiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trườngmầm non, tiểu học, THCS-THPT
Mục tiêu của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằm xác định các trườngđạt mức đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn; lập kế hoạch cải tiếnchất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt độngcủa nhà trường; thôngbáo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chấtlượng của trường tiểu học; để cơ quan quản lý nhà nước đánh giá, công nhậnhoặc không công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục Hoạt độngcông nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học nhằm khuyến khích đầu tư
và huy động các nguồn lực cho giáo dục, góp phần tạo điều kiện đảm bảo chotrường tiểu học không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục và quy trình công nhận đạtchuẩn quốc gia đối với trường tiểu học được thực hiện theo các bước:
1 Tự đánh giá
2 Đánh giá ngoài
3 Công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục và công nhậntrường đạt chuẩn quốc gia
Tiêu chuẩn đánh giá trường học gồm các vấn đề liên quan đến: Tổ chức
và quản lý nhà trường; Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; Cơ sởvật chất và thiết bị dạy học; Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Hoạtđộng giáo dục và kết quả giáo dục; Trong các Thông tư này, hoạt động kiểmđịnh chất lượng và công nhận đạt chuẩn quốc gia có sự liên thông, gắn kết chặtchẽ Theo đó, một điều kiện quan trọng để cơ sở giáo dục được công nhận đạtchuẩn quốc gia là phải có kết quả đánh giá ngoài đạt từ Mức 2 trở lên, tứctrường đã được công nhận kiểm định chất lượng
Trang 9Vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo nói chung, trong đó có xâydựng hệ thống các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số đánh giá, kiểm định chất lượnggiáo dục - đào tạo và vấn đề thi, kiểm tra đánh giá chất lượng của một khóa học,môn học là hai vấn đề mặc dù có liên quan nhau, nhưng có cách tiếp cận hết sứckhác nhau, với mục tiêu đánh giá, quy trình đánh giá, bộ công cụ đánh giá và sửdụng kết quả đánh giá hoàn toàn khác nhau.
Ðánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo thông qua bộ công cụ là các tiêuchuẩn, tiêu chí, chỉ số đánh giá; có đối tượng đánh giá là các điều kiện bảo đảmchất lượng của một cơ sở giáo dục và mục tiêu của hoạt động này là xem xét cơ
sở giáo dục có đạt chuẩn về các lĩnh vực của quá trình đào tạo hay không Quytrình đánh giá loại này lấy cơ sở là các tiêu chuẩn đã quy định trước về các điềukiện bảo đảm chất lượng (như tổ chức và quản lý, đội ngũ giáo viên, học sinh,sinh viên, chương trình giáo trình, cơ sở vật chất kỹ thuật ) Căn cứ vào các tiêuchuẩn đó, các trường xây dựng báo cáo tự đánh giá, phân tích những điểmmạnh, điểm yếu của trường và nộp đơn xin được kiểm định Cơ quan chức năngcấp trên tổ chức đội đánh giá ngoài đến thăm trường với mục đích thẩm địnhbáo cáo tự đánh giá và có kết luận về giá trị, tính xác thực của báo cáo này Các
cơ quan hữu trách có thể sử dụng kết luận này để ra các quy định quản lý phùhợp (như tăng cường đầu tư cho các lĩnh vực còn yếu kém, khen thưởng vì đãđạt chuẩn hay công bố cho toàn xã hội biết là trường đó đã đủ các điều kiện bảođảm chất lượng quá trình đào tạo )
Ngoài ra, chất lượng giáo dục đào tạo nói chung còn được đánh giá thôngqua hiệu quả ngoài của nó, tức đánh giá xem sản phẩm giáo dục đào tạo đáp ứngyêu cầu sự nghiệp CNH, HÐH đất nước hay không Nói cách khác, nguồn nhânlực được đào tạo (của GD-ÐT) có đáp ứng yêu cầu thay đổi nhanh chóng của thịtrường lao động hay không (trong và ngoài nước)
Còn việc thi - kiểm tra là hoạt động đánh giá bản thân chất lượng (chứkhông phải là các điều kiện bảo đảm chất lượng) của một môn học hay khóahọc Mục đích của các kỳ thi nhằm đánh giá kết quả của một quá trình đào tạo,
Trang 10đối chiếu kết quả đó với mục tiêu đào tạo và rút ra những kết luận phù hợp vềchất lượng của một khóa học (như thi tốt nghiệp các loại) Mục đích của cuộc thicũng có thể nhằm kiểm tra năng lực của học sinh, sinh viên để tìm ra nhữngngười có khả năng tương ứng đủ để học cao hơn, hay vào làm việc tại những vịtrí khác nhau (thi tuyển) Bộ công cụ để đo lường đánh giá trong cả hai trườnghợp này là các đề thi Tuy nhiên, do mục tiêu khác nhau nên cấu trúc đề thi, độkhó của đề, quy trình tổ chức thi, việc sử dụng kết quả thi cũng rất khác nhau.Ðánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay đang ở tình trạng như vậy.
Nguyên nhân của hiện tượng này là những người ở các vị trí khác nhau,đánh giá chất lượng giáo dục nhằm các mục tiêu khác nhau với bộ thước đokhác nhau và hệ quả là các kết luận cũng khác nhau Vậy chúng ta nên xác địnhchất lượng là gì? Một định nghĩa về chất lượng giáo dục được phần lớn các nhànghiên cứu, hoạch định chính sách, quản lý giáo dục trên thế giới chấp thuận là
"sự tuân thủ tiêu chuẩn" hay "sự trùng khớp với mục tiêu" Theo định nghĩa này,một nền giáo dục (phổ thông, đại học ) có chất lượng nếu nó tuân thủ các tiêuchuẩn xác định hoặc đạt được các mục tiêu của nó
Nếu xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông chủ yếu là cung cấp nguồnnhân lực có trình độ kiến thức phổ thông toàn diện để có thể tham gia vào hoạtđộng sản xuất, kinh doanh góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,đồng thời vẫn có khả năng học tập suốt đời để nâng cao chất lượng công việccũng như chất lượng cuộc sống Một bộ phận của học sinh phổ thông có đủ nănglực có thể học tiếp ở các bậc cao hơn Nếu xác định mục tiêu của giáo dục phổthông như vậy chúng ta sẽ có cách đánh giá khác về chất lượng và có nhận địnhkhác về chất lượng giáo dục Nếu 80% số học sinh phổ thông không có cơ hộihọc cao hơn, nhưng lại thành đạt trong cuộc sống, trở thành các chủ trang trại,doanh nghiệp tư nhân, những người lao động sản xuất giỏi thì chất lượng giáodục phổ thông sẽ được đánh giá cao
Bước tiếp theo của hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục là xác định hệthống tiêu chuẩn hay hệ mục tiêu của giáo dục Nói cách khác, xây dựng bộ
Trang 11công cụ đo lường - đánh giá chất lượng giáo dục Phần lớn các nước phát triển ởBắc Mỹ, Cộng đồng châu Âu hay các nước đang phát triển khu vực châu Á -Thái Bình Dương và ngay cả các nước Ðông -Nam Á đều có hệ thống kiểmđịnh, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông cũng như đại học.
Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, tùy theo truyền thống vănhóa - giáo dục và các điều kiện khác, các nước có hệ thống tổ chức đánh giá,kiểm định và bộ công cụ đo lường chất lượng giáo dục khác nhau Tuy nhiên,điểm chung của tất cả các hệ thống đánh giá đó đều nhằm xác định các lĩnh vựcliên quan quy trình đào tạo có đạt tiêu chuẩn hay không Và nếu các lĩnh vựcnày đạt chuẩn, nó sẽ tác động chất lượng của quy trình đào tạo Như đã nói ởtrên, chất lượng giáo dục là một khái niệm động, nhiều chiều, khó định nghĩamột cách xác định Do vậy, chỉ có thể tác động vào các yếu tố có liên quan trựctiếp hoặc gián tiếp nó để các yếu tố này đến lượt mình tác động tới chất lượng.Vậy những yếu tố nào có thể tác động chất lượng giáo dục Thông thường nhữnglĩnh vực (yếu tố) sau đây được xem là có vai trò nâng cao chất lượng của một cơ
sở giáo dục: Tổ chức và quản lý; Ðội ngũ cán bộ (giảng viên và phục vụ); Sinhviên, học sinh; Quá trình giảng dạy - học tập; Nghiên cứu khoa học (nếu làtrường đại học, cao đẳng); Cơ sở vật chất; Tài chính; Các lĩnh vực khác (Hợp tácquốc tế, dịch vụ sinh viên) Ðây được xem là tám lĩnh vực (tiêu chuẩn) quantrọng nhất, tác động trực tiếp chất lượng giáo dục Những lĩnh vực này có thể tácđộng với mức độ khác nhau
Và nếu có những biện pháp tác động tới tám lĩnh vực này, hoàn thiện nótheo những chuẩn mực phù hợp thực tiễn chắc chắn sẽ có một nền giáo dục cóchất lượng cao Các lĩnh vực này được cụ thể hóa bằng các tiêu chí, và các tiêuchí lại được cụ thể hóa hơn nữa bằng các chỉ số (định tính hoặc định lượng).Một bộ công cụ bao gồm các lĩnh vực (tiêu chuẩn) -tiêu chí - chỉ số đồng thờivừa là tiêu chuẩn để các cơ sở giáo dục có kế hoạch phấn đấu vươn tới, vừa làthước đo để các trường tự đánh giá, và để các cơ quan hữu trách kiểm định côngnhận và ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của đợt đánh giá
Trang 12Các cơ sở giáo dục có thể sử dụng bộ tiêu chí này đánh giá các điều kiệnbảo đảm chất lượng của trường, khoa hoặc trong từng lĩnh vực (từng tiêu chuẩn)
để có kế hoạch từng bước phấn đấu đạt tiêu chuẩn Trong trường hợp cần đánhgiá toàn diện một cơ sở giáo dục (một trường), trường đó cần xây dựng một báocáo tự đánh giá phân tích toàn diện hoạt động của nhà trường Trong báo cáo tựđánh giá cần đánh giá từng chỉ số, sau đó tổng hợp đánh giá các chỉ số trongtừng tiêu chí, rồi tổng hợp đánh giá từng tiêu chí để đánh giá từng lĩnh vực
Cuối cùng tổng hợp đánh giá các lĩnh vực để có thể kết luận tổng thể vềcác điều kiện bảo đảm chất lượng của trường đó Báo cáo tự đánh giá được nộplên cơ quan hữu trách với đơn xin được kiểm định Một đoàn đánh giá ngoài baogồm các chuyên gia phù hợp được cử xem xét báo cáo tự đánh giá, thực hiệnkhảo sát tại cơ sở đăng ký kiểm định và có báo cáo thẩm định giá trị, độ xácthực của báo cáo tự đánh giá
Ðể nâng cao độ giá trị, tính khách quan của báo cáo thẩm định, có thể mờicác chuyên gia đánh giá nước ngoài cùng tham gia Bằng cách này giáo dục ViệtNam sẽ có cơ hội tiếp cận chuẩn của giáo dục thế giới và nhanh chóng hơn trongquá trình hội nhập
Bên cạnh đó, việc quản lý chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay cũngnhiều bất cập:
Thứ nhất, quan niệm về chất lượng giáo dục ở ta chưa đầy đủ và đồng bộ
Có một cách hiểu phổ biến và đáng tiếc lại đang được coi là chuẩn mực trongđánh giá giáo dục Cách hiểu đó cho rằng, chất lượng giáo dục đồng nghĩa vớikết quả thi cử Một biểu hiện rất rõ: sự quan tâm chủ yếu của các nhà quản lýgiáo dục, từ các cấp quản lý hệ thống tới các cấp quản lý nhà trường, tập trungcao nhất vào các kỳ thi để rồi lấy kết quả thi làm thước đo quan trọng nhất đốivới chất lượng một học sinh, một nhà trường và một địa phương Đã quan niệmnhư thế thì thật dễ hiểu khi mà các yếu tố khác trong tổng thể các yếu tố trựctiếp cấu thành chất lượng giáo dục đã bị coi nhẹ, thậm chí bị bỏ qua Bởi vậy,trong thực tế, những nơi có nhiều mặt yếu kém nhưng tỷ lệ thi đỗ cao vẫn được
Trang 13xem là có chất lượng tốt Từ đây, đã nảy sinh một hiện tượng phổ biến là từ giáoviên đến học sinh, từ những người quản lý cấp cơ sở đến những người quản lýcấp trên đua nhau chạy theo tỷ lệ thi đỗ Số trường tỷ lệ thi đỗ tới 95-100%không còn là hiện tượng cá biệt Và theo lôgic của cách hiểu trên, chất lượnggiáo dục như thế là tốt lắm rồi Chỉ đến khi học sinh vào đời hoặc thi vào đạihọc, thực trạng yếu kém mới bộc lộ ra thì đã vô phương cứu chữa.
Thứ hai, về phương pháp tiếp cận, ta QLCL chủ yếu nhằm vào mục tiêu(trong khi “mục tiêu” là tỷ lệ thi đỗ) mà coi nhẹ quá trình Ai cũng biết trongmọi sự việc, quá trình diễn ra thế nào thì kết quả nhận được thế ấy Quy luật nàycàng đúng trong giáo dục nhân cách Bởi hình thành nhân cách là cả một quátrình với sự hội tụ của vô vàn yếu tố, biểu hiện của nhân cách ở mỗi con ngườicũng là cả một quá trình với vô vàn khía cạnh và cấp độ khác nhau Ở đây quyếtkhông có đất cho cách làm mang tính thực dụng: bất chấp quá trình, bất chấpphương pháp, bất chấp động cơ và thái độ, “miễn tốt là được”!
Thứ ba, về chuẩn mực, chúng ta chưa đưa ra được hay là chưa dám đưa ramột hệ tiêu chí và phương pháp đánh giá quá trình QLCL, kể cả chất lượng giáodục nhân cách trong nhà trường Hiện nay không phải chúng ta hoàn toàn chưa
có các tiêu chí và phương pháp đánh giá Với thái độ đãi cát lấy vàng, phải nói ởtừng nơi, từng lúc đã có những đề xuất mang tính tích cực và sáng tạo Songnhìn chung, phải thẳng thắn thừa nhận các tiêu chí và phương pháp ấy còn rờirạc, chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, thiếu luận cứ khoa học và chưa đượcchuẩn hoá Do đó, việc đánh giá chất lượng giáo dục vẫn nặng về thanh tra,kiểm tra do cấp trên hay do các đoàn từ bên ngoài nhà trường tiến hành là chính.Thiếu hẳn việc tự kiểm tra, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh, cảitiến như một hoạt động thường xuyên, có nề nếp và có tính chủ động để thực sựtrở thành nhân tố nội sinh thúc đẩy phát triển bền vững
Thứ tư, về chủ thể thực hiện, cho đến nay QLCL hầu như vẫn được coi làđặc quyền và trách nhiệm của một vài cấp như ban giám hiệu, tổ trưởng chuyênmôn Có thể coi là sai lầm lớn khi xem nhẹ giáo viên, những người giữ vai trò
Trang 14then chốt và trực tiếp tạo nên chất lượng Tư tưởng “QLCL toàn diện”, “mỗingười lao động là một mắt xích quyết định trong cả hệ thống QLCL” mà các cơ
sở sản xuất kinh doanh đang cố thực hiện để nhanh chóng nâng cao sức cạnhtranh của các sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam, không hiểu sao lại chậmđược ngành giáo dục vận dụng đến thế Cũng cần nhấn mạnh một điều, trongQLCL giáo dục, đặc biệt trong QLCL giáo dục nhân cách, học sinh cũng có vaitrò cực kỳ quan trọng bởi các em không phải là những sản phẩm thụ động củanhà trường Việc hướng dẫn học sinh về động cơ học tập, thái độ, phương pháphọc tập, điều rất được quan tâm ở nhiều quốc gia đang phát triển và ở nước tatrước đây, không hiểu sao lại bị lãng quên một cách đáng buồn đến như vậy
Thứ năm, về tổ chức, ta chưa hình thành được các cơ quan hay bộ phậnchuyên trách về QLCL để nghiên cứu, tư vấn, giúp triển khai ứng dụng cácphương thức QLCL tiên tiến vào trường học Cũng chưa có cơ quan, bộ phận và
cơ chế kiểm định, đánh giá chất lượng khách quan từ bên ngoài
Thứ sáu, về cơ chế quản lý, nét nổi bật là quản lý giáo dục phổ thông vẫntheo mô hình quản lý tập trung Cơ quan quản lý tuyến trên (Bộ, Sở, Phòng GD)vừa hoạch định mục tiêu chất lượng, ban hành hệ thống quy chế và các văn bảnchỉ đạo, ban hành nội dung, kế hoạch dạy học, vừa tổ chức thanh tra, kiểm tra,thi cử, đánh giá Nghĩa là dấu ấn bao cấp vẫn rất nặng Nói “xã hội hoá giáo dụcđào tạo” thực chất là “xã hội” huy động tiền còn mọi sự vẫn là Bộ, Sở, Phòng Trong khi đó, việc QLCL cần và hoàn toàn có thể giao phần lớn cho từng nhàtrường để nâng cao tính tíchcực, chủ động thực hiện quyền tự quản lý quá trìnhtạo ra chất lượng trong điều kiện cụ thể của mình
Tại trường tôi, trường tiểu học Phước Thịnh, hàng năm đều tiến hành tựđánh giá nhằm làm rõ thực trạng về quy mô, chất lượng và hiệu quả các mặthoạt động của nhà trường theo chức năng, nhiệm vụ của trường, xác định và sosánh các tiêu chuẩn kiểm định của Bộ Giáo dục và Đào tạo xem đã đạt được đếnmức nào về cơ sở vật chất, trang thiết bị, độingũ cán bộ quản lý, giáo viên,…của các tiêu chuẩn đòi hỏi Từ đó xác định rõ các điểm mạnh, điểm yếu để đề ra
Trang 15các chiến lược, kế hoạch, biện pháp nhằm từng bước không ngừng cải tiến, nângcao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị mình.
Báo cáo tự đánh giá năm học 2019-2020 như sau:
TỰ ĐÁNH GIÁ
Đánh giá theo từng tiêu chí từ Mức 1 đến Mức 3
Định rõ các điểm mạnh, điểm yếu để đề ra các chiến lược, kế hoạch, biệnpháp nhằm từng bước không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng và hiệu quảhoạt động của đơn vị mình
Báo cáo tự đánh giá năm học 2019-2020 như sau:
Trang 17tình hình thực tế và đặc điểm nhà trường; mỗi CB, GV, NV và HS chấp hành tốtchủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhà trường nghiêmtúc thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và
cơ quan quản lý giáo dục các cấp; đảm bảo thực hiện Quy chế dân chủ tronghoạt động của nhà trường; phối hợp có hiệu quả với các tổ chức, đoàn thể trong
và ngoài nhà trường thực hiện nhiệm vụ được giao nên các năm học 2017-2018,2018-2019, 2019-2020 nhà trường đều được Uỷ ban nhân dân thành phố côngnhận tập thể lao động Tiên Tiến
Các tổ chuyên môn, có cơ cấu tổ chức đúng theo quy định Xây dựng kếhoạch năm, tháng, tuần đầy đủ, phù hợp với hoạt động của nhà trường, thực hiệnđúng chức năng, nhiệm vụ và định kỳ sinh hoạt đều đặn, thường xuyên kiểm tra,đánh giá chất lượng và hiệu quả công việc của các thành viên trong tổ; thực hiệntốt việc đề xuất khen thưởng đối với GV và HS, hoàn thành tốt công việc đượcgiao, đáp ứng được các yêu cầu của nhà trường
Các tổ chuyên môn trong nhà trường có cơ cấu tổ chức theo đúng quyđịnh, hoạt động theo đúng lịch, các buổi sinh hoạt đều có hiệu quả thiết thực.Cán bộ nhân viên trong nhà trường chấp hành tốt chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương và sự lãnh đạo, chỉđạo của cơ quan quản lý giáo dục các cấp Không có hiện tượng vi phạm phápluật hoặc tệ nạn xã hội, không có hiện tượng vi phạm quy chế chuyên môn; đảmbảo Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường
Việc quản lý hành chính thực hiện tốt Thực hiện có hiệu quả các phongtrào thi đua Thực hiện nhiệm vụ quản lý các hoạt động giáo dục và quản lý họcsinh theo Điều lệ trường tiểu học tốt Hoạt động tài chính minh bạch rõ ràngthực hiện theo đúng văn bản chỉ đạo
Trong các năm qua công tác an ninh trật tự, an toàn cho HS và cho CB,
GV, NV luôn được đảm bảo; phòng chống được dịch bệnh, tệ nạn xã hội và bạolực học đường trong nhà trường
Những điểm yếu cơ bản:
Trang 18Văn thư là kế toán kiêm nhiệm, chưa có nhiều kinh nghiệm về công tácvăn thư lưu trữ nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình công tác
Hội đồng trường hoạt động chủ yếu thực hiện theo chỉ đạo của các cấpquản lý, bị động trong việc xây dựng chiến lược, lập kế hoạch phát triển của nhàtrường trong từng giai đoạn
Kế hoạch cải tiến chất lượng:
Tiếp tục duy trì và nâng cao vai trò của các thành viên trong Hội đồngtrường, cha mẹ học sinh để cùng nhau đưa ra phương hướng, chiến lược xâydựng và phát triển nhà trường ngày càng phát triển toàn diện hơn trong năm học2020-2021
Nhà trường tiếp tục thực hiện đúng cơ cấu tổ chức bộ máy bảo đảm theoquy định của Điều lệ trường tiểu học, chú ý lập hồ sơ Chỉ đạo chi đoàn thanhniên xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động phối hợp với nhà trường trongnăm học 2020-2021 nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đoàn của đơn vị.BGH thường xuyên nâng cao nhận thức trách nhiệm và chất lượng làm việc củacác nhân viên tổ văn phòng; Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụcho các thành viên tổ Văn phòng thông qua việc cung cấp các tài liệu văn bảnchuyên ngành mới nhất và trực tiếp góp ý nội dung hoạt động hàng tuần, hàngtháng của tổ Phát huy hoạt động của tổ chuyên môn, hướng dẫn để giúp tổchuyên môn và giáo viên trong tổ chủ động trong việc xây dựng nội dung sinhhoạt tổ ngày càng phong phú hơn
Tạo điều kiện cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tham gia các lớpbồi dưỡng do Sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Khánh Hòa, Phòng Giáo dục và Đàotạo Thành phố Nha Trang tổ chức nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và gópphần đẩy mạnh hiệu quả giáo dục trong nhà trường Thực hiện nghiêm túc,khách quan và đúng thực chất công tác kiểm tra đột xuất đánh giá việc thực hiệnnhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục
BGH thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chế độ báocáo của các bộ phận để công tác thông tin, báo cáo tiếp tục được đảm bảo nhanh
Trang 19chóng Tiếp tục nâng cao trách nhiệm, vai trò lãnh đạo của BGH nhà trường,thực hiện đảm bảo quy chế dân chủ, tổ chức cho CB, GV, NV thực hiện nghiêmtúc chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo và triểnkhai kịp thời các hướng dẫn, quy định về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quanquản lý giáo dục Phát huy tốt hơn nữa việc thực hiện Quy chế dân chủ tronghoạt động của cơ quan Thực hiện tốt công tác phối hợp với Công an và Trạm y
tế địa phương nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch bệnh an toàn cho
CB, GV, NV và học sinh; thường xuyên tuyên truyền công tác phòng chống bạolực học đường, phòng chống dịch bệnh, phòng tránh các hiểm hoạ thiên tai, các
tệ nạn xã hội trong trường
Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh
Những điểm mạnh nổi bật
Trường THCS Mai Xuân Thưởng có đủ đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên,nhân viên theo quy định Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng có năng lực, có sứckhỏe, có kinh nghiệm quản lý, thường xuyên được bồi dưỡng về công tác quản
lý, chỉ đạo chuyên môn Trường có đủ đội ngũ giáo viên giảng dạy tất cả cácmôn học theo quy định, có đủ giáo viên dạy các môn tự chọn Tiếng Anh, Tinhọc và có giáo viên Tổng phụ trách Đội 100% giáo viên đạt trên chuẩn đào tạo.Trường có đủ lực lượng nhân viên làm công tác thư viện, thiết bị, văn thư, y tế,
kế toán, phục vụ và bảo vệ Các nhân viên thư viện kiêm thiết bị, y tế kiêm thụquỹ, kế toán kiêm văn thư đều đạt trình độ theo đúng chuyên môn Trường đãtạo điều kiện cho tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia đầy đủ các lớp bồidưỡng chính trị, nghiệp vụ và tạo điều kiện nâng cao tay nghề, nâng cao chấtlượng chuẩn nghề nghiệp và hoàn thành nhiệm vụ được giao Trường thực hiệntốt công tác tuyển sinh, đảm bảo học sinh theo học đúng độ tuổi, xây dựng vàduy trì tốt nề nếp sinh hoạt, học tập; không có học sinh không hoàn thành nhiệm
vụ của học sinh tiểu học Trường thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chínhsách đối với tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
Những điểm yếu cơ bản: