1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát kiến thức và thực trạng và bán kháng sinh của các cơ sở bán lẻ thuốc đạt tiêu chuẩn GPP

73 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 831,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đặt ra câu hỏi người có trách nhiệm hành nghề dược có đủ kiến thức về các loại kháng sinh và tác hại của việc bán kháng sinh không kê đơn chưa.. Tiêu chuẩn GPP đối với nhà thuốc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƯỢC

PHẠ H Y INH

KHẢO SÁ KIẾN THỨC VÀ HỰC TRẠNG VỀ BÁN KHÁNG SINH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN Ẻ THUỐC ĐẠ IÊU CHUẨN GPP TẠI HÀNH PHỐ CHÍ INH, HẢI DƯƠNG NĂ 2020

KHÓA UẬN Ố NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƯỢC

PHẠ H Y INH

KHẢO SÁ KIẾN THỨC VÀ HỰC TRẠNG VỀ BÁN KHÁNG SINH CỦA CÁC CƠ SỞ BÁN Ẻ THUỐC ĐẠ IÊU CHUẨN GPP TẠI HÀNH PHỐ CHÍ INH, HẢI DƯƠNG NĂ 2020

KHÓA UẬN Ố NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC

KHÓA QH2015 Y

N ư ư n d n S B u n

S c Đ n uấn

Trang 3

LỜI CẢ ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến S B u n –

Giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược Cô đã chỉ dạy tận tình, quan tâm hướng dẫn, nhắc nhở, giúp đỡ và động viên cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Mặc Đ n uấn – Giảng Viên Bộ

Môn Y Dược cộng đồng và Y dự phòng, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cẩn thận, tạo điều kiện để tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Bộ môn Quản lý và K n tế

Dƣợc, đã giảng dạy và tạo kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành

khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Chủ Nhiệm, Phòng Đào Tạo và

toàn thể các thầy cô giáo K oa Y Dƣợc – Đ i học Quốc a Hà Nội đã tận tình dạy dỗ

và giúp đỡ tôi trong suốt 5 năm học tập tại khoa, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức

bổ ích, dẫn dắt và truyền ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết cho tôi

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới mẹ, những người thân trong gia đình tôi, đã nuôi dưỡng, gắn bó với tôi, là động lực để tôi tiếp tục học tập và nghiên cứu Cảm ơn bạn bè luôn bên cạnh chia sẻ, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn trong qua trình học tập và làm khóa luận

Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2020

Sinh viên

Phạm Thùy Linh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt C ú ả n ĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả nghiên cứu khảo sát việc bán kháng sinh không có đơn tại

nhà thuốc trên thế giới: 10

Bảng 1.2: Tổng hợp kết quả nghiên cứu khảo sát việc bán kháng sinh không đơn tại Việt Nam 11

Bảng 1.3: Kết quả nghiên cứu kiến thức và thái độ của NBT về việc bán kháng sinh không đơn tại Saudi Arbia: 12

Bảng 2.1: Danh sách biến số nghiên cứu 20

Bảng 2.2: Chỉ số nghiên cứu 21

Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 24

Bảng 3.2: Kiến thức của NBT về tổng quan kháng sinh 25

Bảng 3.3: Kiến thức của NBT về các nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh 26

Bảng 3.4: Kiến thức của NBT về đối tượng đặc biệt khi sử dụng kháng sinh 27

Bảng 3.5: Kiến thức của NBT về một số kháng sinh thường gặp 27

Bảng 3.6: Kiến thức của NBT về tác dụng không mong muốn khi sử dụng kháng sinh 28

Bảng 3.7: Kiến thức của NBT về tình trạng kháng kháng sinh 29

Bảng 3.8: Kiến thức của NBT về quy định bán kháng sinh 29

Bảng 3.9: Mức độ hiểu biết của NBT về quy định bán kháng sinh 30

Bảng 3.10: Kiến thức của NBT phân loại theo giới tính 31

Bảng 3.11: Kiến thức của NBT phân loại theo tuổi 32

Bảng 3.12: Kiến thức của NBT phân loại theo trình độ học vấn 32

Bảng 3.13: Kiến thức của NBT phân loại theo vị trí làm việc 33

Trang 6

Bảng 3.14: Kiến thức của NBT phân loại theo kinh nghiệm làm việc bán thuốc 33

Bảng 3.15: Tần suất NBT chủ động bán kháng sinh trong một số bệnh 34

Bảng 3.16: Tần suất NBT chủ động bán các hoạt chất và phối hợp kháng sinh 35

Bảng 3.17: Tần suất tìm hiểu về kháng sinh qua một số nguồn thông tin của NBT 35

Bảng 3.18: Kỹ năng của người bán thuốc trong thực hành bán kháng sinh 36

Bảng 3.19: Kỹ năng của người bán thuốc trong tư vấn sử dụng kháng sinh 38

Bảng 3.20: Mức độ tự tin của NBT khi chủ động bán kháng sinh 38

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Sơ đồ tiến hành nghiên cứu 18 Hình 3.1: Phân loại mức kiến thức của NBT 31

Trang 8

ỤC ỤC LỜI CẢ ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 ỔNG QUAN 3

1.1 Thực àn tốt cơ sở bán lẻ thuốc 3

1.1.1 Khái quát về thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (GPP) 3

1.1.2 Nguyên tắc, tiêu chuẩn GPP và thực trạng thực hiện GPP tại Việt Nam 4

1 2 N ư bán lẻ thuốc 6

1.2.1 Trình độ chuyên môn 6

1.2.2 Đạo đức nghề nghiệp 7

1.2.3 Vai trò của người hành nghề dược 8

1 3 Quy đ n bán k án s n 9

1.4 Thực tr n bán t uốc k án s n k ôn kê đơn 9

1.4.1 Trên thế giới 10

1.4.2 Tại Việt Nam 11

1 5 Các n ên cứu đán á k ến thức, t á độ và t ực àn của dược sĩ về việc bán k án s n k ôn có đơn 12

1.5.1 Trên thế giới 12

1.5.2 Tại Việt Nam 14

1 6 àn p ố C í n và ệ thống y tế t C í n , Hả Dươn 14

1.6.1 Giới thiệu về thành phố Chí Linh 14

1.6.2 Hệ thống y tế tại thành phố Chí Linh 15

Trang 9

CHƯƠNG 2 ĐỐI ƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2 1 Đố tượn n ên cứu 17

2.2 Th an n ên cứu 17

2 3 P ươn p áp n ên cứu 17

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 17

2.3.2 Mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu 19

2.3.3 Xác định biến số 19

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 20

2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21

2 4 H n c ế của đề tà 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Khảo sát k ến thức về k án s n của NBT t các cơ sở bán lẻ thuốc t àn phố C í n , Hả Dươn 24

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Kiến thức của người bán thuốc 25

3.2 Thực tr ng về việc bán k án s n 34

3.2.1 Thực hành của người bán thuốc 34

3.2.2 Kỹ năng của NBT trong thực hành bán kháng sinh 36

CHƯƠNG 4 BÀN UẬN 39

4.1 Kiến thức của n ư bán t uốc 39

4.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 39

4.1.2 Kiến thức của người bán thuốc 39

4.2 Thực tr ng về việc bán k án s n 42

4.2.1 Thực hành của người bán thuốc 42

4.2.2 Kỹ năng của NBT trong thực hành bán kháng sinh 43

Trang 10

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ UẤ 45

ÀI IỆU THAM KHẢO

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kháng sinh là một trong những khám phá quan trọng của nhân loại, mở ra kỷ nguyên dùng kháng sinh để điều trị và đẩy lùi các bệnh nhiễm trùng gây ra bởi các vi sinh vật Thuốc kháng sinh có vai trò rất thiết yếu trong điều trị, nó đem lại nhiều lợi ích và cơ hội sống cho những bệnh nhân mắc bệnh và đặc biệt cần thiết đối với mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển [10]

Hiện nay thị trường kháng sinh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều rất phong phú và đa đạng về cả chủng loại lẫn số lượng với các mức giá phù hợp với nhiều đối tượng trong xã hội Việc này tạo cơ hội cho người dân trong cộng đồng

dễ dàng tiếp cận và đáp ứng nhu cầu chữa bệnh Tuy nhiên do công tác quản lý còn chưa được chặt chẽ, sát sao nên tình trạng mua bán, tự ý sử dụng thuốc kháng sinh không kê đơn của bác sĩ ở Việt Nam ngày càng gia tăng và trở nên phổ biến

Việc lạm dụng kháng sinh dần trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người Tình hình kháng thuốc đang diễn ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra cảnh báo đến năm 2050, tình trạng kháng thuốc kháng sinh có thể là nguyên nhân tử vong của 10 triệu người trên toàn cầu [38] Năm 2013, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC), mỗi năm ở Mỹ có ít nhất 2 triệu người bị nhiễm trùng kháng kháng sinh và ít nhất 23.000 người tử vong [28] Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất trên thế giới Mức độ sử dụng kháng sinh ở Việt Nam cao hơn xấp xỉ năm lần so với số liệu được công bố từ Hà Lan [19] Thời gian kháng thuốc của các vi khuẩn ngày càng rút ngắn, nhiều thuốc nhanh chóng mất hiệu lực điều trị do sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc Có thể thấy, tình trạng kháng kháng sinh ngày nay đang là vấn đề cần được quan tâm hơn trên thế giới

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh ngày nay Một trong những nguyên nhân đó chính là việc mua kháng sinh không kê đơn rất dễ Người dân tại nhiều quốc gia có nhận thức về kháng sinh còn hạn chế và có thói quen tự chữa bệnh Theo báo cáo của nghiên cứu thực hiện năm 2007 nhằm đánh giá kiến thức về sử dụng kháng sinh ở khu vực nông thôn Việt Nam cho thấy, mặc dù đã có các tài liệu hướng dẫn, nhưng kiến thức về sử dụng kháng sinh vẫn còn rất hạn chế; dịch vụ chăm

Trang 12

sóc sức khỏe thường cung cấp kháng sinh một cách không cần thiết cho các trường hợp cảm cúm thông thường [20]

Tại các địa phương, việc khám chữa bệnh còn nhiều khó khăn, việc mua thuốc trực tiếp tiết kiệm cả về kinh tế và thời gian cho bệnh nhân Điều này đặt ra câu hỏi người có trách nhiệm hành nghề dược có đủ kiến thức về các loại kháng sinh và tác hại của việc bán kháng sinh không kê đơn chưa Thái độ của các dược sĩ với thực trạng này như thế nào? Thực tế hoạt động bán kháng sinh không có đơn diễn ra ra sao?

Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát kiến thức

và thực tr ng về bán k án s n của các cơ sở bán lẻ thuốc đ t t êu c uẩn GPP t i

àn p ố C í n , Hả Dươn n m 2020.” với các mục tiêu dự kiến như sau:

1 Khảo sát kiến thức về kháng sinh của người bán thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc Thành phố Chí Linh, Hải Dương

2 Khảo sát thực trạng về việc bán kháng sinh của các cơ sở bán lẻ thuốc tại Thành phố Chí Linh, Hải Dương

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Thực àn tốt cơ sở bán lẻ thuốc

1.1.1 Khái quát về thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (GPP)

Sử dụng thuốc an toàn, hợp lí là một vấn đề hết sức quan trọng của nhân loại Thuốc như một con dao hai lưỡi nếu sử dụng không đúng nó sẽ mang lại nhiều tác hại cho sức khỏe người sử dụng Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) đã triển khai một số biện pháp nhằm hỗ trợ các quốc gia phòng chống hiện tượng lạm dụng thuốc, đặc biệt là các loại thuốc kháng sinh, corticoid,… Một trong các biện pháp đó là nghiên cứu, xây dựng

và ban hành các nội dung của GPP

Ngày 05 tháng 09 năm 1993 tại Tokyo, Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế (FIP) thông qua văn bản khung quy định về thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc, đưa ra khái niệm “Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc là thực hành dược đáp ứng nhu cầu của người bệnh trong những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất Cơ sở bán lẻ thuốc thực hành tốt

là cơ cở bán lẻ thuốc không nghĩ đến lợi nhuận kinh doanh của riêng mình mà quan tâm đến lợi ích của người mua hàng, lợi ích chung của toàn xã hội Để hỗ trợ thực hiện việc này, điều quan trọng là có một hệ thống tiêu chuẩn chung được đặt ra trên toàn quốc gia” [30-31, 37]

GPP là văn bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại cơ sở bán lẻ thuốc của dược sỹ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu [15]

WHO đã nêu ra 4 yêu cầu quan trọng của GPP [31-32]:

- Đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên hết

- Cung cấp thuốc cũng như sản phẩm liên quan đến chăm sóc sức khỏe đảm bảo chất lượng Cung cấp thông và lời khuyên thích hợp cho bệnh nhân Giám sát hiệu quả việc sử dụng thuốc

- Thực hiện việc sử dụng thuốc hợp lý, trong đó bao hàm cả yếu tố kinh tế

- Đảm bảo mỗi dịch vụ tại cơ sở bán lẻ thuốc cung cấp cho

Trang 14

Hiện nay có rất nhiều quốc gia áp dụng GPP trong đó có Việt Nam Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Thông tư 02/2018/TT-BYT quy định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, GPP là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Good Pharmacy Practices”, được dịch sang tiếng Việt là “Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc” [11] Cơ sở bán lẻ thuốc có trách nhiệm: tổ chức nghiên cứu triển khai việc thực hiện quy định hiện hành về dược, các tiêu chuẩn được ban hành; bảo đảm luôn đáp ứng tiêu chuẩn GPP trong suốt quá trình hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc; thực hiện các hoạt động bán lẻ thuốc theo đúng phạm vi được cấp phép trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật [11]

1.1.2 Nguyên tắc, tiêu chuẩn GPP và thực trạng thực hiện GPP tại Việt Nam

1.1.2.2 Các tiêu chuẩn của GPP

a Tiêu chuẩn GPP đối với nhà thuốc

Theo thông tư số 02/2018/TT-BYT Quy định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc, để được công nhận nhà thuốc đạt chuẩn GPP, nhà thuốc cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau [11]:

Tiêu chuẩn về nhân sự: Người đứng tên thành lập Nhà thuốc GPP phải có bằng

dược sĩ đại học và có chứng chỉ hành nghề dược của Bộ Y tế cấp Nhà thuốc có nguồn nhân lực thích hợp để đáp ứng quy mô hoạt động Nhân viên trực tiếp tham gia bán thuốc, nhận thuốc có bằng cấp chuyên môn và có thời gian thực hành nghề nghiệp phù

Trang 15

hợp với công việc được giao Người trực tiếp bán lẻ thuốc phải có văn bằng chuyên môn từ trung cấp dược trở lên

Tiêu chuẩn về cơ sở vật chất: Diện tích tối thiểu của nhà thuốc phải đạt 10m2;

có đầy đủ các không gian bố trí ở nơi cao ráo, thoáng mát, an toàn và cách xa nguồn ô nhiễm; sắp xếp thuốc theo đúng quy định (khu trưng bày, khu bảo quản, khu mỹ phẩm…) Phải đủ các trang thiết bị, phương tiện cần thiết để bảo quản thuốc Với thuốc bán lẻ không kèm bao bì, dược sĩ bán thuốc cần ghi rõ tên thuốc, hàm lượng, nộng độ, hướng dẫn sử dụng cụ thể…

Tiêu chuẩn về hoạt động: Thực hiện việc ghi chép, lưu trữ và bảo quản hồ sơ tối

thiểu 1 năm tính từ thời điểm thuốc hết hạn chùng; Không được thực hiện bất kỳ hành

vi quảng cáo, lôi kéo khách hàng; Đảm bảo việc mua thuốc, kiểm soát chất lượng, bán thuốc không kê đơn/kê đơn, theo dõi chất lượng thuốc, bảo quản thuốc, giải quyết các trường hợp thu hồi thuốc hay khiếu nại về thuốc…

b Tiêu chuẩn GPP đối với quầy thuốc

Theo thông tư số 02/2018/TT-BYT Quy định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc, để được công nhận quầy thuốc đạt chuẩn GPP, quầy thuốc cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau [11]:

Tiêu chuẩn về nhân sự: Người phụ trách chuyên môn tối thiểu có bằng tốt

nghiệp trung cấp ngành dược và phải có chứng chỉ hành nghề của Bộ Y Tế cấp Quầy thuốc có nguồn nhân lực thích hợp để đáp ứng quy mô hoạt động Nhân viên trực tiếp tham gia bán thuốc, nhận thuốc có bằng cấp chuyên môn và có thời gian thực hành nghề nghiệp phù hợp với công việc được giao Nhân viên cung cấp thông tin cho người mua thuốc độc, thuốc kê đơn phải là người phụ trách chuyên môn hoặc người có văn bằng chuyên môn từ trung cấp dược trở lên

Tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và Tiêu chuẩn về hoạt động giống với tiêu chuẩn

GPP đối với nhà thuốc

1.1.2.3 Thực trạng thực hiện GPP tại Việt Nam

Công tác triểu khai GPP đã được tiến hành đồng bộ rộng khắp trên cả nước Tính đến hết năm 2013 thống kê 52/63 tỉnh thành trên cả nước, số lượng các nhà thuốc

là 6.481 trong đó có 6.239 nhà thuốc đạt GPP chiếm tỷ lệ 96,3%, số lượng quầy thuốc

Trang 16

là 15.928 trong đó có 10.292 quầy thuốc đạt GPP chiếm tỉ lệ 64,6% Trong đó chỉ có một số tỉnh, thành phố đã triển khai được GPP đến toàn bộ nhà thuốc, quầy thuốc như

Hà Nội, Quảng Ngãi, An Giang [1]

Như vậy là về cơ bản trên cả nước, đa phần số lượng các cơ sở bán lẻ thuốc đang hoạt động đều đạt GPP, tuy nhiên còn một số lượng nhỏ cơ sở bán lẻ thuốc không đạt tiêu chuẩn GPP, chưa đáp ứng lộ trình đặt ra theo thông tư 43/2010/TT-BYT [14]

1.2 N ƣ i bán lẻ thuốc

Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, việc sử dụng thuốc không do người bệnh tự quyết định mà được quyết định bởi người thầy thuốc.Việc sử dụng loại thuốc nào, số lượng bao nhiêu, cách sử dụng ra sao đều phụ thuộc hoàn toàn vào người thầy thuốc thăm khám, chỉ định điều trị

Người bán lẻ thuốc là người phụ trách chuyên môn về dược và nhân viên làm việc tại cơ sở bán lẻ thuốc có bằng cấp chuyên môn được đào tạo về dược phù hợp với loại hình và phạm vi hoạt động của cơ sở [11]

1.2.1 Trình độ chuyên môn

Nhu cầu thuốc phụ thuộc vào trình độ, khả năng chuyên môn của người cung cấp dịch vụ y tế, đặc biệt là bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân Ngày nay, y dược học ngày càng phát triển và hiện đại, các máy móc thiết bị đã trở thành phương tiện khoa học, là công cụ hỗ trợ con người trong việc chẩn đoán bệnh, phát hiện nhiều bệnh tật hơn là một trong những yếu tố làm tăng nhu cầu thuốc [3]

Nhu cầu thuốc không hoàn toàn phụ thuộc vào ý định của người dùng mà lại được quyết định bởi yêu cầu chữa bệnh, trình độ chuyên môn của thầy thuốc và cán bộ bán thuốc, đây là một điểm khác biệt của nhu cầu thuốc [3] Do đó người thầy thuốc phải đảm bảo đạt trình độ chuyên môn theo quy định đã đề ra, đặc biệt những người hành nghề dược phải được đào tạo, cập nhật kiến thức, trao đổi thông tin chuyên môn, pháp luật về dược [22] Để được hành nghề phải có bằng tốt nghiệp đào tạo về ngành dược và chứng chỉ hành nghề dược

Theo Luật Dược số 105/2016/QH13 quy định [22]:

Trang 17

Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của nhà thuốc phải có bằng tốt nghiệp đại học ngành dược và có 02 năm thực hành chuyên môn tại cơ sở phù hợp Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của nhà thuốc có thể đồng thời là người làm công tác lâm sàng tại nhà thuốc

Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của quầy thuốc phải có một trong các bằng chuyên môn sau: bằng tốt nghiệp đại học ngành dược, bằng tốt nghiệp cao đẳng ngành dược, bằng tốt nghiệp trung cấp ngành dược và có 18 tháng thực hành chuyên môn tại cơ sở dược phù hợp

1.2.2 Đạo đức nghề nghiệp

Có thể thấy, y dược nói chung và nghề dược nói riêng là một trong số những ngành nghề hình thành sớm trong lịch sử nhân loại, và trong thời đại nào cũng luôn được xã hội tôn trọng và yêu mến Những người làm trong lĩnh vực này có nhiệm vụ chăm sóc, nâng cao sức khỏe con người Chính vì vậy, nghề này không đơn thuần là một loại nghề nghiệp hay dịch vụ như những nghề khác Nó là một nghề đặc biệt, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh

Hành nghề y dược là một bộ phận của những người làm y tế, nó không những cần có năng lực, mà đặc biệt cần có tấm lòng nhân ái, thấu hiểu tình người để có thể cảm thông, chia sẻ với nỗi đau của người bệnh Từ tình yêu thương với con người, người thầy thuốc cần phải nhiệt tình, trau dồi năng lực và hăng say nghiên cứu phục

vụ cho công tác trị bệnh tốt hơn và phải có y đức

Người hành nghề dược phải có trách nhiệm thực hiện 12 quy định về Y đức: nghiêm túc thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tôn trọng pháp luật và các quy chế chuyên môn; tôn trọng quyền của bệnh nhân như được khám và chữa bệnh, quyền riêng tư, không phân biệt đối xử…; có thái độ niềm nở, tận tình, trang phục chỉnh tề khi tiếp xúc với người bệnh và người nhà bệnh nhân; xử lý kịp thời, khẩn trương cấp cứu người bệnh; kê đơn thuốc phù hợp, an toàn; không được rời bỏ vị trí khi đang làm nhiệm vụ; dặn dò chu đáo cho người bệnh khi họ được xuất viện; cảm thông, chia buồn khi người bệnh tử vong; tôn trọng, đoàn kết với đồng nghiệp; tự kiểm điểm, nhận trách nhiệm khi thiếu sót, tham gia tích cực và gương mẫu trong công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe [7]

Trang 18

Ngoài ra, người hành nghề dược cũng phải có những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp riêng để rèn luyện, phấn đấu góp phần thực hiện sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Những người hoạt động trong lĩnh vực này phải thật thà, trung thực, có tinh thần trách nhiệm với nghề, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, không vì mục đích lợi nhuận mà làm thiệt hại đến sức khỏe người bệnh, phải hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc an toàn tiết kiệm, tôn trọng bí mật của bệnh nhân [9]

1.2.3 Vai trò của người hành nghề dược

Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dược phẩm, tình trạng thiếu thuốc đã được giải quyết một cách đáng kể đồng nghĩa với việc vai trò của dược sĩ ngày càng tăng Dược sĩ là người chuyên về chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng và là người chủ chốt trong việc cung cấp và giao thuốc cho khách hàng Dược sĩ là đối tác của nhà sản xuất thuốc bán không cần đơn, cùng chia sẻ mục đích chung là cung cấp các sản phẩm có chất lượng cho bệnh nhân và thúc đẩy việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, hợp lí Dược sĩ bằng khả năng chuyên môn của mình và cách tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân có thể tư vấn thuốc cho nhân dân

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) vai trò của dược sĩ được trình bày cụ thể như sau [27]:

Dược sĩ là người tư vấn thuốc, trao đổi với bệnh nhân về tiền sử bệnh, chỉ định điều trị những thuốc thông thường không cần đến bác sĩ, cung cấp những thông tin giúp bệnh nhân sử dụng thuốc hợp lí và giữ bí mật những thông tin liên quan đến sức khỏe bệnh nhân Đồng thời đảm bảo là người cung cấp thuốc có chất lượng, bán thuốc

có nguồn gốc đáng tin cậy và có chất lượng tốt; thuốc phải được bảo quản theo đúng yêu cầu Không chỉ vậy, dược sĩ còn là một chuyên gia chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tham gia hỗ trợ và thúc đẩy cộng đồng tham gia các chương trình giáo dục sức khỏe [33, 39]

Ngoài ra, dược sĩ có vai trò như một người giáo dục sức khỏe do các cơ sở bán

lẻ thuốc là nơi tiếp cận đầu tiên của bệnh nhân, dược sĩ nên khuyên bệnh nhân không cần dùng thuốc nếu không cần thiết

Trang 19

1.3 Quy đ n bán k án s n

Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn của bộ trưởng bộ y tế nhóm thuốc kháng sinh là một trong 7 nhóm thuốc kê đơn và phải bán theo đơn, tuy nhiên đã được thay thế và hủy bỏ Dựa vào thông tư Ban hành danh mục thuốc không kê đơn nhận thấy kháng sinh không nằm trong danh mục đó và được xếp vào nhóm thuốc kê đơn [13]

Để hướng dẫn việc thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú, cục khám chữa bệnh ban hành công văn số 1517/BYT-KCB về việc hướng dẫn thực hiện quy chế

kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Trong 30 thuốc phải kê đơn và bán theo đơn tạm quy có thuốc kháng sinh [6]

Ngày 29 tháng 02 năm 2016, thông tư 05/2016/TT-BYT Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú được ban hành thay thế Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT

kề từ ngày 01 tháng 05 năm 2016 Đáng lưu ý, thông tư bổ sung quy định phải lưu đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh tại cơ sở cấp/bán lẻ trong thời gian 01 năm kể từ ngày kê đơn Việc lưu đơn được thực hiện tại một trong các hình thức: lưu bản chính hoặc bản sao đơn thuốc; lưu thông tin về đơn thuốc bao gồm: tên và địa chỉ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, họ và tên của người kê đơn thuốc, họ và tên của người bệnh, địa chỉ thường trú của người bệnh, tên kháng sinh, hàm lượng, số lượng [12]

Theo Luật Dược số 105/2016/QH13 nghiêm cấm bán lẻ thuốc kê đơn mà không

có đơn [22] Vì vậy bán kháng sinh không đơn là việc trái với pháp luật, xử lý vi phạm đối với hành vi bán lẻ các loại thuốc phải kê đơn mà không có đơn bác sĩ bị xử phạt cảnh cáo phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng [5]

1.4 Thực tr n bán t uốc k án s n k ôn kê đơn

Theo thống kê năm 2015, từ năm 2000 đến năm 2010, tổng lượng tiêu thụ kháng sinh trên toàn thế giới tăng hơn 30% [29] Kháng sinh nhóm penicillin và cephalosporin chiếm gần 60,0% tổng tiêu thụ năm 2010, tăng 41,0% so với năm 2000 Gần 80,0% kháng sinh được mua ở ngoài bệnh viện bao gồm cả việc mua kháng sinh không cần kê đơn Mặc dù đã những quy định bắt buộc có đơn ở nhiều nước nhưng việc tuân thủ vẫn còn rất kém ở những nước chậm và đang phát triển [29]

Trang 20

Tại Việt Nam, giai đoạn 2012-2014, trong số các thuốc nước ngoài đăng ký cấp phép lưu hành, nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ đăng

ký cao nhất (khoảng 25,0% đến 28,0%) Trong số 20 hoạt chất có nhiều số đăng ký nhất mỗi năm, có từ 6 dến 9 hoạt chất là kháng sinh và hoạt chất có nhiều số đăng ký nhất cũng là kháng sinh [18]

1.4.1 Trên thế giới

Hoạt động bán kháng sinh không kê đơn diễn ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Tổng quan một số nghiên cứu cho kết quả như sau:

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả n ên cứu khảo sát v ệc bán k án s n

k ôn có đơn t n à t uốc trên t ế gi i [16]:

n ên cứu

Cỡ m u (n à t uốc)

C ú t íc : (1): % tính theo số lượng nhà thuốc; (2): % tính theo số lượt khách

hàng yêu cầu kháng sinh không đơn; (3): % tính theo số lượng NBT

Nhìn chung, việc bán kháng sinh không đơn là một thực trạng diễn ra phổ biến trong nhiều năm tại rất nhiều quốc gia với tỉ lệ cao; thậm chí lên tới 100,0% Từ kết

Trang 21

quả nghiên cứu cho thấy việc bán kháng sinh không đơn không chỉ có ở các nước đang phát triển mà ở cả các nước phát triển như Tây Ban Nha (42,5%)

1.4.2 Tại Việt Nam

Thực tế việc bán kháng sinh không đơn trên cả nước hiện nay ra diễn rất phổ biến tại hầu hết các cơ sở bán lẻ thuốc Kết quả một số nghiên cứu cho thấy thực trạng

vi phạm như sau: [16]

Bảng 1.2: Tổng hợp kết quả n ên cứu khảo sát v ệc bán k án s n

k ôn đơn t i Việt Nam

Trang 22

C ú t íc (1): % tính theo số lượng nhà thuốc; (2): % tính theo số lượng thuốc

kháng sinh được bán; (3): % tính theo số lượng khách hàng kể bệnh/triệu chứng liên quan đường hô hấp; (4): % tính theo số lượng khách hàng yêu cầu kháng sinh

Theo bảng kết quả, trên địa bàn Hà Nội năm 2016 hầu hết khách hàng yêu cầu kháng sinh mà không có đơn Các kháng sinh chủ yếu được bán là amoxicillin + acid clavulanic 32,3%, tiếp đến là azithromycin và erythromycin với tỷ lệ 23,5% và 26,5%

Bảng 1.3: Kết quả n ên cứu kiến thức và t á độ của NBT về việc bán

k án s n k ôn đơn t i Saudi Arbia [34]:

Trả l i (%)

Có K ôn K ôn b ết

Trang 23

cộng đồng

Dựa vào kết quả nghiên cứu cho thấy 2/3 dược sĩ chưa có kiến thức về bán kháng sinh không đơn là vi phạm pháp luật và NBT có thể bị phạt vì hành vi này Phần lớn dược sĩ nhận biết được hậu quả của việc bán kháng sinh không đơn là nghiêm trọng

và có suy nghĩ nên dừng việc này Tuy nhiên hơn 50,0% trong số đó nhận thấy được việc từ chối bán kháng sinh ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh của họ Về thực hành, kết quả nghiên cứu cho thấy các bệnh cảm lạnh và viêm mũi, tiêu chảy được NBT bán kháng sinh với tỷ lệ cao (khoảng từ 30,0-69,0%) với lí do bệnh nhân không muốn hoặc không đủ điều kiện để gặp bác sĩ thì dược sĩ là người có kiến thức tốt nhất về kháng sinh [34] Bên cạnh đó, kết quả khảo sát còn cho thấy 70,0% NBT hỏi về tiền sử dị ứng của bệnh nhân trước khi bán; 64,6% cảnh báo tác dụng phụ có thể gặp; 88,9% nhấn mạnh việc tuân thủ điều trị khi bán kháng sinh không đơn [34]

Một nghiên cứu tiến hành tại Malaysia với 188 dược sĩ cộng đồng, phần lớn tin rằng chương trình quản lý thuốc kháng sinh giúp các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân [35] Tuy nhiên, hơn một nửa dược sĩ đã trung lập theo ý kiến của họ về việc kết hợp các chương trình quản lý thuốc kháng sinh trong các nhà thuốc cộng đồng Dược sĩ có trình độ sau đại học có nhận thức tích cực

và đã tham gia vào quản lý thuốc kháng sinh hơn so với đối tượng không tốt nghiệp đại học Tương tự, các dược sĩ giàu kinh nghiệm hơn (>10 năm) có nhận thức tích cực đối với việc quản lý thuốc kháng sinh [35] Về thực hành, bộ câu hỏi áp dụng thang đo Likert 5 mức độ (không bao giờ; hiếm khi; thỉnh thoảng; thường xuyên; luôn luôn) cho thấy 84,0% dược sĩ phản ánh rằng không bao giờ hoặc hiếm khi bán kháng sinh không

có đơn và gần 80,0% người phản hồi thường xuyên cung cấp thêm các thông tin về dị ứng, tương tác và tác dụng phụ trước khi bán kháng sinh [35]

Năm 2015 nghiên cứu tại Nga sử dụng bộ câu hỏi khảo sát kiến thức của NBT

về tính an toàn của kháng sinh Khi được hỏi về tác dụng phụ với những kháng sinh thường được bán, nhận thức của NBT bị hạn chế về những tác dụng phụ không đặc

Trang 24

hiệu (khó tiêu, dị ứng, buồn nôn, đau đầu) có thể gặp với bất cứ kháng sinh nào Có 54,9% người tham gia trả lời đúng phản ứng phụ với kháng sinh khảo sát, trong đó cao nhất là với amoxicillin + acid clavulanic (81,3%) Có 45,0% trả lời không có kháng sinh nào được sử dụng cho phụ nữ có thai [40]

1.5.2 Tại Việt Nam

Theo một nghiên cứu về Sử dụng và kháng kháng sinh năm 2003 tại Việt Nam của Larsson cho thấy khoảng cách rất lớn giữa kiến thức và thực hành Khi tiến hành phỏng vấn với câu hỏi mở, 20,0% trong số 70 nhân viên nhà thuốc sẽ bán kháng sinh không đơn, nhưng thực tế có 83,0% nhà thuốc đã bán kháng sinh Khoảng 4/5 số NBT cho rằng kháng sinh sẽ không hiệu quả với đợt sử dụng ngắn Tuy nhiên có 47,0% kháng sinh được bán với liều điều trị dưới 5 ngày [36] Như vậy, mặc dù nhân viên bán thuốc đã có những kiến thức nhất định nhưng thực hành vẫn còn rất kém Hạn chế của nghiên cứu này là chưa đo lường được mức độ kiến thức và đặc biệt là thái độ của NBT về hoạt động bán kháng sinh không đơn

Việt Nam là một trong những nước mua bán kháng sinh dễ dàng nhất mà không cần đơn của bác sĩ Năm 2007, theo một nghiên cứu 78,0% kháng sinh được mua bán không cần đơn tại các nhà thuốc tư nhân [20]

Kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng kháng sinh của khách hàng nhà thuốc khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh ở mức trung bình khá Đa số khách hàng nhà thuốc vẫn còn nhầm lẫn về các chỉ định của kháng sinh cũng như chưa có thái độ và hành vi đúng đắn trong một số trường hợp sử dụng kháng sinh Phân tích mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng kháng sinh của khách hàng nhà thuốc tại thành phố Hồ Chí Minh, đề tài ghi nhận mối liên hệ giữa các cặp "Kiến thức và Thái độ",

"Thái độ và Hành vi" và "Hành vi và Kiến thức" sử dụng kháng sinh Theo đó, người

có kiến thức kém thường đi kèm với thái độ kém và người có kiến thức tốt thường đi kèm với thái độ tốt và dẫn đến hành vi tốt Do đó, các chương trình giáo dục cần được quan tâm hơn để nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh của khách hàng nhà thuốc [24]

1.6 Thành phố Chí Linh và hệ thống y tế tại Chí Linh, Hải Dương

Trang 25

Chí Linh là một thành phố ở phía Đông Bắc tỉnh Hải Dương, nằm giữa miền núi rừng Đông Bắc Bộ và miền đồng bằng châu thổ sông Hồng Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; phía Tây giáp tỉnh Bắc Ninh; phía Đông giáp thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh; phía Nam giáp các huyện: Nam Sách, Kinh Môn Chí Linh có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế

Theo số liệu thống kê của tỉnh Hải Dương, tính đến ngày 30/06/2018 thành phố

gồm cả dân số thường trú và tạm trú (đã quy đổi) [25]

Tính đến 01/03/2019 thành phố Chí Linh có 19 đơn vị hành chính cấp xã phường Trong đó gồm 14 phường: An Lạc, Bến Tắm, Chí Minh, Cộng Hòa, Cổ Thành, Đồng Lạc, Hoàng Tân, Hoàng Tiến, Phả Lại, Sao Đỏ, Tân Dân, Thái Học, Văn

An, Văn Đức và 05 xã: Bắc An, Hoàng Hoa Thám, Hưng Đạo, Lê Lợi, Nhân Huệ [26]

Thành phố Chí Linh nằm giữa trung tâm tam giác kinh tế nối liền Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh Những đặc điểm riêng về địa lý đã tạo cho Chí Linh có vị trí chiến lược quân sự, kinh tế quan trọng Có nhiều thuận lợi trong giao lưu kinh tế, tiếp cận nhanh với thị trường trong vùng và cả nước Thành phố hiện có 1 khu và 5 cụm công nghiệp với lấp đầy các cụm công nghiệp là 22,2%, khu công nghiệp là 21,5% Ngoài ra có hơn 1.600 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp với số vốn hàng nghìn tỷ đồng, thu hút và giải quyết việc làm cho trên 14.200 lao động [25]

1.6.2 Hệ thống y tế tại thành phố Chí Linh

Hệ thống y tế trên địa bàn thành phố hiện có: Bệnh viện Đa khoa Chí Linh diện

quy mô 420 giường bệnh, Trung tâm Y tế Chí Linh, Trung tâm Dân số kế hoạch hóa gia đình; 20 trạm y tế các phường, xã; 01 trạm y tế trường Đại học Sao Đỏ; 01 trạm y

tế Công ty cổ phần Trúc Thôn [25]

Tại địa bàn thành phố hiện nay không có dịch bệnh nguy hiểm, dịch bệnh lớn xảy ra; chỉ xuất hiện rải rác các ca bệnh sốt xuất huyết 34 ca, thủy đậu 18 ca, cúm 1.824 ca, quai bị 12 ca, tiêu chảy 363 ca,… Tổ chức giám sát và thực hiện tốt các công tác tuyên truyền các biện pháp phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sốt suất huyết,

Trang 26

bệnh viêm màng não mủ do não mô cầu Năm 2017, 6 xã, phường đã được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận đạt tiêu chí Quốc gia về y tế Đến nay 20/20 xã, phường đã đạt tiêu chuẩn Bộ y tế Quốc gia về y tế giai đoạn 2020 [25]

Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được tăng cường Chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân ngày càng được cải thiện, số lượt khám chữa bệnh trên toàn thành phố đạt hơn 300.000 lượt người, công suất sử dụng giường bệnh đạt 87,9% Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn ngày càng đạt hiệu quả cao Mạng lưới y tế được quan tâm củng cố và phát triển; cơ sở vật chất hạ tầng được xây dựng và thường xuyên được bảo dưỡng, nâng cấp; trang thiết bị, dụng

cụ y tế từng bước được đầu tư theo hướng chuẩn hóa và hiện đại Các cơ sở y tế tại địa phương luôn chủ động liên kết với các bệnh viện tuyến trên để học tập nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân thành phố Chí Linh và các vùng phụ cận [25]

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI ƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đố tượn n ên cứu

- Người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc đạt tiêu chuẩn GPP trên địa bàn Thành phố Chí Linh, Tỉnh Hải Dương

2.2 Th an n ên cứu

- Thời gian nghiên cứu tháng từ 11/2019 đến 04/2020

- Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 01/2020 đến 03/2020

2.3 P ươn p áp n ên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang tiến cứu

Thực hiện khảo sát thông qua điều tra trực tiếp tại cơ sở bán lẻ thuốc và bộ phiếu câu hỏi khảo sát với người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc

Trang 28

Hìn 2 1 Sơ đồ tiến àn n ên cứu

Thiết kế bộ câu hỏi khảo sát: Sau quá trình tổng hợp tài liệu, tiến hành xây dựng phiếu khảo sát Nghiên cứu tiến hành thử nghiệm tại 5 nhà thuốc quanh khu vực sinh sống, thu thập góp ý của người trả lời về bộ câu hỏi, 5 nhà thuốc này không đưa vào mẫu nghiên cứu Quá trình thử nghiệm cho thấy tỉ lệ người bán thuốc từ chối tham gia trả lời bộ câu hỏi khảo sát khá cao Sau đó, tiến hành hoàn thiện bộ câu hỏi hoàn chỉnh, điều chỉnh một số nội dung, thuật ngữ sử dụng cho phù hợp Phiếu khảo sát hoàn chỉnh

(Phụ lục 1) bao gồm: dạng câu lựa chọn một đáp án, câu hỏi đúng sai, câu hỏi mở, câu

hỏi theo thang đo 3 mức độ (không đồng ý, trung lập, đồng ý), câu hỏi theo thang đo 5 mức độ (không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, luôn luôn), câu hỏi theo thang đi 3 mức độ (không tự tin, trung bình, tự tin) với nội dung chính như sau:

- Thông tin chung (giới tính, tuổi, trình độ học vấn, vị trí làm việc, kinh nghiệm bán thuốc);

Phân tích xử lý số liệu Tiến hành nghiên cứu

Tổng quan tài liệu

Bộ câu hỏi thử nghiệm Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát

Tiến hành thử nghiệm với 5 nhà thuốc

Hoàn thành bộ câu hỏi khảo sát

Trang 29

- Kiến thức liên quan đến kháng sinh, kháng kháng sinh, quy định bán kháng sinh;

- Thực trạng về việc bán kháng sinh, kỹ năng của người bán thuốc trong quá trình bán thuốc

Đáp án của phần kiến thức được trình bày tại Phụ lục 2

2.3.2 Mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu

2.3.2.1 Mẫu nghiên cứu

Tiến hành khảo sát người bán thuốc tân dược bao gồm cả người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược và nhân viên bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc đạt tiêu chuẩn GPP trên địa bàn Chí Linh, Hải Dương với các tiêu chuẩn và lựa chọn như sau:

- Tiêu chuẩn lựa chọn

+ Người bán thuốc tân dược tại tất cả cơ sở bán lẻ thuốc

+ Đồng ý tham gia khảo sát

- Tiêu chuẩn loại trừ

+ Người học việc, sinh viên thực tập

+ Người chưa trực tiếp bán thuốc

2.3.2.2 Cỡ mẫu

Tiến hành lấy mẫu toàn bộ do số liệu thu thập được từ phòng y tế thành phố Chí Linh có tất cả 61 cơ sở bán lẻ thuốc đăng ký hoạt động trên địa bàn thành phố Vì vậy khảo sát trên toàn bộ 61 cơ sở bán thuốc tại địa bàn

2.3.3 Xác định biến số

Toàn bộ biến số được thu thập thông qua phiếu khảo sát và được trình bày qua bảng:

Trang 30

Bản 2 1 Dan sác b ến số n ên cứu

1 ôn t n c un

môn, nhân viên làm việc

Thứ bậc

2 Kiến thức của NBT

giờ; hiếm khi, thỉnh thoảng,

Kỹ năng của NBT trong thực hành

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát theo bộ câu hỏi xây dựng NBT trực tiếp điền vào phiếu khảo sát kết hợp phỏng vấn trực tiếp Trường hợp bận, người phỏng vấn sẽ

Trang 31

biện pháp thuyết phục hoặc hình thức phỏng vấn khác cho NBT đồng ý tham gia khảo sát Tiến hành khảo sát lại với những câu hỏi chưa trả lời đầy đủ hoặc nghi vấn người tham khảo sát trả lời không đúng theo hiểu biết của mình

2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.3.5.1 Phương pháp phân tích

Dữ liệu thu thập được trong Phiếu khảo sát được xử lý và biểu diễn dưới các chỉ

số, trình bày trong bảng sau:

Bảng 2.2: Chỉ số nghiên cứu

Chỉ số n ên cứu Lo i biến số Các t ức thu thập

1 ôn t n c un của NBT

1.5

% NBT phân loại theo kinh nghiệm làm

việc

2 Mục t êu 1 K ến thức của n ƣ bán t uốc

Trang 32

Tần suất tìm hiểu về kháng sinh qua một

số nguồn thông tin của NBT

- Mức kiến thức tốt là 29-36/36 (≥80%) câu trả lời đúng;

- Mức kiến thức khá là 24-28/36 (>65% và <80%) câu trả lời đúng;

- Mức kiến thức trung bình là 18-23/36 (≥50% và ≤65%) câu trả lời đúng;

- Mức kiến thức kém là 0-17/36 (<50%) câu trả lời đúng

Trang 33

Ngoài ra khi khảo sát, một số trường hợp người bán thuốc chưa thể theo suốt, liên tục quá trình khảo sát vì nhiều công việc đan xen Trong tình huống này điều tra viên đã khắc phục bằng cách phỏng vấn người bán thuốc vào cuối giờ làm việc

Trong quá trình thu thập dữ liệu: Tuy số liệu lấy được tại tất cả các nhà thuốc trên địa bàn việc từ chối tham gia khảo sát là điều không thể tránh khỏi Đối với các nhà thuốc có dược sĩ từ chối tham gia khảo sát sau khi điều tra viên đã giải thích kỹ mục tiêu nghiên cứu; điều tra viên quay lại lần thứ 2, nếu đối tượng từ chối tham gia, điều tra viên sẽ chuyển sang nhà thuốc khác

Ngoài ra do việc đổi tên đường trong quá trình chuyển đổi từ thị xã lên thành phố ở Chí Linh, một số cơ sở bán lẻ thuốc có địa chỉ không rõ ràng, dẫn đến việc tìm kiếm khó khăn và phức tạp

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Khảo sát k ến thức về k án s n của NBT t các cơ sở bán lẻ thuốc

t àn p ố C í n , Hả Dươn

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu 61 cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn thành phố Chí Linh có

7 nhà thuốc chiếm 11,5% và 54 quầy thuốc chiếm 88,5%

Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Kinh nghiệm làm v ệc bán t uốc

Trang 35

Dược sĩ tại các cơ sở bán lẻ thuốc đa phần là nữ chiếm đến 88,5%, trong đó nam giới trực tiếp đứng quầy và tư vấn chiếm số lượng nhỏ chỉ có 11,5%

Dược sĩ có độ tuổi từ 25 đến nhỏ hơn 40 chiếm phần lớn 57,4% Độ tuổi trung bình của một dược sĩ là 38,5 Người có tuổi nhỏ nhất là 23 và lớn nhất là 60

Có 55/61 số người tham gia khảo sát có kinh nghiệm bán thuốc trên 5 năm, chiếm đến 90,2% Về trình độ học vấn, phần lớn đều là dược sĩ trung học Chỉ có 4/61 người tham gia khảo sát là nhân viên và làm việc cả ngày, không chia ca

3.1.2 Kiến thức của người bán thuốc

3.1.2.1 Kiến thức về kháng sinh của người bán thuốc

Tiến hành khảo sát kiến thức của những người bán thuốc về kháng sinh bằng bộ câu hỏi 25 câu với 5 nội dung chính: tổng quan về kháng sinh; các nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh; đối tượng đặc biệt cần lưu ý khi sử dụng kháng sinh; một số kháng thông dụng hay gặp và tác dụng không mong muốn khi sử dụng kháng sinh

Bảng 3.2: Kiến thức của NBT về tổng quan kháng sinh

Ở câu hỏi về nguồn gốc của kháng sinh và nhận biết nhóm kháng sinh, tất cả người bán thuốc đều trả lời đúng Chỉ có 36,1% người bán thuốc biết được kháng sinh được chia thành 9 nhóm theo cấu trúc hóa học

Trang 36

Với câu hỏi vai trò của kháng sinh có 73,8% người có đáp án chính xác Về cơ chế tác dụng của kháng sinh, phần lớn đều biết các cơ chế tác dụng của kháng sinh, 83,6% trả lời đúng câu hỏi này

Bảng 3.3: Kiến thức của NBT về các nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh

trả l đún

Tỷ lệ (%)

Thời gian đạt kết quả điều trị cho 1 bệnh nhiễm khuẩn

Phần lớn (98,4%) các dược sĩ đều nắm rõ và trả lời đúng đáp án của câu hỏi các nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh Tuy nhiên chỉ có 62,3% người chọn chính xác với câu hỏi yếu tố để lựa chọn liều dùng của kháng sinh và nguyên tắc không dùng phối hợp kháng sinh Trong câu hỏi liên quan đến thời gian đạt kết quả điều trị cho một bệnh nhiễm khuẩn thông thường cũng chỉ có 62,3% người cho đáp án đúng Có tới 86,9% NBT đã trả lời đúng về các trường hợp cần sử dụng kháng sinh dự phòng Phần lớn dược sĩ (93,4%) biết đến các trường hợp phải phối hợp kháng sinh

Ngày đăng: 20/05/2021, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm