ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƯỢC NGUYỄN QUANG ANH ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ Ở BỆNH NHÂN ĐƯỢC SỬ DỤNG HUYẾT THANH KHÁNG NỌC RẮN HỔ MANG NAJA KOUTHIA TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC... 5
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN QUANG ANH
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ Ở BỆNH NHÂN ĐƯỢC SỬ DỤNG HUYẾT THANH KHÁNG NỌC RẮN HỔ MANG NAJA
KOUTHIA TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN QUANG ANH
ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ Ở BỆNH NHÂN ĐƯỢC SỬ DỤNG HUYẾT THANH KHÁNG NỌC RẮN HỔ MANG NAJA
KOUTHIA TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
NĂM 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
(NGÀNH DƯỢC HỌC) Khóa: QH.2015.Y
Người hướng dẫn 1: TS.BS LÊ QUANG THUẬN
Người hướng dẫn 2: ThS.BS HUỲNH THỊ NHUNG
Hà Nội - 2020
Trang 3Tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu Đại học Quốc Gia Hà Nội, các phòng ban khoa Y Dược, cùng toàn thể nhân viên, các thầy/cô giáo trong trường đã cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt những năm học tập và rèn luyện tại khoa
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh, giúp đỡ và động viên tôi trong những lúc khó khăn nhất, giúp tôi có điều kiện
để học tập và hoàn thành chương trình học một cách suôn sẻ
Hà Nội, ngày 13 tháng 06 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Quang Anh
Trang 4DANH MỤC CHỮ KÍ HIỆU, VIẾT TẮT
APTTb/c Activated partial thromboplastin time - Thời gian
thromboplastin một phần hoạt hóa (bệnh/chứng)
APTTs Activated partial thromboplastin time (s) - Thời gian
thromboplastin một phần hoạt hóa (giây)
INR International Normalized Ratio
LD50 Median lethal dose - Liều gây chết trung bình
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1
Tỷ lệ tử vong của BN bị rắn cắn của 2 nhóm có sử dụng HTKNR
và nhóm không sử dụng HTKNR tại Trung tâm cấp cứu Sài Gòn
và Bệnh viện Chợ Rẫy từ 1979 - 1996
5
1.2
Tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn trong nghiên cứu
của Otero - Patinõ, Segura A, Herrera M, và cs., (1998), về so
sánh các tác dụng đối với bệnh nhân của 2 loại HTKNR dạng
IgG và F(ab’)2 đều kháng nọc rắn Bothrops Asper tại Columbia
16
1.3
Tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn trong nghiên cứu
của S.P.Bush, A.M.Ruha, S.A.Seifert và cs., (2014), về so sánh
các tác dụng đối với bệnh nhân của 2 loại HTKNR dạng F(ab) và
F(ab’)2 đều kháng nọc rắn Bothrops Asper tại Columbia
18
1.4 So sánh tỷ lệ số BN có các tác dụng không mong muốn khi điều
trị bằng 2 loại HTKNR PolongaTab và Haffkine 23
1.5 Các tác dụng không mong muốn xảy ra trên BN khi điều trị bằng
1.6
Tỷ lệ số BN có các tác dụng không mong muốn khi điều trị bằng
HTKNR Naja Kouthia do Viện Vắc - xin và Sinh phẩm Y tế
(IVAC) sản suất, theo nghiên cứu của Phạm Duệ và Ngô Đức
Ngọc (2017)
24
1.7
Các tác dụng không mong muốn xảy ra trên BN điều trị bằng
HTKNR Naja Kouthia do Viện Vắc - xin và Sinh phẩm Y tế
(IVAC) sản suất, theo nghiên cứu của Phạm Duệ và Ngô Đức
Ngọc (2017)
24
3.1 Đặc điểm về tuổi, giới tính của bệnh nhân 30 3.2 Đặc điểm về địa lý của BN trong nghiên cứu 31
3.4 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của BN khi nhập viện 33
Trang 63.5 Đặc điểm chỉ số xét nghiệm Huyết học tế bào của BN 33 3.6 Đặc điểm chỉ số Huyết học đông máu của BN 34
3.9 Các tác dụng không mong muốn của huyết thanh 36
3.10 Đặc điểm phản ứng liên quan đến việc sử dụng huyết thanh 36
3.11 Đặc điểm xử trí sau khi xảy ra phản ứng 37
3.12 So sánh một số đặc điểm ở 2 nhóm bệnh nhân có và không có
4.1 So sánh đặc điểm ba loại HTKNR: IgG, F(ab’)2 và F(ab) [57] 42
4.2 Các triệu chứng tác dụng không mong muốn thường gặp trong
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
1.4 Phân tách các mảnh F(ab) và F(ab’)2 từ IgG 16 1.5 Ảnh chụp HTKNR được sử dụng trong nghiên cứu 21
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1.1 Phân bố bệnh nhân bị các loại rắn độc cắn tại Bệnh viện Chợ
1.2 Số lượng bệnh nhân rắn cắn và tử vong tại Trung tâm cấp cứu
Sài Gòn và Bệnh viện Chợ Rẫy từ 1979 - 1996 5 3.1 Đặc điểm về địa chỉ của BN trong nghiên cứu 31
Trang 9MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Rắn độc và tai nạn rắn độc cắn 3
1.1.1 Rắn độc và tai nạn rắn độc cắn trên thế giới 3
1.1.2 Rắn độc và tai nạn rắn độc cắn tại Việt Nam 3
1.1.2.1 Rắn độc ở Việt Nam 3
1.1.2.2 Tình hình rắn độc cắn ở Việt Nam 4
1.2 Tổng quan về rắn hổ mang Naja Kouthia 6
1.2.1 Hình dạng, nơi sinh sống, của rắn hổ mang Naja Kouthia 6
1.2.2 Nọc rắn và cơ chế gây độc của nọc độc rắn hổ mang Naja Kouthia 7 1.2.2.1 Nọc rắn 7
1.2.2.2 Cơ chế gây độc của nọc rắn hổ mang 8
1.3 Sơ cứu và Điều trị rắn hổ mang cắn 10
1.3.1 Sơ cứu 10
1.3.2 Điều trị hỗ trợ 11
1.3.3 Điều trị đặc hiệu 11
1.4 Tổng quan về huyết thanh kháng nọc rắn 13
1.4.1 Thành phần của huyết thanh kháng nọc rắn 13
1.4.1.1 Nguyên lý sản xuất huyết thanh kháng nọc 13
1.4.1.2 Tình hình sản xuất huyết thanh kháng nọc ở Việt Nam 19
1.4.1.3 Giới thiệu về HTKNR được sử dụng trong nghiên cứu 20
1.4.2 Cơ chế tác dụng của huyết thanh kháng nọc rắn đối với bệnh nhân 21
1.4.3 Tác dụng không mong muốn, tương tác thuốc của huyết thanh kháng nọc rắn 22
1.4.3.1 Các tác dụng không mong muốn 22
1.4.3.2 Tương tác thuốc 24
Trang 101.5 Vài nét về địa điểm tiến hành nghiên cứu 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 26
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 26
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2 Cỡ mẫu 27
2.2.3 Quy trình thu thập số liệu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.3.1 Thống kê các đặc điểm chung, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân được nghiên cứu 27
2.3.2 Thống kê các tác dụng không mong muốn do Huyết thanh kháng nọc rắn gây ra trên bệnh nhân được sử dụng 28
2.3.3 Các phương pháp xử trí 28
2.4 Các phương pháp xử lý số liệu 28
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Một số đặc điểm chung về bệnh nhân 30
3.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới tính của bệnh nhân 30
3.1.2 Đặc điểm về địa lý 31
3.1.3 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng 32
3.1.4 Đặc điểm triệu chứng cận lâm sàng 33
3.2 Kết quả điều trị huyết thanh kháng nọc 35
3.3 So sánh một số đặc điểm ở 2 nhóm bệnh nhân có và không có phản ứng với huyết thanh kháng nọc 37
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 39
Trang 114.1 Một số đặc điểm chung về bệnh nhân 39
4.1.1 Đặc điểm về tuổi, giới 39
4.1.2 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng 40
4.1.3 Đặc điểm triệu chứng cận lâm sàng 41
4.2 Đặc điểm tác dụng không mong muốn khi dùng huyết thanh kháng nọc 41
4.2.1 Đặc điểm sử dụng huyết thanh kháng nọc 41
4.2.2 Đặc điểm tác dụng không mong muốn huyết thanh kháng nọc 43
4.2.3 Đặc điểm xử trí tác dụng không mong muốn của huyết thanh kháng nọc 45
4.3 So sánh một số đặc điểm bệnh nhân giữa hai nhóm có và không phản ứng với huyết thanh kháng nọc 47
4.4 Một số hạn chế của đề tài 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48
Kết luận 48
Đề xuất 49
Trang 131
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rắn độc cắn là một bệnh lý thường gặp trên thế giới [1], và người bị rắn cắn
có tỷ lệ tử vong cao [1] Mỗi năm thế giới có tới 5 triệu người bị rắn cắn, làm chết khoảng từ 20.000 đến 125.000 người [1] 50% số nạn nhân này thuộc về các quốc gia Châu Á và Châu Phi [4], [5] Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho số lượng bệnh nhân rắn cắn tử vong tăng là thiếu hoặc không có huyết thanh kháng nọc rắn (HTKNR) để điều trị Vấn đề này đang ở mức báo động toàn cầu [6], [7]
Việt Nam là nước có khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới, điều kiện địa lý và thời tiết rất thuận lợi cho các loài phát triển, đặc biệt là các loài rắn độc Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (1996), ở nước ta có khoảng 146 loài rắn, trong đó có 31 loài rắn độc nguy hại cho người (18 loài trên cạn và 13 loài rắn biển) [8] Rắn hổ mang là loại rắn độc thường gặp nhất, trong đó có rắn hổ mang Bắc, rắn hổ đất, và rắn hổ mèo Ước tính tại Việt Nam mỗi năm có tới 30.000 người bị rắn độc cắn [9]
Về điều trị, ngoài các điều trị hỗ trợ thì HTKNR là thuốc đặc trị cho bệnh nhân bị nhiễm độc nọc rắn [10], [11], [12] Trên thế giới, việc điều trị bằng HTKNR đã được tiến hành từ những năm 1895 [25] Trước năm 1990, nước ta vẫn chưa sản xuất được bất cứ loại HTKNR để điều trị cho bệnh nhân nhiễm độc rắn độc Vì vậy, tỷ lệ tử vong của nhóm bệnh nhân rắn cắn nhiễm độc nặng rất cao, khoảng 19,5% [13]
Đáp ứng yêu cầu thực tế, từ năm 1990, Bộ Y tế đã cho phép Đơn vị nghiên cứu rắn - Bệnh viện Chợ Rẫy, Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai,… thực hiện loạt đề tài khoa học chế tạo HTKNR Đến nay, có nhiều loại HTKNR, bao
gồm HTKNR hổ đất (Naja Kouthia), hổ mang (Naja atra)… đã được sản xuất, ứng
dụng lâm sàng an toàn và hiệu quả, góp phần quyết định giảm tỷ lệ tử xuống còn khoảng 3,1% [9], [13]
Tuy đã được nghiên cứu kĩ lưỡng, nhưng khi đưa vào sử dụng, bất kì một loại thuốc nào cũng có thể gây ra tác dụng phụ (tác dụng không mong muốn) Đặc biệt, là khi HTKNR được điều chế từ các loại huyết thanh của động vật thì nguy cơ phản ứng dị ứng lại càng tăng
Trang 142
Trên thế giới, đối với HTKNR, tỷ lệ xảy ra tác dụng không mong muốn trên các bệnh nhân dao dộng từ 12,9 - 64,5% [25], [28] Tại Việt Nam, đã có một số nhiều nghiên cứu về các tác dụng không mong muốn xảy ra trên bệnh nhân sử dụng HTKNR, với tỷ lệ tác dụng không mong muốn xảy ra trên bệnh nhân khoảng 10,14% với HTKNR hổ đất do Viện Vắc - xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang sản xuất [2] Tuy nhiên, mặc dù đã được sản xuất theo qui trình chuẩn, thì nguy cơ phản ứng với HTKNR là luôn tồn tại và thường xuyên cần được đánh giá và phản hồi để tiếp tục nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị cũng như chất lượng của HTKNR
Vì những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Đặc điểm một số tác dụng phụ của bệnh nhân điều trị bằng HTKNR hổ mang Naja Kouthia tại
Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai 2019” với mục tiêu:
- Khái quát đặc điểm một số tác dụng không mong muốn ở bệnh nhân được sử
dụng huyết thanh kháng nọc rắn hổ mang Naja Kouthia tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai năm 2019
- So sánh một số đặc điểm khác biệt giữa nhóm bệnh nhân có và không xảy ra
tác dụng không mong muốn với HTKNR hổ Naja Kouthia
Trang 153
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Rắn độc và tai nạn rắn độc cắn
1.1.1 Rắn độc và tai nạn rắn độc cắn trên thế giới
Rắn là loài bò sát phân bố khắp nơi trên thế giới ngoại trừ bắc cực Theo phân
loại học, rắn thuộc ngành Dây sống (Chordata), bộ Có vảy (Squamata), lớp Bò sát (Reptile) [8], [15] Theo Halliday T., Adler K (2002) và Mehrtens, J.M (1987)
trong số trên 3.000 loài rắn có mặt trên trái đất thì khoảng 375 loài là rắn độc và
thuộc vào bốn họ: Viperidae, Elapidae, Atractaspididae và Colubridae [16], [17].
Rắn độc cắn là vấn đề y tế và xã hội lớn ở nhiều nước trong các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở các nước nghèo và đang phát triển, trong đó có Việt Nam Theo Swaroop S., Grap B (1954) và Chippaux J.P (1998), hàng năm trên thế giới ước tính có khoảng 5 triệu trường hợp bị rắn cắn, trong đó có hơn 20.000 - 125.000 trường hợp bị chết do rắn độc cắn [1], [18] Hai khu vực có nhiều nạn nhân
tử vong do bị rắn cắn nhất là Châu Á và Châu Phi [19], [20], [21] Myanmar báo cáo năm 1991 có 14000 BN bị rắn độc cắn với 1000 BN tử vong và năm 1997 có 8000
BN bị rắn độc cắn với 500 BN tử vong [22] Thái Lan năm 1985 và năm 1989 có
3377 BN và 6038 BN bị rắn độc cắn mỗi năm, năm 1991 có 6733 BN trong đó tử vong 19 BN, năm 1994 có 8486 BN với 9 BN tử vong [22]
1.1.2 Rắn độc và tai nạn rắn độc cắn tại Việt Nam
1.1.2.1 Rắn độc ở Việt Nam
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới với địa hình và khí hậu khác nhau giữa các miền Bắc, Trung, Nam Đặc điểm tự nhiên đó đã tạo nên sự đa dạng sinh học ở nước ta, trong đó có rắn độc Nghiên cứu sinh thái học các loài rắn của Việt Nam
đã được nhiều tác giả tiến hành và đã được tổng kết lại một cách hệ thống Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (1996), Việt Nam có 146 loài rắn, trong đó có 31 loài rắn độc phân bố cả trên cạn và dưới nước [8]
Rắn độc ở Việt Nam chủ yếu thuộc hai họ có tầm y học quan trọng là họ rắn
hổ và họ rắn lục [9], [10]
Trang 164
1.1.2.2 Tình hình rắn độc cắn ở Việt Nam
Tai nạn rắn cắn xảy ra ở hầu hết các vùng trong cả nước Các chuyên gia ước tính mỗi năm nước ta có khoảng 30,000 trường hợp bị rắn cắn Tỷ lệ tử vong do rắn độc cắn chưa được thống kê đầy đủ [24].Các báo cáo tổng kết tại khoa Hồi sức cấp cứu A9 BỆNH VIỆN Bạch Mai, tỷ lệ tử vong của nhóm BN bị rắn hổ cắn là 20% (1987 - 1991); 11,9% (1991 - 1993); 5,4% (1994 - 1997) [23] Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, hàng năm có từ 600 đến 1.000 bệnh nhân rắn cắn nhập viện [13], [29] Theo nghiên cứu của Trịnh Xuân Kiếm và cs (2000), tỉ lệ rắn cắn thay đổi theo từng vùng miền khác nhau trên cả nước [29] Hầu hết các trường hợp rắn độc cắn điều trị tại Trại rắn Đồng Tâm là do rắn lục và rắn hổ đất [27]; trong khi tại Bệnh viện Chợ Rẫy, tỉ lệ rắn độc thay đổi: lục xanh 43,3%, hổ đất 27,5%, choàm quạp 19,4%, hổ mèo 6,3%, hổ chúa 1,2%, cạp nia Nam 2,1% và rắn biển 0,2% [29] Hiện nay, HTKNR đơn đặc hiệu đã có 7 loại: hổ đất, hổ mang, hổ chúa, rắn cạp nia Nam, rắn cạp nia Bắc, rắn lục xanh và rắn chàm quạp
Biểu đồ 1.1 Phân bố bệnh nhân bị các loại rắn độc cắn tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ
năm 1990 - 1998 (n=1997)
*Nguồn: theo Trịnh Xuân Kiếm và cs (2000)[29]
Trang 175
Biểu đồ 1.2 Số lượng bệnh nhân rắn cắn và tử vong tại Trung tâm cấp cứu Sài
Gòn và Bệnh viện Chợ Rẫy từ 1979 - 1996
*Nguồn: theo Trịnh Xuân Kiếm và cs (1997)[13]
Bảng 1.1 Tỷ lệ tử vong của BN bị rắn cắn của 2 nhóm có sử dụng HTKNR và
nhóm không sử dụng HTKNR tại Trung tâm cấp cứu Sài Gòn và Bệnh viện Chợ
Trang 186
1.2 Tổng quan về rắn hổ mang Naja Kouthia
1.2.1 Hình dạng, nơi sinh sống, của rắn hổ mang Naja Kouthia
Rắn hổ mang một mắt kính hay
gọi tắt là rắn hổ đất (Naja Kouthia) là 1
loài rắn thuộc họ Elapidae, phân bố rộng
từ Trung Á đến Nam Á Đặc điểm nổi
bật của loài rắn này là khi bạnh cổ, sau
gáy của chúng sẽ hiện rõ một vòng tròn
màu sáng giống như chiếc mắt kính Ở
hai bên hoa văn hình tròn này có 2 dải
màu trắng giống như gọng kính Phần
dưới cổ có một dải rộng sẫm màu nằm
ngang Lưng của rắn hổ mang đất thường
có màu vàng lục hoặc nâu sẫm
Hình 1.1 Lưng của rắn hổ mang
Naja Kouthia
Tại Việt Nam, Naja Kouthia phân bố chủ yếu tại miền Bắc hoặc miền Tây Nam Bộ [46]
Hình 1.2 Rắn hổ mang Naja Kouthia
Trang 19và tiêu hoá con mồi một cách rất hiệu quả
Tự vệ là chức năng đầu tiên của nọc rắn Biện pháp tự vệ hữu hiệu nhất cùa các loài rắn là các vết cắn gây đau do nọc rắn
Nhiều loại động vật dùng nọc độc có các độc tố tác dụng nhanh và đặc hiệu làm bất động hoặc giết con mồi Nọc rắn chứa nhiều độc tố gây tử vong cao tác động lên các chức năng sinh tồn của cơ thể: hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, trực tiếp lên tim và hệ đông cầm máu
Tác động thường gặp của nọc rắn là giúp tiêu hoá con mồi Do đó, thành phần nọc rắn có mặt nhiều hỗn hợp các độc tố và các men gây chết có tác động mạnh và hữu hiệu
Nọc rắn độc sau đông khô là hỗn hợp các chất vô cơ (Al, Cu, Zn, Ag ) và các chất hữu cơ phần lớn là loại protein có trọng lượng phân tử thấp, trong đó có cả một hệ thống enzym phong phú: Protease, phospholipase, hyaluronidase, cholinesterase, phosphatase, 5 - nucleotidase, ribonuclease [9], [30] Các độc tố
và men một số loài gây hoại tử cơ vân [31] Một số độc tố và men tác động lên hệ thống đông cầm máu [32], [33] Độc tố cũng có thể tác động gây độc cho tim (cardiotoxin) [34] Markland F.S (1998) và Matsui T và cs (2000) đã tổng hợp lại
cơ chế gây rối loạn đông cầm máu và tạo thành huyêt khối của nọc rắn [35], [36] Meb D và cs (1990) và Ownby C.L (1998) chứng minh tác động của độc tố cơ từ nọc rắn [37], [38] Fletcher J.E và cs (1986) chứng minh vai trò của độc tố phospholipase A2 (PLA2) trong việc giải phóng acetylcholine và choline tại khớp thần kinh - cơ [39]
Nọc của các loại rắn độc đa phần có bản chất là các protein có trọng lượng phân tử lớn khoảng từ 50 - 125 kDa, trong đó có chứa rất nhiều hoạt chất khác nhau tuỳ thuộc mỗi loài rắn mà chúng có các hoạt chất đặc trưng theo loài [9] Do
Trang 208
có bản chất như trên nên nọc rắn độc có tính sinh miễn dịch tốt [10], [40] Hơn nữa trong thành phần nọc rắn có nhiều hoạt chất giống nhau giữa các loại rắn khác nhau trong cùng một họ nên dễ tạo nên phản ứng chéo giữa huyết thanh kháng lại loại nọc rắn này với các quyết định kháng nguyên có trong nọc độc của một số loài rắn khác cùng họ [9], [10]
1.2.2.2 Cơ chế gây độc của nọc rắn hổ mang
Nọc rắn độc được coi là một phức hợp phát triển cao nhất trong số các độc
tố do động vật và thực vật tạo ra Nọc rắn chứa một số lượng lớn các chất có hoạt tính dược lý mạnh và mỗi độc tố trong số này có những phương thức hoạt động đặc hiệu Khi bị rắn độc cắn, các chất này được tiêm qua vết cắn vào cơ thể nạn nhân bắt đầu hoạt động theo các kiểu độc lập, hiệp đồng hoặc đối kháng Nọc rắn độc có thể gây ra rất nhiều biểu hiện nhiễm độc trên lâm sàng bao gồm:
§ Nhiễm độc tại chỗ
Vết cắn thường được quan sát trên chi nạn nhân Nó có thể là một, hai hoặc nhiều dấu răng độc tuỳ thuộc vào số lần bị cắn Vết cắn cũng có thể do bị cào xước hoặc từ nhiều dấu răng không độc tạo nên Hơn nữa, khoảng cách giữa hai răng độc có thể phản ánh kích thước của rắn nhưng nó cũng phụ thuộc loài rắn khác nhau Dấu hiệu tại chỗ tuỳ thuộc vào lượng nọc rắn xâm nhập vào cơ thể và đặc tính sinh học nọc rắn của từng họ rắn khác [41], [42] Nhiễm độc tại chỗ có thể từ không có triệu chứng tới rất nặng
Các dấu hiệu và triệu chứng tại chỗ bao gồm: Dấu răng, đau, sưng nề, vết sưng đỏ, vết bầm máu, chảy máu, viêm mạch bạch huyết, hạch bạch huyết sưng to, bóng nước và hoại tử [42] Dù vết cắn không có dấu răng cũng không được loại trừ rắn độc cắn Bệnh nhân phải được theo dõi trong bệnh viện cho đến khi chứng minh được vết cắn này do rắn không độc gây ra Ngoài ra, các triệu chứng tại chỗ
có thể thay đổi do một số các biện pháp sơ cứu ban đầu gây ra như rạch, nặn máu,
ga - rô [11]
Trang 219
Hình 1.3 Các dấu hiệu nhiễm độc nọc rắn hổ mang.
§ Nhiễm độc toàn thân [46]
- Dấu hiệu thần kinh:
Nhiễm độc thần kinh là tác dụng đầu tiên của nọc rắn hổ mang, liệt các dây thần kinh sọ não có thể xuất hiện trước và có thể gây liệt cơ hô hấp cũng như liệt mềm ngoại vi Liệt do độc tố thần kinh thường là hậu quả của các độc tố thần kinh tác dụng lên điểm nối thần kinh cơ ở trước hoặc sau synapse, các độc tố này tác dụng lên toàn thân hơn là tại chỗ, ảnh hưởng lên tất cả các cơ vân trong đó có cơ hô hấp
- Dấu hiệu ở mắt và họng:
Sụp mi, đồng tử giãn, nhìn đôi và liệt cơ vận nhãn ngoài xuất hiện sau khi bị cắn đi kèm với các dấu hiệu nhiễm độc thần kinh
- Dấu hiệu tim mạch:
Các độc tố với cơ tim trong nọc rắn hổ với nồng độ thấp làm tăng co bóp cơ tim, nồng độ cao hơn sẽ làm gây thiếu máu cơ tim, loạn nhịp Bệnh nhân có thể đau tức ngực, hồi hộp đánh trống ngực, tụt huyết áp, shock tim
- Dấu hiệu hô hấp:
Liệt cơ hô hấp xuất hiện do tác dụng nhanh chóng của nọc độc lên thần kinh trung ương Bệnh nhân xuất hiện khó thở, liệt các cơ hô hấp dẫn đến suy hô hấp nặng cần phải hô hấp nhân tạo kịp thời, tuy nhiên liệt cơ hô hấp do rắn hổ mang
Trang 2210
cắn thường không kéo dài lâu
- Dấu hiệu cơ xương:
Liệt mềm toàn thể các cơ là hậu quả của tình trạng nhiễm độc thần kinh, đa số các trường hợp bệnh nhân còn tỉnh và biết làm theo lệnh đơn giản như vận động các đầu ngón chân, tay
- Dấu hiệu tiêu hoá:
Buồn nôn và nôn, đau bụng thường xuất hiện sau khi bị rắn hổ mang bành cắn
- Dấu hiệu tiết niệu:
Đái máu và suy thận cấp có thể xuất hiện sau khi nọc rắn hổ mang vào cơ thể Dấu hiệu là đau và tổn thương cơ, yếu cơ, myoglobin niệu, tăng chuyển hoá creatine thành creatinine (CK), suy thận và tăng kali bất thường trong máu
- Các rối loạn về huyết học:
Có thể gây rối loạn đông máu, tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch
1.3 Sơ cứu và Điều trị rắn hổ mang cắn
1.3.1 Sơ cứu
Cấp cứu đầu tiên hay sơ cứu nạn nhân rắn độc cắn là các biện pháp được tiến hành càng sớm càng tốt ngay tại hiện trường bằng các biện pháp đơn giản nhằm tăng cơ hội sống sót cho nạn nhân và giảm bớt các biến chứng do nhiễm độc nọc rắn gây ra [11]
- Các biện pháp khuyến cáo [59]:
+ Ngay sau khi bị cắn, nhanh chóng bóp nặn máu và cọ rửa trong chậu nước trong vài phút hoặc kết hợp dội nước hay dưới vòi nước chảy
+ Băng ép bất động
+ Vận chuyển bệnh nhân: Cần nhanh chóng đưa đến các cơ sở y tế gần nhất bằng phương tiện vận chuyển, vùng bị cắn cần hạn chế vận động và để thấp hơn vị trí của tim
- Các biện pháp không khuyến cáo [59]: Mất thời gian đi tìm thầy lang, lá thuốc, dùng hòn đá chữa rắn cắn, trích rạch, gây điện giật, chữa bằng mẹo,…đặc
Trang 2311
biệt là mất thời gian chờ đợi xem tác dụng của các biện pháp sơ cứu trước khi cân nhắc đến các cơ sở y tế và đến cơ sở y tế khi đã muộn, hoại tử đạt mức độ tối đa, biến chứng nặng hoặc tử vong
1.3.2 Điều trị hỗ trợ
Các biện pháp điều trị không đặc hiệu bao gồm điều trị triệu chứng để duy trì chức năng sống cho bệnh nhân và điều trị dự phòng biến chứng do nhiễm độc nọc rắn
Ngay khi nhận bệnh vào cấp cứu phải thông báo ngay cho các bác sỹ chuyên
về điều trị rắn độc Tiến hành lập đường truyền tĩnh mạch bằng kim luồn để truyền dịch Lấy máu và nước tiểu làm xét nghiệm: Công thức máu, đông máu toàn bộ [Thời gian prothrombin (Prothrombine Time - PT), thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần (Activated Partial Thromboplastin Time - APTT), tiểu cầu, fibrinogen và
co cục máu], chức năng thận [Blood Urea Nitrogen (BUN) và creatinin], men gan [GOT và GPT], điện giải đồ, men cơ myoglobine], tổng phân tích nước tiểu và myoglobine/niệu, điện tâm đồ, khí máu động mạch Theo dõi bệnh nhân bao gồm: Tháo ga - rô có chuẩn bị (đề phòng biến chứng ngưng tim, ngưng thở đột ngột) Theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm độc nọc rắn diễn tiến Nếu không có HTKNR tại cơ sở, nhanh chóng chuyển bệnh nhân đến cơ sở khác có HTKNR để điều trị đặc hiệu (đảm bảo an toàn chuyển bệnh) Nếu có HTKNR đặc hiệu, cần nhanh chóng tiến hành các biện pháp cần thiết cho việc điều trị HTKNR đặc hiệu thuận lợi [11], [24]
1.3.3 Điều trị đặc hiệu
Theo Warrell D.A (2010) và WHO (2010), HTKNR là thuốc điều trị đặc hiệu duy nhất làm giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng do nhiễm độc nọc rắn [11], [12] HTKNR vẫn có hiệu lực sau vài ngày hoặc một tuần bị rắn độc cắn Tuy nhiên, HTKNR sẽ phát huy tối đa hiệu quả nếu được sử dụng càng sớm càng tốt
trong vài giờ đầu sau khi bị cắn và cho đủ liều Vì vậy, WHO (2007), Warell D.A (2010) và Warrell D.A và cs (2000), khuyến cáo liều khởi đầu HTKNR cần được
sử dụng càng sớm càng tốt theo đường tiêm truyền tĩnh mạch [1], [11], [24]
Theo “Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc” của Bộ Y Tế (2015) [59]:
§ Chỉ định:
Trang 2412
- HTKNR cần được chỉ định càng sớm càng tốt Tốt nhất chỉ định trong vòng
24 giờ đầu sau khị bị cắn, có thể trong vòng vài ngày đầu nếu các triệu chứng nhiễm độc nọc rắn vẫn đang tiến triển nặng lên Để phòng tránh hoặc hạn chế tối
đa tổn thương hoại tử thì HTKNR cần được dùng trong vòng vài giờ đầu
- Nếu có xét nghiệm nọc rắn trong máu, chỉ định HTKNR khi còn nọc rắn trong máu dương tính
§ Thận trọng: Cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ ở các bệnh nhân sau:
- Có tiền sử dị ứng với các động vật (như ngựa, cừu) được dùng để sản xuất HTKNR hoặc các chế phẩm huyết thanh từ các động vật này (ví dụ huyết thanh giải độc tố uốn ván)
- Người có cơ địa dị ứng: đã từng bị dị ứng hoặc các bệnh dị ứng như chàm, viêm mũi dị ứng, sẩn ngứa, đặc biệt dị ứng mạnh (như hen phế quản, từng bị phản vệ)
§ Loại HTKNR: HTKNR hổ mang dành cho rắn hổ đất (Naja Kouthia)
§ Cam kết về sử dụng HTKNR: Dùng HTKNR là biện pháp điều trị tốt nhất, tuy nhiên bệnh nhân và gia đình cần được giải thích về nguy cơ có thể có của HTKNR và ký cam kết đồng ý trước khi dùng thuốc
§ Liều HTKNR:
- Liều ban đầu: từ 5 - 10 lọ
- Đánh giá ngay sau khi ngừng HTKNR liều trước và xét dùng ngay liều kế tiếp
- Các liều nhắc lại: Nếu thấy triệu chứng vẫn tiến triển nặng lên hoặc không cải thiện, nhắc lại trong vòng 3 giờ sau khi ngừng liều trước (càng sớm càng tốt), với liều bằng hoặc một nửa liều ban đầu Sau khi nhắc lại tối đa 3 lần nếu triệu chứng vẫn không cải thiện cần xem lại, chẩn đoán xác định và chẩn đoán mức độ, liều lượng thuốc và các tình trạng khác của bệnh nhân để quyết định dùng tiếp hay ngừng HTKNR
§ Cách dùng:
Trang 2513
- Truyền tĩnh mạch: Là đường dùng chính Pha loãng 5 - 10 lọ HTKNR trong
100 - 200ml Natriclorua 0,9% hoặc Glucose 5%, truyền tĩnh mạch chậm với tốc độ đều đặn trong khoảng 1 giờ
- Tiêm dưới da: Có thể cân nhắc nếu trong vòng vài giờ đầu hoặc khi tổn thương tại chỗ đang tiến triển nhanh Vị trí tiêm: Tiêm dưới da quanh vết cắn hoặc ranh giới hoại tử Chia dung dịch thuốc làm nhiều phần và tiêm ở nhiều vị trí ở vùng xung quanh vết cắn hoặc vùng tổn thương da, phần mềm do nọc độc rắn Mỗi
vị trí tiêm không quá 1 - 2ml
§ Ngừng dùng HTKNR khi:
- Các triệu chứng nhiễm độc hồi phục tốt, diện tích hoại tử nhỏ lại, vòng chi
và độ lan xa của sưng nề giảm
- Các triệu chứng nhiễm độc hồi phục rõ: Vùng hoại tử không lan rộng thêm, vòng chi và độ lan xa của sưng nề giảm
- Triệu chứng nhiễm độc dừng lại, không tiến triển nữa (với triệu chứng khó
có thể thay đổi ngay như hoại tử, bầm máu, máu đã chảy vào trong cơ,…)
- Bệnh nhân có phản ứng với HTKNR: Sốc phản vệ, mày đay, phản ứng tăng thân nhiệt Điều trị các phản ứng này, sau đó cân nhắc lợi và hại để dùng lại HTKNR sau khi đã xử trí ổn định
1.4 Tổng quan về huyết thanh kháng nọc rắn
1.4.1 Thành phần của huyết thanh kháng nọc rắn
1.4.1.1 Nguyên lý sản xuất huyết thanh kháng nọc
§ Nguồn gốc và khái niệm HTKNR
Cuối thế kỷ XIX, nhờ sự phát triển của Miễn dịch học hiện đại, các nhà khoa học trên thế giới đã sử dụng các độc tố nguy hiểm như độc tố bạch hầu, độc tố uốn ván để gây miễn dịch cho ngựa sau đó thu hoạch huyết thanh của động vật đã gây miễn dịch dùng cho điều trị các bệnh bạch hầu và uốn ván, mở ra kỷ nguyên trị liệu huyết thanh [12] Năm 1894, cùng với các nhà khoa học trên thế giới chế tạo các loại huyết thanh khác, Bác sĩ người Pháp Calmette A khi đó đang làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn, Việt Nam đã chế tạo thành công huyết thanh ngựa gây miễn dịch với nọc rắn hổ Năm 1895, huyết thanh kháng nọc rắn hổ này đã chứng minh được tính
Trang 2614
hiệu quả khi điều trị bệnh nhân đầu tiên bị rắn hổ cắn và Calmette A được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới chế tạo và sử dụng thành công HTKNR [47] Do xuất xứ ban đầu huyết thanh của động vật gây miễn dịch với nọc rắn được sử dụng để điều trị nên sản phẩm được gọi là HTKNR Cùng với sự phát triển của khoa học, sản phẩm HTKNR đã được cải tiến theo hướng tinh chế các kháng thể hay các mảnh kháng thể
có trong huyết thanh hoặc huyết tương động vật gây miễn dịch để sử dụng cho điều trị nhằm tăng cường tính an toàn và hiệu lực của sản phẩm Mặc dù không còn là huyết thanh nhưng các dạng sản phẩm này, do yếu tố lịch sử, khi sử dụng cho điều trị vẫn được gọi là HTKNR Nhiều quốc gia đã tiếp tục nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều dạng HTKNR đa giá cho một số loài rắn có tầm quan trọng y học [48], [49] Việc ứng dụng HTKN để điều trị trên lâm sàng đã làm giảm tỉ lệ tử vong do rắn độc cắn và các nhiễm độc khác do độc tố của các động vật và vi sinh vật gây ra [50].
§ Phân loại
Tùy theo cách sản xuất có thể phân loại HTKNR thành các loại khác nhau: Theo cách gây miễn dịch với nọc của một loài rắn hay nhiều loài rắn có HTKNR đơn giá hay đặc hiệu (Monospecific antivenom) hoặc đa giá hay đa đặc hiệu (Polyspecific antivenom) [9]
- HTKNR đơn giá hay đơn đặc hiệu được tạo ra bằng cách sử dụng nọc chỉ của một loài rắn để gây miễn dịch cho động vật chủ Ví dụ, HTKN rắn hổ chúa
(Ophiophagus hannah) chỉ hiệu quả khi điều trị cho nhiễm độc rắn hổ chúa, HTKN rắn choàm quạp (Calloselasma rhodostoma) chỉ hiệu quả cho nhiễm độc rắn
choàm quạp…
- HTKNR đa giá hay đa đặc hiệu được tạo ra bằng hai cách như sau:
+ Khi gây miễn dịch cho vật chủ bằng hỗn hợp nọc của các loài rắn khác nhau, kháng thể tạo ra có khả năng trung hoà được các loại rắn gây miễn dịch [48] Tuy nhiên, HTKNR có kháng thể thấp không đáp ứng cho điều trị từng loại
+ Khi trộn lẫn HTKNR đơn giá của nhiều loài rắn khác nhau hoặc trộn huyết tương ngựa đã miễn dịch giàu kháng thể của từng loại rắn khác nhau sau đó tiến hành tinh chế HTKNR đa giá Tuỳ theo từng vùng, các nhà sản xuất có thể tạo ra HTKNR
đa giá cho từng nhóm rắn Ví dụ HTKNR đa giá cho họ rắn hổ, HTKNR đa giá họ rắn lục hoặc các rắn thường gặp đóng vai trò y học rất quan trọng như gây tỉ lệ tử vong
Trang 2715
cao nhất khu vực hay quốc gia Ưu điểm của HTKNR đa giá làm gia tăng khả năng sử dụng HTKNR đặc hiệu ngay khi các bác sĩ không có kinh nghiệm hay thiếu trang thiết bị xét nghiệm chẩn đoán nhanh xác định được loài rắn gây nạn Tuy nhiên, HTKNR đa giá có thể sẽ có nguy cơ cao gặp phản ứng bất lợi [9]
Theo cách tinh chế HTKNR, việc sử dụng các enzyme khác nhau để phân cắt phân tử kháng thể IgG thành các mảnh khác nhau tạo ra các dạng HTKNR khác nhau: Các dạng HTKNR toàn phân tử IgG nguyên vẹn hay các mảnh F(ab) hoặc F(ab’)2 [9] Tuỳ điều kiện và kinh nghiệm của nhà sản xuất, nhu cầu điều trị của từng quốc gia, từng địa phương và từng loại nọc rắn; có thể sản xuất HTKNR ở một trong ba dạng sản phẩm trên, sau đó tinh chế loại bỏ đi các thành phần khác, chỉ để lại phần đặc hiệu tác dụng với độc tố nọc rắn là phần IgG, F(ab’)2, hoặc F(ab), với mức độ cô đặc cao nhất
- HTKNR dạng IgG: Phân tử IgG nguyên vẹn có mảnh Fc Fc mang thụ thể gắn các tế bào mastocyte, bạch cầu base, đó là kho chứa các chất trung gian hoá học histamin, serotonin, bradykinin,… gây phản vệ, phản ứng nguy hiểm nhất trong huyết thanh trị liệu
- HTKNR dạng F(ab’)2: Để giảm thiểu phản ứng quá mẫn khi sử dụng HTKNR, dùng pepsin cắt bỏ phần Fc của g - globulin miễn dịch, tạo ra mảnh F(ab’)2, sau đó tinh chế, cô đặc mảnh F(ab’)2 Phần Fc được loại bỏ, mảnh F(ab’)2
vẫn còn khả năng kết hợp hai kháng nguyên được giữ lại
- HTKNR dạng F(ab): Được tạo ra bằng cách sử dụng men papain cắt Fc của IgG, sau đó dùng qui trình kỹ thuật sắc ký ái lực (Affinity chromatography) hay sắc ký trao đổi ion (Ion - exchange chromatography) thu hồi hai mảnh F(ab), mỗi mảnh có một vị trí kết hợp kháng nguyên, tạo ra HTKNR có độ tinh sạch cao [9] Mảnh Fab có ưu điểm: Chỉ có một vị trí kết hợp kháng nguyên, F(ab) không hình thành phức hợp miễn dịch, không gây phản ứng quá mẫn type - III [58], phần Fc đã mất nên không kết hợp bổ thể, mảnh F(ab) không gây shock phản vệ hoặc phản ứng dạng phản vệ Tuy nhiên, thời gian bán huỷ của F(ab) (khoảng 4 giờ) lại thấp hơn thời gian bán huỷ của F(ab’)2 (khoảng 36 giờ) nên hiệu quả điều trị của F(ab)
là thấp hơn [57]
Trang 2816
Hình 1.4 Phân tách các mảnh F(ab) và F(ab’)2 từ IgG
Tại Hội nghị độc học thế giới tại Mexico lần thứ 12 (1997), các nhà khoa
học đã thống nhất quan điểm rằng “Hiệu quả điều trị của HTKNR F(ab’) 2 phù hợp hơn F(ab)” Hàng chục năm nay, ba vấn đề lớn của sản xuất HTKNR vẫn là mối
quan tâm của các nhà nghiên cứu là: Hiệu lực chưa đủ mạnh, phản ứng không
mong muốn còn cao, và giá thành còn đắt
So sánh tỷ lệ mắc ADR giữa các loại HTKNR:
- Trong nghiên cứu của Otero - Patinõ, Segura A, Herrera M, và cs (1998), về
so sánh các tác dụng đối với bệnh nhân của 2 loại HTKNR dạng IgG và F(ab’)2
đều kháng nọc rắn Bothrops Asper tại Columbia [51], đã cho ra kết quả như sau:
Bảng 1.2 Tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn [51]
Triệu chứng
Số lượng BN xảy ra phản ứng
Tỷ lệ (%)
Số lượng BN xảy ra phản ứng
Tỷ lệ (%)
Trang 29- Trong 72 BN (38 BN ở nhóm F(ab’)2 và 34 BN ở nhóm IgG) tham gia nghiên cứu, có 18 BN sau khi được điều trị có phản ứng với HTKNR (11 BN ở nhóm F(ab’)2 và 7 BN ở nhóm IgG) Không có sự khác biệt đáng kể giữa việc sử
20,6%) (P =0,51)
- Trong tổng số BN có 11 nam (61%) và 7 nữ (39%) Độ tuổi của bệnh nhân
có phản ứng dao động từ 9 - 57 tuổi Không có sự khác biệt về tỷ lệ xảy ra phản ứng sau khi dùng HTKNR theo giới tính hoặc tuổi của những bệnh nhân đó
- Các triệu chứng ở da, chủ yếu là nổi mề đay, là loại tác dụng không mong muốn thường gặp nhất (11/18 bệnh nhân xảy ra phản ứng trong nghiên cứu này, tương ứng với 56%) Sau đó là các triệu chứng tiêu hóa, chỉ có một bệnh nhân xảy
ra phù
- Qua đó, các tác giả của nghiên cứu này đã xác nhận rằng các HTKNR loại
quả và sự an toàn của trong việc sử dụng để điều trị bệnh nhân [51] Kết quả này
cũng giống với các kết quả trong những nghiên cứu tương tự vào những năm 1996,
1998, 1999, 2006 và 2007 [51]
Trang 3018
- Trong nghiên cứu của S.P.Bush, A.M.Ruha, S.A.Seifert và cs (2014), về so sánh các tác dụng đối với bệnh nhân của 2 loại HTKNR dạng F(ab) và F(ab’)2 đều kháng nọc rắn Bothrops Asper tại Columbia [51], đã cho ra kết quả như sau:
Bảng 1.3 Tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn [52]
Triệu chứng
Số lượng BN xảy ra phản ứng
Tỷ lệ (%)
Số lượng BN xảy ra phản ứng
Tỷ lệ (%)
- Trong 84 BN (43 BN ở nhóm F(ab’)2 và 41 BN ở nhóm F(ab) ) tham gia nghiên cứu, có 68 BN sau khi được điều trị có phản ứng với HTKNR (35 BN ở nhóm F(ab’)2 và 33 BN ở nhóm F(ab) ) Không có sự khác biệt đáng kể giữa việc
Trang 3119
sử dụng 2 loại HTKNR liên quan đến tỷ lệ xảy ra phản ứng khi kiểm tra bằng thử nghiệm chính xác của Fisher
- Độ tuổi của bệnh nhân có phản ứng dao động từ 2 - 80 tuổi, tuổi trung bình
là 39,2 ± 22,26 đối với nhóm F(ab’)2 và 45,6 ± 16,52 đối với nhóm F(ab) Không
có sự khác biệt về tỷ lệ xảy ra phản ứng sau khi dùng HTKNR theo tuổi của những bệnh nhân đó
- Các triệu chứng ở da, chủ yếu là ngứa, là loại tác dụng không mong muốn thường gặp nhất (40/84 bệnh nhân xảy ra phản ứng trong nghiên cứu này, tương ứng với 47,62%)
- Theo nghiên cứu, không có sự khác biệt nào về an toàn liên quan đến phản
ứng miễn dịch hoặc các tác dụng không mong muốn giữa hai loại HTKNR
1.4.1.2 Tình hình sản xuất huyết thanh kháng nọc ở Việt Nam
§ Lịch sử
Mặc dù bác sĩ Calmette A là người đầu tiên sản xuất thành công HTKNR hổ
đất (Naja Kouthia) tại Viện Pasteur Sài Gòn, nay là Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh
năm 1894 và Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới sử dụng HTKNR để điều trị cho người bị rắn độc cắn [9] Tuy nhiên, sau thành công bước đầu của Calmette A., vì nhiều lý do khác nhau HTKNR không được tiếp tục sản xuất và sử dụng Hậu quả là trong suốt trên 100 năm sau đó, bệnh nhân bị nhiễm độc nọc rắn tại nước ta vẫn không được điều trị bằng HTKNR đặc hiệu Từ năm 1990, Đơn vị nghiên cứu rắn, Bệnh viện Chợ Rẫy tiến hành nghiên cứu sản xuất HTKNR hổ đất
và ứng dụng lâm sàng [7], [10] Hiện nay ở nước ta mới có các phòng nghiên cứu
và Trung tâm sản xuất được HTKNR: Đơn vị nghiên cứu rắn, Bệnh viện Chợ Rẫy
từ năm 1990 đến 2000, Trung tâm nghiên cứu rắn - Trường Đại học Y Dược TP
Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến 2004, Đơn vị sản xuất huyết thanh - Trung tâm Chống độc Quốc gia (Bệnh viện Bạch Mai) từ năm 2004 đến 2009 và Viện vắc xin
và sinh phẩm Nha Trang sản xuất HTKNR hổ đất và rắn lục tre từ năm 2001 đến nay [7], [53] Các trung tâm này đã sản xuất được các HTKNR hổ đất, rắn lục xanh, rắn hổ chúa, rắn cạp nia và rắn choàm quạp
Trang 3220
§ Công nghệ sản xuất HTKNR của Việt Nam
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về nọc rắn và sản xuất HTKNR đã có nhiều tiến bộ Đã có những công trình nghiên cứu và đã sản xuất ra các loại HTKNR sử dụng phương pháp gây miễn dịch trên ngựa và được tinh chế thành các dạng IgG [10], [13] hoặc F(ab’)2 [53] Các phương pháp này cũng là các phương pháp tiên tiến thường được dùng để sản xuất HTKNR trên thế giới
Do tính đặc hiệu kháng nguyên nọc rắn phụ thuộc vào vùng địa lý, việc nhập khẩu HTKNR lâu dài không phải là biện pháp tốt, trong khi đất nước còn nghèo, ta
có tiềm lực khoa học công nghệ, đầu tư không cần nhiều Nhu cầu sản xuất HTKNR điều trị cho bệnh nhân là đòi hỏi cấp thiết, trước mắt cũng như lâu dài HTKNR được sản xuất phải có chất lượng tốt, an toàn, hiệu lực cao, giá thành hợp
lý, sẵn sàng cứu chữa nạn nhân
1.4.1.3 Giới thiệu về HTKNR được sử dụng trong nghiên cứu
§ Giới thiệu:
Huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất được sử dụng trong nghiên cứu là ”Huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất tinh chế (SAV)” - được sản xuất tại Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (Số 9 Pasteur - Nha Trang) (Số lô: 041 - 00 - 19, NSX:
05/06/2019, HSD: 23/10/2020)
Hình 1.5 Ảnh chụp HTKNR được sử dụng trong nghiên cứu
Trang 3321
§ Thành phần:
Huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất (Naja Kouthia) tinh chế (SAV) là một dung dịch không màu hoặc có màu vàng nhạt, có nguồn gốc từ máu ngựa chứa kháng thể kháng nọc rắn hổ đất [14]
THÀNH PHẦN: Một lọ huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất chứa:
- Huyết thanh kháng nọc rắn hổ mang đất tinh chế…… 1000 LD50
Hộp 10 lọ, mỗi lọ có hiệu giá 1000 LD50
1.4.2 Cơ chế tác dụng của huyết thanh kháng nọc rắn đối với bệnh nhân
Huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất được sử dụng trong nghiên cứu là HTKNR đơn giá hay đơn đặc hiệu được tạo ra bằng cách sử dụng nọc của loài rắn Naja Kouthia để gây miễn dịch cho động vật chủ
Bản chất kháng thể chống nọc rắn là gamma globulin miễn dịch IgG, đặc hiệu với kháng nguyên nọc rắn Naja Kouthia, lưu hành trong máu và bạch huyết, hoạt động đáp ứng miễn dịch bằng cách trung hoà, loại bỏ các kháng nguyên nọc
Trang 3422
Trong một đáp ứng miễn dịch, kháng thể có 3 vai trò chính là liên kết với kháng nguyên, kích hoạt hệ thống bổ thể và huy động các tế bào miễn dịch Các globulin miễn dịch có khả năng nhận diện và gắn một cách đặc hiệu với 1 kháng nguyên tương ứng nhờ các vùng biến đổi
Hình 1.6 Cấu trúc của một phân tử kháng thể
Trong phản ứng chống độc tố nọc rắn (toxins), kháng thể chống nọc rắn gắn với độc tố, trung hoà, làm giảm mất độc tính của độc tố, ngăn ngừa sự bám dính của độc tố lên các thụ thể tế bào, giúp các tế bào của cơ thể tránh được các rối loạn
do các độc tố đó gây ra Một cơ chế khác là hoạt hoá bổ thể Khi hệ thống bổ thể được hoạt hoá bởi kháng thể chống nọc rắn IgG, hiện tượng thực bào, thanh lọc phức hợp miễn dịch và phóng thích các phân tử hoá hướng động được diễn ra, tiêu diệt các kháng nguyên nọc
1.4.3 Tác dụng không mong muốn, tương tác thuốc của huyết thanh kháng nọc rắn
1.4.3.1 Các tác dụng không mong muốn
§ Đối với các loại HTKNR khác được sản xuất trên thế giới:
- Tại Srilanka, có 2 loại HTKNR đơn giá điều trị nọc độc của loài rắn Russell’s Viper (Daboia russelii russelii) là “PolongaTab” (sử dụng phương pháp gây miễn dịch cho cừu), sản xuất tại Anh, và “Haffkine” (sử dụng phương pháp
Trang 3523
gây miễn dịch cho ngựa), sản xuất tại Ấn Độ [43], tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn của HTKNR xảy ra trên BN được điều trị là:
Bảng 1.4 So sánh tỷ lệ số BN có các tác dụng không mong muốn khi điều trị bằng
2 loại HTKNR PolongaTab và Haffkine
p =0.047
- Với các tác dụng không mong muốn thường gặp gồm:
Bảng 1.5 Các tác dụng không mong muốn xảy ra trên BN khi điều trị bằng 2 loại
- Các tác dụng không mong muốn này thường xảy ra trong vòng 1 giờ sau khi
sử dụng huyết thanh đối với nhóm BN sử dụng HTKNR “PolongaTab”, và 20 phút
đối với nhóm BN sử dụng HTKNR “Haffkine” [Error! Reference source not found.]
§ Đối với HTKNR được sản xuất tại Việt Nam:
- Theo nghiên cứu của Phạm Duệ và Ngô Đức Ngọc (2017) [2], đối với loại HTKNR đơn giá điều trị nọc độc của loài rắn Naja Kouthia do Viện Vắc - xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) sản suất (Dạng IgG, sử dụng phương pháp gây miễn dịch cho ngựa) tại Nha Trang, tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn trên BN được điều trị là:
Trang 3624
Bảng 1.6 Tỷ lệ số BN có các tác dụng không mong muốn khi điều trị bằng
HTKNR Naja Kouthia do Viện Vắc - xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) sản suất
[Error! Reference source not found.]
Loại HTKNR Số BN xảy ra TDKMM
- Với các tác dụng không mong muốn thường gặp gồm:
Bảng 1.7 Các tác dụng không mong muốn xảy ra trên BN điều trị bằng HTKNR
Naja Kouthia do Viện Vắc - xin và Sinh phẩm Y tế (IVAC) sản suất, theo nghiên
cứu của Phạm Duệ và Ngô Đức Ngọc (2017)
§ Đối với HTKNR Naja Kouthia sản xuất tại Việt Nam:
- Việc điều trị với các thuốc chẹn beta - adrenergic, gồm cả thuốc chọn lọc trên tim, sẽ làm tăng mức độ nặng của phản vệ cấp tính [14]
Trang 3725
1.5 Vài nét về địa điểm tiến hành nghiên cứu
Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai tiền thân là Tổ Cấp cứu ngộ độc (Khoa Hồi sức cấp cứu A9), Bệnh viện Bạch Mai, thành lập từ năm 1994, tới nay
đã có gần 30 năm kinh nghiệm cấp cứu và điều trị và là đơn vị đi đầu cả nước trong lĩnh vực điều trị ngộ độc Hàng năm chẩn đoán, điều trị tại Trung tâm gần
2000 bệnh nhân ngộ độc với nhiều loại ngộ độc đặc biệt, phức tạp: Các hoá chất bảo vệ thực vật, rắn độc cắn, ong đốt, nấm độc, thực vật độc,…Phần lớn các bệnh nhân ngộ độc nặng; Xây dựng thành công nhiều phác đồ chẩn đoán điều trị các loại ngộ độc đặc trưng của Việt Nam Vì vậy, để việc điều trị cho các bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân bị rắn cắn được hiệu quả, thì việc nghiên cứu thống kê các tác dụng không mong muốn của huyết thanh kháng nọc là vô cùng cần thiết