Th«ng qua ph¬ng ph¸p quan s¸t, gi¸o viªn rÌn cho häc sinh kü n¨ng nãi, tr×nh bµy miÖng bµi nãi, tríc khi lµm bµi viÕt.. Trªn c¬ së ®ã, gi¸o viªn ®iÒu chØnh gióp häc sinh hoµn thiÖn bµi [r]
Trang 1Phần thứ nhất: đặt vấn đề
I Lí do đề xuất
Quá trình dạy học là một quá trình t duy sáng tạo – ngời giáo viên là một kĩ s của tâm hồn, hơn nữa còn là một nhà làm nghệ thuật Và việc dạy học ngày nay luôn dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Chính vì thế nó đòi hỏi ngời giáo viên phải luôn có sự sáng tạo, tự cải tiến
ph-ơng pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lợng dạy học Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết
Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết Thế nhng hiện nay, đa số các em học sinh lớp 2 đều rất sợ học phân môn Tập làm văn vì không biết nói gì ? viết gì ? Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác Do đó khi đứng lớp tôi luôn chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng làm Tập làm văn cho học sinh lớp tôi phụ trách
Trong chơng trình Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em đợc làm quen với đoạn văn và đợc rèn kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều HS làm bài cha
đạt yêu cầu Các em thờng lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, cách chấm câu còn hạn chế có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhng viết không đủ ý
Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện đợc mục tiêu đã đề ra Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lợng học tập cho học sinh của lớp mình Đây là lý do tôi chọn để áp dụng vào thực tế giảng dạy và viết ra những kinh nghiệm này với nhan đề: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp
2 viết đoạn văn ngắn trong giờ Tập làm văn”. Sau đây, tôi xin trình bày một
số kinh nghiệm mà bản thân đã đúc kết đợc trong thời gian qua
II Đối tợng và phạm vi của chủ đề
- Đối tợng: Học sinh lớp 2A1 Trờng Tiểu học Tuân Đạo – Lạc Sơn- Hoà Bình
- Phạm vi: Sách Tiếng Việt 2, Sách giáo viên Tiếng Việt 2, Tài liệu giảng
dạy Tiếng Việt 2, Các bài viết của học sinh
Trang 2Phần thứ hai: NộI DUNG
I Cơ sở lí luận.
- Bớc vào kỷ nguyên mới, đất nớc ta có nhiều đổi mới, đổi mới về kinh
tế, xã hội, giáo dục …Sự phát triển giáo dục của nớc ta tăng nhanh giúp cho những chủ nhân tơng lai của đất nớc luôn đợc phát triển toàn diện, đầy đủ về năng lực, trí tuệ, tính cách Qua việc nắm bắt các kiến thức, tri thức khoa học ban đầu để từ đó hình thành nên nững kĩ năng cần thiết của cuộc sống, hành
động đúng cho bản thân
- Trong trờng tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hằng ngày Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con ngời mới
Trang 3- Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ Dạy học Tiếng Việt giúp
các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Phân môn Tập làm
văn trong môn Tiếng Việt hội đủ 4 kỹ năng trên Đối với học sinh lớp 2 thì đây
là một phân môn khó Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quan nh điều kiện hoàn cảnh sống của học sinh ở địa bàn dân c làm nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển, gia đình không có điều kiện để quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá chậm, học sinh nghèo vốn từ ngữ…
Điều này ảnh hởng nhiều đến việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng
II Nộị dung và phơng pháp
Để giúp học sinh học tốt tiết Tập làm văn viết đoạn văn ngắn theo yêu cầu của đề bài, tôi thờng áp dụng những phơng pháp sau:
1 Vận dụng phơng dạy học phát huy tính tích cực của học sinh kết hợp với phơng pháp quan sát và hỏi đáp:
Kỹ năng quan sát rất cần cho học sinh khi viết văn: Quan sát trên lớp theo gợi ý, hớng dẫn của giáo viên hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài ở nhà Giáo viên cần khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tợng, mục đích là giúp học sinh tránh đợc kiểu kể theo liệt kê Bên cạnh đó, tôi cũng hớng dẫn học sinh cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một cách có cảm xúc về sự vật
2 Phơng pháp thực hành giao tiếp:
Thông qua phơng pháp quan sát, giáo viên rèn cho học sinh kỹ năng nói, trình bày miệng bài nói, trớc khi làm bài viết Trên cơ sở đó, giáo viên điều chỉnh giúp học sinh hoàn thiện bài viết Với phơng pháp này, tôi thờng tổ chức
cho học sinh luyện nói cá nhân, luyện nói trong nhóm ( học sinh có thể kết
nhóm theo ý thích, để có sự thoải mái tự nhiên, tự tin khi tham gia làm việc trong nhóm )
3 Phơng pháp phân tích ngôn ngữ:
Học sinh lớp 2 cha đợc học về lý thuyết, ngữ pháp, các khái niệm từ và câu đợc hình thành thông qua thực hành luyện tập Chính vì vậy, việc tăng c-ờng sử dụng phơng pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập làm văn Sử dụng phơng pháp này để giáo viên có cơ sở giúp học sinh nhận ra cấu tạo câu, nhằm giúp các em viết câu đúng, đủ bộ phận
Ví dụ:
Trang 4Dựa vào các mẫu câu đợc học trong phân môn Luyện từ và câu: Ai “ –
là gì? , Ai ” “ – làm gì? , Ai ” “ – nh thế nào?”, giáo viên hớng dẫn học sinh
nhận biết những vấn đề sau:
- Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận cha: Bộ phận trả lời cho câu
hỏi Ai? ( hoặc cái gì?/ con gì)?, bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì (hoặc làm
gì?/ nh thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo ).
- Ngời đọc, ngời nghe có hiểu nội dung cha? (Đảm bảo về mặt nghĩa)
Trên cơ sở đó, giáo viên hớng dẫn học sinh viết dấu chấm khi hết câu
4 Phơng pháp sử dụng từ ngữ trong câu:
Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài tập làm văn còn nhiều hạn chế Hầu hết học sử dụng từ ngữ cha phù hợp, cha chính xác Vì vậy, giáo viên cần cung cấp giúp các em lựa chọn, phân tích để
sử dụng từ ngữ cho hợp lý Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn
Ví dụ:
Khi viết đoạn văn kể về ngời thân thì học sinh sẽ có nhiều bài làm khác nhau, giáo viên cần giúp học sinh chọn lựa từ ngữ cho phù hợp, khi kể về bố là thầy giáo thì từ ngữ sử dụng phải khác với bài viết bố là bộ đội; viết về tình cảm của em đối với với cha mẹ, ông bà thì từ ngữ dùng phải khác với viết về tình cảm của mình đối với bạn bè; Viết về cảnh mặt trời mọc buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa nh: bình minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình
có các từ nh đoàn tụ, sum họp, quây quần…; để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chóichang, gay gắt, đỏ rực, nh mâm lửa khổng lồ, nh quả cầu lửa…giáo viên cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài để hớng dẫn học sinh vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết
III Giải pháp thực hiện
1 Về kỹ năng:
Để tránh tình trạng học sinh không làm đợc bài hoặc viết lan man quá nhiều câu dẫn đến lạc đề, giáo viên giúp học sinh cần biết làm nh thế nào để viết đợc một đoạn văn và cần phải viết những gì trong đoạn văn ấy
1.1 Giúp học sinh có một hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng:
Trong chơng trình, hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ giáo viên có thể tranh thủ thời gian cuối tiết học hớng dẫn học sinh chuẩn bị,
đọc câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau Hoặc chuẩn bị phần tự học khi
Trang 5ở nhà, trớc khi lên lớp Đối với những bài không có câu hỏi gợi ý, giáo viên có thể soạn, cung cấp những câu hỏi cho các em
Ví dụ:
* Bài viết về gia đình :
- Gia đình em gồm những ai?
- Những ngời đó làm công việc gì?
- Tình cảm của những ngời trong gia đình nh thế nào ?
- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của ngời ấy dành cho em?
* Bài viết về một loài cây :
- Đó là cây gì, trồng ở đâu ?
- Hình dáng cây nh thế nào?
- Cây có lợi ích gì ?
* Bài viết kể về một việc làm tốt mà em hoặc bạn em đã làm :
- Em ( Bạn em ) đã làm việc tốt khi nào? Ơ đâu? Đó là việc gì?
- Em ( Bạn ấy ) đã làm nh thế nào?
- Em suy nghĩ gì khi làm ( thấy bạn làm ) việc tốt đó?
1 2 Giúp học sinh nắm đợc trình tự các bớc khi viết một đoạn văn:
1 2.1 Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tợng cần viết (Có thể
diễn đạt bằng một câu)
1 2.2 Phát triển đoạn văn : Kể về đối tợng: Có thể dựa theo gợi
ý, mỗi gợi ý có thể diễn đạt 2đến 3 câu tùy theo năng lực học sinh
1 2.3 Câu kết thúc: Có thể viết một câu thờng là nói về tình
cảm, suy nghĩ, mong ớc của em về đối tợng đợc nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tợng đó đối với cuộc sống, với mọi ngời
Ví dụ: Viết về một con vật:
- Con vật em định kể là con vật gì?
- Nó sống ở đâu? Hình dáng nó nh thế nào?
- Hoạt động của nó có gì nổi bật?
- Vì sao em thích con vật đó?
Câu mở đầu:
- Giới thiệu về chim sáo
- Trong thế giới loài chim, em thích nhất là chim sáo
Các câu phát triển:
- Kể về chim sáo: Chim sáo đợc ông em nuôi đã hai năm rồi Mỏ nó vàng, lông màu nâu sẫm Nó hót suốt ngày Đôi khi còn nói đợc cả tiếng
Trang 6nguời Có lẽ nó vui vì đợc mọi ngời chăm sóc, nuôi trong một cái lồng rất to, bên cạch một cây hoa lan rất cao toả bóng mát
Câu kết thúc:
- Tình cảm của em đối với loài chim này Em thích nhất chim sáo vì
chúng là những con vật hiền lành, dễ thơng
Giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt để bài làm các em đợc phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu Cần chủ
động hình thành kỹ năng từng bớc ở từng thời điểm thích hợp Không nên áp
đặt và đòi hỏi các em phải thể hiện đợc ngay những kỹ năng mới đợc hình
thành Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải kiên nhẫn luôn tái hiện và lặp
lại kiến thức cho học sinh trong suốt năm học, giúp học sinh có đợc nền móng tốt cho việc học tập môn Tập làm văn ở các lớp trên
2 Về kiến thức:
2.1 Tổ chức ôn tập tốt cho học sinh: Giáo viên phải nắm các dạng đề
Tập làm văn ở lớp 2 để tổ chức ôn tập cho học sinh Có thể tập hợp từ chơng trình một số đề bài sau đây:
Viết một đoạn văn ngắn về:
- Cô giáo (hoặc thầy giáo) của em
- Một ngời thân
- Gia đình
- Một em bé
- Các mùa trong năm
- Kể một việc làm tốt
- Một con vật
- Một loài chim
- Tả ngắn về biển
- Tả ngắn về một loài cây
- Một loài hoa
- Viết về Bác Hồ
Khi học sinh đợc ôn tập tốt, kiến thức đợc hệ thống hóa một cách chắc chắn, phân biết rõ đặc điểm của các đối tợng sẽ giúp các em tránh đợc những nhầm lẫn đáng tiếc, ảnh hởng đến chất lợng bài viết của các em
2 2 Tăng cờng củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh:
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ những nội dung kiến thức có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn Tập đọc, Luyện
Trang 7từ và câu với phân môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiện tợng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ ngỡ khi gặp những đề bài mới cha đợc luyện tập trên lớp Giúp học sinh có hiểu biết về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để bài viết đạt kết quả
Ví dụ:
Khi học về chủ đề “ Ông bà”, “Cha mẹ”, “Anh em” , với rất nhiều những bài đọc thắm đợm tình cảm thơng yêu trong gia đình, cùng với những tiết học phân môn Luyện từ và câu cung cấp, mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh hiểu rõ và nắm chắc ngời thân của mình là những ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho học sinh thông qua các nhân vật trong bài Tập đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài, hớng cho học sinh liên hệ đến bản thân, gia đình, ngời thân của mình, tôi còn cung cấp thêm
từ ngữ, hớng dẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ phù hợp với
đề tài (ông bà, cha mẹ, anh em ) để chuẩn bị cho bài làm văn sắp tới (viết về ngời thân), tôi luôn nói với các em sự cần thiết phải học thuộc và lựa chọn những từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài tập làm văn, khơi gợi và kích thích tinh thần học tập của các em
2.3 Hớng dẫn học sinh hình thành đoạn văn trên cơ sở các câu hỏi gợi ý:
Các bớc hình thành:
- Hớng dẫn học sinh làm miệng, trả lời miệng từng câu hỏi Gợi ý cho học sinh trả lời bằng nhiều ý kiến khác nhau
- Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời cha đúng ; cung cấp và gợi ý để các em có thể chọn từ đồng nghĩa thay thế cho từ cũ, có thể hớng dẫn mẫu các câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc so sánh để bài văn sinh động hơn (khuyến khích học sinh khá giỏi vận dụng, không bắt buộc tất cả các đối tợng học sinh thực hiện vì đây là phần kiến thức cha học, giáo viên hớng dẫn mẫu và cung cấp các thành ngữ so sánh, cách nhân hóa nhng không đa những thuật ngữ này
ra với đối tợng học sinh lớp 2)
- Hớng dẫn học sinh sắp xếp các câu trả lời đó theo một trật tự hợp lý để hoàn chỉnh bài làm miệng
- Cho một số học sinh làm miệng cả bài Sau đó hớng dẫn học sinh viết liền mạch các câu trả lời thành một đoạn văn
- Giới thiệu những bài văn hay của học sinh ở năm học trớc nhằm kích thích tinh thần học tập của học sinh
Trang 82.4 Thực hiện nghiêm túc việc chấm và chữa bài:
Đây là việc làm hết sức cần thiết, giúp học sinh nhận ra lỗi sai để điều chỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh bài văn Học sinh lớp 2 cha đợc học và luyện tập nhiều về từ ngữ, ngữ pháp, chắc chắn trong bài viết của các em sẽ rất nhiều lỗi sai trong quá trình chấm bài, giáo viên phát hiện, giúp học sinh khắc phục, biết lựa chọn, thay thế các từ ngữ cho phù hợp Đối với những bài làm có ý hay, giáo viên giúp học sinh gọt giũa, trau chuốt thêm cho bài văn đợc hay hơn
Khi sửa bài, giáo viên nên giới thiệu những bài làm hay ở năm học trớc, hoặc những bài hay của học sinh trong lớp cho các em tham khảo, từ đó nhận thấy sự khác nhau về cach diễn đạt trong cùng một đề tài để các em hiểu rằng những bài làm thể hiện suy nghĩ độc lập của cá nhân luôn đợc khích lệ và tôn trọng
Iv Kết quả đạt đợc.
Sau khi sử dụng các giải pháp trên, tôi nhận thấy kết quả học tập phân môn Tập làm văn của lớp tôi đạt kết quả nh sau:
Trớc khi áp
Sau khi áp
V Bài học kinh nghiệm.
Qua việc thực hiện các giải pháp trên, tôi rút ra bài học sau:
- Hình thành cho các em thói quen học tập , làm việc một cách khoa học
- Quan sát thực tế, sử dụng đồ dùng dạy học, câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học sinh hình thành kĩ năng và kiến thức mới
- Đặt các tình huống có vấn đề giúp học sinh luôn suy nghĩ, tìm tòi để phát triển t duy, học cách ghi nhớ để nhớ lâu kiến thức
- Sử dụng nhiều hình thức: thi đua, khen thởng để khuyến khích các em
nỗ lực học tập
Phần thứ ba: kết luận chung và đề xuất
Trang 91 Kết luận chung:
Khi áp dụng các biện pháp trên vào dạy ở từng tiết tập làm văn, tôi nhận thấy các em không sợ học phân môn tập làm văn nữa vì bản thân các em đã
đ-ợc đóng vai trò chủ đạo trong tiết học.Tôi nghĩ rằng với biện pháp trên, không chỉ áp dụng ở lớp 2 mà các khối khác đều áp dụng đợc Nếu ngời giáo viên biết vận dụng các biện pháp trên để tiến hành dạy trong giờ học, tôi nghĩ chất lợng giáo dục, hiệu quả quả giáo dục của môn Tiếng Việt cụ thể là phân môn tập làm văn ngày càng tăng cao một cách rõ rệt Các biện pháp đó tôi đã thực hiện trong giảng dạy, tôi thấy học sinh tiến bộ hẳn trong từng năm
2 ý kiến đề xuất:
Các cơ quan quản lí giáo dục cấp trên nên chỉ đạo các cụm vùng tổ chức chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm về việc giúp học sinh viết đoạn văn, bài văn trong giờ Tập làm văn hiệu quả hơn nữa
Chắc chắn rằng giải pháp đa ra còn nhiều hạn chế, thiếu sót do đúc kết
từ kinh nghiệm giảng dạy của cá nhân Tôi rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của Hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm, của bạn bè và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Tuân Đạo, ngày 03 tháng 05 năm 2012
Ngời viết
Bùi Thị Hà
mục lục
Phần thứ nhất: đặt vấn đề
II Đối tợng và phạm vi của chủ đề Trang 2
Phần thứ hai: NộI DUNG
Trang 10Iv Kết quả đạt đợc Trang 10
Phần thứ ba: kết luận chung và đề xuất