1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động

62 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƢỢC NGUYỄN THỊ THÚY KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở CÁC BÀ MẸ MỔ LẤY THAI

Trang 1

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƢỢC

NGUYỄN THỊ THÚY

KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở CÁC BÀ MẸ

MỔ LẤY THAI CHỦ ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN

PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG NĂM 2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH Y ĐA KHOA

Hà Nội - 2019

Trang 2

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA Y DƢỢC

NGUYỄN THỊ THÚY

KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ Ở CÁC BÀ MẸ

MỔ LẤY THAI CHỦ ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN

PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG NĂM 2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH Y ĐA KHOA

Trang 3

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa học tốt nghiệp này của mình, tôi đã được sự giúp đỡ rất nhiều của các Thầy Cô giáo, bạn bè và gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn nhất, Thầy PGS.TS Vũ Văn

Du, Phó chủ nhiệm Bộ môn Phụ sản – Khoa Y Dược, Đại học Quốc Hà Nội, trưởng Khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, quan tâm, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận của mình Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy ThS Mạc Đăng Tuấn, giảng viên Bộ Môn Y Dược cộng đồng và Y dự phòng, Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Thầy đã trực tiếp chỉ bảo tôi và hướng dẫn từng bước, luôn động viên tôi trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, Cô giáo:

- TS Nguyễn Thị Lan Hương, Trưởng Khoa sản 2, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, người Thầy đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để và có nhiều đóng góp quý báu cho khóa luận tốt nghiệp này

- ThS Nông Minh Hoàng, Bác sĩ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, người Thầy đã luôn tận tình đưa ra những đóng góp kịp thời để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận của mình

- Các Thầy, Cô trong hội đồng đã dành cho tôi những ý kiến quý báu

để tôi hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn:

- Đảng Ủy, Ban Giám Hiệu, Bộ môn Sản phụ khoa, các phòng ban, các Thầy, Cô trong Khoa Y Dược, Đại Học Quóc Gia Hà Nội là nơi đã gắn bó 6 năm trong quãng đời sinh viên của mình

- Ban lãnh đạo Bệnh viện Phụ sản Trung Ương cùng toàn thể các khoa phòng, cán bộ công nhân viên trong bệnh viện Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô, chú, anh, chị nhân viên trong Khoa điều trị theo yêu

Trang 4

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

cầu và Khoa Sản 2, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

- Tập thể lớp Bác sĩ đa khoa Khóa 2, Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia

Hà Nội đã đồng hành với tôi 6 năm qua để tiếp thêm cho tôi những động lực học tập, nghiên cứu không mệt mỏi

- Các bà mẹ và các em bé đã tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu này Cuối cùng tôi xin bày tỏ tình cảm yêu quý và biết ơn tới gia đình, bạn

bè, người thân đã luôn giúp đỡ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2019

Trang 5

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

LỜI CAM ĐOAN

Em tên là Nguyễn Thị Thúy, sinh viên khóa QH.2013.Y, ngành Y đa khoa, Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội, xin cam đoan:

1 Đây là khóa luận do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Du và ThS Mạc Đăng Tuấn

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2019

Tác giả

NGUYỄN THỊ THÚY

Trang 6

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc

WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization)

Trang 7

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng cơ bản trong 100ml sữa mẹ 5

Bảng 3.1: Thông tin các bà mẹ tham gia nghiên cứu 18

Bảng 3.2: Đặc điểm con sinh ra hiện tại của đối tượng 19

Bảng 3.3: Đặc điểm phương pháp giảm đau trong/sau MLTCĐ 21

Bảng 3.4: Kiến thức, thực hành về thời gian, hình thức, thức uống lần đầu sau khi sinh 23

Bảng 3.5: Thời gian có sữa và thời gian thực hành cho con bú 24

Bảng 3.6: Đặc điểm bà mẹ liên quan đến thực hành BSSS 25

Bảng 3.7: Đặc điểm của trẻ liên quan đến thực hành BSSS 26

Bảng 3.8 Liên quan giữa sự chăm sóc người xung quanh và thực hành BSSS 27 Bảng 3.9: Liên quan giữa phương pháp giảm đau trong/sau MLTCĐ và thực hành BSSS 28 Bảng 3.10: Liên quan thuốc kháng sinh trong/sau mltcđ và thực hành BSSS 29 Bảng 3.11: Liên quan thời gian bắt đầu có sữa sau sinh và thực hành BSSS 29 Bảng 3.12: Liên quan thời gian bắt đầu tiếp xúc mẹ con và thực hành BSSS 30

Trang 8

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Lý do MLTCĐ 20

Biểu đồ 3.2: Kháng sinh sử dụng trong/sau mổ 21

Biểu đồ 3.3: Thời gian mẹ nằm với con sau mổ 22

Biểu đồ 3.4: Thời gian có sữa sau sinh 22

Biểu đồ 3.5: Kiến thức, thực hành cho bú sữa non 24

Biểu đồ 3.6: Tình hình thiếu sữa mẹ 26

Trang 9

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

1.6 NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NCBSM 10

Trang 10

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.4.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 16

Trang 11

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

2.4.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 16

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18 3.1 MÔ TẢ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NCBSM Ở CÁC BÀ MẸ MLTCĐ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2019

18

3.1.1 Đặc điểm thông tin chung đối tượng tham gia nghiên cứu 18

3.1.3 Kiến thức, thực hành NCBSM của các bà mẹ MLTCĐ 23 3.2 MỐI LIÊN QUAN GIỮA VIỆC BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NCBSM

Ở BÀ MẸ MLTCĐ

24

3.2.1 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của mẹ và thực hành BSSS 24 3.2.2 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của trẻ và thực hành BSSS 26 3.2.3 Mối liên quan giữa những người xung quanh và thực hành BSSS 27 3.2.4 Mối liên quan giữa đặc điểm MLTCĐ và thực hành BSSS 28

Chương 4: BÀN LUẬN 31 4.1 MÔ TẢ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH NCBSM Ở CÁC BÀ MẸ MLTCĐ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2019

31

4.1.1 Kiến thực, thực hành về thời gian bắt đầu cho bú mẹ 31 4.1.2 Kiến thực, thực hành về hình thức lần đầu cho bú mẹ 31 4.1.3 Kiến thực, thực hành về thức uống lần đầu sau sinh 32 4.1.4 Kiến thực, thực hành về sữa non 32 4.2 MỐI LIÊN QUAN GIỮA VIỆC BẮT ĐẦU THỰC HÀNH NCBSM

Ở CÁC BÀ MẸ MLTCĐ

33

Trang 12

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

4.2.1 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của mẹ và thực hành BSSS 33 4.2.2 Mối liên quan giữa đặc điểm chung của trẻ và thực hành BSSS 35 4.2.3 Mối liên quan giữa những người xung quanh và thực hành BSSS 36

4.2.4 Mối liên quan giữa đặc điểm MLTCĐ và thực hành BSSS 37 4.2.4.1 Liên quan giữa việc sử dụng thuốc và thực hành BSSS 37 4.2.4.2 Liên quan giữa thời gian bắt đầu có sữa sau sinh và thực hành BSSS 38 4.2.4.3 Liên quan giữa thời gian bắt đầu tiếp xúc mẹ con và thực hành BSSS 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 13

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đặc biệt là vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ, một yếu tố quan trọng quyết định sức khỏe và sự sống của trẻ Trong những năm gần đây, tỷ lệ tử vong trẻ em nói chung trên thế giới đã giảm mạnh nhưng tỷ lệ tử vong sơ sinh không giảm hoặc giảm không đáng kể [6] Ước tính, hàng năm trên thế giới có khoảng 4 triệu trẻ sơ sinh tử vong Ở Việt Nam, theo Điều tra Dân số và Sức khỏe 2002, tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi giảm từ 55/1000 trẻ đẻ sống xuống 30/1000 trẻ đẻ sống trong những năm đầu của thế kỷ này, nhưng

tỉ lệ tử vong hầu như không thay đổi và ở mức 0,15% [12]

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là cách tốt nhất và an toàn nhất

để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Sữa mẹ là thực phẩm tốt nhất cho trẻ nhỏ đặc biệt trong 6 tháng đầu, sữa mẹ cung cấp một hệ miễn dịch

tự nhiên, cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho trẻ một khởi đầu quan trọng trong cuộc sống [53]

Không chỉ có lợi ích cho con mà việc NCBSM còn có vai trò đặc biệt quan trọng với sức khỏe bà mẹ Bà mẹ cũng có lợi khi cho trẻ bú sớm vì giúp sữa về sớm hơn, giảm được băng huyết sau sinh, giúp bà

mẹ tránh thai trong thời kỳ đầu hậu sản Về lâu dài, cho trẻ bú sữa mẹ giảm tỷ lệ ung thư vú và ung thư buồng trứng [59]

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã khuyến cáo nên cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, việc cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn liên quan đến tỷ lệ tử vong sơ sinh [20] Trẻ sơ sinh được bắt đầu bú mẹ trong vòng từ 2 - 23 giờ sau khi sinh có nguy cơ tử vong cao hơn 33% so với những trẻ bắt đầu bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, những trẻ sơ sinh bắt đầu

bú sữa mẹ 24 giờ sau khi sinh hoặc lâu hơn nữa thì nguy cơ cao gấp 2 lần [52] Mặc dù đã có những khuyến nghị nhưng chỉ có 44% trẻ sơ sinh trên thế giới được đặt vào vú mẹ trong vòng sau sinh một giờ [54] Tại Việt Nam, tỉ lệ cho trẻ bú sớm sau sinh (BSSS) giảm đáng kể từ

Trang 14

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ cho con bú sớm ở nhiều nước như Brazil (khoảng 26% ca sinh thường cho con bú sớm nhưng chỉ có 5% các bà mẹ sinh mổ thực hiện BSSS) hoặc tại Thổ Nhĩ Kì có khoảng 50% số ca sinh thường cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh trong khi tỉ lệ này là 20% ở bệnh nhân sinh mổ lấy thai [29] Theo nghiên cứu của Shamini Ramoo tại bệnh viện Hùng Vương thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, chỉ có 14% bà mẹ cho con bú trong 1 giờ đầu, trong khi đó hầu hết các bà mẹ sinh mổ đều cho con bú sữa mẹ sau 24 giờ [52]

Từ những nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ sớm còn chưa cao, đăc biệt là tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ sớm ở bệnh nhân sinh mổ, điều này có lẽ do nhiều nguyên nhân tác động Nhằm đánh giá lại thực trạng và tìm hiều các yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian gần đây, góp phần cung cấp thông tin nhằm cải thiện sức khỏe

bà mẹ trẻ em, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát một số yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ ở các bà mẹ mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2019” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ sau ở các bà

mẹ mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm

2019

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc bắt đầu thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở các đối tượng trên

Trang 15

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm

*Nuôi con bằng sữa mẹ: là đứa trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp

bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra hoặc sữa từ các bà mẹ khác [46], [43], [45]

*Bú mẹ: trẻ được bú mẹ, bú trực tiếp hoặc bú sữa mẹ được vắt ra

bao gồm một phần, bú chủ yếu và bú hoàn toàn [46]

*Bú sớm sau sinh: trẻ được sinh ra và đưa vào bú vú mẹ trong

vòng 1 giờ đầu sau sinh [46]

* Bú mẹ hoàn toàn: là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc

từ vú mẹ vắt ra Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc [45]

* Sữa non: có từ tháng thứ tư của bào thai, tiếp tục đến 6 ngày

sau đẻ Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau Trong sữa non

có rất nhiều chất đạm, Vitamin A và nhiều kháng thể Giúp cho trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn Sữa non chỉ tiết ra một lượng nhỏ [45]

*Thức ăn đầu tiên trước khi trẻ được bú mẹ lần đầu sau sinh: là

bất cứ thức ăn nào trẻ nhận được trước lần bú mẹ đầu tiên [45]

* Mổ lấy thai chủ động: là những chỉ định mổ lấy thai dự phòng

(mổ chủ động) khi chưa có chuyển dạ [13]

* Gây tê tủy sống: một phương pháp gây tê vùng, thực hiện bằng

cách tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện, thuốc tê sẽ hòa với dịch não tủy và có tác dụng trực tiếp lên tủy sống gây phong bế cảm giác, vận động và thần kinh giao cảm [6]

* Gây mê: là phương pháp giảm đau bằng cách làm cho bệnh

nhân mất ý thức (có phục hồi) và giảm đau [6]

Trang 16

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

* Gây tê ngoài màng cứng: một phương pháp gây tê vùng, thực

hiện bằng cách đưa một lượng thuốc tê thích hợp vào khoang ngoài màng cứng, thuốc tê sẽ ngấm vào khoang này và gây tác dụng phong bế cảm giác, vận động và giao cảm [6]

1.2 Tầm quan trọng của sữa mẹ và việc NCBSM

1.2.1 Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất, cung cấp đủ năng lượng, chất dinh dưỡng cần thiết, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu [2]

Trong một lít sữa mẹ cung cấp khoảng 700Kcalo với nồng độ và thành phần dinh dưỡng (đạm, mỡ, đường, vitamin, ) trong sữa mẹ cân đối nên trẻ dễ dàng tiêu hóa và hấp thu

- Protein: hàm lượng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhưng có đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ Protein của sữa mẹ gồm casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác Đặc biệt, casein là một chất đạm quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng Chất Lactambumin là protein chủ yếu trong sữa mẹ khi vào trong dạ dày sẽ tủa các thành các phân tử nhỏ nên thấm dịch tiêu hóa tốt và dễ hấp thu

- Lipid: Thành phần lipid trong sữa mẹ cao, các acid béo không

no như acid linoleic, là một acid cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ, mắt và sự bền vững của mạch máu của trẻ Trong sữa mẹ

có men lipase vì vậy lipid trong sữa mẹ có thể hấp thu tại dạ dày

- Glucid: Trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa công thức, cung cấp thêm nguồn năng lượng Đặc biệt, đường beta lactose chủ yếu trong sữa mẹ là môi trường tốt cho vi khuẩn Gram dương phát triển như trực khuẩn Bifidus, ngăn cản các vi khuẩn Gram âm phát triển do vậy trẻ bú

mẹ ít bị tiêu chảy, đồng thời một số đường beta lactose ở trong ruột được chuyển thành acid lactic giúp tăng khả năng hấp thu canxi, sắt và muối khoáng

- Vitamin: Sữa mẹ có nhiều Vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ đề phòng được bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A

Trang 17

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Ngoài ra, lượng vitamin D nhiều hơn sữa bò do đó trẻ uống sữa mẹ ít mắc bệnh còi xương Bên cạnh đó, các Vitamin khác trong sữa mẹ cũng

đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ được ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ

- Muối khoáng: nguồn calci và sắt trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhưng tỷ lệ hấp thu cao, tỷ lệ này khoảng 1,5:2, do đó thỏa mãn nhu cầu hấp thu của trẻ nên trẻ được bú mẹ ít bị còi xương và thiếu máu do thiếu sắt

Bảng 1.1:Thành phần dinh dưỡng cơ bản trong 100ml sữa mẹ [2] Thành phần dinh dưỡng Đơn vị Hàm lượng

Trang 18

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

1.2.2 Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên có chứa nhiều chất kháng khuẩn bảo vệ cơ thể [61]

-Các Globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA (chiếm 95%) còn lại là IgM và IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh đường ruột và một số bệnh do virus Trong sữa mẹ còn có các yếu tố Interferon cũng

có tác dụng bảo vệ cơ thể chống nhiễm vi khuẩn và virus [14], [63]

- Lactoferin là một protein kết hợp với sắt có tác dụng ức chế một số loại vi khuẩn gây bệnh cần sắt để phát triển [60]

- Các bạch cầu: Trong 2 tuần lễ đầu, trong sữa mẹ có tới 4 ngàn bạch cầu /1ml sữa Các bạch cầu có khả năng tiết ra IgA, Lizozym, Lactoferin, Interferon [14]

- Lizozym là một loại men có nhiều hơn hẳn trong sữa mẹ so với sữa công thức Lyzozym phá hủy một số vi khuẩn gây bệnh và phòng ngừa một số bệnh do virus

- Yếu tố kích thích sự phát triển của Lactobacilus Bifidus – có ích cho hệ tiêu hóa, đồng thời kìm hãm các vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng [14], [60]

Do vậy, việc thực hiện NCBSM giúp cơ thể trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng và làm giảm tỷ lệ nhập viện và giảm tỷ lệ tử vong của trẻ [33], [47]

1.2.3 Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng

Trẻ bú sữa mẹ ít bị dị ứng, eczema hơn một số trẻ ăn sữa công thức vì IgA tiết cùng với các đại thực bào có tác dụng chống dị ứng Ở nhiều nước Châu Âu người ta phát hiện một số trường hợp trẻ em bị dị ứng sữa công thức có thể đe dọa đến tính mạng trẻ nhưng chưa hề gặp

ở trẻ bú sữa mẹ vì sữa mẹ có một số chất chống dị ứng [4]

1.2.4 Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não hoàn hảo

Sữa mẹ không chỉ giúp trẻ phát triển tốt về thể chất (chiều cao, cân nặng…) mà cả về trí não Trẻ bú mẹ sẽ được cung cấp Taurine là thành phần quan trọng trong các mô tế bào nói chung và tế bào não nói

Trang 19

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

riêng Đồng thời, các acid béo thiết yếu như omega 3 và omega 6 là tiền

tố DHA và AA sẽ tham gia vào quá trình hình thành màng tế bào não

và võng mạc giúp trẻ thông minh và có thị lực tốt Ngoài ra, trẻ còn có thể hấp thu tốt sắt và vitamin C có sẵn trong sữa mẹ để thúc đẩy quá trình phát triển trí não này [14]

1.2.5 NCBSM là điều kiện để gắn bó tình cảm mẹ con

Mỗi lần cho con bú, người mẹ có thời gian nâng niu, âu yếm con

và đ.ứa trẻ vui tươi, thoải mái Giao lưu tình cảm mẹ con được tăng cường qua dòng sữa mẹ, làm cho con nhanh lớn và khỏe mạnh Người

mẹ quên đi nỗi mệt nhọc của mình, giảm stress cho mẹ Tạo cho trẻ có cảm giác an toàn Mặt khác, chỉ có người mẹ qua sự quan sát tinh tế của mình sẽ phát hiện sớm nhất, đúng nhất những thay đổi bình thường hoặc bệnh lý của con [7]

Nhờ cho con bú vóc dáng người mẹ sẽ nhanh hồi phục [20]

1.2.7 Cho bú sữa mẹ tiện lợi và rẻ tiền [2]

Sữa mẹ không cần dụng cụ, không cần đun nấu, pha chế, không mất thời gian chuẩn bị, không phụ thuộc giờ giấc, bất kỳ lúc nào cũng

có thể cho trẻ ăn ngay cả khi người mẹ nằm ngủ vì vậy tạo điều kiện cho mẹ có đủ thời gian nghỉ ngơi, ăn uống, bồi dưỡng, chăm sóc trẻ

Sữa mẹ là nguồn có sẵn vì vậy không mất tiền mua, đảm bảo trẻ trong hoàn cảnh gia đình dù khó khăn vẫn có thể có nguồn dinh dưỡng đầy đủ

Trang 20

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

1.3 Khuyến cáo và các chính sách hỗ trợ NCBSM trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Theo khuyến cáo của WHO và UNICEF về NCBSM tốt nhất là:

- Thời gian bắt đầu cho trẻ bú: Mẹ nên bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ đầu sau đẻ, bú càng sớm càng tốt và không cần cho trẻ mới đẻ ăn bất kỳ thức ăn gì trước khi bú mẹ lần đầu Một đứa trẻ đói thường bú nhiều hơn là những đữa trẻ đã no, nếu cho trẻ ăn những thức

ăn khác trước khi bú, nó có thể làm cản trở sự tiết sữa và không đủ sữa nuôi con Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt vừa ra đời của trẻ Đồng thời, qua động tác bú của trẻ sẽ kích thích sữa

mẹ tiết sớm hơn và nhiều hơn qua cung phản xạ Prolactin, giúp co hồi

tử cung tốt ngay sau đẻ, hạn chế mất máu [1]

- Bú mẹ hoàn toàn từ 0-6 tháng tuổi

- Tiếp tục cho bú mẹ đến 2 năm hoặc lâu hơn

1.3.2 Tại Việt Nam

Khuyến cáo của Bộ Y tế Việt Nam về nuôi con bằng sữa mẹ xây dựng theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới được quy định trong Điều 2 Thông tư 38/2016 về Thực hiện “Mười điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ” tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Theo đó, nên cho trẻ bú

mẹ trong vòng 1 giờ đấu sau sinh, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 24 tháng hoặc lâu hơn [19]

1.4 Vấn đề mổ lấy thai

Đa số các trường hợp, sản phụ thực hiện việc sinh nở qua đường

âm đạo Nếu có gì bất thường gây trở ngại trong quá trình mang thai và chuyển dạ, cần phải nhanh chóng can thiệp bằng kỹ thuật mổ lấy thai

để tránh nguy cơ cho mẹ và cho con [13]

Trang 21

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Mổ lấy thai (MLT) là phẫu thuật lấy thai và phần phụ của thai như bánh rau, màng ối ra khỏi tử cung bằng một đường rạch thành bụng hoặc rạch tử cung [8]

- Mổ chủ động (dự phòng): là những trường hợp có chỉ định mổ thai từ trước khi chuyển dạ MLT chủ động được tiến hành khi chưa có chuyển dạ hay khi bắt đầu chuyển dạ Đa phần thường do mẹ hoặc thai nhi có vấn đề sức khỏe, nhưng cũng có những trường hợp mẹ tự quyết định mổ lấy thai theo ý muốn [8]

- Mổ cấp cứu (trong chuyển dạ): là các trường hợp MLT nhưng không có chỉ định trước khi chuyển dạ [8]

là 5% ở nhóm sinh mổ [29] Trong điều tra của Adhikari ở Nepal năm

2014, các tác giả cũng cho thấy chỉ có 9% bà mẹ sinh mổ cho con bú sữa non, trong khi tỉ lệ trẻ nhận sữa công thức lần đầu sau sinh mổ gấp

10 lần sinh thường [44]

Theo các nghiên cứu này, các bà mẹ sinh mổ muốn trì hoãn cho con bú sớm do sợ thuốc gây tê ảnh hưởng đến trẻ, tư thế cho con bú khiến họ không thoải mái, cảm giác mệt mỏi, mất ngủ trong quá trình hồi phục sau mổ của mẹ cũng là nguyên nhân khiến trẻ không được bú sớm [25], [29], [44]

1.5.2 Tại Việt Nam

Trang 22

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Tại Việt Nam, tỉ lệ cho trẻ bú trong 1 giờ đầu là 29% trong đó không có bà mẹ nào sinh mổ cho con bú sau 1 giờ đầu sau sinh [10]

Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh (2014) có đến 92% bà mẹ cho con bú trong ngày đầu sau sinh, trong khu tỉ lệ bà mẹ cho bú trong 1 giờ đầu chỉ ở mức 14% (31/223), có đến 37% bà mẹ đã vắt bỏ sữa non và không có bà mẹ sinh

mổ nào cho con bú hoàn toàn sau sinh [52] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Liêm năm 2015 tại Phú Yên, tỉ lệ cho con bú sớm ở nhóm các bà mẹ sinh thường là 68% và sinh mổ là 11% (p<0,001), trong đó tỉ lệ các bà mẹ sinh mổ cấp cứu cao gấp 2,6 lần so với các bà

mẹ MLTCĐ và ở Bệnh viện này chưa áp dụng da kề da sau mổ [13] Cũng trong nghiên cứu này, các bà mẹ sinh mổ có ít khả năng cho trẻ

bú sớm hơn và có nhiều khả năng cho trẻ ăn sữa bột trong 3 ngày đầu tiên [13]

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tích cực đến NCBSM như: mẹ có kiến thức đúng, sự hỗ trợ của nhân viên y tê, gia đình Tuy nhiên mẹ đau và sốt sau sinh, mẹ đang truyền dịch, mẹ chưa tiết sữa nên không cho con bú là yêu tố quyết định cho con bú mẹ [52]

1.6 Những yếu tố liên quan đến NCBSM

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc NCBSM thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan tới người mẹ, đứa trẻ và môi trường xung quanh có thuận lợi hay không Quá trình NCBSM liên quan chặt chẽ với tuổi của bà mẹ, trình độ học vấn của bà mẹ sự khác biệt của hệ thống chăm sóc sau đẻ như tăng cường gần gũi trẻ trong 24 giờ và cho trẻ bú sớm…[37], [58]

1.6.1 Đặc điểm bà mẹ

1.6.1.1 Độ tuổi của bà mẹ

Một nghiên cứu ở Australia cho thấy những trẻ sơ sinh có mẹ dưới 30 tuổi ít có xu hướng được nuôi bằng sữa mẹ ở các mức độ [50], một nghiên cứu khác ở Chile cũng chỉ ra rằng các bà mẹ không cho con

bú hoàn toàn chủ yếu là các bà mẹ còn thanh thiếu niên [49]

Trang 23

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

1.6.1.2 Kiến thức và thái độ của bà mẹ

Một số yếu tố quyết định đến thực hành NCBSM là: hiểu biết, niềm tin, các chuẩn mực xã hội Trong đó kiến thức đóng vai trò vô cùng quan trọng Không có kiến thức hoặc kiến thức không đầy đủ về NCBSM làm cho bà mẹ thiếu tự vào bản thân và dễ tin người khác Thái độ không đúng làm cho nhiều bà mẹ không tin vào mình đủ sữa, tin rằng sữa non là sữa xấu Một nghiên cứu đã được tiến hành ở Bangladesh về tập quán cho bú sữa non cho thấy: các bà mẹ coi sữa ổn định là sữa thực sự, nó mang đến cho đứa trẻ sức khỏe, còn sữa non không được thừa nhận là sữa thực sự và nói chung các bà mẹ cho là sữa non không bổ, chỉ có 2/43 bà mẹ cho là sữa non bổ, không một bà mẹ nào biết về tác dụng chống nhiễm khuẩn của nó, chỉ có một bà mẹ nói rằng sữa non có thể bảo vệ cho trẻ khỏi ốm Bởi vì màu vàng đặc sánh cho nên sữa non luôn được coi là sữa không tốt, bẩn và có thể làm cho trẻ bị tiêu chảy, nên họ chỉ cho trẻ bú bắt đầu vào ngày thứ 2, 3 sau đẻ [36], [40]

Ở nông thôn Karnataka (Ấn Độ) 58,4% trong số 274 bà mẹ vắt

bỏ sữa non, nhưng họ lại biết được tính ưu việt của sữa mẹ [34]

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho kết quả: lý do không cho trẻ

bú ngay chủ yếu là “chờ sữa về” hoặc cho rằng “sữa đầu không tốt” [5]

1.6.1.3 Đặc điểm khu vực sống, trình độ học vấn

Khu vực sống, trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ là một yếu tố liên quan đến thực hành BSSS và NCBSM Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự tiến hành tại Hà Nội trên 2.690 trẻ em cho thấy những phụ nữa ở nông thôn có xu hướng cho con bú mẹ nhiều hơn ở vùng thành thị, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra 40% trẻ trai được bú sớm sau sinh tại thành thị cao hơn so với nông thôn 35%, tỷ lệ bé gái được bú sớm sau sinh ở thành thị và nông thôn lần lượt là 49% và 40% [9] Tuy nhiên việc NCBSM hoàn toàn trong tháng đầu tiên và 3 tháng tiếp theo ở nông thôn phổ biến hơn thành thị đối với cả trẻ trai và gái

Trang 24

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Phụ nữ đã hoàn thành ít nhất trung học cơ sở có xu hướng cho con bú ít hơn so với những bà mẹ có trình độ văn hóa thấp hơn [9]

1.6.2 Đặc điểm của con

Yếu tố người mẹ có vai trò quan trọng quyết định vấn đề thực hành NCBSM song về phía con lại giúp cho việc hoàn thành NCBSM Trong một vài trường hợp cần trì hoãn thời gian bú mẹ vì sức khỏe của trẻ: trẻ suy hô hấp, dị tật bẩm sinh, trẻ đẻ non tháng, nhẹ cân [35]

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, trẻ sơ sinh nam, cân nặng trẻ lúc sinh ra thấp, trẻ sinh non tháng là những yếu tố gây cản khó khăn cho việc thực hành BSSS [41], [27]

1.6.3 Những người xung quanh

1.6.3.1 Nhân viên Y tế [39]

Điều dưỡng, bác sỹ, nữ hộ sinh, bạn bè và người thân trong gia đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nuôi con bởi vì chính đây là nguồn gốc của mọi thông tin về cách nuôi con [39] Vai trò của các nhân viên Y tế và các dịch vụ Y tế nói chung ảnh hưởng đến tập quán nuôi trẻ Trong các dịch vụ khám thai và đỡ đẻ, đây là điều đặc biệt quan trọng bởi vì đối với nhiều bà mẹ, sự tiếp xúc của họ với các dịch

vụ này là sự tiếp xúc đầu tiên với hệ thống chăm sóc sức khỏe và là lần quyết định việc NCBSM trong tương lai Nhân viên Y tế đã trở thành một phần thực trạng xã hội có ảnh hưởng đến nếp quen NCBSM [42], [56] Nghành Y tế có thể can thiệp vào quá trình NCBSM bằng việc cung cấp thông tin và khuyến khích các điều dưỡng, mà tất cả những điều này là quyết định sự hiểu biết và chi phối sự tiết sữa của bà mẹ

Trang 25

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

[48], [62] Thực hành của nhân viên Y tế đóng một vai trò quan trọng trong sự khởi đầu NCBSM Trình độ học vấn của nhân viên Y tế, sự sắp đặt con nằm cạnh mẹ và chế độ cho bú theo nhu cầu của trẻ có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ và thời gian NCBSM [42]

1.6.3.2 Vai trò người chồng [16]

Sự chăm sóc từ gia đình là một yếu tố quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe em bé Bà mẹ sau sinh mổ nhận được sự chăm sóc từ người thân nhiều hơn so với các bà mẹ sinh thường do số ngày nằm viện của họ lớn hơn Chính sự chăm sóc này tạo cho họ một niềm tin hơn và cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình nằm viện

Đặc biệt, với sự chăm sóc trực tiếp từ người chồng góp phần không nhỏ vào việc thành công thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

1.6.4 Các yếu tố liên quan đến NCBSM ở những bà mẹ MLTCĐ 1.6.4.1 Thuốc [28], [57]

Sau sinh mổ mẹ cũng sợ ảnh hưởng của thuốc gây tê sẽ gây hại cho em bé cũng là một yếu tố làm chậm trễ quá trình thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ Thuốc gây tê tủy sống tại chỗ (Lidocaine, Bupivacaine) chỉ đi vào sữa mẹ với lượng rất nhỏ và rất khó có thể tác động đến trẻ, khi mẹ dùng ở mức độ điều trị Những thuốc này có thời gian bán thải rất ngắn và bị thải trừ nhanh khỏi cơ thể mẹ Người mẹ có thể cho con

bú ngay sau khi tỉnh vì thuốc có thế sử dụng trong thời kỳ cho con bú Nhóm thuốc giải giãn cơ (Neostigmine, Atropine) không đi vào ống dẫn sữa không bài tiết vào sữa

Nhóm thuốc giảm đau, kháng viêm non-steroid (Acetaminophen, Ibuprofen, Ketorolac) được xe là an toàn trong giai đoạn cho con bú Liều thuốc ước tính mà trẻ nhận được qua sữa mẹ khoảng 6% liều dùng của người mẹ

Nhóm Penicillins và Cephalosprin bài tiết qua sữa mẹ với số lượng rất nhỏ, do vậy có thể đảm bảo duy trì cho con bú Một số trẻ sơ

Trang 26

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

sinh bú mẹ có phản ứng phụ như tiêu chảy do kháng sinh làm thay đổi

hệ vi khuẩn nhưng tác dụng phụ này chỉ là tạm thời

Không phải tất cả các loại thuốc bà mẹ dùng đều ảnh hưởng không tốt tới trẻ, chỉ có một tỷ lệ nhỏ thuốc là chống chỉ định tuyệt đối với bà mẹ cho con bú vì vậy cần cân nhắc để trẻ tiếp tục bú và hưởng những lợi ích từ sữa mẹ [30]

1.6.4.2 Thời gian bắt đầu có sữa

Sữa non có thể tiết ra trong những tháng cuối quá trình thai kỳ, chính điều này tạo điều kiện thuận lợi thực hành NCBSM ngay thời điểm sau sinh kể cả sinh mổ

Trong sinh mổ, cả mẹ và bé đều phải chờ lâu hơn các bà mẹ sinh thường để bắt đầu việc cho con bú sau sinh và sữa mẹ có xu hướng về chậm hơn sau khi trải qua phẫu thuật sinh con Các khía cạnh sinh lý liên quan đến quá trình chuyển dạ, bao gồm việc giải phóng các nội tiết

tố oxytocin và prolactin (2 nội tiết tố quan trọng đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ) giúp cơ thể bắt đầu tiết sữa và bài xuất [18], [23]

1.6.4.3 Thời gian tiếp xúc mẹ và con

Theo WHO, phương pháp da kề da (trẻ được lau khô và được đặt nằm sấp trên ngực trần của mẹ, mặt, ngực, bụng, chân của trẻ sát ngực

mẹ, đầu nằm nghiêng giữa 2 bầu vú, cả 2 mẹ con được phủ bởi lớp chăn mỏng) cần được thực hiện liên tục trong vòng ít nhất 1 giờ ngay sau sinh, với các trường hợp trẻ sinh mổ, phương pháp này cần thực hiện ngay khi mẹ ổn định, tỉnh táo [26]

Cũng theo hướng dẫn NCBSM của Viện Y học về NCBSM đã khuyến cáo rằng trẻ sinh mổ “cần phải cho bú càng sớm càng tốt, có thể

ở ngay trong phòng mổ hoặc phòng hồi sức” khả năng thực hiện khuyến nghị này đã được các Trung tâm Y tế Đại học Loma Linda ở Murietta và Loma Linda ở bang California kiểm chứng Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian bắt đầu thực hành cho con bú: tình trạng sức khỏe của bà mẹ, của con có thể dẫn đến tình trạng cách

ly mẹ con làm trị hoãn việc thực hành cho con bú [13]

Trang 27

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ sinh sau sinh mổ đang điều trị tại Khoa Điều trị theo yêu cầu và Khoa sản 2, Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, từ ngày 01/04/2019 đến ngày 30/04/2019

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Các bà mẹ không bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ

- Sản phụ không bị câm điếc hoặc có khả năng trả lời phỏng vấn

- Con của các bà mẹ này không mắc các bệnh bẩm sinh liên quan đến hình thể và đường tiêu hóa

- Đối tượng tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Sản phụ mất con sau sinh

- Các bà mẹ có chống chỉ định y khoa cho con bú như: điều trị ung thư, hóa chất, xạ trị

- Sản phụ nhiễm HIV

- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Khoa Điều trị theo yêu cầu và Khoa Sản 2, Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2018 đến 05/2019

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu

2.4.2 Cỡ mẫu

Trang 28

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Trong khi thực hiện nghiên cứu, chúng tôi thu thập được 99 bệnh nhân đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đang điều trị tại Khoa điều trị theo yêu cầu và Khoa Sản 2, Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong thời

gian nghiên cứu

2.4.3 Cách chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân đáp ứng đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu đang điều trị tại Khoa điều trị theo yêu cầu và Phòng điều trị theo yêu cầu Khoa Sản 2, Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong thời gian nghiên cứu

2.4.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.4.4.1 Công cụ thu thập thông tin

Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ

2.4.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếp các bà

mẹ để thu thập các thông tin về đặc điểm kinh tế, xã hội, kiến thức cũng như thực hành NCBSM Hoạt động phỏng vấn, thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 01/04/2019 đến ngày 30/04/2019

2.4.5 Xử lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập thông tin, các số liệu sẽ được kiểm tra, nhập và

xử lý trên phần mềm EpiData 3.1 và STATA

Sử dụng các phương pháp thống kê thông thường: tính tỷ lệ phần trăm

2.4.6 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi đã được sự đồng ý cho phép nghiên cứu của ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Khoa điều trị theo yêu cầu và Khoa Sản 2 Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Đây là một nghiên cứu mô tả tiến cứu số liệu, sử dụng thông qua phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, được sự đồng ý từ phía bệnh nhân và

Trang 29

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

tham khảo hồ sơ bệnh án, không can thiệp trực tiếp vào đối tượng vì vậy không ảnh hưởng đến sức khoẻ bệnh nhân, không vi phạm y đức

Tất cả các thông tin về người bệnh đều được mã hoá và giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học

Số liệu đảm bảo tính khoa học, tin cậy và độ chính xác

Trang 30

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Mô tả kiến thức, thực hành NCBSM ở các bà mẹ MLTCĐ tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2019

3.1.1 Đặc điểm thông tin chung đối tượng tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1: Thông tin các bà mẹ tham gia nghiên cứu (n=99)

Trang 31

Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU

Số con trước đó

Lớn hơn hoặc bằng 1 con

độ học vấn chủ yếu là từ Trung cấp trở lên chiếm 61,62% Ngoài ra, các bà mẹ có trình độ cấp III và cấp II chiếm tỉ lệ lần lượt là 26,26% và 12,12%, không có bà mẹ nào học ở trình độ cấp I và mù chữ (0%) Nghề nghiệp các bà mẹ tập trung chủ yếu là viên chức, văn phòng chiếm 53,54% Có 83,83% các bà mẹ có từ 1-2 con, còn lại là các bà

mẹ có từ 3 con trở lên chiếm 16,16%

Bảng 3.2: Đặc điểm con sinh ra hiện tại của đối tượng (n=99)

Ngày đăng: 20/05/2021, 09:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm