Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ADR Tác dụng không mong muốn của thuốc Adverse Drug Reaction ATK Thuốc an thần kinh BT Thuốc bình thần CTC Thuốc c
Trang 1Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN THỊ HÀ
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC HƯỚNG THẦN Ở BỆNH NHÂN
DƯỚI 18 TUỔI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN – BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2017 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HÀ
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC HƯỚNG THẦN Ở BỆNH NHÂN
DƯỚI 18 TUỔI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN – BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2017 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Khóa: QH2014.Y Người hướng dẫn: 1 ThS NGUYỄN XUÂN BÁCH
2 ThS BS LÊ CÔNG THIỆN
Hà Nội – 2019
Trang 3Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CẢM ƠN
Với niềm đam mê trong lĩnh vực Dược lâm sàng, tôi cảm thấy bản thân
mình rất may mắn khi được lựa chọn đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng
thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi điều trị nội trú tại Viện Sức
khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai năm 2017” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp Để có thể hoàn thành nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, hỗ trợ rất lớn từ các thầy/cô, gia đình và bạn bè –
những người đã đặt kỳ vọng và niềm tin ở tôi Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc tới:
ThS Nguyễn Xuân Bách – giảng viên Bộ môn Y dược học cơ sở - Khoa
Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, người Thầy đã luôn sát sao, chỉ dẫn tận tình
từng bước trong nghiên cứu và cho tôi những lời khuyên cụ thể trong từng
trường hợp
ThS BS Lê Công Thiện – Phó trưởng bộ môn Tâm thần – Trường Đại
học Y Hà Nội, Trưởng phòng trẻ em và vị thành niên - Viện Sức khỏe Tâm
thần, Bệnh viện Bạch Mai, người Thầy đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình
thu thập dữ liệu cũng như cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn liên
quan tới Sức khỏe Tâm thần
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Kế hoạch – Tổng hợp, Bệnh
viện Bạch Mai đã giúp đỡ tận tình, cho tôi những lời khuyên bổ ích, tạo điều
kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, cùng các
Thầy/Cô giáo Khoa Y Dược – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã luôn tâm huyết,
truyền đạt cho tôi không chỉ kiến thức chuyên ngành mà còn có những bài học
quý giá về cuộc sống, giúp tôi trưởng thành
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè - những người đã
luôn bên cạnh động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày 21 tháng 04 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
Trang 4Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADR Tác dụng không mong muốn của thuốc (Adverse Drug
Reaction) ATK Thuốc an thần kinh
BT Thuốc bình thần
CTC Thuốc chống trầm cảm
DSM-IV-TR
Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần lần thứ IV
FGA Thuốc an thần kinh thế hệ thứ nhất
(First Generation Antipsychotics) ICD-10 Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10
IMAO Thuốc ức chế monoamin oxidase
(Inhibitors of Monoamine Oxidase)
KS Thuốc chỉnh khí sắc
OCD Rối loạn nghi thức ám ảnh (Obsessive Compulsive Disorder) PTSD Rối loạn stress sau sang chấn (Posttraumatic Stress Disorder) RLHV Rối loạn hành vi
SGA Thuốc an thần kinh thế hệ thứ hai
(Second Generation Antipsychotics) SNRI Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin – norepinephrin
(Serotonin norepinephrine Reuptake Inhibitors) SSRI Thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin
(Selective Serotonin Reuptake Inhibitors) TCA Thuốc chống trầm cảm ba vòng (Tricyclic antidepressant)
VSKTT Viện Sức khỏe Tâm thần
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 5Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1: Tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu mắc bệnh tâm thần 22
Bảng 3.2: Các loại rối loạn tâm thần ở đối tượng nghiên cứu 23
Bảng 3.3: Các loại rối loạn tâm thần thực tổn và rối loạn tâm thần, hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần 23
Bảng 3.4: Tâm thần phân liệt, rối loạn loại phân liệt và các rối loạn hoang tưởng 24
Bảng 3.5: Các rối loạn cảm xúc 24
Bảng 3.6: Rối loạn liên quan đến stress 25
Bảng 3.7: Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên 25
Bảng 3.8: Các bệnh lý mắc kèm ở đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.9: Thời gian nằm viện của đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.10: Các nhóm hướng thần được chỉ định 27
Bảng 3.11: Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với rối loạn tâm thần thực tổn và rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần 28
Bảng 3.12: Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với tâm tần phân liệt, rối loạn phân liệt và với rối loạn hoang tưởng 28
Bảng 3.13: Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với rối loạn cảm xúc 29
Bảng 3.14: Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với các rối loạn liên quan đến stress 30
Bảng 3.15: Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với rối loạn hành vi trầm cảm 30
Trang 6Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Bảng 3.16: Thay thuốc cùng nhóm trong quá trình điều trị 31
Bảng 3.17: Tính hợp lý về liều dùng trong sử dụng thuốc hướng thần 32
Bảng 3.18: Tương tác thuốc trong quá trình điều trị 34
Bảng 3.19: ADR của thuốc hướng thần trong quá trình điều trị 35
Bảng 3.20: Hiệu quả của thuốc hướng thần trên đối tượng nghiên cứu 37
Biểu đồ 3.1: Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu 22
Biểu đồ 3.2: Thời điểm thay đổi thuốc trong cùng nhóm điều trị 31
Trang 7
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 – TỔNG QUAN 2
1.1 Các rối loạn tâm thần hay gặp ở đối tượng dưới 18 tuổi 2
1.1.1 Rối loạn lo âu 2
1.1.2 Rối loạn cảm xúc 3
1.1.3 Rối loạn hành vi tuổi thanh thiếu niên 4
1.1.4 Tâm thần phân liệt 5
1.2 Đại cương về thuốc hướng thần 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Phân loại 6
1.2.3 Các thuốc hướng thần 6
1.2.3.1 Thuốc an thần kinh 6
1.2.3.2 Thuốc bình thần 9
1.2.3.3 Thuốc chống trầm cảm 10
1.2.3.4 Thuốc chỉnh khí sắc 12
1.2.4 Những lưu ý trong sử dụng thuốc cho đối tượng nhỏ hơn 18 tuổi 14
1.3 Các nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi 17
1.3.1 Ở nước ngoài 17
1.3.2 Ở Việt Nam 18
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1.Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 20
Trang 8Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.4 Xử lý số liệu 21
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 21
Chương 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm của bệnh nhân dưới 18 tuổi mắc rối loạn tâm thần điều trị nội trú tại VSKTT– Bệnh viện Bạch Mai 22
3.2 Tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi mắc rối loạn tâm thần điều trị nội trú tại VSKTT – Bệnh viện Bạch Mai 27
Chương 4 – BÀN LUẬN 39
KẾT LUẬN 45
ĐỀ XUẤT 46
Trang 9Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tâm thần là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra những bất thường về sức khỏe Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002, ước tính tỉ lệ dân số mắc các rối loạn tâm thần là 12%, xếp thứ 5 trong 10 nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu [42]
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng hầu hết các rối loạn tâm thần ở độ tuổi trưởng thành bắt đầu từ thời thơ ấu và tuổi vị thành niên [31, 41, 52] Tại Việt Nam, một nghiên cứu kết hợp giữa Unicef và Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội năm 2018 trên đối tượng từ 11 đến 24 tuổi đã thông báo: 8 - 29% trẻ em
và trẻ vị thành niên Việt Nam mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần và tỉ lệ trẻ
tự tử là 2,3% [8]
Các rối loạn về tâm thần có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng tới sự phát triển của trẻ cũng như kinh tế [42] Do đó, việc nghiên cứu về rối loạn tâm thần trên nhóm đối tượng dưới 18 tuổi rất quan trọng Việc can thiệp trị liệu sớm ở trẻ em có thể hỗ trợ tích cực tới kết quả điều trị sau này [31]
Viện Sức khỏe tâm thần (VSKTT) - Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở hàng đầu trong điều trị các bệnh lý rối loạn tâm thần, với số lượng bệnh nhân dưới
18 tuổi tăng lên theo năm (từ năm 2015 đến năm 2017 tăng 24,48%) Tuy nhiên, các nghiên cứu về rối loạn tâm thần ở đối tượng dưới 18 tuổi và việc lựa chọn thuốc hướng thần ở đối tượng này vẫn còn là một thách thức trong thực hành lâm sàng do ADR đáng kể của thuốc và sự khác biệt về dược động học [25, 52] Đặc biệt tại Việt Nam, cho tới hiện nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá
về việc sử dụng thuốc hướng thần ở đối tượng dưới 18 tuổi
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai năm 2017” với mục tiêu:
1 Khảo sát đặc điểm của bệnh nhân dưới 18 tuổi mắc rối loạn tâm thần điều trị nội trú tại VSKTT– Bệnh viện Bạch Mai
2 Khảo sát tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi mắc rối loạn tâm thần điều trị nội trú tại VSKTT – Bệnh viện Bạch Mai
Trang 10Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chương 1 – TỔNG QUAN 1.1 Một số rối loạn tâm thần thường gặp ở đối tượng dưới 18 tuổi
1.1.1 Rối loạn lo âu
Khái niệm: Lo lắng là một phản ứng bình thường của tâm lý con người
đối với một mối đe dọa Tuy nhiên, nếu sự lo lắng là vô cớ hoặc kéo dài mà không có sự hiện diện của mối đe dọa, gây suy giảm chức năng sống thông thường (học tập và công việc, giao tiếp xã hội, chăm sóc cá nhân), khi đó được xác định là rối loạn lo âu [30]
Dịch tễ: Rối loạn lo âu là rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở trẻ em và vị
thành niên Ước tính trên toàn thế giới có khoảng 8,3 - 27% trẻ em từ 6 đến 18 tuổi bị ít nhất một rối loạn lo âu [11], trong đó biểu hiện mắc rối loạn lo âu lan tỏa chiếm tỉ lệ lớn nhất (6,5%) [9], làm tăng nguy cơ tự tử và có mối liên quan đáng kể tới tỉ lệ bệnh và tỉ lệ tử vong ở trẻ, các rối loạn lo âu ở trẻ có thể dẫn tới một loạt các rối loạn tâm thần khác về sau này [59]
Phân loại: Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), rối loạn lo
âu được xếp loại như sau [3]:
F40 : Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ
F41 : Các rối loạn lo âu khác
F41.0 : Rối loạn hoảng sợ
F41.1 : Rối loạn lo âu lan tỏa
F41.2 : Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm
F41.3 : Các rối loạn hỗn hợp lo âu khác
F41.8 : Các rối loạn lo âu biệt định khác
F41.9 : Rối loạn lo âu, không biệt định
Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu lan toả (theo ICD-10) [3]:
Biểu hiện lo âu: Sợ hãi, căng thẳng vận động, hoạt động quá mức thần
kinh tự trị
Sự lo âu, sợ hãi là biểu hiện chính, chủ yếu, nguyên phát dẫn đến phản
Trang 11Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ứng sợ hãi quá mức
Bệnh thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng
Điều trị rối loạn lo âu: Nhóm benzodiazepin và nhóm chống trầm cảm
thường được sử dụng trong điều trị lo âu lan tỏa Trong nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các thuốc an thần kinh mới liều thấp có tác dụng trong điều trị lo âu
và trầm cảm Một số thuốc hỗ trợ triệu chứng như propranolol, Magnesi B6 [3]
1.1.2 Rối loạn cảm xúc
Khái niệm: Rối loạn cảm xúc là những rối loạn đặc trưng bởi sự xáo trộn
cảm xúc, bao gồm trầm cảm và hưng cảm, một mình hoặc kết hợp [9]
Dịch tễ: Các rối loạn cảm xúc ở trẻ trước tuổi đi học thường ít gặp, tỉ lệ
trầm cảm điển hình ở trẻ trước tuổi đi học được ước tính là 0,3% ở cộng đồng
và 0,9% ở các cơ sở lâm sàng Trong quần thể dân số chung, tỉ lệ trầm cảm gặp
từ 1% đến 6% ở trẻ vị thành niên, trẻ gái cao gấp hai lần trẻ trai Tỉ lệ mắc chung rối loạn lưỡng cực khởi phát sớm hiếm gặp, tỉ lệ mắc cả đời rối loạn lưỡng cực I và II khoảng 1% [9]
Phân loại: Theo ICD-10, rối loạn cảm xúc bao gồm giai đoạn hưng cảm,
giai đoạn trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, rối loạn trầm cảm tái diễn, rối
loạn cảm xúc dai dẳng, rối loạn cảm xúc biệt định và rối loạn cảm xúc khác
Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình: Theo Chẩn đoán
và Thống kê các Rối loạn Tâm thần lần thứ IV (DSM-IV-TR), rối loạn trầm cảm điển hình phải có ít nhất năm triệu chứng kéo dài trong hai tuần và có sự thay đổi chức năng tâm thần so với trước đó Các triệu chứng chủ yếu là khí sắc giảm, cảm xúc không ổn định hoặc mất mối quan tâm thích thú trong các hoạt động Các triệu chứng khác bao gồm trẻ không đạt được cân nặng theo tiêu chuẩn, mất ngủ hoặc ngủ nhiều, bất an hoặc chậm chạp tâm lý vận động, mệt mỏi hàng ngày hoặc mất năng lượng, cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi không phù hợp, giảm khả năng tuy duy và tập trung, ý nghĩ về cái chết tái diễn Các triệu chứng này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần hoặc bệnh
lý nội khoa chung [9]
Điều trị rối loạn trầm cảm: Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin – norepinephrin
Trang 12Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
(Serotonin norepinephrine Reuptake Inhibitors - SNRI) và thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (Selective Serotonin Reuptake Inhibitors – SSRI) được chấp nhận rộng rãi như can thiệp hàng đầu cho rối loạn trầm cảm mức độ vừa đến nặng ở trẻ em và thanh thiếu niên [9] Các thuốc ức chế monoamin oxidase (Inhibitors of Monoamine Oxidase– IMAO) hiện nay ít dùng vì có nhiều tương tác thuốc Trong trường hợp trầbảngm cảm có loạn thần, thường phối hợp với các thuốc an thần kinh Có thể sử dụng các thuốc chỉnh khí sắc để đề phòng tái phát, tái diễn trầm cảm [3]
1.1.3 Rối loạn hành vi tuổi thanh thiếu niên
Khái niệm: Rối loạn hành vi (RLHV) là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và
kéo dài, trong đó các quyền cơ bản của người khác hay chuẩn mực xã hội bị vi phạm
Dịch tễ: Theo DSM-IV-TR đối với nam dưới 18 tuổi, tỷ lệ từ 6% đến
16%, với nữ tỉ lệ từ 2 đến 9% Nam giới RLHV thường có hành vi hung hãn,
nữ giới thường có hành vi không đối mặt [3]
Phân loại: Dựa trên tuổi khởi phát, RLHV được chia thành thể khởi phát
tuổi trẻ em (trước 10 tuổi) và thể khởi phát tuổi thanh thiếu niên Dựa theo mức
độ, RLHV được chia ra làm ba nhóm: nhẹ, trung bình, nặng [3]
Tiêu chuẩn chẩn đoán (theo ICD-10):
Có mô hình lặp đi lặp lại và dai dẳng, trong đó hoặc là các quyền cơ bản của những người khác hoặc những chuẩn mực hay luật lệ chính của xã hội phù hợp với lứa tuổi bị vi phạm, kéo dài ít nhất 6 tháng, trong thời gian đó một trong
số các triệu chứng sau xuất hiện: Cơn cáu giận trầm trọng, cãi lời người lớn, đổ lỗi cho người khác, dễ bị làm khó chịu, có thái độ ác ý hoặc hận thù, gây sự đánh nhau, dùng vũ khí gây tổn thương, biểu hiện sự tàn bạo, phá hủy tài sản của người khác thường bằng cách đốt cháy, bỏ nhà đi hoặc trốn học, phạm tội
có sự đối mặt với người bị hại, cưỡng ép người khác hoạt động tình dục
Rối loạn không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của rối loạn nhân cách chống đối xã hội, tâm thần phân liệt, giai đoạn hưng cảm, các rối loạn lan tỏa
sự phát triển hoặc rối loạn tăng động [3]
Trang 13Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Điều trị rối loạn hành vi tuổi thanh thiếu niên: Chủ yếu là liệu pháp
gia đình và liệu pháp hành vi, liệu pháp hóa dược ít có ý nghĩa trong điều trị
RLHV [3]
1.1.4 Tâm thần phân liệt
Khái niệm: Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần mạn tính, tiến
triển từ từ, ngày càng nặng dần, dẫn đến suy giảm về mặt cảm xúc, tư duy và hành vi, ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của bệnh nhân [30]
Dịch tễ: Liên quan đến tuổi khởi phát, rối loạn tâm thần phân liệt ở trẻ
em và thanh thiếu niên được chia thành:
Tâm thần phân liệt khởi phát sớm (khởi phát trước 16 tuổi hoặc 17 tuổi): Một số bằng chứng cho thấy tỷ lệ tâm thần phân liệt xảy ra nhiều gấp 50 lần ở
độ tuổi trên 15 [30] Tỷ lệ nam/nữ chiếm ưu thế ở phần nam giới, 4% biểu hiện bệnh trước 15 tuổi [9]
Tâm thần phân liệt khởi phát rất sớm (khởi phát trước 13 tuổi): rất hiếm,
tỉ lệ mắc là 2/1000000, tỉ lệ nam/nữ là 2/1 [30], tỉ lệ biểu hiện bệnh trước 10 tuổi là 0,1 – 1%, rất hiếm khi phát hiện ở trẻ dưới 5 tuổi [9]
Phân loại: Theo ICD-10, tâm thần phân liệt được xếp loại như sau [3]:
F20.0 : Tâm thần phân liệt thể paranoid
F20.1 : Tâm thần phân liệt thể thanh xuân
F20.2 : Tâm thần phân liệt thể thể căng trương lực
F20.3 : Tâm thần phân liệt thể không biệt định
F20.4 : Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt
F20.5 : Tâm thần phân liệt thể di chứng
F20.6 : Tâm thần phân liệt thể đơn thuần
F20.8 : Các thể tâm thần phân liệt khác
F20.9 : Tâm thần phân liệt thể không đặc hiệu
Tiêu chuẩn chẩn đoán (theo ICD-10):
Ít nhất phải có một triệu chứng rất rõ thuộc vào một trong các triệu
Trang 14Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
chứng: tư duy vang thành tiếng, hoang tưởng, ảo thanh bình luận, hoặc ít nhất phải có hai triệu chứng là ảo giác gián đoạn kèm hoang tưởng, tư duy gián đoạn
Các triệu chứng trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn khoảng thời gian một tháng hay lâu hơn
Không được chẩn đoán là tâm thần phân liệt nếu có các triệu chứng trầm cảm hay hưng cảm mở rộng
Không được chẩn đoán là tâm thần phân liệt khi có bệnh não rõ rệt hoặc bệnh nhân đang ở trạng thái nhiễm độc ma túy [3]
Điều trị tâm thần phân liệt: Thuốc chống loạn thần không điển hình là
lựa chọn hàng đầu trong điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và trẻ em do có hiệu quả hơn trong việc làm giảm các triệu chứng âm tính và dương tính, ít nguy cơ gây ra các tác dụng ngoại tháp [3, 9, 27]
1.2 Đại cương về thuốc hướng thần
1.2.1 Khái niệm
Thuốc hướng thần là các thuốc có tác dụng làm dịu hoặc kích thích tâm thần, dẫn đến sự điều chỉnh lại một số tổn thương về hành vi, về tâm trạng, khí sắc, hoặc tư duy, suy nghĩ trong các trạng thái trầm cảm, hưng phấn, lo âu mất thăng bằng cảm xúc [2]
1.2.2 Phân loại
Theo Delay và Deniker (1957), thuốc hướng thần được chia làm 4 nhóm: Thuốc an thần kinh, thuốc bình thần, thuốc chống trầm cảm và thuốc chỉnh khí sắc [2]
1.2.3 Các thuốc hướng thần
1.2.3.1 Thuốc an thần kinh
Khái niệm
Thuốc an thần kinh là thuốc an thần mạnh, chống rối loạn tâm thần thể
hưng cảm, làm giảm các kích thích về tâm thần, giảm ý thức, hoang tưởng, ảo giác, lo sợ,… tạo cảm giác thờ ờ, lãnh đạm [2]
Trang 15Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Nhóm SGA (hoặc thuốc an thần kinh không điển hình hay thuốc đối kháng serotonin – dopamin) bao gồm clozapin, risperidon, olanzapin, quetiapin, ziprasidon, aripiprazol, paliperidon, iloperidon, asenapin và lurasido [30]
Cơ chế và tác dụng dược lý
Mặc dù cơ chế hoạt động cụ thể của thuốc an thần kinh chưa được làm sáng tỏ, thuốc an thần kinh đã được chứng minh là gây phong tỏa sau synap tại thụ thể dopamin D2 và serotonin 5-HT2A [52]
Các thuốc phong toả thụ thể dopamin D2 làm giảm các biểu hiện của bệnh tâm thần Các nơron của hệ tiết dopamin đều xuất phát từ não giữa [30], tạo thành các đường dẫn truyền: não giữa – thể vân, não giữa – hệ viền, não giữa – vỏ não, ụ phễu - tuyến yên [2]
Các thuốc phong tỏa thụ thể serotonin 5-HT2A làm tăng hoạt hệ tiết dopamin não giữa - vỏ não, làm giảm các triệu chứng âm tính [2]
Các thuốc an thần kinh thế hệ một ức chế mạnh D2 hơn 5HT nhiều nên tác dụng trên triệu chứng dương tính mạnh, ít tác dụng trên triệu chứng âm tính, mặt khác gây tác dụng ngoại tháp Các thuốc an thần kinh thế hệ hai đều có cả hai tác dụng phong tỏa D2 và 5-HT2A và ức chế 5-HT2A mạnh hơn D2 do đó cải thiện được cả triệu chứng âm tính và ít gây hội chứng ngoại tháp, còn với triệu chứng dương tính thì tác dụng như thuốc thế hệ một [2]
Thuốc an thần kinh cũng ảnh hưởng đến các thụ thể khác: Phong tỏa histamin-1 (H1) có tác dụng an thần và có thể tăng cân Phong tỏa α1 - adrenergic gây hạ huyết áp thế đứng và có thể rối loạn chức năng tình dục
Trang 16Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Phong tỏa thụ thể muscarinic gây ra các tác dụng kháng acetylcholin như khô miệng, mờ mắt, táo bón và bí tiểu [30]
Chỉ định, chống chỉ định
Chỉ định: Điều trị tất cả các trạng thái loạn thần, các SGA được dùng để điều trị các triệu chứng âm tính của bệnh tâm thần phân liệt, một số rối loạn cảm xúc (olanzapin, quetiapin,…), một số rối loạn dạng cơ thể (sulpirid)
Chống chỉ định: Cân nhắc chỉ định và lưu ý liều lượng, thời gian sử dụng trong các trường hợp có bệnh cơ thể nặng, cấp tính, cơ địa dị ứng thuốc, bệnh tăng nhãn áp, hôn mê do ngộ độc, suy chức năng gan, thận,…[3]
Tác dụng không mong muốn
Một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn thuốc an thần kinh là nguy cơ tiềm ẩn các ADR như hội chứng ngoại tháp, kháng acetylcholin, tim mạch, rối loạn chuyển hóa và tăng prolactin máu, cụ thể:
Hội chứng ngoại tháp: Tỷ lệ hội chứng ngoại tháp do sử dụng thuốc an
thần kinh dường như cao hơn ở những bệnh nhân nhỏ tuổi [13] Việc điều trị
an thần kinh lâu dài ở trẻ em cùng với hội chứng ngoại tháp làm tăng mối quan ngại liên quan đến nguy cơ loạn vận động muộn, tiểu tiện không tự chủ [21]
Tăng prolactin máu: Thường được quan sát thấy trong quá trình điều trị
với các thuốc an thần kinh có cơ chế tác dụng trên receptor D2 hệ ụ phễu - tuyến yên (vấn đề này không liên quan đến tuổi) [33] Các FGA, sulpirid, amilsulpirid
và risperidon thường gây ra ADR này hơn so với các SGA [16, 47] trong khi aripiprazol, một chất chủ vận một phần D2 thì lại ít xảy ra [33] Tăng prolactin máu có khả năng dẫn đến bệnh lý về sinh sản và sinh dục, bất thường về vú, loãng xương và thay đổi tình cảm Tuy nhiên, tương quan giữa nồng độ prolactin cao và ADR của thuốc an thần kinh là thấp [54]
Tăng cân: Tăng cân và rối loạn chuyển hóa là hai ADR được báo cáo
thường xuyên nhất ở bệnh nhân trưởng thành cũng như trẻ em [16, 44] Ở trẻ
em và thanh thiếu niên, điều trị bằng clozapin và olanzapin gây tăng cân đáng
kể nhất [16, 44] so với risperidon, quetiapin và aripiprazol Ziprasidon và các FGA (như molindon) gây tác dụng tăng cân ở mức trung bình [35]
Trang 17Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Nguy cơ tim mạch: Kéo dài khoảng QT được nhận thấy với hầu hết các
thuốc an thần kinh, làm tăng nguy cơ loạn nhịp tim [22]
1.2.3.2 Thuốc bình thần
Khái niệm
Thuốc bình thần có nhiều tên gọi như thuốc an thần thứ yếu hay thuốc giải lo âu, với đặc điểm chung là ức chế đặc biệt trên hệ thống lưới hoạt hóa đồi thị hệ viền và các nơron kết hợp của tủy sống [2]
Phân loại
Nhóm thuốc quan trọng hàng đầu là benzodiazepin với tác dụng giảm triệu chứng nhanh chóng cùng lợi thế lâm sàng khác biệt so với nhóm thuốc cũ như barbiturat [30]
Các nhóm khác bao gồm: Buspiron, zolpidem (nhóm imidazopyridin), thuốc an thần kháng histamin (hydroxyzin), thuốc phong tỏa β giao cảm (propranolol), thuốc hạ huyết áp loại cường α2 giao cảm (clonidin) [2]
Cơ chế và tác dụng dược lý
Benzodiazepin có bốn tác dụng riêng biệt: giải lo âu, chống co giật, giãn
cơ và gây ngủ Benzodiazepin đạt tác dụng nhanh, thường được sử dụng để giảm lo âu cũng như gây tiền mê trước khi phẫu thuật và các thủ thuật y tế khác [30]
Benzodiazepin gắn trên các receptor đặc hiệu với nó trên thần kinh trung ương Bình thường, khi không có benzodiazepin, các receptor của benzodiazepin bị một protein nội sinh chiếm giữ, làm cho GABA (axit gamma-aminobutyric - trung gian hóa học có tác dụng ức chế trên thần trên thần kinh trung ương) không gắn vào được các receptor của hệ GABA-ergic, vì vậy làm cho kênh Cl- của nơron khép lại Khi có mặt benzodiazepin, do có ái lực mạnh hơn protein nội sinh, benzodiazepin đẩy protein nội sinh và chiếm lại receptor của nó và làm mở kênh Cl-, Cl- đi từ ngoài vào trong tế bào gây hiện tượng ưu cực hóa [2] Các receptor của benzodiazepin có liên quan về giải phẫu và chức phận với receptor của GABA, bao gồm BZ1 (còn gọi là omega1) và BZ2 (còn gọi là omega2) có ái lực khác nhau với các loại benzodiazepin Phần lớn
Trang 18Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
benzodiazepin dùng ở lâm sàng đều tác dụng trên cả BZ1 và BZ2 [31] Tác dụng trên receptor BZ1, gây ra hiệu ứng an thần và các rối loạn quên, trong khi tác dụng trên receptor BZ2 mang lại tác dụng giảm lo âu [30]
Riêng nhóm imidazopyridin thì chọn lọc trên BZ1, nên tác dụng giãn cơ
và chống co giật rất yếu và không gây quen thuốc, nghiện thuốc Nhóm thuốc
an thần kháng histamin ức chế một số vùng trọng yếu dưới vỏ não gây tác dụng
Chống chỉ định: Làm giảm sự tập trung chú ý nên không dùng cho người điều khiển phương tiện Làm giãn cơ nên không dùng cho người bệnh nhược
cơ [3]
Tác dụng không mong muốn
Đối với benzodiazepin: Khi nồng độ trong máu cao hơn liều an thần, đạt tới liều gây ngủ, có thể gặp uể oải, động tác không chính xác, lú lẫn, miệng khô đắng, giảm trí nhớ Độc tính thần kinh tăng theo tuổi
Về tâm thần, có thể có: ác mộng, bồn chồn, lo lắng, tim nhanh, vã mồ hôi, sảng khoái, hoang tưởng, muốn tự tử Benzodiazepin ít gây phụ thuộc và lạm dụng thuốc, nhưng sau một đợt dùng kéo dài, có thể gây mất ngủ trở lại, lo lắng, bồn chồn, hoặc co giật Mặc dù vậy, benzodiazepin vẫn là một thuốc an thần tương đối an toàn [2], tuy nhiên chúng được sử dụng hạn chế và cần có kiểm soát ở trẻ em và thanh thiếu niên [60]
1.2.3.3 Thuốc chống trầm cảm
Khái niệm
Trang 19Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Thuốc chống trầm cảm là những thuốc làm giảm/mất tình trạng ức chế, làm hưng phấn cảm xúc Các giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của trầm cảm dựa trên các trung gian hóa học bao gồm: Thiếu hụt norepinephrin tại các synap của
hệ thần kinh trung ương, giảm serotonin, thiếu hụt dopamin, giảm phenyletylamin (chất tiền thân của catecholamin) [2]
Phân loại
Thuốc chống trầm cảm được chia làm các nhóm chính [2, 30]:
Thuốc chống trầm cảm ba vòng
Thuốc ức chế monoamin oxidase
Thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI)
Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin – norepinephrin (SNRI)
Cơ chế và tác dụng dược lý [2]
Thuốc chống trầm cảm có tác dụng chống trầm cảm là do:
Ức chế sự thu hồi serotonin ở nơron trung ương, do đó làm tăng serotonin
tự do ở hạnh nhân não và hạ khâu não, chống tâm trạng buồn rầu, thất vọng, muốn tự sát
Ức chế sự thu hồi norepinephrin, làm tăng năng tính hoạt động
Mức độ tác dụng trên các amin này không giống nhau giữa các dẫn xuất Tác dụng dược lý của thuốc chống trầm cảm:
Thuốc chống trầm cảm ba vòng (Tricyclic antidepressant - TCA) tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, tác dụng trên hệ thần kinh thực vật, làm tăng tác dụng của adrenalin và noradrenalin do ức chế sự thu hồi catecholamin của các nơron hệ adrenergic
IMAO ngoài tác dụng chống trầm cảm trên thần kinh trung ương, còn có nhiều tác dụng dược lý khác như ức chế hoạt tính của tyrosin hydroxylase, làm tăng tổng hợp norepinephrin, tác dụng chống đau thắt ngực,…
SSRI và SNRI: Tác dụng chống trầm cảm do ức chế thu hồi serotonin, ngoài ra còn có tác dụng đối kháng nhẹ trên hệ muscarin và histamin
Chỉ định, chống chỉ định
Trang 20Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chỉ định: Chỉ định trong các rối loạn trầm cảm (rối loạn hoảng sợ, ám ảnh xã hội, ám ảnh sợ khoảng trống và rối loạn stress sau sang chấn - PTSD), rối loạn ám ảnh nghi thức, rối loạn khí sắc chu kì, rối loạn nhân cách gianh giới
và rối loạn hoảng sợ
Chống chỉ định: Chống trầm cảm ba vòng không chỉ định cho bệnh nhân glocom góc đóng, viêm/u xơ tuyến tiền liệt, rối loạn nhịp tim, động kinh [3]
Tác dụng không mong muốn
Thuốc chống trầm cảm ba vòng gây rối loạn thần kinh, mất thăng bằng, run đầu chi, co giật, hạ huyết áp tư thế đứng, táo bón, khô miệng, loạn thích nghi thị lực, vã mồ hôi – liên quan tới tác dụng hủy phó giao cảm, rối loạn chuyển hóa, rối loạn nội tiết và tình dục [2]
Các ADR của IMAO thường nặng: Run, mất ngủ, vã mồ hôi, kích thích, thao cuồng, lú lẫn, ảo giác, tăng phản xạ, co giật, hạ huyết áp tư thế đứng, viêm gan nhiễm độc, tổn thương tế bào gan, thường không liên quan đến liều lượng
và thời gian sử dụng [2]
Các SSRI và SNRI có độ an toàn và khả năng dung nạp tốt hơn so với thuốc chống trầm cảm cũ, nhưng việc sử dụng rộng rãi SSRI đã cho thấy tần suất và loại ADR tăng lên so với dữ liệu thử nghiệm lâm sàng [19] Các SNRI
có các ADR phổ biến như bồn chồn, mất ngủ, buồn nôn, tiêu chảy, rối loạn chức năng sinh dục,…[30]
1.2.3.4 Thuốc chỉnh khí sắc
Khái niệm
Thuốc chỉnh khí sắc có tác dụng điều trị trên các giai đoạn của rối loạn lưỡng cực an thần trong trạng thái kích thích, hoặc dự phòng các rối loạn khí sắc trong hưng trầm cảm [2]
Phân loại
Thuốc chỉnh khí sắc bao gồm các muối lithium, natri valproat và các dẫn xuất, carbamazepin, oxcarbazepin và lamotrigin [63]
Cơ chế và tác dụng dược lý
Trang 21Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Li+ ức chế sự nhập Ca2+ vào trong tế bào thần kinh Chuyển vận Na+ bị rối loạn trong hưng cảm và trầm cảm, thể hiện trước tiên là ứ động Na+ trong tế bào (và cả Ca2+ tự do) Li+ có thể điều chỉnh đặc hiệu sự bất thường này Trong hưng trầm cảm, có sự mất thăng bằng giữa các hệ adrenergic và serotoninergic gây hội chứng cường adrenergic và nhược serotoninergic Li+ làm giảm giải phóng và giảm hoạt tính của catecholamin, đồng thời tăng cường hệ serotoninergic Li+ ngăn cản Ca2+ vào tế bào, chủ yếu là chẹn kênh trao đổi Na+
- Ca2+ có nhiều tại nơron, vì vậy có tác dụng điều trị bệnh tâm thần mà không
có tác dụng trên tim mạch Các muối lithium có tác dụng an thần, thuốc không
có tác dụng trên người bình thường Điều trị các tình trạng kích thích, đặc biệt
là kích thích trong hưng trầm cảm [2]
Natri valproat và các dẫn xuất: Natri valproat phân ly thành ion valproat
có tác dụng ức chế enzyme dị hóa GABA, làm tăng nồng độ GABA Ngoài ra, natri valproat cũng ức chế các kênh natri nhạy cảm với điện áp nên có đặc tính chống co giật và được sử dụng trong điều trị động kinh [50]
Carbamazepin ức chế các kênh natri, ngăn cản sự vận chuyển qua lại Carbamazepin cũng có tác dụng kháng cholinergic, chống nôn trung ương, chống loạn nhịp, giãn cơ, chống trầm cảm (có thể thông qua cơ chế phong tỏa giải phóng norepinephrin), thuốc an thần và ức chế thần kinh cơ [32]
Cơ chế chính xác mà oxcarbazepin phát huy tác dụng chống co giật vẫn
chưa được biết rõ Các nghiên cứu invitro đã cho thấy sự phong tỏa các kênh
natri nhạy cảm với điện áp gây ra bởi 10-monohydroxy (MHD), dẫn đến ổn định màng tế bào và làm giảm sự lan truyền của các xung động [39]
Cơ chế của lamotrigin giống như carbamazepin trong việc ức chế các kênh natri nhạy cảm với điện áp, làm ổn định màng tế bào thần kinh và do đó điều hòa dẫn truyền của các chất tiền synap như glutamat và aspartat Lamotrigin là một thuốc chống động kinh thuộc nhóm phenyltriazin được sử dụng trong điều trị động kinh và rối loạn lưỡng cực, có bằng chứng cho thấy hiệu quả lâm sàng trong một số trường hợp đau thần kinh Đây là loại thuốc đầu tiên được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê chuẩn để điều trị lưỡng cực loại I [17]
Trang 22Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chỉ định
Hưng cảm cấp diễn, cơn cấp diễn rối loạn cảm xúc lưỡng cực, điều trị duy trì rối loạn cảm xúc, thuốc chỉnh khí sắc còn được sử dụng phối hợp liều thấp với các thuốc an thần kinh hay chống trầm cảm trong các trường hợp kháng điều trị [3]
Tác dụng không mong muốn
Lithium có khoảng trị liệu hẹp (nồng độ trong máu khoảng 0,6 và 1,2 mEq/l trong điều trị cơn hưng cảm ở thanh thiếu niên [12]), gây khó khăn trong việc tiến hành điều trị Các tác dụng không mong muốn (ADR – Adverse Drug Reaction) rất khác nhau giữa các bệnh nhân và thường phụ thuộc vào liều Đái tháo đường và rối loạn vị giác được tìm thấy trong 25% trường hợp, ngoài ra tăng cân cũng là một ADR phổ biến [63] Trẻ em sẽ dễ bị ADR về thần kinh hơn người lớn [24]
ADR của natri valproat và các dẫn xuất thường liên quan đến hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn thần kinh, nhận thức, đường tiêu hóa, tăng cân
và độc tính gan (có khả năng gây tử vong) [63]
Carbamazepin là một chất cảm ứng enzyme chuyển hóa ở gan Ngoài ra,
ở trẻ em và thanh thiếu niên, carbamazepin gây ra ADR thần kinh thứ phát và buồn ngủ [63]
Oxcarbazepin có ADR tương tự carbamazepin nhưng không gây cảm ứng enzyme gan [63]
Lamotrigin có nguy cơ gây tăng cân và an thần tương đối thấp nhưng đòi hỏi hết sức thận trọng khi tăng liều vì nguy cơ gây dị ứng Gián đoạn điều trị ngay lập tức trong trường hợp phát ban [63]
Sự kết hợp của một thuốc chỉnh khí sắc với một thuốc an thần kinh làm trầm trọng thêm ADR tăng cân [14] Cuối cùng, ý tưởng hoặc hành vi tự tử cũng được báo báo về ADR của nhóm thuốc này [56]
1.2.4 Những lưu ý trong sử dụng thuốc cho đối tượng nhỏ hơn 18 tuổi 1.2.4.1 Khác biệt về dược động học và dược lực học của thuốc
Trang 23Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trọng lượng, cấu tạo và sự hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể có ảnh hưởng lớn đến quá trình dược động học của trẻ em Việc dự đoán ảnh hưởng của quá trình phát triển và hoàn thiện của trẻ đến dược lực học của thuốc gặp nhiều khó khăn do những dữ liệu về thay đổi liên quan giữa độ tuổi và thụ thể của thuốc hiện còn rất hạn chế [18]
Dược động học của thuốc trên trẻ em
Hấp thu thuốc: pH dạ dày của trẻ cao do lượng acid clohydric chưa được bài tiết đầy đủ [20] Chỉ sau 1 tuổi, lượng acid dạ dày mới tăng lên và dần đạt mức tương đương người lớn [55] Thời gian tháo rỗng dạ dày của trẻ kéo dài hơn nên các thuốc hấp thu chủ yếu ở dạ dày có thể có mức độ hấp thu lớn hơn so với dự đoán và các thuốc hấp thu ở ruột non có thể không đạt được hiệu quả điều trị [18] Sau từ 6-8 tháng, thời gian tháo rỗng dạ dày của trẻ đạt mức gần giống với người lớn [37] Nhu động ruột của trẻ nhỏ mạnh hơn nên làm giảm thời gian lưu thuốc tại ruột và ảnh hưởng đến khả năng hấp thu các thuốc tác dụng kéo dài [7] Đối với đường tiêm bắp, trẻ nhỏ có khối lượng cơ bắp thấp nên hấp thu thuốc có nhiều bất thường và khó dự đoán [18]
Phân bố thuốc: Tổng lượng nước trong cơ thể và tỷ lệ dịch ngoại bào so
với trọng lượng cơ thể giảm dần theo độ tuổi Các thuốc có hệ số lipid/nước lớn
có thể tích phân bố ít khác biệt giữa trẻ nhỏ và người lớn trong khi các thuốc tan nhiều trong nước có sự khác biệt rõ rệt [7] Một yếu tố khác ảnh hưởng đến phân bố thuốc là liên kết thuốc-protein huyết tương Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có nồng độ albumin và axit α1 glycoprotein thấp hơn so với người lớn nên làm giảm liên kết protein huyết tương và thuốc Nồng độ thuốc tự do tăng có thể làm tăng tác dụng cũng như tăng độc tính của thuốc [18] Đến sau 1 tuổi, nồng
độ protein huyết tương của trẻ đạt mức của người lớn Sự liên kết của thuốc với các mô khác nhau của cơ thể thay đổi theo độ tuổi [20]
Chuyển hóa thuốc: Do hệ enzyme ở trẻ nhỏ chưa hoàn thiện nên tốc độ
chuyển hóa thuốc của trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ sơ sinh yếu hơn rõ rệt so với người lớn dẫn đến thời gian bán thải của thuốc kéo dài hơn [7, 61] Sự hoàn thiện các
hệ enzyme theo lứa tuổi có sự dao động mạnh và chưa có dữ liệu nghiên cứu đầy đủ về quy luật này [7]
Trang 24Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Thải trừ thuốc qua thận: Thông thường, sau 8 tháng tuổi, chức năng bài
tiết của thận của trẻ sẽ đạt được mức của người lớn [7]
Dược lực học của thuốc trên trẻ em
Những dữ liệu về thay đổi dược lực học của thuốc trên trẻ em trong quá trình phát triển hiện còn rất hạn chế [61] Dược động học và dược lực học có mối liên quan lẫn nhau như sự thay đổi về liên kết protein huyết tương hay khả năng thâm nhập mô có thể dẫn đến sự thay đổi nồng độ thuốc dẫn đến thay đổi đáp ứng của cơ thể với thuốc [37] Sự phát triển và hoàn thiện các cơ quan trong
cơ thể và số lượng receptor có sự thay đổi lớn theo độ tuổi và có ảnh hưởng đến
sự đáp ứng của cơ thể với thuốc [7]
1.2.4.2 Những tồn tại trong việc sử dụng thuốc trên trẻ em
Trẻ em thường không được lựa chọn là đối tượng của các thử nghiệm lâm sàng Dữ liệu về độ an toàn của thuốc còn hạn chế, thiếu các nghiên cứu trên đối tượng này, thiếu dạng thuốc sử dụng chuyên biệt và việc sử dụng thuốc ngoài chỉ định (off-label) là những vấn đề nổi bật còn tồn tại về vấn đề sử dụng thuốc trên trẻ em [29, 36]
Vì vậy, không phải loại thuốc nào hiện được sử dụng trên trẻ em đều có đầy đủ thông tin về hiệu quả cũng như độ an toàn của thuốc Việc dùng thuốc cho trẻ em trong trường hợp này được gọi là dùng thuốc ngoài chỉ định được cấp phép và được dùng theo kinh nghiệm của cán bộ y tế, bao gồm việc kê đơn với liều lượng, cách dùng và chỉ định khác với mô tả trong tờ hướng dẫn sử dụng [55, 61]
Một số biện pháp đã được đưa ra để cải thiện tình hình sử dụng thuốc ngoài chỉ định trên trẻ em bao gồm khuyến khích các nhà sản xuất dược phẩm thực hiện thêm các thử nghiệm lâm sàng [29, 55] WHO cũng đang tập trung thiết lập hướng tiếp cận tốt hơn đối với các thuốc cho trẻ em tại các quốc gia đang phát triển Tuy đã có thêm những nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng trẻ em trong thời gian gần đây, những nghiên cứu này có một số hạn chế như thời gian tiến hành ngắn, cỡ mẫu nhỏ và ít đánh giá độ an toàn của thuốc
Do đó, báo cáo ADR sau khi lưu hành trên thị trường hiện vẫn tiếp tục là nguồn
chính cung cấp các dữ liệu về an toàn thuốc trong Nhi khoa [29]
Trang 25Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.2.4.3 Tính toán liều lượng
Liều lượng thuốc dùng cho trẻ em cần phải tính tới tuổi, cân nặng và diện tích bề mặt cơ thể và khả năng hoàn thiện của chức năng gan thận Thuốc thường tính liều cho trẻ theo mg/kg Với trẻ em béo phì, không được sử dụng
số cân thực có ở trẻ mà phải tính theo cân nặng lý tưởng liên quan đến chiều cao để tránh quá liều [4]
1.2.4.4 Chọn chế phẩm và đường đưa thuốc
Các yếu tố quyết định trong lựa chọn chế phẩm thuốc bao gồm:
Trạng thái bệnh: Bệnh cấp tính, mạn tính, mức độ nặng nhẹ,…
Tuổi: Trẻ càng nhỏ, cho uống thuốc càng khó khăn
Liệu pháp điều trị đang tiến hành
Khả năng có sẵn của dạng thuốc dự kiến [7]
1.3 Các nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi
1.3.1 Ở nước ngoài
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu mô tả, phân tích cũng như các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện với mục đích khảo sát, đánh giá hiệu quả, ADR của thuốc hướng thần trên bệnh nhân dưới 18 tuổi, trong đó tập trung chủ yếu vào rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu và rối loạn hành vi
Đối với các rối loạn lo âu, nghiên cứu tổng quan hệ thống của Ipser JC cùng cộng sự dựa trên tất cả các thử nghiệm lâm sàng trước năm 2009 đã chỉ
ra khả năng dung nạp và hiệu quả của SSRI và SNRI ở trẻ dưới 18 tuổi với tỷ
lệ đáp ứng tổng thể gần gấp đôi so với giả dược [28] Tuy nhiên, thực hành lâm sàng cho thấy trẻ em lo âu có khuynh hướng nhạy cảm đối với các ADR tiềm
ẩn của những loại thuốc này, đặc biệt là sự khó chịu về thể chất Các ADR thường gặp khác bao gồm buồn nôn, nhức đầu, bất thường về giấc ngủ, đặc biệt
là gia tăng ý định tự tử [38] Tuy nhiên sau đó, năm 2007, tạp chí của hội tâm thần học Mỹ cùng nhiều bài tổng quan đã kết luận rằng dữ liệu không cho thấy
có sự tăng đáng kể nguy cơ tự sát sau khi bắt đầu sử dụng các thuốc chống trầm cảm [9] Theo tổng quan hệ thống của Kodish và cộng sự năm 2011, TCA cũng
Trang 26Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
cho thấy hiệu quả trong một số thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên đối tượng trẻ em với rối loạn lo âu, đặc biệt là clomipramin [34] Tuy nhiên, TCA ít khi được chỉ định vì nhiều tác dụng phụ nguy hiểm [9] Các thử nghiệm đối chứng không hỗ trợ việc sử dụng các benzodiazepin ở trẻ em nhưng các nghiên cứu nhãn mở cho thấy lợi ích về triệu chứng trên trẻ rối loạn lo âu [34]
Đối với rối loạn hành vi, các thuốc chống loạn thần không điển hình như risperidon, olanzapin, quetiapin,… có thể giúp cải thiện các rối loạn này mà ít gây ra các ADR lâu dài Lithium cũng đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là làm giảm tính xung động ở những bệnh nhân có rối loạn hành vi Propranolol được chọn trong một nghiên cứu nhãn mở để giúp kiểm soát tính xung động, mặc dù không có bằng chứng ủng hộ việc sử dụng thuốc này trên trẻ em và vị thành niên Carbamazepin chưa được chứng minh hiệu quả trong việc kiểm soát tính xung động ở trẻm em và vị thành niên có rối loạn hành vi [5]
Đối với rối loạn cảm xúc, theo nghiên cứu của Oberlander và cộng sự năm 2011, thuốc chống trầm cảm được kê đơn phổ biến nhất là SSRI Bằng chứng về hiệu quả của thuốc chống trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên là có hạn và có phần không nhất quán Cho đến nay, trong các SSRI, fluoxetin được chứng minh hiệu quả phù hợp, mặc dù có một số bằng chứng về hiệu quả của sertralin và citalopram Tại Canada, chưa có SSRI nào được chấp thuận cho đối tượng dưới 18 tuổi [45]
1.3.2 Ở Việt Nam
Năm 2016, nghiên cứu của Nguyễn Lan Anh về tình hình sử dụng thuốc hướng thần trên bệnh nhân rối loạn lưỡng cực cho thấy thuốc an thần kinh không điển hình và benzodiazepin là hai nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất, trong đó 40,72% tương tác thuốc xảy ra ở mức độ nghiêm trọng Tuy nhiên, tương tác thuốc là một vấn đề chưa được thông tin đầy đủ tới các bác sĩ [1]
Nghiên cứu của Lê Thị Hằng năm 2008 đánh giá tác dụng không mong muốn ngoại tháp trên bệnh nhân sử dụng thuốc an thần kinh: kết quả thấy rằng đối tượng trong độ tuổi từ 16 đến 24 có nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn lớn nhất và đa số gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt [6]
Trang 27Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Năm 2018, Nguyễn Thành Hải và cộng sự đánh giá tình hình sử dụng thuốc chống trầm cảm tại VSKTT – Bệnh viện Bạch Mai đã cho thấy sertralin
là thuốc được sử dụng nhiều nhất và có hiệu quả, tuy nhiên cần chú ý đến biến
cố bất lợi của thuốc như tác dụng trên cholinergic và trên cân nặng [5]
Về thuốc bình thần và thuốc chỉnh khí sắc, không tìm thấy các nghiên cứu riêng biệt khảo sát về tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân rối loạn tâm thần tại Việt Nam
Các nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc hướng thần, mục tiêu nghiên cứu tập trung vào một loại rối loạn tâm thần hoặc một nhóm thuốc, trên tất cả nhóm tuổi, các nghiên cứu trên đối trên đối tượng nhỏ hơn 18 tuổi còn ít Đồng thời, sự hiểu biết trong thực hành lâm sàng liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc hướng thần trên đối tượng dưới 18 tuổi tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu dữ liệu nghiên cứu trong quá trình sử dụng thuốc, đặt ra tính cần thiết của
đề tài
Trang 28Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng nghiên cứu
Bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú tại VKSTT - Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ 01/01/2017 đến 31/12/2017 thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả các bệnh án của bệnh nhân ≤ 18 tuổi có sử dụng ít nhất một thuốc hướng thần
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân chuyển khoa khác trong quá trình điều trị
Cỡ mẫu: lựa chọn được 257 bệnh án của bệnh nhân theo tiêu chuẩn trên
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Tháng 8/2018 đến tháng 4/2019
Địa điểm nghiên cứu: Phòng kế hoạch Tổng hợp và VSKTT - Bệnh viện Bạch Mai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Hồi cứu số liệu, dựa trên bệnh án điều trị nội trú tại các khoa của Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai có sử dụng thuốc hướng tâm thần trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017 Sau đó, tiến hành thu thập thông tin bệnh nhân và thông tin về sử dụng thuốc vào Phiếu thu thập thông tin bệnh nhân (Phụ lục 2)
2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
Đặc điểm của bệnh nhân:
Tuổi và giới tính của đối tượng nghiên cứu
Tiền sử gia đình mắc bệnh tâm thần
Các rối loạn tâm thần ở đối tượng nghiên cứu
Thời gian nằm viện của đối tượng nghiên cứu
Trang 29Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Tình hình sử dụng thuốc hướng thần trên đối tượng nghiên cứu:
Các nhóm hướng thần được chỉ định
Đường dùng thuốc
Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện
Thay thuốc trong cùng một nhóm trong quá trình điều trị
Thời điểm thay đổi thuốc trong quá trình điều trị
Tính hợp lý về liều dùng trong sử dụng thuốc hướng thần
Tương tác thuốc trong quá trình điều trị
ADR của thuốc hướng thần trong quá trình điều trị
Hiệu quả của thuốc hướng thần trên đối tượng nghiên cứu
Tiến hành đánh giá tương tác giữa hai thuốc hướng thần và giữa thuốc hướng thần với các thuốc dùng kèm trong quá trình điều trị Xác định nguy cơ
và mức độ tương tác thuốc dựa vào phần mềm trực tuyến tại địa chỉ www.medscape.com
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu, không can thiệp, vì vậy không ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân Những thông tin thu được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, bảo đảm giữ bí mật các thông tin cá nhân về bệnh tình của bệnh nhân và các thông tin trong hồ sơ nghiên cứu
Trang 30Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chương 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm của bệnh nhân dưới 18 tuổi mắc rối loạn tâm thần điều trị nội trú tại VSKTT– Bệnh viện Bạch Mai
3.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Rối loạn tâm thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi gặp chủ yếu ở độ tuổi 13-18 (219/257 bệnh nhân chiếm 85,27%), nữ gặp nhiều hơn nam Tuổi
trung bình là 15,18 ± 2,86 tuổi
3.1.2 Tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu mắc bệnh tâm thần Bảng 3.1 Tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu mắc bệnh tâm thần Tiền sử gia đình mắc bệnh tâm thần Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Trang 31Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3.1.3 Các loại rối loạn tâm thần (theo ICD-10) ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Các loại rối loạn tâm thần ở đối tượng nghiên cứu
Tâm thần phân liệt, rối loạn loại phân liệt và các
rối loạn hoang tưởng
Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát
ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên
Nhận xét: Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ
em và thanh thiếu niên chiếm tỉ lệ cao nhất là 32,86% Rối loạn tâm thần và
hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần chiếm tỉ lệ thấp nhất là 1,56% Bảng 3.3 Các loại rối loạn tâm thần thực tổn và rối loạn tâm thần và hành vi
do sử dụng chất tác động tâm thần
Các thể lâm sàng Mã số Số bệnh nhân Tỉ lệ % Rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng
Rối loạn khí sắc (cảm xúc) thực tổn F06.3 6 60,00
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử
dụng các chất gây ảo giác (Nhiễm
độc cấp)
Trang 32Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Tâm thần phân liệt thể paranoid F20.0 16 19,05
Rối loạn loạn thần cấp đa dạng
không có các triệu chứng của bệnh
Rối loạn loạn thần cấp đa dạng với
triệu chứng của bệnh tâm thần phân
Bảng 3.5 Các rối loạn cảm xúc Các thể lâm sàng Mã số Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện
Trang 33Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại
Nhận xét: 18/257 bệnh nhân (chiếm 7,01%) mắc các rối loạn cảm xúc
Bảng 3.6 Rối loạn liên quan đến stress Các thể lâm sàng Mã số Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Bảng 3.7 Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và
thanh thiếu niên Các thể lâm sàng Mã số Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Rối loạn của hoạt động và chú ý F90.0 2 2,27
Nhận xét: Rối loạn hành vi trầm cảm (chiếm 33,46%) là một trong các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên Đây là rối loạn tâm thần chiếm tỉ lệ cao nhất trên đối tượng nghiên cứu Rối loạn cơ thể hóa, rối loạn trầm cảm tái diễn giai đoạn nhẹ và rối loạn của hoạt động và chú ý có tỉ lệ mắc thấp nhất (chiếm 0,78%)
Trang 34Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3.1.4 Các bệnh lý mắc kèm ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.8 Các bệnh lý mắc kèm ở đối tượng nghiên cứu Bệnh lý mắc kèm Số bệnh nhân (n=28) Tỉ lệ %
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý khác ngoài rối loạn tâm thần
là 28/257 (chiếm 10,89%), trong đó viêm mũi họng cấp chiếm tỉ lệ cao nhất (chiếm 6,23%)
3.1.5 Thời gian nằm viện của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.9 Thời gian nằm viện của đối tương nghiên cứu
Thời gian nằm viện Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Nhận xét: 95/257 (chiếm 36,96%) bệnh nhân có thời gian nằm viện là từ
2 đến 4 tuần Trung bình số ngày nằm viện là 17,04 ± 11,27
Trang 35Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3.2 Tình hình sử dụng thuốc hướng thần ở bệnh nhân dưới 18 tuổi mắc rối loạn tâm thần điều trị nội trú tại VSKTT – Bệnh viện Bạch Mai
3.2.1 Thuốc hỗ trợ điều trị các triệu chứng tâm thần
Bảng 3.10 Các nhóm thuốc hướng thần được chỉ định
Trang 36Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Bảng 3.11 Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với
rối loạn tâm thần thực tổn và rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác
Rối loạn khí sắc (cảm xúc)
thực tổn
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất tác động tâm thần
Rối loạn tâm thần và hành vi
sử dụng chất tác động tâm thần, tỉ lệ phác đồ phối hợp hai thuốc là 70,00%
Trang 37Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Bảng 3.12 Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với
tâm tần phân liệt, rối loạn phân liệt và với rối loạn hoang tưởng
Rối loạn loạn thần cấp đa dạng
có hoặc không có các triệu
chứng của bệnh tâm thần phân
Bảng 3.13 Phác đồ đầu tiên được lựa chọn lúc bệnh nhân nhập viện đối với
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực,
hiện tại giai đoạn hưng cảm
nhẹ
33,33