1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HƯỚNG dẫn học SINH lớp 12 ôn tập PHẦN đọc HIỂUVĂN bản THEO HƯỚNG THI THPT QUỐC GIA môn NGỮ văn

17 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 144,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A/PHẦN MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài Theo hướng dẫn thi THPT Quốc gia năm 2014-2015, trong cấu trúc của một đề thi có một phần dành cho việc đọc- hiểu văn bản nhằm đánh giá năng lực của học

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH – NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12

ÔN TẬP PHẦN ĐỌC - HIỂUVĂN BẢN THEO HƯỚNG THI THPT

QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN

Họ tên: Trần Xuân Thành

Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

THANH HÓA, NĂM 2015

Trang 2

A/PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Theo hướng dẫn thi THPT Quốc gia năm 2014-2015, trong cấu trúc của một đề thi có một phần dành cho việc đọc- hiểu văn bản nhằm đánh giá năng lực của học sinh Như vậy đọc- hiểu văn bản là một phần không thể thiếu trong bài thi của học sinh Đọc- hiểu đòi hỏi các em phải biết tổng hợp kiến thức, phát hiện, nhận biết kiến thức và vận dụng kiến thức

đã học để giải quyết một bài tập cụ thể Do đó học sinh đang còn rất lúng túng, thậm chí chưa hình thành được kỹ năng, phương pháp khi giải những bài tập thuộc dạng này

Mặt khác, đối với học sinh thi cử luôn là một áp lực gây căng thẳng tâm lí cho các

em, đặc biệt là học sinh lớp 12.Thông thường các em lớp 12 đã có những tiếp thu căn bản trong quá trình học song thời gian chia đều cho nhiều môn thi muốn để có kết quả cao không phải là bài toán đơn giản.Vấn đề đặt ra là mỗi người thầy trong quá trình hướng dẫn cho các

em ôn thi cần phải có một phương pháp thiết thực để các em ôn tập đạt được hiệu quả cao nhất

Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn và hướng dẫn cho các em ôn tập có nhiều phương pháp được áp dụng và mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm nhất định Song tôi thấy hiệu quả nhất vẫn là phương pháp hướng dẫn ôn tập cho học sinh theo cấu trúc đề thi Theo cấu trúc đề thi mà Bộ GD& ĐT hướng dẫn ôn thi THPT Quốc gia gồm có hai phần: đọc - hiểu văn bản và xây dựng văn bản Điểm dành cho đọc - hiểu là 3 điểm chiếm

số lượng điểm không nhỏ trong bài thi Đọc- hiểu văn bản thực ra là để đánh giá kỹ năng tổng hợp của học sinh Phần này rất dễ lấy được điểm tối đa nếu có một kiến thức, phương pháp và

kỹ năng chắc chắn và biết cách trình bày hợp lý.Tuy nhiên trên thức tế cho thấy có rất ít học sinh được điểm tối đa ở câu hỏi này

Ôn tập theo cấu trúc đề thi là cần thiết nhưng trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ tập trung vào việc hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập phần đọc hiểu văn bản

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên kết quả thực tế qua các kỳ thi khảo sát chất lượng THPT Quốc gia trường tôi

đã tổ chức Mặt khác dựa theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của Sở để đề ra cách thức tiến hành năm mục đích:

+ Nâng cao hiệu quả học tập và giúp các em lấy được điểm tối đa ở phần đọc - hiểu văn bản theo hướng thi THPT Quốc gia

+ Ổn định tâm lý giảm bớt tâm lý căng thẳng thi cử cho các em

+ Giúp các em hình thành phương pháp tự học, tự sáng tạo

3 Đề tài nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Trang 3

- Đề tài nghiên cứu: Hướng dẫn học sinh lớp 12 kỹ năng làm bài tập phần đọc- hiểu văn bản theo hướng thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn

- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh các lớp 12 năm học 2014-2015 mà tôi là người trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là học sinh có học lực trung bình và yếu

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp qua sát thực tế

- Phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm: bài làm và thống kê điểm của học sinh

B/ PHẦN NỘI DUNG:

I Những cơ sở của việc hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập phần đọc- hiểu văn bản theo hướng thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.

1 Cơ sở nhận thức

Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự phản ánh này không phải là sự đơn giản, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể Nhưng không phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức.Con người trở thành chủ thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi nhận thức khách thể.Trong nhà trường, học sinh chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể chính là những tri thức kinh nghiệm.Theo cơ sở triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái quan trong là làm ra cái đó như thế nào vào bằng cách nào? Từ cơ sở ấy chúng ta có thể nói một cách đơn giản các em học sinh lớp 12 không phải chỉ đơn giản là ôn cái gì mà điều quan trọng là ôn như thế nào? Mặt khác, căn cứ vào văn bản hướng dẫn, chỉ thị hướng dẫn thi cử của Bộ GD &ĐT,

Sở GD &ĐT Thanh Hóa ban hành, đặc biệt là căn cứ vào đề thi mẫu môn Ngữ văn năm 2015 của Bộ đăng tải trên các báo và intrenet làm cơ sở để tôi hướng dẫn ôn tập cho học sinh

2 Cơ sở thực tiễn.

Đọc- hiểu văn bản đòi hỏi cần phải hình thành được kỹ năng nếu không khó có thể đạt được điểm tối đa ở câu hỏi này Mặt khác nếu mất điểm ở phần này, các phần khác khó có thể đạt được điểm tối đa nên điểm tổng của toàn bài sẽ thấp

Qua kết quả thức tế mà tôi thống kê, tỷ lệ điểm ở phần này đạt được điểm tối đa không cao.Vấn đề đặt ra cần phải có một cách hướng dẫn cụ thể mang tính khoa học để giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thi cử

II Nội dung hướng dẫn học sinh lớp 12 làm bài tập phần đọc- hiểu văn bản theo hướng thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.

1 Cấu trúc của một bài tập đọc- hiểu trong đề thi THPT Quốc gia.

Thông thường một bài tập đọc- hiểu văn bản gồm 2 phần:

Trang 4

Phần 1: Đưa ngữ liệu.

+ Tùy thuộc vào người ra đề mà ngữ liệu đọc - hiểu có thể lựa chọn là văn bản như thế nào Tuy nhiên, thông thường ngữ liệu đưa ra phải có dung lượng ngắn gọn thuộc thơ, văn xuôi hay là một văn bản nhật dụng được lấy từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau

+ Ngữ liệu văn bản phần lớn rơi trọng tâm vào các văn bản thuộc các đoạn thơ, đoạn văn xuôi đặc sắc trong SGK Ngữ văn 12 Cũng có thể lấy ngữ liệu văn bản từ SGK Ngữ văn lớp 10,

11, tập trung các chủ đề về đất nước, quê hương ( thiên nhiên, lòng yêu nước)

+ Ngoài ra văn bản ngoài chương trình: cho HS làm quen tất cả các văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ đã học (Phong cách ngôn ngữ khoa học; nghệ thuật; báo chí; chính luận…)

Phần 2: Đưa các câu hỏi yêu cầu trả lời.

+ Câu hỏi được cấu trúc theo nhiều cấp độ khác nhau

+ Được bố trí, sắp xếp theo ma trận với nhiều mức độ: từ nhận biết phát hiện vấn đề đến thông hiểu để từ đó đi đến vận dụng kiến thức làm bài tập.Vận dụng đôi khi còn được chia ra làm hai cấp độ vận dụng thấp và vận dụng cao

2 Những đơn vị kiến thức cần nắm vững và vận dụng trong bài tập đọc- hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.

Như trên đã nói sau khi lựa chọn và đưa ra ngữ liệu cho bài tập đọc- hiểu, người ra đề đưa ra yêu cầu cho việc đọc- hiểu bằng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp theo nhiều cấp độ Tuy nhiên thông thường có các dạng câu hỏi như sau:

2.1 Dang câu hỏi về các phương thức biểu đạt.

Ví dụ: Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường thấy có một cô gái ngồi quay

sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi Người ta nói: nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giầu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái thống lý: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý.Mỵ về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm Từ năm nào, không nhớ, cũng không ai nhớ Những người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mỵ về làm người nhà quan thống lý.

Trang 5

(Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)

Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào ?

Để trả lời được ở dạng câu hỏi như trên người giáo viên cần phải ôn lại cho các HS của mình nắm được các phương thức biểu đạt của văn bản như sau :

Là việc trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia và kết thúc mang một ý nghĩa

Vẽ lại bằng ngôn từ, làm cho sự vật hiện lên sinh động với những chi tiết về hình dáng, kích thước, khối lượng, màu sắc, âm thanh…như nó vốn có trong cuộc sống Người đọc (người nghe) như được nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy…đối tượng được miêu tả

Bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái độ…của mình trước một đối tượng nhất định như cảnh vật, con người, những vấn đề trong cuộc sống hay những hình tượng nghệ thuật

Dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm snags tỏ một quan điểm, một tư tưởng nhằm thuyết phục người đọc hoặc người nghe đồng ý với quan điểm của mình

Giới thiệu về đặc điểm, tính chất, phương pháp…

khi thuyết minh về một đối tượng, làm cho người đọc (người nghe) tiếp nhận dễ dàng, hứng thú

Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn, trách nhiệm giữa người và người

2.2 Dạng câu hỏi về các loại phong cách ngôn ngữ.

Trang 6

Trong cấu trúc của câu hỏi của bài tập đọc- hiểu có thể xuất hiện dạng câu hỏi về các loại phong cách ngôn ngữ Cho nên thi hướng dẫn HS ôn tập và hình thành kỹ năng đọc hiểu

GV cần yêu cầu học sinh cần nắm vững 6 loại phong cách ngôn ngữ

a Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: Phong cách được dùng trong sinh hoạt hàng ngày không

quy định chặt chẽ về cách nói năng, cử chỉ, điệu bộ, lời nói, có thể nói lái, nói tiếng lóng… không mang tính nghi thức, nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm với người thân, bạn bè…

b Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Sử dụng trong lĩnh vực nghệ thuật, được dùng rộng

rãi trong các sáng tác văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật - thẩm mĩ

c Phong cách ngôn ngữ khoa học: Sử dụng trong các lĩnh vực khoa học, trong lĩnh vực

nghiên cứu, học tập, phổ biến khoa học Là phong cách ngôn ngữ đặc trưng diễn đạt chuyên môn sâu của những người làm công tác khoa học

d Phong cách hành chính - công vụ: Phong cách này dùng trong giao tiếp giữa Nhà nước

và nhân dân, nhà nước này với nhà nước khác, giữa cơ quan với cơ quan

e Phong cách ngôn ngữ chính luận: Nghị luận về vấn đề chính trị Có lập luận chặt chẽ, lí

lẽ, dẫn chứng thuyết phục

g Phong cách ngôn ngữ báo chí ( Báo - công luận): Đòi hỏi tính thời sự, chính xác, logic,

ngắn gọn, thu hút sự chú ý của người đọc

Ví dụ Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm

lạ lắm Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán Hình như họ cũng hiểu được đôi phần Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ Một người thở dài Người khác khẽ thì thầm hỏi:

- Ai đấy nhỉ? Hay là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên?

- Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu.

- Quái nhỉ?

Im một lúc, có người bỗng lại cười lên rung rúc:

- Hay là vợ anh cu Tràng? ừ khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn thẹn hay đáo để.

- Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?

Họ cùng nín lặng.

(Trích Vợ nhặt – Kim Lân)

Đoạn văn trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Trang 7

2.3 Dạng câu hỏi tìm nội dung chính của văn bản.

Cấu trúc của bài tập đọc - hiểu dường như bao giờ cũng có câu hỏi yêu cầu tìm nội dung chính của văn bản Để trả lời được dạng câu hỏi này GV cần ôn lại cho HS tri thức về văn bản, chủ yếu là văn bản văn học Mặt khác yêu cầu các em cần căn cứ vào thực tế văn bản để

từ đó xác định

Ví dụ

“Người đứng trên đài, lặng phút giây Trông đàn con đó, vẫy hai tay

Cao cao vầng trán Ngời đôi mắt Độc lập bây giờ mới thấy đây!”

( Trích Theo chân Bác-Tố Hữu)

Câu hỏi đặt ra là: nội dung chính của đoạn thơ là gì?

Học sinh có thể dễ dàng xác định nội dung chính của đoạn thơ : Nhà thơ Tố Hữu đã viết về giây phút xúc động thiêng liêng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” Hay thêm một ví dụ khác

Ví dụ.

“Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

Dạy anh biết " yêu em từ thuở trong nôi"

Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội

Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu

Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”.

( Trích “Đất nước”- Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm)

Người ra đề có thể yêu cầu : Nêu ý chính của đoạn thơ trên

2.4 Dạng câu hỏi về các biện pháp tu từ.

Hỏi về biện pháp tu từ là người ra đề yêu cầu HS đánh giá về các biện pháp nghệ thuật và

hiệu quả của nó trong việc thể hiện nội dung của văn bản Có nhiều biện pháp tu từ:

+ Biện pháp tu từ ngữ âm.

Trang 8

+ Biện pháp tu từ về từ

+ Biện pháp tu từ cú pháp

Tuy nhiên, GV cần hướng dẫn cho các HS đặc biệt chú ý đến các biện pháp tu từ về từ Cụ thể là các biện pháp sau đây:

+ So sánh: So sánh là sự đối chiếu giữa các sự vật để làm nổi bật sự giống và khác nhau.Khi

phân tích hiệu quả của biện pháp này cần chú ý đến sự vật so sánh và sự vật được so sánh

- Ẩn dụ: Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự liên

tưởng về mối tương đồng giữa hai đối tượng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

- Hoán dụ: Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của sự vật, hiện tượng, khái

niệm có quan hệ gần gũi với nó, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật

- Ngoài ra cần chú ý đến một số các biện pháp khác như: Điệp từ, điệp ngữ, Liệt kê, Đối lập

2.5 Dạng câu hỏi về từ vựng.

Câu hỏi đặt ra trong bài tập đọc- hiểu vô cùng phong phú, đa dạng có khi là câu hỏi về cấp

độ từ ngữ Ỏ cấp độ từ GV hướng dẫn học sinh ôn tập không nên đi vào tìm hiểu ở phương diện cấu tạo theo kiểu cấu tạo thì có: Từ đơn và từ phức

+ Từ đơn gồm: Từ đơn đơn âm tiết và từ đơn đa âm tiết

+ Từ phức gồm: Từ láy và từ ghép

+ Cần đặc biệt chú ý đến nghĩa của từ và đánh giá hiệu quả nghệ thuật của từ trong mục đích

sử dụng của người viết

Ví dụ

“Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực

giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

cái năm đói củ giong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn?”

( Trích Đò Lèn – Nguyễn Duy)

Trang 9

Câu hỏi có thể hỏi là: Từ “trong suốt” có vai trò gì trong việc thể hiện hình ảnh nhà

thơ khi nhớ lại tuổi thơ của mình? Với cách hỏi như vậy GV cần cho học sinh tìm hiểu nghĩa của từ “trong suốt” là gì? Tác giả sử dụng từ này để biểu đạt điều gì? Hiệu quả nghệ thuật của

nó ra sao? Hay trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có câu“Doanh trại bừng lên hội đuốc

hoa” Đêm liên hoan lửa trại được nhà thơ cảm nhận theo một cách riêng, đáng chú ý là việc

sử dụng chữ bừng Bừng không chỉ hiểu đơn giản là bừng tỉnh, bừng sáng, tưng bừng, mà

bừng còn có nghĩa là mở ra một không gian mới khác lạ Không còn cái khúc khuỷu, thăm thẳm của đèo cao, vực sâu, không còn cái oai linh gầm thét của rừng thiêng xứ lạ nữa.

Những cuộc hành quân gian nan, vất vả hết ngày này sang ngày khác của các chiến sĩ nay bỗng có những giờ phút tưng bừng, nhộn nhịp, sôi động trong tình quân dân gắn bó

2.6 Dạng câu hỏi về các thao tác lập luận.

Trong cấu trúc của bài tập đọc- hiểu đôi khi người ra đề cuãng có thể đạt câu hỏi về các thao tác lập luận Do đó trong quá trình hướng dẫn ôn tập GV cũng cần ôn lại cho học sinh nắm vững lí thuyết Cụ thể các thao tác như sau:

a) Giải thích: Giúp người đọc hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu vấn đề thuộc về đời sống

hoặc văn học Trả lời câu hỏi: ai?, cái gì?, tại sao?, vì sao?

b) Chứng minh: Kết hợp với lí lẽ, thao tác chứng minh dùng dẫn chứng cơ bản, đúng

đắn, toàn diện đủ sức thuyết phục người đọc, người nghe Trả lời câu hỏi như thế nào?

c) Phân tích: Là chia vấn đề cần bàn luận ra thành các bộ phận (các phương diện, các

nhân tố) để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng

d) Bình luận: Là bàn bạc, đánh giá về sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các hiện tượng

đời sống như ý kiến, chủ kiến, việc làm

e) So sánh: So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc

là các mặt trong cùng một sự vật So sánh để chỉ ra những nét giống nhau gọi là so sánh tương đồng So sánh để chỉ ra sự khác biệt, đối chọi nhau gọi là so sánh tương phản Nhưng nhìn chung, so sánh là để thấy sự giống, khác nhau, từ đó mà thấy rõ đặc điểm và giá trị của mỗi sự vật, hiện tượng

g) Bác bỏ: Dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc

thiếu chính xác, từ đó nêu lên ý kiến của mình để thuyết phục người nghe, người đọc

h) Suy lí: Thao tác suy lí dựa trên một vấn đề đã được khẳng định, đúc kết để suy ra

vấn đề có tư tưởng, tình cảm, hành động lớn lao, sâu sắc hơn

i) Diễn dịch: Từ tiền đề chung, có tính phổ biến suy ra những kết luận về những sự

vật, hiện tượng riêng

Trang 10

k) Quy nạp: Quá trình lập luận ngược với diễn dịch Là từ cái riêng suy ra cái chung,

từ những sự vật cá biệt suy ra nguyên lí phổ biến

l) Tổng - phân - hợp: Lập luận theo quá trình: Từ vấn đề lớn, phân tích ra thành những

vấn đề nhỏ, cụ thể (diễn dịch) Sau đó nhìn ở góc độ cao hơn mà nâng vấn đề lên Quá trình tổng - phân - hợp là quá trình diễn ra liên tục

Ví dụ: Đọc văn bản sau:

Yêu Tổ quốc từ những giọt mồ hôi tảo tần Mồ hôi rơi trên những cánh đồng cho lúa thêm hạt Mồ hôi rơi trên những công trường cho những ngôi nhà thành hình, thành khối Mồ hôi rơi trên những con đường nơi rẻo cao Tổ quốc của những thầy cô trong mùa nắng để nuôi ước mơ cho các em thơ Mồ hôi rơi trên thao trường đầy nắng gió của những người lính

để giữ mãi yên bình và màu xanh cho Tổ quốc…

( Nguồn http://vietbao.vn ngày 9-5-2014)

Câu hỏi có thể yêu cầu là xác định thao tác nghị luận trong văn bản trên?

2.7.Các dạng câu hỏi khác.

Tùy thuộc vào dụng ý, tùy thuộc vào việc lựa chọn văn bản ngữ liệu đọc- hiểu, người

ra đề có thể đặt câu hỏi ở nhiều dạng khác nhau để đánh giá năng lực của học sinh.Có thể câu hỏi:

- Phát hiện và sửa lỗi về câu, về chính tả trong văn bản

- Đặt nhan đề cho văn bản

- Trên cơ sở văn bản đã cho viết một đoạn văn bàn về vấn đề được đặt ra trong văn bản

3 Hướng dẫn một số bài tập phần đọc – hiểu văn bản theo hướng thi THPT Quốc gia Bài tập đọc- hiểu 1:

Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy Cạnh một cây xà nu mới ngã gục,

đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô

số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết Nhưng cũng có những cây

Ngày đăng: 20/05/2021, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w