1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” ppt

133 647 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách
Tác giả Lê Văn Lân
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Như Tiến
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế & Quản trị kinh doanh
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường việc tham gia bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh là rất cần thiết, không chỉ vì sự an toàn của bản thân người kinh doanh mà còn vì sự an toàn của xã hội, nhất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

* * * * * *

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA HÀNG KHÔNG VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNH LÝ, HÀNG HOÁ

VÀ TƯ TRANG CỦA HÀNH KHÁCH

SINH VIÊN THỰC HIỆN : Lê Văn Lân GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS TS Nguyễn Như Tiến

Hà Nội, năm 2003

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Lời cảm ơn

Những từ viết tắt trong khoá luận

Chương I: Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý,

hàng hoá và tư trang của hành khách………… …… 1

I Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS … …… 1

I.1 Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS 1

I.2 Những rủi ro thường gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không… …10

I.3 Vai trò và tính tất yếu của BHHK …… 13

II Các loại hình BHTNDS của hãng hàng không… 16

II.1 BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách… …

16 II.2.BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách……… …16

II.3 BHTNDS của hãng hàng không đối với người thứ 3…… 19

II.4 BHTNDS của chủ sân bay và người điều hành bay …… 19

III Nội dung BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách……… 20

Trang 3

III.1 Người được bảo hiểm và người được bồi thường…… 20

III.2 Đối tượng bảo hiểm … 20 III.3 Phương thức bảo hiểm … ….21

hiểm … … 22

III.5 Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm … … 25

III.6 Giám định tổn thất, xác định thiệt hại và giải quyết bồi thường… 28

Chương II: Thực trạng nghiệp vụ BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách……… 33

I Sự ra đời và phát triển BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá

và tư trang của hành khách ……… 33

I.1 Khái quát về TCTHKVN ……… 33

I.2 Hoạt động bảo hiểm của HKVN giai đoạn từ 1995 trở về trước… 37

I.3 Hoạt động bảo hiểm của HKVN giai đoạn từ 1995 đến nay 38

II Cơ sở pháp lý BHTNDS của HKVN …….43

tế… 45

II.2 Các văn bản pháp luật của Việt Nam … 49

III Thực trạng BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách ……… 58

III.1 Phí bảo hiểm …… 58

Trang 4

III.1.1 Phí BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá và tư trang của

hành khách ………… 58

III.1.2 Phí BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá dưới mức miễn thường …… 63

III.2 Công tác giám định và đánh giá thiệt hại … … 64

III.3 Công tác bồi thường … 67

III.4 Hạn mức trách nhiệm …… 75

III.5 Công tác ĐP & HCTT … 77

Chương III: Một số vấn đề cần lưu ý về BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách ……… 83

I Về phía Nhà nước … 83

II Về phía TCTHKVN … 84

III Về phía công ty bảo hiểm …… 92

IV Về phía người thứ 3 … 94

Lời kết

Tài liệu tham khảo

Phục lục I

Phụ lục II

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Chúng ta đang sống trong thời đại mà KH - KT và công nghệ phát triển như vũ bão, xu thế hội nhập và quốc tế hoá đời sống KT -XH ngày càng trở thành một nhu cầu tất yếu nhất là từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 với chủ trương chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế, chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã tạo những bước chuyển biến tích cực cả về mặt KT – XH ở nước ta

Đóng góp vào thành công chung đó, trong những năm gần đây ngành HKDD đã tự khẳng định mình là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn đại diện cho phương thức vận tải tiên tiến và hiện đại nhất, ngày càng đóng vai trò to lớn và có ảnh hưởng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đất nước

Hàng không là một ngành có khối lượng vốn đầu tư khổng lồ tới hàng chục hàng trăm tỉ đô la Mĩ Theo thống kê thì xác suất xảy ra rủi ro là nhất nhỏ có thể tính trên một phần tỉ, nhưng khi xảy ra rủi ro thì mức độ cực kỳ nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn hậu quả là ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Bên cạnh việc vận tải hành khách, hành lý, hàng hoá bằng đường hàng không là hoạt động thường xuyên và đem lại lợi nhuận cho các hãng hàng không thì những thiệt hại về hành khách, hành lý, hàng hoá xảy ra ảnh hưởng không những đến chính đối tượng bị thiệt hại mà còn ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của hãng hàng không

Trang 6

Chính vì vậy, Luật pháp quốc tế cũng như Luật pháp của từng quốc gia đều có qui định về trách nhiệm dân sự phải bồi thường của hãng hàng không đối với những rủi ro gây thiệt hại đến hành lý, hàng hoá, và tư trang của hành khách Vậy các hãng không phải làm thế nào để giải quyết ổn thoả vấn đề trên

mà vẫn phải đảm bảo hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường, liên tục? Để trả lời câu hỏi trên các hãng hàng không trên thế giới nói chung và HKVN nói riêng đã và đang áp dụng rất nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, nhưng một trong những biện pháp được coi là hiệu quả nhất đó

chính là “Bảo hiểm” Bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với hoạt động vận

tải hàng không nói chung và đặc biệt là BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách nói riêng

Qua thời gian học tập tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội và công tác tại TCTHKVN nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Bảo

hiểm Em mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của

hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” với mục đích đi sâu tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và đánh giá

BHTNDS của hãng hàng không, từ đó rút ra một số vấn đề cần lưu ý về loại hình Bảo hiểm này tại TCTHKVN

Khoá luận này, ngoài phần Lời nói đầu, Lời cảm ơn, Những từ viết tắt trong bài, Lời kết, Tài liệu tham khảo, Phụ lục 1, Phụ lục 2, bao gồm 3 chương với những nội dung cơ bản sau:

Chương I: Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách

Trang 7

Chương II: Thực trạng BHTNDS của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách

Chương III: Một số vấn đề cần lưu lý về BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách

Do điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn Khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót mặc dù đã có nhiều cố gắng, vì luận văn

đề cập tới một lĩnh vực khá phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề chuyên môn

Người viết hi vọng rằng sẽ nhận được sự chỉ bảo, góp ý, bổ sung của thầy cô giáo và bạn đọc nhằm giúp cho khoá luận này được hoàn thiện hơn./

Hà Nội, ngày 16 tháng 04 năm 2003

Lê Văn Lân

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khoá học nói chung và khoá luận tốt nghiệp nói riêng Ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân trước hết em xin được bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới:

Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Như Tiến người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khoá luận này

Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức khoá học để em có cơ hội để học hỏi và mở mang tri thức của mình Hy vọng trong tương lai gần em lại có cơ hội để tham gia những khoá học cao hơn tại trường

Các thầy cô giáo đã trực tiếp dạy dỗ chúng em qua những môn học nhằm trang bị cho chúng em hành trang kiến thức để vững bước vào đời một cách tự tin hơn

Em cũng hết sức cảm ơn:

Những cán bộ, chuyên viên của Phòng bảo hiểm pháp chế - Ban tài chính kế toán - TCTHKVN đã cung cấp tài liệu bổ ích giúp em được hoàn thiện khoá luận này

Những cán bộ, chuyên viên của Phòng Hàng Hải - Hàng không thuộc Công Ty bảo hiểm TP HCM (Bảo Minh) chi nhánh tại Hà Nội số 57 Hàng Chuối đã cung cấp số liệu liên quan tới phí bảo hiểm, công tác bồi thường giữa Bảo Minh và HKVN những năm qua cùng những thông tin về Bảo Minh

và thị trường bảo hiểm hàng không thế giới

Trung tâm thông tin phản hồi - Ban kế hoạch thị trường - TCTHKVN

đã cung cấp số liệu hành khách mà HKVN chuyên chở được trong thời gian

từ 1993 - 2002

Trang 9

Ban tiếp thị hàng hoá - TCTHKVN đã cung cấp số liệu về khối lượng hàng hoá mà HKVN chuyên chở được trong thời gian từ 1993 - 2002

Bên cạnh đó em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên kịp thời ủng hộ nhiệt tình, đã góp phần quan trọng cho

em hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ

Trang 10

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN

1.\ BHHK : Bảo Hiểm Hàng Không

2.\ HKDDVN : Hàng Không Dân Dụng Việt Nam

3.\ TCTHKVN : Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam

4.\ HKVN : Hàng Không Việt Nam

5.\ IATA : Hiệp Hội vận tải Hàng Không Quốc tế thuộc Chính phủ 6.\ ICAO : Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế

7.\ BHTNDS : Bảo Hiểm Trách nhiệm Dân Sự

8.\ TNDS : Trách nhiệm dân sự

9.\ VNA : Việtnam Airlines

10.\ VAC : Vietnam Airlines Corporation

HÀNH LÝ, HÀNG HOÁ VÀ TƯ TRANG CỦA HÀNH KHÁCH

I - KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BHTNDS:

I.1 - Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS:

I.1.1 Khái niệm “Bảo hiểm”:

Dưới các góc độ khác nhau trong xã hội, đến nay vẫn có nhiều quan niệm về bảo hiểm như: “Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế đặc biệt nhằm phân phối thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp và của người lao

Trang 11

động” hoặc “Bảo hiểm là phương pháp tổ chức quỹ bảo hiểm bằng phí bảo hiểm để bù đắp những tổn thất do thiên tai hay tai nạn bất ngờ gây ra cho nền kinh tế”

Có quan niệm cho rằng: “Bảo hiểm là hợp đồng trong đó bên mua phải nộp cho bên bán một số tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm, còn bên bán cam kết thanh toán cho bên mua một số tiền bằng hay tương đương với loại tổn thất xảy ra”

Tuy nhiên, một số tai biến xảy ra vượt quá khả năng của các nhà bảo hiểm và hoạt động bảo hiểm đòi hỏi phải có một số điều kiện về kinh tế và tài chính (giá bảo đảm xác định các rủi ro, khả năng tài chính của tổ chức có trách nhiệm thanh toán tổn thất)

Do đó, “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm cho mình hoặc cho một người thứ 3 Trong trường hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận được một khoản tiền bồi thường của bên khác, đó là nhà bảo hiểm Người này nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và bồi thường thiệt hại dựa trên các luật thống kê và tính toán xác suất rủi ro” Nhưng quan niệm này chỉ nhấn mạnh phần bồi thường cho người được bảo hiểm, chỉ tính đến phí thuần mà không tính đến chi phí

về mặt quản lý của nhà bảo hiểm và chỉ hợp với bảo hiểm tư nhân

Như vậy các quan niệm trên đây chưa phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế bên trong của phạm trù tài chính Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về bảo hiểm đã nêu ở trên và thực tiễn bảo hiểm cũng như những công trình nghiên cứu khoa học, theo chúng tôi khái niệm phản ánh đầy đủ nhất phạm trù bảo hiểm chính là khái niệm trong Giáo trình Tài chính học của Trường Đại học Tài chính Hà Nội Được phát biểu như sau: “Bảo hiểm là một biện pháp kinh

tế nhằm tạo lập nguồn tài chính cho mục đích bù đắp tổn thất vật chất và trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro bất ngờ Nguồn tài chính để tạo lập quĩ là do người tham gia bảo hiểm đóng góp dưới hình thức

Trang 12

phí bảo hiểm Mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm trước hết là để bù đắp, bồi thường những tổn thất cho các đối tượng bảo hiểm khi xảy ra rủi ro bất ngờ đối với người tham gia bảo hiểm Điều kiện bổi thường của bảo hiểm là phải

có tổn thất thực tế xảy ra trong phạm vi bảo hiểm và do những nguyên nhân khách quan ngẫu nhiên, bất ngờ dẫn đến với đối tượng bảo hiểm”

Khái niệm này phản ánh tương đối toàn diện về phạm trù bảo hiểm nhưng không nên nhấn mạnh quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại mà có thể nói là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối là đủ Vì thực chất của bảo hiểm là phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh cả trong quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại

I.1.2 Phân loại bảo hiểm:

Trong xã hội với các chế độ chính trị khác nhau vẫn luôn luôn tồn tại hai khái niệm bảo hiểm, hai loại hoạt động bảo hiểm mà dễ bị hiểu lầm nhau,

đó là Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm Thương mại (BHTM)

BHXH: là một trong các chính sách thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội ở mức tối thiểu Đối tượng được bảo hiểm là những người làm công ăn lương Phạm vi BHXH chỉ có giới hạn trong phạm vi từng quốc gia Quỹ BHXH chủ yếu huy động sự đóng góp của người lao động (có tính chất bắt buộc), người

sử dụng lao động và có thể một phần do trợ cấp của Ngân sách Chính phủ Quỹ này được sử dụng để trợ cấp cho người lao động khi họ tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động Mục đích hoạt động của quỹ BHXH không phải

vì lợi nhuận và vì phúc lợi, quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng BHXH thường do Nhà nước trực tiếp tiến hành theo quy chế chung thống nhất qua các đạo luật

BHTM: là dịch vụ tài chính xuất phát từ nhu cầu được bảo vệ ngoài sự đảm bảo chung của xã hội đối với các đối tượng bảo hiểm Đối tượng của BHTM ngoài con người còn bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm Quỹ bảo hiểm này được lập nên từ sự đóng góp phí bảo hiểm của các cá nhân, các

Trang 13

tổ chức KT - XH có nhu cầu được bảo hiểm Nguồn đóng góp đó được sử dụng để chi bồi thường cho những cá nhân, đơn vị tham gia bảo hiểm gặp rủi

ro, như : tính mạng và tài sản bị thiên tai, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại Ngoài

ra, chúng còn được dùng để chi cho quản lý của doanh nghiệp, kinh doanh bảo hiểm, lập quỹ dự trữ và thực hiện nghĩa vụ đóng góp với ngân sách Nhà nước Như vậy, nếu so sánh giữa hai loại hình bảo hiểm, thì chúng đều nhằm mục đích là giúp ổn định kinh tế bảo đảm cho quá trình tái sản xuất tiến hành được thường xuyên, liên tục và góp phần đảm bảo ổn định cho cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội, khắc phục khó khăn do hậu quả rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm đều có trách nhiệm đóng góp phí bảo hiểm Nói một cách khác là hai loại hình bảo hiểm có cùng phương thức hình thành và sử dụng quỹ Song chúng có những điểm khác nhau, như về đối tượng phục vụ, nguồn trích lập quỹ, tính chất lợi nhuận (đối với BHXH hoạt động không mang tính chất kinh doanh thu lợi nhuận như BHTM ) Phạm vi hoạt động của BHTM thường rộng hơn không chỉ dừng lại ở biên giới một quốc gia dưới hình thức tái bảo hiểm, BHTM có nhiều hình thức đa dạng và phong phú

Nên để phân biệt các hình thức bảo hiểm, có thể dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại

Dựa vào đối tượng của bảo hiểm thì bảo hiểm được chia thành bảo

hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Bảo hiểm tài sản: là các nghiệp vụ bảo hiểm, mà đối tượng bảo hiểm là

tài sản vật chất, ví dụ: bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm các phương tiện vận tải đường biển, đường sông, đường bộ, và đường không

Đặc điểm của bảo hiểm tài sản là người ta dễ dàng tính được giá trị bảo hiểm Khi bồi thường, người bảo hiểm căn cứ vào trị giá của tài sản bồi thường một phần hay toàn bộ trị giá tài sản Bảo hiểm này là quan hệ kinh tế

Trang 14

phát sinh trong quá trình phân phối, phí bảo hiểm loại này được hạch toán vào giá thành như những chi phí sản xuất

Bảo hiểm con người: còn gọi là bảo hiểm thân thể Bảo hiểm con

người là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ và khả năng lao động của con người Căn cứ vào tính chất khác nhau

của việc trả tiên bảo hiểm đối với bảo hiểm con người có thể chia thành bảo

hiểm nhân thọ và bảo hiểm tai nạn con người Bảo hiểm nhân thọ thì việc

trả tiền cho người tham gia bảo hiểm nhất thiết diễn ra, còn đối với bảo hiểm tai nạn con người thì chỉ trả tiền cho người tham gia bảo hiểm khi bị thiệt hại Loại bảo hiểm này là quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân

BHTNDS: là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là nghĩa

vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm như: BHTNDS của chủ phương tiện, nhà máy, công trình xây dựng, khai thác

BHTNDS mang tính trừu tượng vì người bảo hiểm chỉ bảo hiểm phần nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham bảo hiểm, chứ không phải bảo hiểm phần nghĩa vụ hay trách nhiệm hình sự và chính thiệt hại của người tham bảo hiểm

Dựa vào phương thức bảo hiểm thì bảo hiểm được chia làm 2 loại: bảo

hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc Hai hình thức bảo hiểm này áp dụng

đối với tất cả các đối tượng là tài sản và con người

Bảo hiểm tự nguyện: là hình thức bảo hiểm được tiến hành theo ý

nguyện của người tham bảo hiểm được chi phối bởi hợp đồng bảo hiểm trên nguyên tắc thoả thuận

Bảo hiểm bắt buộc: là hình thức bảo hiểm được phát luật Nhà nước

quy định đối với cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Đặc trưng của bảo hiểm bắt buộc là hoạt động bảo hiểm được thiết lập theo nguyên tắc trách nhiệm tự động, loại trừ khả năng lựa chọn của người tham bảo hiểm Nó

Trang 15

gắn liền với việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đối tượng bảo hiểm có liên quan đến lợi ích và an toàn chung của xã hội Vì rủi ro xảy

ra đối với đối tượng bảo hiểm bắt buộc không chỉ là thiệt hại của cá nhân mà còn gây thiệt hại chung cho toàn xã hội Hình thức bảo hiểm bắt buộc có nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong công tác triển khai nghiệp vụ

Dựa vào phạm vi hoạt động và cơ sở hạch toán, bảo hiểm được chia

thành bảo hiểm đối nội và bảo hiểm đối ngoại

Bảo hiểm đối nội: là nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm giới

hạn trong phạm vi biên giới của một nước và đồng tiền hạch toán kết quả nghiệp vụ bảo hiểm là đồng tiền trong nước

Bảo hiểm đối ngoại: là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm

đã vượt ra phạm vi biên giới một nước và đồng tiền hạch toán nghiệp vụ bảo hiểm là đồng tiền nước ngoài Trong thực tế, nghiệp vụ bảo hiểm nào có một trong hai điều kiện trên đều thuộc nhóm bảo hiểm đối ngoại Ví dụ như: bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm đầu tư, bảo hiểm khách du lịch, bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí

Ngoài ra nếu dựa vào các chỉ tiêu khác Có:

Bảo hiểm hàng hải

Bảo hiểm phi hàng hải

Bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ

Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận này tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu nghiệp vụ BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách Vì BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách là một bộ phận không thể tách rời nghiệp vụ BHHK nói chung và BHTNDS tại TCTHKVN nói riêng

Trang 16

I.1.3 Đặc điểm của BHTNDS:

Trước hết hãy tìm hiểu về BHHK vì trong các loại hình bảo hiểm thì BHHK là loại hình bảo hiểm tương đối phức tạp Lịch sử của BHHK hình thành cùng với sự phát triển của HKDD Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ

II, công nghiệp hàng không và ngành vận chuyển HKDD phát triển cực kỳ nhanh chóng, từ loại máy bay hai động cơ, sức chở không qúa 20 hành khách,

đã được thay thế bằng loại máy bay 4 động cơ rồi máy bay phản lực và ngày nay xuất hiện loại máy bay phản lực khổng lồ, bay với vận tốc siêu âm, khả năng chuyên chở lớn và đặc biệt là giá trị máy bay cao tới hàng trăm triệu đô

la Mỹ Tình hình giá cả máy bay tăng lên không ngừng biểu hiện số lượng vốn rất lớn mà các hãng sản xuất máy bay, các nhà điều hành bay và các tổ chức tài chính đang đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hàng không và vận chuyển HKDD

Thực tế giá trị các máy bay thường rất lớn (nhất là đối với loại máy bay thân rộng) đã buộc thị trường BHHK thế giới nâng giới hạn trách nhiệm của mình lên một cách đáng kể Do vậy, nhu cầu bảo hiểm trong ngành vận chuyển ngành HKDD ngày càng tăng, chỉ cần một vụ tai nạn máy bay xảy ra cũng đủ làm một hãng hàng không bên bờ vực thẳm của phá sản nếu không được bảo hiểm Ví dụ: ngày 03/09/1997 máy bay TU-134/VNA120 của HKVN đã gặp tại nạn tại sân bay Pochentong (Campuchia) Tổn thất ước tính tại thời điểm đó cả vụ liên quan tới số tiền Bảo Minh chi trả cho HKVN lên tới 25 triệu USD trong khi tổng lượng phí bảo hiểm trong 5 năm từ 1995 -

1999 khoảng 20 triệu USD Rõ ràng qua đây chúng ta nhận thấy lợi ích to lớn của bảo hiểm trong hoạt động vận chuyển hàng không

Ngày nay cùng với sự lớn mạnh của ngành HKDD thì lĩnh vực BHHK cũng càng trở nên cần thiết và có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động hàng không Theo thống kê của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) nếu ngày nào cũng đi máy bay (24/24 giờ) thì suốt trong 35 năm mới có thể

Trang 17

gặp một tai nạn Tuy nhiên, giá trị của một vụ tổn thất hàng không lại khá cao

có thể dẫn tới hàng trăm người chết và mức bồi thường phát sinh từ vài trăm triệu USD cho đến hàng tỉ USD Do vậy, việc tham gia BHHK là rất cần thiết cho mọi hãng hàng không trên thế giới

Trong nền kinh tế thị trường việc tham gia bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh là rất cần thiết, không chỉ vì sự an toàn của bản thân người kinh doanh mà còn vì sự an toàn của xã hội, nhất là kinh doanh trong lĩnh vực hàng không, bởi lẽ phí BHHK cùng các loại hình bảo hiểm được tập trung vào cơ quan bảo hiểm hình thành quỹ tập trung lớn có khả năng bồi thường kịp thời cho người được bảo hiểm - bảo đảm quyền lợi cho hành khách và hãng hàng không Bên cạnh đó, việc tham gia bảo hiểm tạo nên cơ cấu giá cước vận chuyển ổn định, vì hãng hàng không đã tính phí bảo hiểm vào giá thành vận chuyển từ đầu năm Khi có tổn thất xảy ra, công ty bảo hiểm thay mặt chủ phương tiện giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại, hãng vận chuyển không phải điều chỉnh giá cước tăng lên khi có tai nạn xảy ra, góp phần ổn định kinh doanh cho các hãng hàng không Từ lý do trên có thể thấy sự tồn tại

và phát triển của công tác BHHK là một tất yếu khách quan đối với ngành vận chuyển HKDD mà BHTNDS của hãng hàng không là một trong những bộ phận không thể tách rời trong nghiệp vụ BHHK.Vì hoạt động của bảo hiểm mang lại cho cá nhân, tổ chức và cả cộng đồng những tác dụng rất to lớn

Vậy, BHTNDS của hãng hàng không có những khác biệt gì so với loại hình bảo hiểm khác?

Thứ nhất: đối tượng của nghiệp vụ BHTNDS của hãng hàng không

mang tính trừu tượng Giống như các loại hình BHTNDS khác, đối tượng

bảo hiểm ở đây là phần trách nhiệm dân sự - trách nhiệm bồi thường của hãng vận chuyển đối với những thiệt về hành khách, hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách Do vậy mà đối tượng ở đây mang tính trừu tượng tức là không cảm nhận bằng giác quan được và chưa xuất hiện khi ký kết hợp đồng

Trang 18

bảo hiểm Ở trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người chúng

ta dễ dàng xác định được đối tượng bảo hiểm là các tài sản như nhà cửa, máy bay, ô tô, xe máy, hay tính mạng sức khoẻ của người được bảo hiểm Đối tượng bảo hiểm trong nghiệp vụ BHTNDS này chỉ biểu hiện cụ thể và có thể tính toán được thiệt hại khi sự cố xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường

Do vậy, trách nhiệm của người bảo hiểm trong loại hình này cũng có thể là rất lớn lên tới hàng tỉ USD cho một vụ tổn thất

Thứ hai: phương thức bảo hiểm có giới hạn (Limited) và không

giới hạn( Unlimited)

*Bảo hiểm có giới hạn:

Chúng ta biết rằng các rủi ro về hàng không luôn gây ra giá trị tổn thất

to lớn, tương ứng với trách nhiệm người vận chuyển cũng rất nhiều Do vậy,

mà việc lựa chọn phương pháp bảo hiểm như là một biện pháp chuyển giao rủi ro hữu hiệu nhất Như vậy thì nhà bảo hiểm lại phải tìm cách giới hạn trách nhiệm của mình tức là ấn định một số tiền trước trong hợp đồng bảo hiểm Số tiền bảo hiểm này được ấn định trên cơ sở công ty bảo hiểm đề nghị

và được hãng vận chuyển thoả thuận chấp nhận Số tiền bảo hiểm này được xem là hạn mức trách nhiệm - mức bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm cho hãng vận chuyển Việc giới hạn trách nhiệm đem lại ưu điểm cho công ty bảo hiểm có khả năng chủ động hơn trong việc dự phòng các tình huống phát sinh trách nhiệm do họ có thể đánh giá được mức độ tổn thất tối đa của hợp đồng Hơn nữa, việc tham gia theo loại hình này giúp hãng vận chuyển giảm được phí bảo hiểm cũng tức là giảm được chi phí và giảm được giá vé (vì phí bảo hiểm được tính trong giá vé) đặc biệt có ý nghĩa hơn trong tình hình thị trường hàng không đang ngày càng cạnh tranh gay gắt Tuy nhiên, đối với các hợp đồng bảo hiểm có giới hạn lại gặp phải trở ngại là hãng vận chuyển không hoàn toàn bảo vệ được rủi ro của mình, trong trường hợp mà mức bồi thường lớn hơn nhiều mức trách nhiệm được bảo hiểm thì hãng vận chuyển

Trang 19

phải chịu tổn thất lớn Do vậy, mà có hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn

* Bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn:

Khác với hợp đồng bảo hiểm trên đối với hợp đồng không giới hạn thì

ở hợp đồng này, số tiền bảo hiểm không được ấn định, không giới hạn trách nhiệm bồi thường tức là nếu có tổn thất thì công ty bảo hiểm phải bồi thường hết nghĩa vụ và trách nhiệm của hãng vận chuyển Thực tế cùng với sự phát triển của KH - KT và kinh tế, nhu cầu của khách hàng cũng đòi hỏi bồi thường sao cho tương xứng với giá trị tổn thất, mà đôi khi là khó xác định Thông thường công ty bảo hiểm sẽ thay mặt hãng vận chuyển bồi thường về những thiệt hại cho hành khách, dựa trên việc xác định mức thu nhập hiện thời, địa vị của hành khách

Tuy nhiên, lại vấp phải một nhược điểm đôi khi tổn thất lại là rất lớn, dẫn đến các công ty bảo hiểm có thể bị phá sản khi gặp rủi ro liên tiếp xảy ra

Do vậy mà các công ty bảo hiểm cần phải tiến hành triệt để các biện pháp phân tán rủi ro, ví dụ như tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm

Ví dụ: như một số quốc gia phát triển đã có những yêu cầu đòi hỏi cao hơn về mức giới hạn trách nhiệm chung như Mỹ, Nhật, Úc nên vào năm

1999 đã ra đời công ước Montreal 1999 với trên 50 nước ký kết và hạn mức trách nhiệm với hành khách là không giới hạn Nên sau một thời gian chuẩn

bị, tháng 8 năm 2000 HKVN đã quyết định tham gia hạn mức trách nhiệm không giới hạn đối với hành khách (Unlimited liability) có nghĩa là đối với mỗi và mọi tổn thất về thân thể của hành khách xảy ra trong khi bay TCTHKVN sẽ bồi thường trách nhiệm của mình theo thiệt hại thực tế của hành khách phù hợp với luật quốc tế và luật dân sự sẽ áp dụng đối với hành khách bị tai nạn mà không lệ thuộc bất cứ giới hạn trách nhiệm nào đối với hành khách

Trang 20

I.2 Những rủi ro thường gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không: Bảo hiểm trong lĩnh vực hàng không càng trở nên có ý nghĩa thiết

thực hơn khi hàng không là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn Rủi ro luôn luôn thường trực bên cạnh chúng ta, thiên biến vạn hoá dưới mọi hình thức, ở bất cứ thời gian, không gian nào và với qui mô không thể lường trước được Có rất nhiều quan niệm về rủi ro, nhìn chung dù ghi nhận rủi ro dưới góc độ nào thì quan niệm về rủi ro đều đề cập tới hai khía cạnh:

- Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc

- Một khả năng xấu, một biến cố không mong đợi

Như vậy: Rủi ro được hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không như dự tính

Sự nguy hại của rủi ro đòi hỏi một quy trình xử lý đồng bộ, từ việc xây dựng hệ thống tín hiệu khuyến cáo rủi ro, lựa chọn những giải pháp thích hợp Công tác xử lý rủi ro có ý nghĩa to lớn tới sự an toàn của các cá nhân, các ngành và toàn xã hội

Ngành hàng không là một ngành rất hiện đại, luôn luôn áp dụng thành tựu và công nghệ mới nhất của con người Tuy nhiên, với tốc độ phát triển như vũ bão của KH - KT hiện nay cũng không thể loại trừ hoàn toàn mọi rủi

ro Ngành hàng không luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nghiệm trọng Chẳng hạn như năm 1996 là năm bất thường của ngành hàng không xảy ra tới

25 vụ tổn thất toàn bộ, làm 1.597 người và đội bay tử vong, số người thứ 3 bị thiệt mạng trên mặt đất là 347 người và tổng số tổn thất lên tới gần 2 tỷ USD Như vậy, rủi ro ngành hàng không tác động đến nhiều đối tượng khác nhau Nhìn chung có thể xếp vào các nhóm sau:

I.2.1 Rủi ro tác động đến tài sản: Đây là loại rủi ro có đối tượng tác

động là tài sản Đối với ngành hàng không loại rủi ro này rất nguy hiểm bởi lẽ

để tiến hành hoạt động của mình, các hãng hàng không phải đầu tư lượng vốn không lồ Một chiếc máy Boeing 747 với tốc độ kinh tế nhất 600 dặm/giờ với

Trang 21

sức chở trên 400 hành khách, trị giá hàng trăm triệu USD Ngoài ra, các hãng hàng không còn phải đầu tư cơ sở vật chất như đường băng, sân đỗ, nhà ga, nhà kho, hệ thống cung cấp nhiên liệu ngay cả hãng nhỏ như HKVN cũng phải đầu tư lượng vốn lớn cho hoạt động của mình như: Rada phục vụ cho điều hành bay từ 1 - 2 triệu USD, xe đặc chủng từ 0,5 - 1 triệu USD, xe tiếp nhiên liệu từ 1 - 2 triệu USD, hệ thống phù trợ không vận từ 2 - 3 triệu USD

Vì thế, chỉ một vụ tai nạn xảy ra cũng đủ làm cho hãng hàng không bị thiệt hại nặng nề Những rủi ro tác động đến tài sản như:

- Va chạm giữa máy bay với máy bay, va chạm giữa máy bay với đường ống dẫn ra máy bay

- Va chạm giữa các phương tiện phục vụ mặt đất với máy bay

- Va chạm giữa các phương tiện phục vụ mặt đất với nhau và với đường ống dẫn ra máy bay

- Sự xâm nhập của vật thể lạ vào động cơ máy bay, hỏng hóc, hư hỏng,

ăn mòn

- Các rủi ro khác: Bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa máy bay

Theo thống kê của TCTHKVN, nguyên nhân tai nạn máy bay của hãng chủ yếu là do một số rủi ro sau: trục trặc kỹ thuật, rủi ro bất ngờ, sơ suất của con người, do thời tiết

Biểu đồ 1: Nguyên nhân tai nạn máy bay của TCTHKVN (từ 1990

-2000)

(Nguồn: TCTHKVN)

1: Do thời tiết (18%) 2: Do sơ suất của con người (21%) 3: Do trục trặc kỹ thuật (59%) 4: Do rủi ro bất ngờ (2%)

Trang 22

I.2.2 Rủi ro tác động đến con người:

Rủi ro tác động đến con người là rủi ro phức tạp rất khó xác định được giá trị thiệt hại Đối với ngành hàng không, loại rủi ro này càng khó tính toán,

vì sau mỗi vụ tai nạn, hiện trường để lại không cố định và có nhiều đối tượng liên quan như hành khách, nhân viên tàu bay, người thứ 3 và chủ hàng Một điều cần phải quan tâm là vấn đề giải quyết hậu quả về người sau mỗi vụ tai nạn thường liên quan đến nhiều quốc tịch khác nhau, nhiều phong tục tập quán khác nhau Những rủi ro tác động đến con người có thể là:

- Tai nạn của nhân viên phục vụ do ảnh hưởng của các phương tiện phục vụ mặt đất

- Tai nạn của nhân viên tổ bay trong quá trình làm việc, do ảnh hưởng của máy móc trên máy bay

- Tai nạn của hành khách trong quá trình lên, xuống máy bay

- Tai nạn con người khác do sự cố máy bay, hỏng hóc kỹ thuật

I.2.3 Rủi ro phát sinh trách nhiệm dân sự (pháp lý) bồi thường của hãng hàng không:

Khi những rủi ro này xảy ra sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường của hãng hàng không đối với những thiệt hại về người, tài sản Hãng hàng không phải có trách nhiệm bồi thường trách nhiệm trong trường hợp:

- Hành khách bị chết hoặc bị thương tích về thân thể trong quá trình hoạt động của máy bay

- Mất mát, hư hỏng, thiếu hụt của hành lý, hàng hoá trong quá trình vận chuyển bằng đường hàng không

- Thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, thương tích tài sản của người thứ 3 ở mặt đất do máy trực tiếp gây ra

- Thiệt hại do máy bay va chạm hoặc gây cản trở cho nhau

Giải quyết hậu quả của những rủi ro này là trách nhiệm của mọi hãng hàng không Trách nhiệm này bị điều chỉnh bởi các nguồn luật của từng quốc

Trang 23

gia, đồng thời cũng được các công ước quốc tế qui định Mức trách nhiệm của các hãng hàng không có thể được giới hạn hoặc không giới hạn Xu hướng chung là giới hạn trách nhiệm ngày càng được nâng cao hơn, có trường hợp lên tới trên 1 tỷ USD cho mỗi vụ tổn thất Như vậy, loại rủi ro này phát sinh là trách nhiệm nặng nề của các hãng hàng không và xử lý rủi ro này như thế nào ảnh hưởng rất nhiều đến uy tín của họ

I.3: Vai trò và tính tất yếu của BHHK

Cùng với xu hướng toàn cầu hoá, thị trường vận chuyển hàng không đã phát triển ngày càng sôi động Nếu như vào năm 1945 lượng vận chuyển hàng hoá chỉ vài nghìn tấn thì năm năm 2002 có khoảng 30 triệu tấn hàng hoá được lưu chuyển bằng đường hàng không (chiếm khoảng trên 40% giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu trên thế giới) Ngoài ra, hiện tại hoạt động vận chuyển hành khách chiếm khoảng 35% số lượt vận chuyển Ngày nay, trong thời đại thông tin, hoạt động vận chuyển hàng không trở thành công cụ vận chuyển đắc lực cho những thương vụ làm ăn có tính cạnh tranh cao về thời gian Chính vì vậy, phải nhìn nhận vận chuyển hàng không sẽ là một hoạt động chính và chủ yếu trong ngành giao thông vận tải tương lai

Do vậy, nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng, người gửi hàng, đảm bảo cho sự phát triển của ngành HKDD, hãng vận chuyển cần phải tham gia bảo hiểm (như bảo hiểm thân máy bay) hoặc phải bắt buộc tham gia bảo hiểm( như BHTNDS đối với hành khách, hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách) Nên BHHK có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của ngành HKDD:

* Thứ nhất: Góp phần tiết kiệm chi, ổn định cho ngân sách Nhà nước

tránh được biến động lớn khi gặp rủi ro

Bảo hiểm giúp giải quyết tình trạng ứ đọng vốn và lãng phí vốn của hãng hàng không Thay vì phải dự trữ vốn để tự bảo hiểm, hãng có thể sử dụng vốn này đầu tư cho hoạt động sản xuất - kinh doanh Mặt khác, hầu hết

Trang 24

ở các quốc gia thì ngành HKDD do Nhà nước nắm giữ một phần hay toàn bộ, nên khi có tổn thất xảy ra thì trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm chung có thể lên tới hàng tỷ USD, hãng vận chuyển có thể gặp khó khăn và có thể dẫn đến phá sản Điều này có thể ảnh hưởng tới ngân sách Nhà nước Do vậy, khi tham gia bảo hiểm hãng vận chuyển san sẻ được trách nhiệm, chuyển giao một phần hay toàn bộ rủi ro cho các công ty bảo hiểm, nên ngân sách Nhà nước đỡ phải gánh chịu khi có tổn thất xảy ra Điều này có ý nghĩa hơn đối với các quốc gia đang phát triển với ngân sách hạn hẹp như là Việt Nam chúng ta, do đó việc tham BHHK sẽ góp phần ổn định KT - XH của quốc gia

* Thứ hai: Góp phần ổn định hoạt động kinh doanh cho hãng hàng

không

Như đã đề cập ở trên thì những tổn thất hàng không thường dẫn đến giá trị thiệt hại rất lớn có thể đủ làm cho hãng hàng không đi đến phá sản nếu không được bảo hiểm (ví dụ: Vụ tai nạn 2 máy bay đâm nhau tại đảo Tertarist năm 1977 đã làm 538 người bị chết, thiệt hại tài sản khoảng 300 triệu USD và con số bồi thường chiếm khoảng từ 10 - 20% tổng số phí BHHK trên toàn thế giới) Nên đây cũng là lý do giải thích vì sao ngành bảo hiểm có những đặc điểm hoạt động phân tán rủi ro và nguyên tắc số đông bù số ít, giờ đây được xem là một ngành không thể thiếu được trong chuỗi mắt xích hoạt động của

xã hội Tham gia bảo hiểm sẽ giúp hãng vận chuyển vượt qua những khó khăn

về tài chính sau tai nạn, sự cố hàng không trở lại hoạt động kinh doanh bình thường Vì khi có tổn thất xảy ra, công ty bảo hiểm thay mặt chủ phương tiện giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại, hãng hàng không không phải điều chỉnh giá cước vận chuyển hàng hoá, giá vé của hành khách tăng lên khi

có thiệt hại xảy ra do hãng hàng không đã tính phí bảo hiểm vào giá thành vận chuyển từ đầu năm

* Thứ ba: Góp phần thực hiện tốt công tác ĐP & HCTT của hãng hàng không

Trang 25

Công tác ĐP & HCTT thực sự có ý nghĩa to lớn đối với công ty bảo hiểm lẫn hãng vận chuyển Nó thể hiện quyền lợi lẫn trách nhiệm của mỗi bên Bởi vì thực hiện công tác ĐP & HCTT nhằm loại trừ những nguy cơ rủi

ro hay giảm thiểu tổn thất khi có sự cố xảy ra sẽ giúp cho công ty bảo hiểm giảm bớt được chi phí bồi thường và tăng lợi nhuận kinh doanh Còn hãng vận chuyển sẽ tránh được những tổn thất phát sinh trong hay sau sự cố xảy ra như là việc thiệt hại do gián tiếp kinh doanh Lợi ích của công tác này là rất lớn, do vậy ngoài chức năng chính là bồi thường, hàng năm công ty bảo hiểm trích một phần quỹ bảo hiểm (theo tỉ lệ qui định) để phối hợp với các cơ quan hữu quan như: Cảnh sát PCCC, chủ phương tiện (người tham gia bảo hiểm) tiến hành kiểm tra giám sát các quy định về an toàn bay, xây dựng kho chứa hàng, lắp đặt hệ thống camera theo dõi chống moi móc hàng hoá, hành lý, hỗ trợ các công trình nghiên cứu nhằm cải tiến, hợp lý hoá các khâu vận chuyển đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của hành khách, bảo vệ tài sản của các đơn vị tham gia bảo hiểm

* Thứ tư: Bảo vệ lợi ích khách hàng

Những thiệt hại khi có sự cố, tai nạn hàng không thường rất lớn thậm chí không thể xác định được khi mà có những tổn thất liên quan đến tính mạng, sức khoẻ của hành khách Tuy nhiên, số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm bồi thường cho nạn nhân hay gia đình nạn nhân sẽ giúp họ có thể vượt qua những khó khăn về tài chính Về vấn đề mà các hãng hàng không phải quan tâm tham gia mức trách nhiệm cao hơn thì sẽ giúp cho hãng thu hút được nhiều khách hàng hơn nhưng ngược lại với những hãng hàng không nhỏ, yếu về khả năng tài chính lại sẽ gặp bất lợi lớn khi thực hiện điều này Nói chung, cùng với sự phát triển của KT - XH thì lợi ích của khách hàng sẽ càng được hãng vận chuyển quan tâm, chú trọng hàng đầu, từ đó làm tăng uy tín của hãng hàng không đối với hành khách và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

Trang 26

* Thứ năm: Góp phần nâng cao uy tín trên trường quốc tế

Việc tham gia bảo hiểm còn là việc tuân theo các quy định của luật pháp và công ước quốc tế, góp phần nâng cao vai trò và vị thế của hãng hàng không cũng như đất nước trong quan hệ kinh tế thông qua hoạt động tái bảo hiểm (hoạt động không thể thiếu ở nghiệp vụ bảo hiểm hàng không bởi giá trị bảo hiểm và rủi ro lớn của nghiệp vụ), công ty bảo hiểm có thể mở rộng mối quan hệ với quốc tế, học tập được những kinh nghiệm của họ hoặc có thể giữ lại một lượng ngoại tệ nếu nhượng lại cho các công ty trong nước, nó còn giúp nâng cao sự hiểu biết, sự quan tâm của công chúng và uy tín của hãng hàng không cùng công ty bảo hiểm

Tóm lại, với giá trị máy bay không ngừng tăng lên cộng với trách nhiệm rất nặng nề đối với tính mạng con người và tài sản khiến cho việc tham gia BHHK trở thành một ý thức của nhà kinh doanh vận tải hàng không, thậm chí còn là quy định bắt buộc theo pháp luật

Từ những khái niệm về bảo hiểm, BHTNDS cùng đặc điểm của loại hình bảo hiểm này, thông qua phân tích về những rủi ro thường gặp và vai trò của BHHK chúng ta khẳng định rằng: BHHK nói chung và BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hàng khách nói riêng ra đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan BHHK không chỉ

có ý nghĩa đối với các hãng hàng không mà còn có ý nghĩa đối với rất nhiều người Có thể nói sự tồn tại và phát triển của hoạt động BHHK làm giảm đáng

kể nguy cơ phá sản, một căn bệnh lây truyền nguy hiểm vốn có của nền kinh

tế thị trường

II CÁC LOẠI HÌNH BHTNDS CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG:

BHHK là một loại hình bảo hiểm khá phức tạp, liên quan đến nhiều loại rủi ro và phạm vi trách nhiệm khác nhau Riêng đối với BHTNDS mà HKVN hiện này tham gia chủ yếu gồm những loại BHTNDS sau:

Trang 27

II.1: BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách:

Hành khách ở đây được hiểu là bất kỳ người nào, ngoại trừ tổ bay, được vận chuyển hoặc sẽ được vận chuyển trên tàu bay với sự đồng ý của người vận chuyển Đây là loại hình bảo hiểm trách nhiệm theo luật định (luật quốc tế hoặc luật quốc gia) Theo đó công ty bảo hiểm sẽ bồi thường những khoản tiền mà các hãng hàng không (theo luật áp dụng) do gây thương vong cho hành khách khi họ đang lên, xuống máy bay, hoặc trong quá trình bay Đối với loại bảo hiểm này, trách nhiệm của công ty bảo hiểm không vượt quá giới hạn trách nhiệm bảo hiểm qui định trong giấy chứng nhận bảo hiểm

Loại hợp đồng bảo hiểm này không áp dụng đối với nhân viên tổ bay khi họ đang đi trên máy bay với tư cách phục vụ chứ không phải là hành khách và cũng không áp dụng đối với thiệt hại về người và tài sản liên quan đến người thứ 3

II.2 BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và

tư trang của hành khách:

Trước hết chúng ta nghiên cứu một số khái niệm có liên quan:

* Hành lý: được hiểu là những vật phẩm, đồ dùng và tư trang của hàng

khách được xem là cần thiết hoặc thích hợp cho việc mang, sử dụng, cho sự thoải mái hoặc tiện lợi trong chuyến đi Trừ khi được xác định khác đi, hành

lý bao gồm cả hành lý ký gửi và hành lý xách tay của hành khách

* Hành lý ký gửi: hành lý ký gửi là hành lý mà người vận chuyển chịu

trách nhiệm bảo quản và xuất thẻ hành lý

* Hành lý xách tay: là bất kỳ hành lý nào của hành khách không phải

là hành lý ký gửi Hành lý xách tay được phép mang theo lên cabin máy bay cùng với hành khách và do hành khách tự bảo quản trong suốt chuyến đi

* Thẻ hành lý: thẻ hành lý là chứng từ do người vận chuyển ban hành

phục vụ cho các mục đích:

- Nhận biết hành lý

Trang 28

- Xác định hành trình của hành lý

- Xác định tính chất, trạng thái của hành lý

- Là cơ sở để khách hàng khiếu nại hãng vận chuyển khi có bất thường xảy ra đối với hành lý

* Vé hành lý: là phần của vé hành khách và hành lý có liên quan đến

việc vận chuyển hành lý ký gửi của hành khách

* Hành lý miễn cước: là lượng hành lý mà hành khách được phép

mang theo không phải trả tiền cước phí vận chuyển và hành lý phải tuân thủ các điều kiện và giới hạn được nêu trong qui định của Người vận chuyển

* Hành lý tính cước: là lượng hành lý vượt quá mức hành lý miễn

cước cho phép Hành khách phải trả cước phí cho số hành lý vượt quá này theo phương thức nêu trong qui định của Người vận chuyển

* Vé: vé là chứng từ được mang tên “vé hành khách và hành lý ký gửi”

do Người vận chuyển hoặc người thay mặt Người vận chuyển xuất và bao gồm Điều kiện hợp đồng và các bị chú cùng các tờ vận chuyển và tờ hành khách ở trong đó

* Người vận chuyển: là Người vận chuyển hàng không xuất vé và tất

cả các Người vận chuyển hàng không vận chuyển và cam kết vận chuyển hành khách và hành lý của hành khách hoặc thực hiện hay cam kết thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến việc vận chuyển bằng đường không đó

* Hàng hoá: là bất kỳ thứ gì được chuyển chở trên máy bay ngoại trừ

bưu kiện, hành lý ký gửi hoặc hành lý xách tay mà Người vận chuyển chịu trách nhiệm bảo quản và xuất vận đơn hàng không (AWB = Air Waybill) (Theo định nghĩa của The Air Cargo Tariff Rules - TACT - April 1999 issue

48 của IATA)

* Vận đơn hàng không: là chứng từ dành cho việc vận chuyển hàng

hoá Tất cả hàng hoá được vận chuyển, tất cả những kiện hàng nào được để

Trang 29

trên máy bay dù được trả cước hay không trả cước đều phải có vận đơn hàng không kèm theo

* Tư trang của hành khách: là những vật dụng mà hành khách mang

theo lên khoang hành khách và được hành khách tự bảo quản cùng với hành

lý xách tay ví dụ như tiền, vàng, giấy tờ tuỳ thân

Cũng giống như BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách Đây là loại BHTNDS theo luật định (luật quốc tế hoặc luật quốc gia) Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường những khoản tiền mà các hãng hàng không (theo luật

áp dụng) do gây thiệt hại đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách nhận chuyên chở Đối với loại bảo hiểm này trách nhiệm của công ty bảo hiểm không vượt quá giới hạn trách nhiệm bảo hiểm qui định trong giấy chứng nhận bảo hiểm Loại hợp đồng này không áp dụng với nhân viên tổ bay khi họ đang đi trên máy bay với tư cách phục vụ chứ không phải là hành khách và cũng không áp dụng đối với thiệt hại (về người và tài sản) liên quan đến người thứ 3

II.3: BHTNDS của hãng hàng không đối với người thứ 3:

Tương tự như BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách, người được bảo hiểm là hãng hàng không, tuy nhiên người được bồi thường trong loại hình bảo hiểm này lại là người thứ 3 ở trên mặt đất, người chịu những thiệt hại về sinh mạng và tài sản do máy bay hay bất kỳ vật gì từ máy bay rơi vào Là loại BHTNDS theo luật định Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường thiệt hại (về người và tài sản)

mà người được bảo hiểm có trách nhiệm phải bồi thường do máy bay hay bất

kỳ người nào, vật thể nào từ trên máy bay rơi xuống gây thiệt hại cho người thứ 3 trên mặt đất Trách nhiệm này cũng bao gồm cả thiệt hại đối với máy bay và hành khách trên máy bay đó đang bay trên không là đối tượng bị thiệt hại của các vụ va chạm trên không Loại bảo hiểm không áp dụng đối với hành khách đi trên máy bay và nhân viên của hãng hàng không

Trang 30

Hiện nay trên thế giới, qui định giới hạn trách nhiệm của hãng hàng không đối với người thứ 3 theo trọng lượng cất cánh của máy bay, nhất là máy bay đang hoạt động trên lãnh thổ của nước khác

II.4: BHTNDS của chủ sân bay và người điều hành bay:

Là loại BHTNDS theo luật định Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường những khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả do phát sinh trách nhiệm của họ trong quá trình hoạt động của sân bay đối với:

- Tổn thất về người và tài sản của người thứ 3 trong khu vực qui định

do hoạt động của sân bay hoặc nhân viên của người được bảo hiểm gây ra (bao gồm cả việc điều hành máy bay hạ cánh hoặc cất cánh)

- Tổn thất đối với máy bay và trang thiết bị trên máy bay thuộc quyền

sở hữu của người khác khi máy bay đang đậu ở sân bay hoặc nhân viên của người được bảo hiểm gây ra (bao gồm cả việc điều hành máy bay hạ cánh hoặc cất cánh)

- Tổn thất về người và tài sản do việc cung cấp lương thực, thực phẩm

và các loại sản phẩm khác gây ra

Loại hình bảo hiểm này không áp dụng đối với thiệt hại về người và tài sản của nhân viên của người được bảo hiểm

III NỘI DUNG BHTNDS CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG ĐỐI VỚI HÀNH LÝ, HÀNG HOÁ VÀ TƯ TRANG CỦA HÀNH KHÁCH:

III.1: Người được bảo hiểm và người được bồi thường:

Đây là loại hình bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, nên người được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm là người vận chuyển, các hãng hàng không, và cũng là người có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm Tuy nhiên, khi tổn thất xảy ra đối với hành lý, hàng hoá và tư trang thì người được bồi thường không phải là người được bảo hiểm mà là khách hàng và chủ

Trang 31

hàng Vì nó là loại hình bảo hiểm trách nhiệm trong hợp đồng và việc xác định trách nhiệm của chủ hãng vận chuyển có thể thoả mãn riêng về mức trách nhiệm bồi thường giữa chủ hãng với hành khách và chủ hàng Thường

là trên vé máy bay, hay trong vận đơn hãng hàng không thường in làm theo phần ghi rõ giới hạn trách nhiệm bồi thường của chủ hãng trong trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường của chủ hãng đối với hành lý, hàng hoá và

tư trang

III.2: Đối tượng bảo hiểm:

Trong hợp đồng BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và tư trang thì việc ký kết hợp đồng giữa công ty bảo hiểm và hãng vận chuyển đã xác định đối tượng bảo hiểm là phần trách nhiệm pháp lý của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại liên quan đến hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách Đây là phần trách nhiệm trong hợp đồng được xác định dựa trên sự thoả thuận của hãng vận chuyển và hành khách trên tấm vé hoặc vận đơn hàng không (Air Waybill) Đối tượng bảo hiểm ở đây cũng khá trừu tượng, tuy nhiên khách hàng hay chủ hàng hoá có thể xác định được hạn mức trách nhiệm bồi thường khi có tổn thất xảy ra Điều này tạo ra một tâm lý tích cực cho hành khách và chủ hàng hoá khi sử dụng hoạt động vận tải hàng không

III.3: Phương thức bảo hiểm: Do tính chất, đặc điểm của hoạt động

HKDD là số vụ tổn thất xảy ra ít nhưng giá trị các vụ tổn thất thường rất lớn Chính vì vậy, khác với các loại hình bảo hiểm khác, nghiệp vụ BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách phải được tiến hành theo phương thức bắt buộc Điều này có nghĩa là tất cả các hãng hàng không trên thế giới đều phải tham gia BHTNDS đối vớihành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách, tuỳ theo nhu cầu và khả năng tài chính của mình mà tham gia với hạn mức trách nhiệm là bao nhiêu Tham gia loại hình bảo hiểm này chính là

để nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân (hành khách và chủ hàng hoá), góp phần tạo nên một trật tự công bằng xã hội Và do vậy mà công ty bảo

Trang 32

hiểm phải có trách nhiệm cung cấp loại hình bảo hiểm trách nhiệm đối vớihành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách và các nghiệp vụ BHHK khác, cùng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách dựa trên mức độ thiệt hại và giới hạn trách nhiệm Chủ hãng vận chuyển phải có nghĩa vụ mua BHTNDS cho mình Cơ quan chức năng Nhà nước ở các nước có quyền kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ này của các hãng hàng không và phạt tiền nếu vi phạm

Công ước Vácsava (Công ước Vácsava là công ước về thống nhất một

số quy tắc liên quan đến vận chuyển hàng không quốc tế được ký tại Vacsava ngày 12/10/1929, hiện có 140 quốc gia trên thế giới tham gia kể cả Việt Nam)

đã đề cập đến vấn đề này

Điều 17 quy định trách nhiệm (dân sự ) của người vận chuyển về những thiệt hại xảy ra trong trường hợp hành khách bị chết hoặc bị thương hoặc bất kỳ thương tích nào về thân thể của hành khách Nếu tai nạn gây ra thiệt hại ở trên tàu bay hoặc trong quá trình hoạt động xếp tải hay dỡ tải

Điều 18 của công ước Vacsava quy định hãng vận chuyển còn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại xảy ra trong trường hợp mất mát, thiệt hại, hư hỏng hành lý hoặc hàng hoá ký gửi trong quá trình vận chuyển bằng tàu bay Ngoài ra, ở Việt Nam quy định tương tự về vấn đề này, trong luật HKDDVN (đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26/12/1991 và có hiệu lực thi hành từ 01/6/1992) từ Điều 72 đến Điều 81 và các điều khoản khác có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng vận chuyển hàng không (hành khách, hàng hoá,hành lý) Quy định việc chủ hãng vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan tới hành khách, hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách

Chế độ trách nhiệm dân sự được xây dựng trên cơ sở “rủi ro” (yếu tố khách quan) và lỗi lầm (yếu tố chủ quan) đó là tính chất đặc thù của ngành hàng không trong hoạt động HKDDVN phù hợp với thông lệ quốc tế

Trang 33

Bảo hiểm bắt buộc theo luật định là đúng đắn và bảo vệ được quyền lợi cho cả người vận chuyển hàng không và hành khách

Bên cạnh đó là Quy định 323/QĐ-HKVN ngày 10/03/1997 (Quy định chi tiết về việc giải quyết khiếu nại và bồi thường đối với hành khách, hành

lý, hàng hoá, tư trang và bưu kiện của TCTHKVN) Đây là khung pháp lý cơ bản giúp cho việc hoạt động và phát triển của ngành HKDD có hiệu quả hơn

Nó vừa đảm bảo quyền lợi cho khách hàng cũng như nâng cao trách nhiệm của hãng đối với việc bảo vệ sự an toàn đối với hành khách, hành lý, hàng hoá

và tư trang của hành khách

III.4: Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm: BHTNDS đối với

hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách là loại hình bảo hiểm những rủi

ro thuộc về trách nhiệm của chủ hãng vận chuyển Thông thường, đối với mỗi

vụ tổn thất thì khi có trách nhiệm bồi thường của chủ hãng vận chuyển thì trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm cũng phát sinh theo (Khi rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm gây nên) Việc bồi thường thiệt hại liên quan đến hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách được xem xét ở hai góc độ là những thiệt hại về vật chất và những thiệt hại phi vật chất Tuy nhiên, những thiệt hại phi vật chất nói chung là rất khó đánh giá chính xác để bồi thường

III.4.1: Phạm vi bảo hiểm của nghiệp vụ này thường là những trường hợp sau:

- Những mất mát, hư hỏng hành lý, hàng hoá trong quá trình vận chuyển theo thẻ hành lý và vận đơn hàng không

- Những mất mát hư hỏng, tư trang và hành lý xách tay do hành khách

tự bảo quản (theo Quy định 323/QĐ - HKVN ngày 10/3/1997) thì HKVN chỉ bồi thường trong 02 trường hợp sau:

+ Do máy bay bị tai nạn hay tổn thất toàn bộ

+ Do lỗi của nhân viên HKVN hoặc nguyên nhân do trang thiết

bị trên máy bay gây ra

Trang 34

Ngoài ra công ty bảo hiểm cũng sẽ trả những chi phí liên quan tới án phí dân sự, chi phí khác đã thoả thuận bằng văn bản với công ty bảo hiểm trước, chi phí giám định tổn thất

Đối với những rủi ro ngoài phạm vi bảo hiểm trên thì công ty bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường hoặc sẽ bồi thường theo thoả thuận bằng nghiệp vụ bảo hiểm khác Những rủi ro này chính là thuộc phần loại trừ bảo hiểm

III.4.2: Loại trừ bảo hiểm:

Đối với nghiệp vụ BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách thì có điểm loại trừ riêng là không có trách nhiệm bồi thường tổn thất về người và tài sản của người được bảo hiểm kể cả nhân viên tổ bay đang thi hành nhiệm vụ trên máy bay

Ngoài ra, trong BHHK thì còn có rủi ro loại trừ chung đối với hoạt động của máy bay như:

1) Máy bay được sử dụng khác với mục đích trên giấy chứng nhận bảo hiểm 2) Máy bay vượt qua ngoài phạm vi địa lý nêu trong giấy chứng nhận bảo hiểm trừ trường hợp bất khả kháng

3) Máy bay hoạt động dưới sự điều khiển của bất kỳ người nào khác với qui định trong đơn bảo hiểm trừ trường hợp máy bay chạy trên mặt đất với sự điều khiển của người được phép làm điều đó

4) Máy bay hạ, cất cánh ở những nơi không phù hợp với tính năng kỹ thuật của máy bay, trừ trường hợp do điều kiện không thể tránh khỏi

5) Máy bay được vận chuyển bằng bất kỳ phương tiện nào, trừ khi đó là

do hậu quả của một vụ tai nạn

6) Những trách nhiệm và quyền lợi của người được bảo hiểm chấp nhận hoặc từ bỏ theo bất kỳ thoả thuận nào khác với vận đơn đã phát hành

7) Tổng số hành khách vận chuyển trên máy bay vượt quá số khách tối

đa ghi trên đơn bảo hiểm

Trang 35

8) Những khiếu nại mà người được bảo hiểm có thể được bồi thường theo bất kỳ một hợp đồng bảo hiểm khác mà vẫn thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm của đơn bảo hiểm máy bay

9) Những khiếu nại tổn thất do hiện tượng phóng xạ hay nhiễm xạ gây

ra trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc có thể quy cho những hiện tượng đó

10) Những khiếu nại tổn thất do:

+ Chiến tranh, nội chiến, xâm lược và các hành động thù địch khác của nước ngoài (dù có tuyên chiến hay không), cũng như mọi biến cố chính trị ở nước ngoài

+ Tiến hành có tính chất thụ động, các vụ nổ bất kỳ loại vũ khí chiến tranh nào có sử dụng năng lượng nguyên tử, hoặc các chất phản ứng phân huỷ, hoặc liên kết hạt nhân, hoặc các năng lượng và các chất phản ứng và phóng xạ tương tự khác

+ Mọi hành động của một người hay một nhóm người nhằm mục đích chính trị hoặc khủng bố (dù thiệt hại bắt nguồn từ đó có tính chất là tai nạn bất ngờ)

+ Mọi hành động ác ý, hay phá hoại

+ Bị tịch thu, trưng thu, chiếm giữ, chiếm đoạt, khống chế, bắt giữ để chiếm hữu hay sử dụng theo lệnh của bất kỳ nhà đương cục địa phương nào ở nước ngoài

+ Khi máy bay hoặc tổ bay bị bất kỳ một người hay một nhóm người trên máy bay bắt cóc, cưỡng đoạt hay khống chế một cách phi pháp khi máy bay đang bay (kể cả những cố gắng nhằm thực hiện những hành động đó)

Trường hợp loại trừ thứ 10 là rủi ro loại trừ chung cho đơn bảo hiểm, tuy nhiên người bảo hiểm có thể mở rộng phạm vi bảo hiểm cả rủi ro này (bảo hiểm rủi ro chiến tranh) với điều kiện người được bảo hiểm phải trả thêm phí cho loại bảo hiểm này

III.5: Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và thời hạn bảo hiểm:

III.5.1: Số tiền bảo hiểm:

Trang 36

Chúng ta biết rằng đối với BHTNDS nói chung và đặc biệt là BHTHNDS đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách nói riêng thì công ty bảo hiểm không xác định được mức bồi thường tối đa, khác với bảo hiểm tài sản thì số tiền bảo hiểm có thể xác định dựa trên giá trị bảo hiểm (giá trị bảo hiểm, theo luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam ngày 09/12/2000

và có hiệu lực từ 01/4/2001, thì qui định giá trị bảo hiểm của tài sản là giá trị thực tế của tài sản ở thời điểm tham gia bảo hiểm Ví dụ: Giá trị bảo hiểm đối với thân máy bay (bảo hiểm tài sản) xác định bằng tổng giá trị của chiếc máy bay ở thời gian tham gia bảo hiểm tức là bằng tổng giá trị của tất cả các bộ phận cấu thành chiếc máy bay đó ở thời gian tham gia bảo hiểm (vỏ máy bay+máy móc, trang thiết bị có ở trên máy bay+phí bảo hiểm)

Vì vậy để chủ động trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm thường giới hạn trách nhiệm bảo hiểm ở một số tiền nhất định cho mỗi hợp đồng Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm chính là hạn mức trách nhiệm Hạn mức trách nhiệm này được xác định dựa trên các Công ước quốc tế và các thoả thuận riêng đối với mỗi quốc gia Cùng với sự phát triển

về KT - XH ở mỗi quốc gia, sự thay đổi của ngành hàng không thì hạn mức trách nhiệm cũng đã liên tục được thay đổi cho phù hợp với xu thế đó Tham gia ở hạn mức trách nhiệm cao hơn thì khách hàng sẽ được bảo vệ nhiều hơn, hãng hàng không sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn đặc biệt là mức trách nhiệm đối với hành khách

Do một số quốc gia phát triển đã có những yêu cầu đòi hỏi cao hơn như: Mỹ, Nhật, Australia nên năm 1999 đã ra đời công ước Montreal 1999 với 53 nước ký, với hạn mức trách nhiệm với hành khách là không giới hạn (Unlimited Liability) Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 8/2000 HKVN đã quyết định tham gia:

- Đối với hành khách: Là hạn mức không giới hạn trách nhiệm

Trang 37

Với hạn mức trách nhiệm này sẽ giúp cho HKVN hội nhập với ngành hàng không trong khu vực và trên thế giới

III.5.2: Phí bảo hiểm:

Xác định phí bảo hiểm là một khâu rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của hãng vận chuyển Phí BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và tư trang bị chịu rất nhiều những nhân tố ảnh hưởng như: mức giới hạn trách nhiệm, số vụ tai nạn, mức độ bồi thường của hãng hàng không

Trên thực tế thị trường BHHK trên thế giới việc tính toán và nộp phí BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và tư trang được xác định theo phương pháp thống kê, các số liệu thống kê có thể thu thập trong khoảng thời gian rất dài có thể lên tới 30 năm, khác với các nghiệp vụ khác với thời gian dùng để thống kê khoảng từ 5 đến 10 năm, nghiệp vụ này có tính chất của ngành hàng không và tần suất xảy ra thấp

Ví dụ: Như Singapore Airlines nổi tiếng cả về chất lượng dịch vụ và lịch sử an toàn trong 28 năm hoạt động của mình thì ngày 31/10/2000 chiếc máy bay Boeing 747 của hãng bị bốc cháy do cất cánh nhầm đường băng làm cho 81 người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương

Các số liệu thống kê được quan tâm là:

- Số vụ tai nạn, tổn thất xảy ra trong năm hoặc trong một khoảng thời gian

- Các loại máy bay đang sử dụng

- Khối lượng và số lượng hành khách

- Hàng hoá và hành lý mỗi năm

- Kinh nghiệm việc đào tạo phi công

Do tính chất của rủi ro hàng hoá là thường có giá trị tổn thất rất lớn, cho nên các công ty bảo hiểm tận dụng triệt để các phương pháp chuyển giao rủi ro cho các công ty tái bảo hiểm thông qua môi giới tái bảo hiểm, thì công

ty bảo hiểm chọn được công ty tái bảo hiểm sẽ có khả năng tài chính, và uy

Trang 38

tín nhất Công ty tái bảo hiểm mà được nhận tái bảo hiểm đầu tiên và có phần nhận tái nhiều nhất (Leading underwriter) sẽ quyết định mức phí tái cho các công ty tái bảo hiểm tiếp theo và ảnh hưởng tới phí bảo hiểm mà công ty bảo hiểm chào trong hợp đồng BHHK

Nghiệp vụ BHTNDS hiện nay đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách được xác định căn cứ vào:

- Số lượng khách trong năm (tính 1000 hành khách /km)

- Thống kê tổn thất hành lý, hàng hóa, tư trang hàng năm

- Tính toán xác suất xảy ra tổn thất của năm bảo hiểm

Vì nghiệp vụ BHTNDS đối với hành khách thì phần phí đối với trách nhiệm bồi thường chiếm tỷ lệ do hạn mức trách nhiệm lên tới cả trăm nghìn USD Phí bảo hiểm trách nhiệm đối với hành khách thường được xác định theo hai cách:

Cách 1: Phí bảo hiểm = tỉ lệ phí x số hành khách trong năm (1000 hành

Trang 39

liệu kế hoạch của hãng hàng không, nên cuối năm phải quyết toán lại phần phí

có thể dư ra (thiếu hụt) do chênh lệch giữa số liệu thực và số liệu kế hoạch

III.5.3: Thời hạn bảo hiểm:

Do tính chất, đặc điểm của ngành hàng không là luôn có sự biến động như về áp dụng công nghệ, về các đường bay, tần suất bay làm cho yếu tố rủi ro luôn cần được thường xuyên theo dõi và đánh giá Do vậy mà các hợp đồng BHHK thường có thời hạn ngắn từ 1-3 năm Đối với nghiệp vụ này thì thời hạn bảo hiểm thông thường là 1 năm Hết năm hợp đồng thì hãng hàng không có thể tái tục hợp đồng hoặc ký kết hợp đồng bảo hiểm mới với công ty bảo hiểm khác

Hiện nay các công ty bảo hiểm luôn chào những bản hợp đồng dài hạn cho các hãng hàng không, với hợp đồng này các hãng hàng không sẽ được giảm phí bảo hiểm

III.6: Xác định thiệt hại tổn thất và giải quyết bồi thường:

III.6.1: Phương pháp xác định thiệt hại tổn thất về hành lý, hàng hoá:

Trách nhiệm bồi thường của người vận chuyển dựa trên nguyên tắc xác định trách nhiệm dân sự trên cơ sở rủi ro và lỗi lầm Theo đó:

+ Trách nhiệm về “rủi ro” thì dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm

+ Trách nhiệm về “lỗi lầm” thì xét trên yếu tố lỗi là chính

Nguyên tắc xác định là phải xem xét tới các yếu tố, hành vi vi phạm, hậu quả, mối quan hệ nhân quả (hành vi là nguyên nhân trực tiếp đối với hậu quả) và lỗi lầm chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ người vi phạm

- Đối với hành lý, hàng hoá người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hành lý, hàng hoá, chậm trễ hành lý ký gửi trong quá trình vận chuyển bằng tàu bay Và trong quá trình vận chuyển hành lý, hàng hoá ký gửi bằng tau bay thì được tính từ thời điểm sau:

Trang 40

+ Người gửi hàng giao hàng hoá, hành lý cho người vận chuyển tới địa điểm người vận chuyển trả hành lý, hàng hoá cho người có quyền nhận (người có tên trong vận đơn hàng không hoặc trong vé)

Riêng đối với trường hợp hàng hoá, hành lý thì người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi thường, nếu người vận chuyển có lỗi gây ra thiệt hại đó Vấn đề xác định lỗi (chủ quan) phải căn cứ vào các định ước trong hợp đồng vận chuyển và theo các qui định của pháp luật

Đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do vận chuyển châm trễ Người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường, nếu anh ta không chứng minh được rằng anh ta và đại lý của mình đã áp dụng nhiều biện pháp để phòng tránh thiệt haị hoặc không thể áp dụng biện pháp nào để khắc phục được Điều này nhằm nhấn mạnh đến yếu tố mẫn cảm của người vận chuyển, luôn luôn có trách nhiệm quan tâm đến hàng hoá, hành lý Nhưng trong thực tế việc giải quyết tranh chấp người ta thiên về xét yếu tố lỗi là chủ yếu

- Đối với hành lý hàng hoá bị mất: nếu sau 14 ngày (đối với hành lý, hàng hoá kể từ ngày lẽ ra hàng hoá, hành lý phải được vận chuyển tới địa điểm giao hàng mà hàng không đến thì được coi là hàng bị mất và người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường Trường hợp đặc biệt có thể giải quyết bồi thường sớm hơn(nếu khách yêu cầu)

- Mức bồi thường thiệt hại do việc vận chuyển chậm trễ không vượt quá mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển

- Mức bồi thường đối với việc mất mát hư hỏng hay thiếu hụt hành lý, hàng hoá người vận chuyển phải bồi thường

+ Theo mức giá trị hàng hoá, hành lý đã kê khai từ trước

+ Theo giá trị thực tế, nếu người vận chuyển chứng minh được rằng giá trị hàng đã kê khai cao hơn giá trị thực tế hoặc hàng hoá không kê khai giá trị hoặc đối với hành lý xách tay, tư trang cộng cả cước phí và phụ phí

Ngày đăng: 09/12/2013, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình “Vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương” – Trường Đại học Ngoạ i thương – NXB Giáo dục năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương
Nhà XB: NXB Giáo dục năm 1994
2. HKDD và luật HKDDVN – NXB Chính trị quốc gia – năm 1995 Khác
3. Bộ luật dân sự – NXB Chính trị quố c gia – năm 1995 Khác
4. Luật kinh doanh bả o hiểm – NXB Chính trị quốc gia – năm 2001 Khác
5. Các văn bản pháp luậ t về bảo hiểm – NXB Chính trị quốc gia – tháng 5 năm 1996 Khác
6. Quy định 323/HKVN ngày 10/03/1997 quy định giải quyết khiếu nạ i và bồ i thường đối với hành khách, hành lý, hàng hoá và bư u kiện của TCTHKVN Khác
7. Hướng dẫn công tác BHHK nă m 2001 Khác
8. The Air Cargo Tariff Rules (TACT Rules) April 1999 issue 48 – IATA Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Phí bảo hiểm: - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” ppt
Bảng 4 Phí bảo hiểm: (Trang 72)
Bảng 5: Tổng hợp phí bồi thường trách nhiệm dân sự dưới mức miễn - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” ppt
Bảng 5 Tổng hợp phí bồi thường trách nhiệm dân sự dưới mức miễn (Trang 76)
Bảng dưới đây xin chỉ được đề cập tới thiệt hại và bồi thường của hành - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” ppt
Bảng d ưới đây xin chỉ được đề cập tới thiệt hại và bồi thường của hành (Trang 81)
Bảng 8: Thị phần các công ty bảo hiểm gốc tại Việt Nam năm 2001 (chỉ xét - Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” ppt
Bảng 8 Thị phần các công ty bảo hiểm gốc tại Việt Nam năm 2001 (chỉ xét (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w