Hương ước là văn bản quy phạm xã hội quy định các quy tắc ứng xử chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm gìn giữ và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của các địa phương (làng xã). Bài viết này đề cập giá trị của các bản hương ước ở Thái Bình trong việc giáo dục ý thức, hình thành nhân cách cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay.
Trang 1GIÁ TRỊ CỦA CÁC BẢN HƯƠNG ƯỚC Ở CÁC LÀNG, XÃ THÁI BÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC, HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trịnh Thị Hường, Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài: 20/08/2018; ngày sửa chữa: 25/08/2018; ngày duyệt đăng: 28/08/2018
Abstrast: The village convention is a social normative document with general codes of conduct
agreed by the people which adjust the self-governing social relationships to preserving and
promoting the good traditions and customs of the community (village) Hence, the village
conventions are valuable documents to educate moral sense and good traditions for the people in
general and high school students in particular This article discusses the values of the village
conventions in Thai Binh in awaness education and personality form for high school students in
the current context
Keywords: convention value, personality education, student, Thai Binh Province
1 Mở đầu
“Hương ước” - hay còn gọi là “tục lệ”, “lệ làng” là
một bản quy ước thành văn có giá trị về mặt văn hóa,
truyền thống, gắn liền với lịch sử, trải qua bao biến cố,
thăng trầm cùng thời gian, hương ước đến nay vẫn còn
được lưu giữ và đóng vai trò rất quan trọng trong việc
bảo tồn, giữ gìn nền văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt
Nam Các bản hương ước của cộng đồng làng xã ở Việt
Nam chứa đựng những phong tục, tập quán, quy tắc ứng
xử trong việc thờ cúng Thành Hoàng làng, người có công
lao to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ quê hương đất
nước, cũng như việc thờ cúng tổ tiên, quan hệ gia đình,
quan hệ làng xóm, ma chay, cưới hỏi, quan hệ lao động,
phân xử tranh chấp trong làng, xã và một phần quan
trọng liên quan đến phân chia, quản lí đất đai, đặc biệt là
đất đai hương hỏa Những nội dung quy định trong
hương ước được xây dựng vào đầu thế kỉ XX nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội căn bản phát sinh trong đời sống
nông thôn Việt Nam truyền thống Do vậy, các bản
hương ước trong cộng đồng làng, xã Việt Nam nói
chung, ở tỉnh Thái Bình nói riêng được coi như “thước
đo chuẩn mực” giúp mỗi cá nhân tự “soi” lại những hành
vi ứng xử, việc làm của mình với người thân, với cộng
đồng làng xã, với toàn xã hội Hương ước có tác dụng to
lớn trong việc giáo dục tư cách đạo đức cho mỗi cá nhân,
giáo dục cộng đồng, sống và làm việc theo hiến pháp,
pháp luật, giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê
hương đất nước Dưới thời kì thống trị của thực dân pháp,
các bản Hương ước là một trong những nhân tố “đề
kháng” của làng, xã chống lại chính sách đồng hóa của
chủ nghĩa thực dân, mặc dù đất nước bị xâm lược, nước
mất nhưng làng xã không mất, những phong tục, tập
quán, những giá trị văn hóa truyền thống vẫn được gìn
giữ và bảo tồn
Vào những năm cuối của thế kỉ XX, đặc biệt trong gần hai thập niên đầu thế kỉ XXI, quá trình phát triển
KT-XH Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, diện mạo của đất nước nói chung, các vùng nông thôn, miền núi nói riêng có nhiều khởi sắc, đời sống kinh tế vật chất cũng như nhu cầu văn hóa của người dân không ngừng được nâng lên Trong quá trình phát triển với xu thế “đô thị hóa” diễn ra hết sức nhanh chóng, sự dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố ngày càng nhiều đã dẫn đến một thực trạng ở nông thôn chủ yếu là người già và trẻ nhỏ, nên phạm vi tác động của hương ước mới đến cộng đồng bị thu hẹp lại, mặt khác, nhiều phong tục, tập quán bị thay đổi, mai một, hoặc thất truyền
Trước tình hình đó, yêu cầu thực tế đặt ra là cần tăng cường hơn nữa việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, cũng như điều chỉnh, bổ sung một số nội dung trong các bản hương ước, quy ước trong cộng đồng Ngày 19/6/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, trong
đó chỉ thị nhấn mạnh: “Trong những năm gần đây, cùng với việc không ngừng đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho yêu cầu quản lí nhà nước, quản lí
xã hội bằng pháp luật, các hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư đã góp phần hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật của Nhà nước, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính tự quản tại cộng đồng dân cư ở cơ sở Hiện nay, thực hiện chủ trương mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là ở cơ sở, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang xây dựng và hoàn thiện hương ước, quy ước làng văn hóa trên cơ sở kế thừa những mặt tích cực của hương ước cũ, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành Tại nhiều địa phương, hương ước, quy ước
Trang 2mới không những góp phần phát huy thuần phong mĩ tục,
đề cao các chuẩn mực đạo lí và đạo đức truyền thống của
dân tộc mà còn là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các cuộc
vận động duy trì an ninh trật tự, vệ sinh, môi trường,
phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất,
khuyến khích học hành, giải quyết các tranh chấp, vi
phạm nhỏ trong nhân dân, xóa đói, giảm nghèo ”
Do đó, việc tìm hiểu, tuyên truyền, phổ biến nội dung
các bản hương ước, góp phần giáo dục những nét đẹp văn
hóa truyền thống, hình thành nhân cách Việt Nam cho
cộng đồng dân cư nói chung, cho các thế hệ HS nói riêng
là một việc làm có ý nghĩa thiết thực Tuy nhiên, do hạn
chế về thời lượng, bài viết chỉ tập trung đề cập giá trị
trong một số lĩnh vực của các bản hương ước ở Thái Bình
vào đầu thế kỉ XX trong việc giáo dục ý thức, hình thành
nhân cách, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước cho
HS trên địa bàn Thái Bình trong bối cảnh hiện nay
2 Nội dung
2.1 Sơ lược về hương ước ở Thái bình đầu thế kỉ XX
Theo sách “Hương ước Thái Bình” của tác giả Nguyễn
Thanh biên soạn do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành
vào năm 2000 (tái bản năm 2016), cho biết năm 1992, Sở
Văn hóa Thông tin - Thể thao Thái Bình đã tiến hành sưu
tầm, sao chụp lại những bản hương ước cải lương (hương
ước có điều chỉnh, bổ sung với các bản hương ước cũ) của
các làng xã ở Thái Bình đã soạn thảo từ năm 1922 đến
1944 hiện còn lưu trữ bản gốc tại kho hương ước của Viện
Thông tin Khoa học xã hội (KHXH) thuộc Trung tâm
KHXH và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm
KHXH Việt Nam) cho thấy: trước Cách mạng tháng Tám
1945, Thái Bình có 810 làng (con số này có lúc dãn ra là
820 làng, có lúc co lại là 802 làng) với số làng xã có hương
ước là 451 làng, xã Trong đó: hương ước của xã là 218
bản; hương ước của làng là 187 bản; hương ước của thôn
là 45 bản; hương ước của phố huyện là 01 bản Trong các
bản hương ước này, chỉ có duy nhất bản hương ước của xã
Đại Hữu, tổng Tân Định, huyện Tiền Hải (nay là xã Tây
Ninh, huyện Tiền Hải) được in typo vào năm 1924, các
bản còn lại đều viết tay và có đầy đủ chữ kí của các kì hào,
lí dịch, hội đồng tộc biểu và chữ kí, con dấu của lí trưởng,
tổng, huyện, phủ, tỉnh, có bản ghi bằng chữ Quốc ngữ, có
bản ghi bằng chữ Hán
Mỗi làng, xã lại có những điều kiện, đặc điểm khác
nhau, do đó, các bản hương ước cũng có sự khác nhau,
“mỗi làng mỗi vẻ” cả về nội dung, bố cục, hình thức trình
bày Song nội dung cơ bản mà các bản hương ước đều đề
cập đó là những quy định về trách nhiệm của người dân
đối với nhà nước bảo hộ, với làng xã (nghĩa vụ nộp thuế);
quy định việc sử dụng đất đai, khuyến nông, phát triển
sản xuất, đặc biệt là phát triển sản xuất nông nghiệp; quy
định về việc giữ gìn trật tự an ninh xóm làng; động viên,
khuyến khích con em nhân dân tích cực học tập để mở mang văn minh cho làng xã; quy định về trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ tài sản công, nhất là những
di sản văn hóa truyền thống như: đình, chùa, đền, miếu, những danh lam thắng cảnh, việc bảo vệ môi trường; quy định việc thực hiện thuần phong mĩ tục, phong tục, tập quán như: các nghi thức hiếu, hỉ, tổ chức hội hè, tế lễ, thờ cúng, thực hiện các mối quan hệ với người thân trong gia đình, với cộng đồng làng xóm…
Như vậy về cơ bản, các bản hương ước ở Thái Bình thời kì này vẫn bảo tồn được những mặt tích cực phù hợp với nét đặc trưng của văn hóa truyền thống, đó là: gìn giữ phát huy những thuần phong mĩ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lí và đạo đức truyền thống của dân tộc, bảo vệ các di tích lịch sử, di sản văn hóa, duy trì an ninh, trật tự, vệ sinh, môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất, khuyến khích học hành, giải quyết mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng làng xóm… Đây chính là những giá trị rất cơ bản của hương ước cần được tuyên truyền và phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp dân cư, đặc biệt là các thế hệ HS góp phần vào việc giáo dục ý thức tự tôn dân tộc, hình thành nhân cách Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
2.2 Giá trị của các bản hương ước ở Thái Bình trong việc giáo dục ý thức, hình thành nhân cách cho học sinh trong bối cảnh hiện nay
2.2.1 Giáo dục học sinh ý thức sống, làm việc theo hiến pháp, pháp luật
Hương ước, quy ước là một loại văn bản quy phạm, chứa đựng những nguyên tắc bắt buộc hoặc cho phép cá nhân, tổ chức được làm hoặc không được làm một việc gì
đó trong cuộc sống hằng ngày tại địa phương, đó là các quy phạm xã hội do cộng đồng dân cư thỏa thuận đặt ra và cùng nhau thực hiện Do đó, cùng với hệ thống pháp luật hiện hành của nhà nước, các bản hương ước (trong đó có hương ước xưa và hương ước mới hiện nay được tái lập)
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục ý thức người dân nói chung, các thế hệ HS nói riêng sống, làm việc theo hiến pháp, pháp luật Trên thực tế, hương ước, quy ước được xây dựng chủ yếu để điều chỉnh các quan
hệ tự quản tại cộng đồng dân cư, những quan hệ trong lĩnh vực xã hội - dân sự mà pháp luật không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh ở mức độ quy định các nguyên tắc chung như: việc tổ chức ma chay, cưới xin, bảo vệ trật tự trị an, phát triển sản xuất, khuyến khích học hành, giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống, giải quyết các tranh chấp hoặc những vi phạm nhỏ trong nhân dân Như vậy, hương ước là một công cụ quan trọng góp phần quản lí xã hội trong phạm vi làng, xã Việt Nam từ nhiều thế kỉ qua, trong chế độ phong kiến, hương ước tồn tại song song với pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam, góp phần giữ gìn bản sắc và phong tục tập
Trang 3quán của dân tộc Khi nói đến hương ước, quy ước là đề
cập đến một thành tố quan trọng trong thể chế quản lí
nông thôn, đề cao tính tự quản, tự trị của làng, xã, là một
nét văn hóa quản lí truyền thống có tính phổ biến
Trong lời nói đầu của Hương ước làng Hiệp Trung -
tổng Cát Đàm - phủ Thái Ninh (nay là huyện Thái Thụy
- Thái Bình) được soạn thảo vào năm 1937 ghi: “có nước
phải có làng, làng nhiều mới thành nước, nước có luật lệ,
thời chính trị mới hay, làng có khoán ước thì phong tục
mới tốt, đất lề, quê thói lệnh vua phép làng nhẽ thường
bao giờ cũng vậy… Nay thừa thượng lệnh sức làm hương
ước là mong dân ta đổi tục lệ xưa, theo thời thế mới giữ
vững được con đường phong hóa, gieo ra hạt giống văn
minh… chọn những điều hay, trừ những thói dở, châm
chước cho hợp thời làm thành hương ước…” [2; tr 57]
Trong các hương ước cũng quy định rõ ràng hình thức
xử phạt đối với những người mắc lỗi, điều 41 của hương
ước xã Duyên Mĩ, tổng Thượng Hộ, huyện Duyên Hà
(nay là Hưng Hà - Thái bình) có ghi: “đàn bà, trẻ con
phạm lỗi gì xét ra người phạm lỗi ấy còn ở với cha thì
cha phải chịu, mà còn ở với chồng thì chồng phải chịu,
nếu không có cha, chồng thì chú bác phải chịu” [2; tr 61]
Như vậy, quy phạm trong hương ước là quy phạm xã
hội do nhân dân xây dựng nên và nhân dân tự nguyện
thực hiện dựa trên những phong tục, tập quán của địa
phương và hệ thống pháp luật của nhà nước Do đó,
những nội dung trong các bản hương ước được tuyên
truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp dân cư, các thế hệ HS là
nhân tố rất thuận lợi để đưa pháp luật vào cuộc sống
người dân ở cơ sở
2.2.2 Giáo dục tinh thần hiếu học, ý thức vượt khó để
vươn lên trong học tập
Đây là nét đẹp truyền thống ở các làng xã cổ truyền
Thái Bình nói riêng và Bắc Kỳ nói chung và luôn giữ một
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc rèn luyện nhân
cách, duy trì bản sắc tốt đẹp của dân tộc Điều này được
thể hiện khá đậm nét trong quy ước của các bản hương
ước làng, xã ở Thái Bình, hình thức khuyến học phổ biến
ở các làng, xã là dành ruộng học điền để chăm lo sự học
hành cho con em nhân dân Nhiều làng, xã còn có hình
thức trợ cấp giấy bút cho con em nhà nghèo theo học, xếp
ngôi thứ cho những người đỗ đạt, khen thưởng đối với
những người có công nuôi dưỡng…, hương ước cũng
quy định việc xây dựng trường học, mời thầy về dạy, bố
mẹ là những người có trách nhiệm phải khuyên bảo cho
con em đi học, đến trường Ở một số làng còn đặt ra lệ
khuyến học là hoãn việc đi lính cho những ai đang bận
việc học tập, những làng, xã đặt ruộng “học điền” dành
ra từ bốn, năm sào đến một mẫu lấy hoa lợi mời thầy giáo
dạy chữ hoặc tặng mỗi người đi học một sào ruộng để lấy
hoa lợi ăn học, một số ít làng xã còn cấp tiền ăn học mỗi
tháng từ một đến ba quan làm phí giấy bút cho người đi học ở xã Những làng có truyền thống khoa bảng thường hay tổ chức khảo hạch sĩ tử trước kì thi hương… qua đó,
họ được ôn luyện thử sức trước mùa thi
Hương ước làng Đại Hữu (nay thuộc xã Tây Ninh huyện Tiền Hải) có ghi: “nghĩa vụ của cha mẹ phải cho con cái đi học, ai có con từ 8 tuổi trở lên phải cho con đi học… người nào nghèo túng quá mà hiếu học làng sẽ cấp giấy bút cho Ai có con đến tuổi ấy không cho con đi học phải phạt một đồng trừ ra… trong làng ai chuyên cần việc học tập thì được miễn tạp dịch Ai xuất dương du học được miễn trừ tạp dịch và xuất sưu người ấy làng sẽ trích công quỹ nộp cho, còn gia quyến người ấy ở nhà có sự
gì làng phải hết lòng bênh vực” [2; tr 70]
Hương ước làng Tô Xuyên, huyện Phụ Dực (nay là huyện Quỳnh Phụ) quy định: “trong thôn hương lí cần phải khuyên bảo cho dân làng nhà ai có con phải cho đi học, vì trong làng có nhiều người học thì mới có văn minh tiến hóa được… nhà ai có con từ 8 tuổi phải cho con ra trường công học tập… cấm không được cho trẻ
em lêu lổng” [2; tr 87] Hương ước làng Long Mĩ, tổng Thượng Tầm, phủ Thái Ninh (nay là huyện Thái Thụy) nhấn mạnh: “việc học là việc rất cần thiết cho con người
ta, vì có học thì trí khôn mới mở mang, kiến thức mới rộng rãi và mới biết được luân thường đạo lí đối đãi với
xã hội và gia đình Nước mà văn minh, thịnh vượng cũng
do ở nền giáo dục phổ thông” [2; tr 87]
Do đó, quan niệm “nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” được thể hiện rõ nét trong các bản hương ước nếu được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi sẽ có tác dụng rất thiết thực trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở các làng quê Thái Bình nói riêng, các làng quê Việt Nam nói chung trong việc nỗ lực vượt khó để vươn lên trong học tập
2.2.3 Giáo dục ý thức bảo vệ các di sản văn hóa, giữ gìn
và phát huy thuần phong, mĩ tục, thực hiện nếp sống văn minh trong cộng đồng
Hương ước, quy ước được coi như một công cụ hỗ trợ cho pháp luật để duy trì, phát triển thuần phong mĩ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lí và đạo đức truyền thống trong sinh hoạt cộng đồng làng, xã, như: cách ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, phát triển các hoạt động văn hóa lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng, nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, bảo vệ môi trường sống, sông,
hồ, danh lam thắng cảnh, đền chùa, đình, miếu, các nguồn nước, đê điều, phát triển đường làng, ngõ xóm,
trồng cây xanh… cũng như các biện pháp bài trừ các hủ
tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội, thờ phụng ở địa phương; khuyến khích những nghi lễ lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn kém; phòng chống các tệ nạn xã hội như cờ bạc,
Trang 4rượu, chè, trộm cắp, các hành vi vi phạm pháp luật khác
nhằm xây dựng địa bàn trong sạch
Đề cập việc bảo vệ đường làng, ngõ xóm, Hương ước
làng Nội Trang, tổng Hà Lý, huyện Duyên Hà (nay là
huyện Hưng Hà) quy định: “đường công cấm ai được buộc
trâu, bò và trồng cây trong vườn để thò lò cành lá ra ngoài
đường, cấm dịch dậu lấn đường, ruộng ở chân đường
không được vạc xuống làm hỏng đường” Để bảo vệ lợi
ích của cộng đồng dân cư, tăng cường tình đoàn kết tình
làng nghĩa xóm và giảm gánh nặng cho dân nghèo, Điều
36, Chương 2, hương ước làng Hiệp Trung, tổng Cát Đàm,
phủ Thái Ninh (nay là huyện Thái Thụy) ghi rõ: “ngày hội
bổ sưu thuế, cấm không được bày ra ăn uống gì, tính bổ
cho dân làng phải chịu nặng thêm”; hay quy định về việc
tang lễ, Điều 133 ghi: “Việc tang hiếu là cốt ở sự buồn rầu,
thương xót, nếu chỉ chăm ở sự sửa soạn chè chén khoản
đãi tân khách để trả nợ miệng lẫn nhau thì thật là trái lễ
Nay định những nhà có việc tang hiếu không được giết
trâu bò lợn bày ra ăn uống trước, nếu có người thân tình ở
xa đến phúng chỉ được dùng cơm thường khoản đãi” [2; tr
60] Mặc dù được soạn thảo trong những năm đầu thế kỉ
XX khi nước ta còn đang trong chế độ cai trị của thực dân
Pháp, nhưng nhìn chung nội dung các bản hương ước vẫn
đảm bảo được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá
rách” thể hiện tinh thần đoàn kết, đùm bọc chia sẻ cùng
nhau trong cộng đồng làng xã
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách
mạnh mẽ và quyết liệt, với quá trình hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa
giữa các quốc gia, dân tộc diễn ra ngày càng mạnh mẽ
với sự đan xen của nhiều luồng văn hóa khác nhau, việc
giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống càng
được đặt ra một cách cấp bách Do đó, mỗi quốc gia, dân
tộc cần phải có những giải pháp hữu hiệu để vừa tiếp thu
những giá trị văn minh của nhân loại, đồng thời vừa bảo
vệ những đặc trưng văn hóa truyền thống Trong bối cảnh
đó, hương ước làng xã là một công cụ quan trọng để lưu
giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đa dạng
tại các vùng miền, nó như một “tấm lá chắn” thanh lọc
những yếu tố ngoại lai không phù hợp
3 Kết luận
Những năm gần đây, trong quá trình đổi mới, cơ cấu
KT-XH cũng như cảnh quan ở khu vực nông thôn đã có
nhiều chuyển biến tích cực, đời sống vật chất của người
dân không ngừng được nâng lên, hình thức sinh hoạt văn
hóa cũng có những thay đổi để phù hợp với cuộc sống,
cơ chế xã hội mới Đặc biệt, khi Đảng và nhà nước ta có
chủ trương đẩy mạnh công cuộc chấn hưng nền văn hóa
dân tộc, mỗi làng xã, mỗi dòng tộc càng ý thức rõ hơn
tâm lí “tìm về cội nguồn”, các giá trị văn hóa truyền
thống trước đây bị mai một có điều kiện để khôi phục và phát triển, các hoạt động lễ hội, tu sửa đình, chùa, đền, miếu, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ, giúp đỡ người già không nơi nương tựa, gia đình nghèo neo đơn, trẻ em vùng sâu vùng xa, đã trở thành một nét đẹp của văn hóa truyền thống, được đông đảo mọi tầng lớp dân cư, nhất là thế hệ trẻ học sinh, sinh viên tham gia tích cực
Để làm tốt những việc làm có ý nghĩa nêu trên, việc tăng cường tìm hiểu, tuyên truyền, phổ biến nội dung các bản hương ước giúp thế hệ trẻ có thêm những hiểu biết về dòng tộc, về cội nguồn, bồi dưỡng cho các em lòng tự hào
về truyền thống quê hương đất nước, qua đó hình thành nhân cách Việt Nam cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện nay
là một việc làm cần thiết Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, các nhà trường, các thầy cô giáo (đặc biệt là giáo viên
bộ môn Lịch sử), các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội địa phương cần nghiên cứu kĩ nội dung, đối tượng, để có các giải pháp phổ biến, tuyên truyền giá trị của các bản hương ước đến mọi tầng lớp dân cư, nhất là với thế hệ trẻ một cách phù hợp để đạt hiệu quả giáo dục cao nhất
Tài liệu tham khảo
[1] Thủ tướng Chính phủ (1998) Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 về việc xây dựng
và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
[2] Nguyễn Thanh (2000) Hương ước Thái Bình NXB
Văn hóa dân tộc
[3] Thủ tướng Chính phủ (2018) Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg ngày 8/5/2018 về việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước
[4] Bộ Tư pháp - Bộ Văn hóa Thông tin - Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(2000) Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000
[5] Vũ Duy Mền (2010) Hương ước cổ làng xã Đồng bằng Bắc Bộ NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật [6] Đinh Khắc Thuân (chủ biên, 2006) Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam NXB Khoa học xã hội
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn (2007) Đại Nam thực lục (tập 8), bản dịch NXB Giáo dục
[8] Hương ước xã Hưng Quan, tổng Cát Đàm, phủ Thái
Ninh, tỉnh Thái Bình Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Kí hiệu HU 3091
[9] Hương ước thôn Đàm, xã Tô Xuyên, tổng Tô
Xuyên, huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Kí hiệu HU 3054
[10] Hương ước xã Đại Hữu, tổng Tân Định, huyện Tiền
Hải, tỉnh Thái Bình Kí hiệu: HU 3204, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội