1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn - Tương Lai

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 350,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làm thế nào để công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, làm thế nào để gắn kết mục tiêu kinh tế mục tiêu xã hội,... Nhằm giúp các bạn giải đáp những thắc mắc trên, mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài viết Một số vấn đề xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn dưới đây.

Trang 1

mĩt sỉ vÍn ®Ò x· hĩi TRong sù nghiÖp c«ng nghiÖp hêa

vµ hiÖn ®¹i hêa n«ng nghiÖp vµ n«ng th«n

T−¬NG LAI

Từ xã hội nông nghiệp bước sang xã hội công nghiệp, đó là một bước chuyển vĩ đại trong

lịch sử loài người Bằng việc đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhằm mục tiêu “cải biến nước ta thành một nước công nghiệp”, chúng ta đang đối diện với một thách đố mới của lịch sử

Làm sao để từ một nước mà 80% dân số sống ở nông thôn, 73% lao động của cả nước là lao động nông nghiệp còn ở trình độ lạc hậu, trong một thời gian không thể kéo dài quá lâu, chuyển thành

nước công nghiệp Để trả lời cho câu hỏi lớn ấy, vấn đề đầu tiên cần phải làm sáng tỏ là làm thế

nào để công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Vấn đề đầu tiên này

không sáng tỏ thì mọi vấn đề khác chưa đủ căn cứ thuyết phục

Trong câu hỏi làm thế nào để công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,

trước hết phải chỉ rõ: làm thế nào để gắn kết mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội? Nói cách

khác mục tiêu tăng trưởng kinh tế phải gắn liền mật thiết với mục tiêu tiến bộ xã hội như thế nào, không những thế, sự phát triển mà chúng ta mong muốn phải là sự phát triển bền vững, trong đó,

mục tiêu xã hội phải được xếp loại hàng đầu trong phát triển kinh tế: đó là xóa đói giảm nghèo,

thỏa mãn nhu cầu cơ bản của các tầng lớp dân cư, công bằng và dân chủ trong xã hội, đoàn kết trong cộng đồng và nâng cao phẩm giá con người

“Các vấn đề xã hội” trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông

thôn mà chúng tôi bàn dưới đây được xác lập trên quan điểm đó

I CHỦ THỂ CỦA SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

Ai, nếu không phải là chính người nông dân, đang sống ở nông thôn

Ấy thế mà hình như cũng không hoàn toàn như vậy, nếu xem xét đến điều kiện của những người phải đảm trách sứ mệnh lớn lao đó Đúng là không ai khác ngoài chính những người nông dân đang một nắng hai sương, bán lưng cho trời, bán mặt cho đất để làm ra

những hạt gạo “dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” tự ngàn xưa Nhưng liệu với những

“lão nông tri điền” cày sâu cuốc bẫm trên những mảnh ruộng cứ biû băm vụn ra sau mỗi đợt

bình chia lại theo nhân khẩu ấy có thể làm nên sự nghiệp công nghiệp hóa nông thôn, nông nghiệp được không?

Xin dẫn ra vài con số, mà mới thoạt nghe, chẳng dính gì đến các “vấn đề xã hội” cả, song chính “các vấn đề xã hội“ nảy sinh từ đó:

Trang 2

1 Về tỷ lệ đất - người:

Bình quân 1 hộ nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng có 8 mảnh ruộng khác nhau, từ 200m2 đến 500m2! Trong cả nước: bình quân đất canh tác trên một hộ là 4.143m2 và một khẩu chỉ còn 869m2 Tính đến năm 1995, trong cả nước có 113.700 hộ (chiếm 11% trong tổng số) là có được diện tích từ 5 ha trở lên, tập trung phần lớn ở đồng bằng sông Cửu Long (66,8%) Trong số này, có 20.400 hộ trên 5 ha và 1900 hộ trên 10 ha

Thế nhưng, con số này không đứng yên mà tiếp tục giảm vì số dân tăng lên (vào năm 2000 dân số nông thôn ước khoảng 63 đến 67 triệu người và số lao động nông nghiệp hoặc ở nông thôn từ 30,5 triệu hiện nay tăng lên khoảng 36 đến 37 triệu) Cùng với tăng số dân trên diện tích đất không tăng (vì tuy có khai hoang, phục hóa một số diện tích song bù vào đó là đất nông nghiệp chuyển sang phục vụ cho công nghiệp hóa, đô thị hóa) mà lại giảm xuống

Xin đưa ra một số liệu về giảm đất nông nghiệp trong 15 năm qua: 1981-1995: bình quân trên 1 hộ nông nghiệp giảm 41% và trên một nhân khẩu nông nghiệp giảm 44,2 %

2 Về trình độ kỹ thuật:

Nếu xét về cơ cấu tổng động lực tác động trong sản xuất nông nghiệp thì ước tính hiện nay sức người chiếm 35%, sức súc vật 45%, sức máy móc chỉ chiếm 20% Không thay đổi tỷ lệ này thì làm sao có được sự nghiệp công nghiệp hóa nông thôn, nông nghiệp?

3 Về vốn

Theo tác giả của cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” thì năm 1995, tỷ lệ để dành gộp so với GDP khu vực nông thôn đạt được 10,6% hay khoảng 9.500 tỷ đồng theo giá so sánh năm 1990 Số vốn này chủ yếu để dành cho việc xây “nhà ngói, sân gạch”, tức là xây mới hoặc cải tạo nhà ở, phần đầu tư cho việc mở rộng sản xuất là không

đáng kể Cũng có nghĩa là , nếu không định hướng lại dòng chảy cho các nguồn lực trong các hộ nông dân - những hộ có khả năng tích lũy - thì vẫn chưa tạo ra được những chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn

4 Về thu nhập và đóng góp

Cùng với những thành tựu chung của Đổi Mới, diện mạo nông thôn, sản xuất nông nghiệp, và cuộc sống của nông dân nói chung là có tiến bộ rõ rệt Rõ nhất là sau khoán 10, sự chuyển biến đó quả là kỳ tích, từ thiếu gạo đến xuất khẩu gạo Thế nhưng, trong vài năm trở lại đây, lại có

hiện tượng đáng chú ý: “càng được mùa, nông dân càng lo” vì giá lúa hạ, trong khi đó, mọi chi phí

cho sản xuất lúa đều tăng!

Theo “Thời báo kinh tế” (16/7/1997) bán 5kg thóc mới mua nổi một bao thuốc lá Vinataba!

Và sau đây là một vài con số được tính toán trong một cuộc khảo sát nhanh một xã của một tỉnh trồng lúa điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ, ở một hộ gia đình với 5 nhân khẩu và 7,5 sào ruộng:

Thu nhập được:

7,5 sào x 4 tạ = 3 tấn quy ra tiền = 3.600.000đ

2 tạ lợn x 10.000đ/kg = 2.000.000đ

thu từ các nguồn khác như chăn vịt,

làm thuê, chạy chợ, v.v = 2.000.000đ

-

Tổng cộng = 7.600.000đ

Trang 3

Chi phí cho sản xuất

7,5 sào x 1 tạ thóc = 7,5 tạ, quy ra tiền = 1.000.000đ

2 tạ lợn x 5000đ/kg = 1.000.000đ

-

Tổng cộng = 2.000.000đ

Các khoản phải đóng góp

- Vụ đông 7,1tạ quy ra tiền = 850.000đ

- Vụ mùa 5,7 tạ quy ra tiền = 680.000đ

-

Tổng cộng = 1.530.000đ

Như vậy, trong một năm, vừa chi phí cho sản xuất, vừa đóng góp cho nhà nước và xã hội (đều do xã thu) là 3.530.000đ Thu nhập thực tế của hộ nông dân này là: 4.100.000đ chia cho 5

nhân khẩu - bình quân thu nhập của 1 người trong 1 năm là 820.000đ

Với nguồn thu nhập trung bình như vậy liệu họ có đủ tiền cho con cái ăn học, chữa bệnh, nâng cao trình độ hiểu biết và đầu tư cho việc đào tạo tay nghề để thích ứng với việc bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được không?

Cần lưu ý rằng, tỉnh này vốn là tỉnh trồng lúa điển hình đãì dẫn đầu phong trào 5 tấn xưa kia Đến nay, với102.350 ha đất nông nghiệp đã được thâm canh tới mức tối đa và năng suất hình như đã đến ngưỡng rồi:10-15 tấn/ha/năm, tức là khoảng từ 2 cho đến 2,5 tạ/sào/vụ Được mùa nên giá lúa đã rơi mạnh: giá trung bình ở chợ là 1.200đ/kg thóc Ấy vậy mà sau vụ Đông Xuân năm nay (1997) Tỉnh còn hàng chục vạn tấn thóc chưa có thị trường tiêu thụ

Đấy là vài số liệu về một tỉnh đồng bằng sông Hồng Còn ở đồng bằng sông Cửu Long thì sao? Theo các kết quả điều tra của Đại học Cần Thơ, ở đồng bằng Sông Cửu Long còn 21,64% khẩu sống ở mức nghèo đói, 33,56% ở mức nghèo, 18,06% ở mức trung bình, 20,64% ở mức khá và chỉ 6,1% ở mức giàu! Còn theo Ngân hàng Thế giới thì mức nghèo đói có đến 24,06% Xem xét kỹ hơn trong số hộ nghèo đói thì số hộ nghèo thiếu ăn 3 tháng/năm là 22%, 4-5 tháng/năm là 59%, 6-7 tháng/năm là 21% và trên 7 tháng/năm là 16% Ngay ở Cần Thơ, trung tâm của vựa lúa Nam Bộ, số hộ nghèo đói chiếm 15,2%, số hộ nghèo cần vay vốn để thoát khỏi cảnh đói nghèo chiếm 22,25% và số hộ đói giáp hạt cần phải trợ cấp là 1.836 hộ

Trong cơ cấu thu nhập của một hộ nông dân ở đây có thể có tỷ lệ như sau: thu từ nông lâm ngư: 40,7%, tiền công: 22,9%, thu từ phi nông nghiệp là 33,5% Có đến 66,1% số hộ nghèo hết sức khó khăn trong tìm kiếm việc làm, ấy vậy mà, trong cơ cấu thu nhập của họ thì chỉ có 3,6% là từ chăn nuôi và 3,5% từ ngành nghề khác

Nhìn rộng ra nông thôn trong cả nước, trong những năm 1991-1995 tốc độ phát triển bình quân của nông nghiệp là 4,3% năm, trong năm năm tới chắc không thể cao hơn Muốn có tốc độ tăng trưởng cao hơn với toàn bộ khu vực kinh tế nông thôn, tất yếu phải trông chờ vào các ngành phi nông nghiệp Âúy thế mà, hiện nay các ngành ấy mới chỉ chiếm 25% trong GDP của nông thôn Đấy là còn chưa nói đến khoảng cách khá xa của thu nhập và lối sống đô thị so với nông thôn, sự chênh lệch giữa vùng đồng bằng và vùng sâu, vùng xa, vùng núi giao thông khó khăn, giữa các vùng được đầu tư để tạo động lực với một mênh mông nông thôn đang còn chậm phát triển

Câu hỏi đặt ra ai là chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn xuất phát từ một thực trạng tiềm năng vốn con người và vốn đầu tư cho

Trang 4

việc công nghiệp hóa, hai nhân tố cực kỳ quyết định Trong “vốn con người”, thì ngoài những điều

đã nêu, cần lưu ý đến mặt bằng dân trí (trong đó học vấn là điểm cơ bản) đang còn rất thấp Chẳng hạn như, ở đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ nông dân nghèo mù chữ là 40,1%, nơi thấp nhất là ở Đồng Tháp 38% và nơi cao nhất là Sóc Trăng 44,14%, trình độ tiểu học quãng 52-55%, cấp 2 không quá 2% Còn tỷ lệ các chuyên ngành được đào tạo thì nông dân đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm có 11,05% so với cả nước, ở đồng bằng sông Hồng là 31,25% Nếu so sánh thì ở đồng bằng sông Hồng có khá hơn, song trình độ văn hóa nói chung vẫn còn rất thấp Điều đáng nói ở đây là những người có học vấn cao và có năng lực kinh doanh không chịu ngồi lại ở nông thôn mà đều đã

đi ra thành phố Gần đây, một thuật ngữ được sử dụng mà tôi nghĩ là một gợi ý tốt cho việc nhìn

nhận “các vấn đề xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”,

đó là “năng lực xã hội” được định nghĩa là “một sức mạnh nội sinh tổng hợp của toàn xã hội

có khả năng tổ chức các cơ chế tiên tiến để kinh tế phát triển”1

Sức mạnh nội sinh đó được tạo ra chủ yếu từ con người và từ cơ chế chính sách “Vấn đề xã hội” lớn nhất của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, trước hết

cần phải nói đến chính là làm cho những người đang là và sẽ là chủ thể của sự nghiệp đó đủ những điều kiện để thực thi sứ mạng vẻ vang đó

II CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TẠI ĐỊA BÀN CƠ SỞ NÔNG THÔN Phải chăng đang có những nghịch lý giữa huy động sức dân và lạm dụng sự đóng góp của dân?

Tích tụ và tập trung vốn để công nghiệp hóa, đó là một tất yếu Năng lực nội sinh được tạo

ra cũng chính là làm thế nào để tích tụ và tập trung vốn nhanh và nhiều song không làm kiệt

cạn sức dân, trước hết và chủ yếu là nông dân, mà phải đồng thời bồi bổ sức dân, cải thiện được

cuộc sống của dân Đáp số của bài toán hóc búa này nằm trong cơ chế, chính sách

Chúng ta đã có bài học lớn với sự chuyển biến tình hình nông thôn, nông nghiệp bằng nghị quyết 10 về khoán hộ Và chính vì có sự chuyển mạnh của nông thôn, nông nghiệp, tạo ra nguồn động lực từ nông dân mà có những thành tựu của đô thị, công nghiệp và các hoạt động khác Thành quả của Đổi Mới in rõ nét trên đời sống đô thị, song hình như nông thôn, sự thụ hưởng của thành quả ấy còn quá hạn chế

Ấy thế mà, giờ đây, để đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, không có nông dân vào cuộc một cách hăng hái, e rằng những mục tiêu lớn lao khó mà thực hiện được

Song nông dân vào cuộc như thế nào? Đóng góp sức người, sức của? Dĩ nhiên! Song đóng đến đâu, và sử dụng chúng như thế nào, đấy là cả vấn đề đại sự!

Trong một cuộc khảo sát nhanh những vấn đề xã hội của một tỉnh vốn là lá cờ đầu của rất nhiều phong trào xã hội rộng lớn và có tiếng vang mạnh mẽ, không những thế, còn là hình mẫu cho nhiều bài học và bài tập của việc xây dựng nông thôn mới, chúng tôi suy nghĩ nhiều về những vấn đề mà cách đây 7 năm (năm 1990) chúng tôi đã nêu lên.2 Một tỉnh nông nghiệp, cho dù đấy là một vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ mà năng suất đã từng là lá cờ đầu, nét độc canh lúa vẫn ưu trội, sự thay đổi cơ cấu kinh tế chưa được là bao mà tỷ lệ đất - người thì ngày một co lại, làm thế nào để công nghiệp hóa?

1 TRẦN VĂN THỌ: “Năng lực xã hội và phát triển kinh tế” Tuổi trẻ chủ nhật 13/7/1997, Tr.8

2 Xem “Những nghiên cứu xã hội học về cơ cấu xã hội và chính sách xã hội” của TƯƠNG LAI, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội - 1994

Trang 5

Phải nói là thành tựu của tỉnh đã đạt được là hết sức lớn Chỉ nói riêng về 4 chương trình: điện, đường, trường, trạm, thì những thành tích đã có thật đáng khâm phục

Năm 1991, tỉnh đề ra mục tiêu đến năm 1995 đảm bảo 65% các hộ trong tỉnh có điện dùng Thế mà, cuối 1992 đã có 70% số hộ có điện và năm 1996 thì 100% số hộ trong toàn tỉnh dùng điện Cùng với điện, toàn bộ đường giao thông trong tỉnh đã được xi măng hóa (quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và cả xã lộ), còn 2/3 trường học trong tỉnh là trường hai, ba tầng Các trạm y tế phủ khắp các vùng nông thôn

Như vậy là cả 4 chương trình cùng diễn ra đồng thời và đều theo phương châm “nhà

nước và nhân dân cùng làm” Nguồn vốn để chi cho các công trình này chủ yếu từ các nguồn trong

tỉnh mà cơ cấu thu nhập của tỉnh chủ yếu là từ nông nghiệp, điều này là tất nhiên (thường thường là trên 80%) Nhìn chung toàn tỉnh là vậy, hãy chỉ xem xét ở một xã để thử xem sẽ có những vấn đề xã hội gì đang đặt ra ở đây

Ngoài việc tham gia thực hiện 4 chương trình nói trên xã còn xây các công trình công cộng, mà đôi lúc quy mô và tính khang trang, hào nhoáng của nó khá lạc điệu so với cảnh quan của làng quê vốn chưa sung túc cho lắm Ví dụ trụ sở Ủy ban và Đảng ủy xã, các công trình văn hóa như tượng đài liệt sĩ, v.v Kinh phí cho các công trình trên được huy động từ 3 nguồn:

- Đóng góp của từng hộ gia đình nông dân

- Tiền bán đất ở những vùng ven trục lộ

- Vay của ngân hàng với hy vọng sẽ trả dần về sau (và có lẽ cũng sẽ là thu từ các hộ gia đình nông nghiệp) Nguồn vay này có khi chiếm 40% Có xã vay một, hai tỷ là chuyện bình thường

Hãy chỉ nói riêng chuyện đóng góp của người dân Tỉnh quy định đóng 7 khoản, đến huyện đã lên đến 14 khoản và về xã có khi đến trên dưới 35 khoản! Mà đã đến xã tức là thực thu, từ tiền mặt và chủ yếu là từ thóc

Cũng vì thế, sau khi có chỉ thị của Tỉnh về việc chấn chỉnh thu, quản lý và sử dụng các loại quỹ, các khoản thu của xã, phường, thị trấn, và hợp tác xã nông nghiệp, nhiều gia đình tổ chức ăn mừng Vì, trước đó, Vụ Đông Xuân 97, nếu theo quy định thì gia đình ông N phải đóng 7,1 tạ thóc cho

1 hộ 5 người, nhờ có chỉ thị nói trên, ông ta chỉ còn phải đóng có 2,2 tạ thóc mà thôi!

Đối chiếu với những con số về thu nhập của người nông dân trồng lúa và nuôi lợn (hoặc trâu bò, vịt gà) mới thấy rõ sức nặng của những khoản đóng góp nói trên Nếu so sánh với đồng bằng sông Cửu Long thì hình như nông dân ở đây phải chịu đựng sự đóng góp ít hơn Theo điều tra của tỉnh ủy Cần Thơ thì hiện nay ở Cần Thơ có trên 20 loại quỹ, phí và lệ phí của các cấp từ trung ương đến tỉnh, huyện nhằm vào người dân (trong đó 5 quỹ do trung ương ban hành mang tính bắt buộc, 8 quĩ do trung ương ban hành mang tính vận động)3

Vấn đề xã hội đặt ra ở đây là: sự huy động sức dân đến đâu là vừa, ai quyết định sự huy động ấy và bằng cơ chế nào để thực hiện sự huy động ấy và kiểm tra việc sử dụng có hiệu quả

nguồn vốn được huy động Thực chất của các vấn đề này là việc thực hiện dân chủ và công

bằng xã hội trong phát triển kinh tế

Thực ra thì, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội (trong đó vấn đề cốt lõi là dân chủ và công bằng xã hội) vốn là bài toán hóc búa chưa có lời giải thỏa đáng trong các mô hình phát triển hiện nay

3 Theo TẠP CHÍ CỘNG SẢN Số 2, tháng 10-97 Tr 55, cột 2

Trang 6

Không chú trọng đến các mục tiêu xã hội, mà vấn đề cơ bản là dân chủ và công bằng xã hội được hiểu thật đúng đắn, thì sẽ không có sự phát triển bền vững Tăng trưởng kinh tế đơn thuần, đến một lúc nào đó sẽ là phải đương đầu với những nghịch lý không sao vượt qua nổi

Ngược lại, hết sức coi trọng mục tiêu xã hội, dốc sức phát triển các chương trình xã hội để phục vụ cho cuộc sống vật chất và tinh thần của con người, chủ thể của sự tăng trưởng kinh tế, song nếu những công việc nói trên vượt quá khả năng của kinh tế đã đạt được thì trong trường hợp đó, chính những chương trình xã hội ấy sẽ tích tụ những lực cản, kéo lùi sự tăng trưởng kinh tế và dẫn đến sự mất ổn định xã hội

Hơn nữa, bản chất và ý nghĩa của các chương trình xã hội không thể chỉ dừng lại ở cái vỏ hào nhoáng bên ngoài của nó, mà là ở cái hiệu quả cụ thể đến được với cuộc sống vật chất và tinh thần của từng người dân

Chẳng hạn như, có cần phải xây dựng ngay nhiều trạm y tế như ở một tỉnh nọ đã làm khi mà trong ruột của nó những trang thiết bị y tế hầu như không có gì và tay nghề của người cán bộ y tế phục vụ trong đó lại quá thấp trong khi đã phát triển một mạng lưới giao thông tốt đến như

vậy? Phải chăng ở đây, giữa “trạm” và “đường” cần có một sự tính toán hợp lý để giảm bớt kinh phí xây dựng nhiều trạm chỉ có nhà và phòng, thay vào đó là chỉ một số “trạm” với đầy đủ chất

lượng phục vụ người bệnh mà việc đến được đó không mấy khó khăn vì đường sá đã khá thuận

tiện? Còn “trường”, xây kiên cố, nhiều tầng càng tốt Song cái còn cần hơn nữa là chất lượng giáo

viên Họ phải là người được đào tạo, có tri thức và tay nghề sư phạm và được trả lương đủ sống để

dốc sức vào việc dạy học chứ không phải là người nông dân, hoặc tiểu thương có”nghề phụ” là dạy học Nói là “nghề phụ” vì thu nhập từ nghề dạy học của người giáo viên là quá thấp so với những

công việc họ phải làm thêm để kiếm sống

Ấy vậy mà, dường như các chương trình xã hội chỉ mới hoàn tất ở bước đầu, ở cái phần dễ

thấy nhất, và nếu nhằm mục đích phô trương, để cùng được “bằng vai phải lứa” thì tạm đủ, song

để có hiệu quả thiết thực thì còn quá khó khăn vì đã kiệt sức Một câu hỏi đặt ra: những công trình

về kinh tế xã hội được làm nên bởi sự đóng góp quá sức của người dân, liệu có tạo ra động lực cho

phát triển không, hay sau những phấn khởi, tự hào bùng lên chốc lát, sẽ là sự hoài nghi và thắc mắc về những khoản đóng góp quá lớn so với thu nhập quá ít ỏi mà sự tham nhũng thì lại khá phổ biến? Một trụ sở xã quá uy nghi, bề thế, những tượng đài đua nhau về độ cao và sự rườm rà tốn kém liệu có khơi dậy được động lực của sản xuất và đẩy tới sự tăng trưởng kinh tế không? Càng đi vào công nghiệp hóa, thì nguồn vốn được tích lũy phải càng lớn hơn, nguồn vốn đó xét đến cùng, cũng là từ trong dân Sử dụng nguồn vốn đó như thế nào thật hiệu quả, tạo ra được sự đồng thuận xã hội, điều đó không dễ! Cùng với việc cân nhắc kỹ việc huy động sự đóng góp của dân qua nhiều

hình thức, việc công khai hóa thu và chi để có thể hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí, thất

thoát công quỹ (cũng là mồ hôi, nước mắt của người nông dân đang phải chắt chiu từng cân thóc)

đó là một vấn đề xã hội đang đặt ra bức xúc hiện nay Nói đến cùng thì việc công khai hóa thu và

chi này cũng là một biểu hiện thực thi dân chủ dễ hiểu nhất song không dễ thực hiện Bởi lẽ, để thực hiện điều này, đòi hỏi phải có những thể chế thích hợp được xây dựng từ dưới lên trên, đặc

biệt là từ cấp cơ sở Ai đó đã nói rất đúng rằng: “quyền lực có xu hướng tham nhũng và quyền

lực là tuyệt đối thì tham nhũng cũng là tuyệt đối” Vì thế, xử lý kỷ luật và cách chức những

cán bộ trong bộ máy quyền lực (Đảng, chính quyền, đoàn thể) đã bị phát hiện là tham nhũng là

điều cần thiết, song còn cần thiết hơn, cơ bản hơn là hình thành được một cơ chế quản lý kinh

tế và xã hội không cho phép tham nhũng hoặc kiểm soát có hiệu quả để hạn chế ở mức cao nhất

Trang 7

hiện tượng tham nhũng “Sự dồn nén lâu ngày đã bùng nổ vào giữa năm nay”4 ở một số địa

phương tỉnh Thái Bình được khơi ngòi từ “sự chống tham nhũng” song nếu chỉ hướng vào căn bệnh

tham nhũng để chữa trị thì chắc là chưa thể giải quyết được những dồn nén dẫn đến sự bùng nổ nói trên

Trong một cuốn sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1997, Giáo sư Đào

Thế Tuấn có đưa ra một ý tuởng mà chúng tôi nghĩ là rất đáng lưu ý: “Nông thôn nước ta hiện nay cần có một cấu trúc thể chế mới Nếu chưa được giải quyết ngay thì trong tương lai cấu trúc ấy cũng sẽ được hình thành để điều tiết sự hoạt động của xã hội, nhưng quá trình này đòi hỏi phải có thời gian và tốn nhiều chi phí để thay đổi Vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn và tốn ít chi phí hơn nếu chúng ta có những quan điểm đúng đắn để hướng dẫn quá trình thay đổi trong thực tiễn” 5

Những vấn đề về dân chủ và công bằng xã hội gắn liền với tăng trưởng kinh tế và phát triển nông thôn mà chúng tôi nêu ở trên có liên quan mật thiết đến vấn đề cải cách thể chế, trong

đó: Nhà nước, thị trường và tổ chức dân sự là ba bộ phận chính Không giải quyết một cách

đồng bộ cả 3 bộ phận ấy, chỉ nhằm thay đổi một cách chắp vá, không thể có sự ổn định xã hội để tăng trưởng kinh tế trong sự phát triển bền vững

Nhớ lại xã hội ta xưa, về thực chất, quyền lực của làng quê cổ truyền là sự kết hợp giữa tính tập trung của Nhà nước và tính tự trị của làng xã, trong đó, chế độ công điền là thể chế kinh tế gắn liền các mối quan hệ làng xã Trải qua những biến thiên của lịch sử, chế độ ruộng công bị xóa bỏ để thay thế bằng hộ kinh tế gia đình nông dân Tiếp đó, với việc tập thể hóa nông nghiệp, hộ kinh tế gia đình không còn là chủ thể kinh tế xã hội mà chỉ là biến số phụ thuộc vào hợp tác xã, rồi với chỉ thị 100 (1981) cho ra đời thể chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động để dẫn đến Nghị quyết 10 (1988) mở đầu cho sự Đổi Mới trên lĩnh vực nông thôn, nông nghiệp, hộ kinh tế gia đình được trả lại vị trí vốn có của nó đã tạo ra một động lực lớn xoay chuyển được thực trạng nông thôn Giờ đây, động lực đã được tạo ra bởi nghị quyết 10 đang giảm dần dần, cần phải tạo ra một động lực mới để có đủ sức đưa nông thôn và nông nghiệp đi vào con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Việc tạo ra động lực mới phải có nhiều yếu tố, song một trong những yếu tố đó là nền dân chủ làng xã vốn có trước đây cần được nâng lên ở một trình độ mới, chất lượng mới để làm cho

người nông dân thực sự cảm nhận được họ là người làm chủ của xã hội mới Trên ngôn từ, trong

khẩu hiệu thì chúng ta vẫn nói như vậy, nhưng trong thực tế thì quyền làm chủ đó rất hạn chế,

thậm chí có nơi, có lúc bị tước đoạt Người ta đã nói nhiều về hiện tượng “nhà nước hóa” mọi hoạt

động mang tính tự trị của làng xã tạo nên sự đồng nhất giữa hệ thống chính trị, thể chế kinh tế và cấu trúc xã hội Trong lúc đó thì, do nhu cầu tự nhiên của cuộc sống cộng đồng ở nông thôn, những yếu tố của xã hội dân sự như gia đình, dòng họ, và các tổ chức xã hội khác như các hội quần chúng: hội cựu chiến binh, hội bảo thọ, hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi,v.v các tổ chức hợp tác kinh tế tự nguyện được hình thành Các yếu tố mới này hoạt động theo phương thức tự quản và phát huy được chức năng điều hòa giữa nhà nước và thị trường, một hệ thống thị trường ở buổi

sơ khai đang vừa thể hiện tính hoang dã của nó vừa đang cố hoàn thiện để đóng được vai trò ngày càng lớn của nó trong sự phát triển của đất nước

Vậy thì, làm thế nào để thực thi quyền làm chủ thật sự của người nông dân trong cộng đồng làng xã của mình để do đó mà góp phần tạo ra động lực mới cho giai đoạn mới của nền kinh

4 TẠP CHÍ CỘNG SẢN Số 20, Tháng 10, 1997, Tr 42, cột 1 dòng 18,19 tù trên xuống

5 ĐÀO THẾ TUẤN: “Kinh tế hộ nông dân” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội - 1997

Trang 8

tế thị trường đang hình thành? Tiến hành những cải cách về thể chế ở nông thôn phù hợp với giai

đoạn phát triển mới nhằm thực hiện quyền làm chủ của người nông dân từ cấp cơ sở là một đòi

hỏi đã chín muồi Quyền làm chủ ấy chỉ có thể được thực hiện và ngày càng nâng cao khi chúng ta

gắn liền vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền với việc tổ chức xã hội dân sự, trong đó người dân có điều kiện để thực hiện được khẩu hiệu: dân biết, dân bàn, dân kiểm tra

III NÔNG THÔN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG CỦA NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC NHÀ DOANH NGHIỆP BÁM TRỤ TẠI ĐỊA BÀN NÔNG THÔN

Hiện nay đã có những nhà doanh nghiệp ở nông thôn chưa? Nhận thức đối với họ như thế nào? Đó cũng chính là vấn đề xã hội, vấn đề của chính sách xã hội

Hãy bắt đầu bằng vài con số: trong 5 năm trở lại đây nông thôn đã tăng thêm 56.000 máy kéo nhỏ, 83.00 máy xay xát nhỏ nhưng công nghệ khá cao, 60.000 máy động lực nhỏ phục vụ bơm nước và chạy thuyền, 16.500 ô tô các loại, v.v

Tổng số những phương tiện cơ giới này lớïn hơn nhiều so với số lượng được nhà nước trang

bị cho các hợp tác xã và các đơn vị quốc doanh trong nông nghiệp như quốc doanh thủy sản, trạm máy kéo, thủy nông, nông lâm trường, trạm trại, v.v trong 20 năm trước Điều đáng lưu ý là: tất cả các phương tiện cơ giới nói trên đều do các hộ nông dân tự mua sắm mà nhà nước chưa hề có sự

ưu đãi đáng kể nào (đấy là chưa nói đến việc xăng dầu trong nông nghiệp và ngư nghiệp cũng đều

phải tính thêm “lệ phí giao thông” (?) như ô tô, xe máy!)

Như thế cũng có nghĩa là, khi có một cơ chế thích hợp, sẽ khởi động được tiềm năng trong dân để đầu tư cho việc cơ giới hóa trong những điều kiện canh tác và chăn nuôi có thể cơ giới hóa được Tuy nhiên, với tình trạng ruộng đất manh mún (nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ hoặc ruộng bậc thang ở miền núi) như hiện nay thì làm sao có thể cơ giới hóa được? Để giải bài toán ấy, cần có nhiều sự lựa chọn, mà sự lựa chọn duy nhất đúng hiện nay là phải đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu ngành nghề, phân bố lại lao động ở nông thôn Mà để làm được những điều này, đòi hỏi phải có những quyết sách mạnh dạn không chỉ bó hẹp trong phạm trù kinh tế Thực ra thì cho đến hiện nay, xu hướng tự cấp, tự túc vẫn đang là cơ bản và với hộ kinh tế tiểu nông là chủ thê,ø xu hướng này sẽ được củng cố thêm Trong một khảo sát xã hội học cách đây

3 năm, có 2 câu hỏi được trả lời cho thấy tâm thế của người nông dân ở đồng bằng Bắc Bộ là hài

lòng với tình trạng ruộng đất canh tác hiện nay với nhận thức “nông vi bản”:

- 73,4% số người trong diện được phỏng vấn ở Hải Hưng đã trả lời là họ hài lòng với công việc nông nghiệp hiện nay (con số tương ứng ở Cần Thơ là 16,1%)

- Với câu hỏi “ông bà có cho rằng nghề nông là căn bản không” thì 74,1% người nhất trí với

điều ấy (con số trả lời tương ứng ở Cần Thơ là 14,2%)6 Điều cần nói thêm là ở Cần Thơ, cơ chế thị trường vốn đã có một quá trình so với Hải Hưng

Nơi cơ chế thị trường đã được triển khai mạnh mẽ, tâm thế của người nông dân vốn quen với kinh tế hàng hóa, hiện đã có những hộ có diện tích đất canh tác khá lớn (20.400 hộ trên 5 ha và

1900 hộ trên 10 ha như đã nêu ở trên), các thành phần kinh tế có được tạo điều kiện để đầu tư mở rộng sản xuất và kinh doanh nông nghiệp trên thực tế không? Phạm trù công bằng xã hội được thực hiện trong quá trình khởi động động lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp và nông

thôn cần phải được phản ánh tập trung trong sự công bằng về cơ hội để đầu tư sản xuất và kinh

6 TƯƠNG LAI: “Xã hội học và những vấn đề của sự biến đổi xã hội”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội-1997, Tr.154

Trang 9

doanh, trên thực tế sự công bằng ấy được thực thi như thế nào? Làm thế nào để bổ sung và hoàn thiện chính sách về đất đai đối với nông nghiệp và nông thôn và cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc khắc phục dần tình trạng manh mún về ruộng đất, thực hiện hợp lý việc tích tụ ruộng đất để có thể phát triển nông sản hàng hóa và hiện đại hóa nông nghiệp?

Huy động được vốn trong dân là một mục tiêu kinh tê,ú song để thực hiện được mục tiêu đó lại phải có những chính sách xã hội thích đáng Hiện nay, lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn với sản xuất nông nghiệp là rất lớn và một số không ít đang đổ dồn về đô thị, chồng chất thêm gánh nặng cho quản lý đô thị trên một cơ sở hạ tầng đã quá tải Chuyển bớt lao động dư thừa đó một cách có tổ chức đi phát triển kinh tế ở những vùng đang có tiềm năng về đất đai canh tác, ví

dụ “vùng kinh tế mới” ở Tây Nguyên chẳng hạn, đó là một hướng rất quan trọng song cần xác định

mục tiêu thật rõ ràng

Cách đây 10 năm, trong một cuộc khảo sát xã hội học ở Tây Nguyên, chúng tôi đã đưa ra

một khuyến cáo: “Tây Nguyên được xác định là vùng lãnh thổ đặc thù thuận lợi cho việc sản xuất hàng hóa Ấy vậy mà, một bộ phận lớn những người lao động và gia đình được đưa lên xây dựng và phát triển Tây Nguyên lại vốn quen với nền canh tác lúa nước, tự cấp tự túc của vùng đồng bằng, được nuôi dưỡng theo một mô hình văn hóa của làng quê cổ truyền Nếu các cộng đồng cư dân mới được đưa lên Tây Nguyên sau 1975 này vẫn giữ nguyên nền nếp cũ, thì liệu họ có thể là hạt giống tốt được gieo trên một vùng đất chuyên canh của kinh tế hàng hóa không?”

Phải làm cho những người vốn quen với cung cách làm ăn kiểu sản xuất nhỏ tự cấp tự túc theo một cơ chế hành chính, bao cấp dần dần tiếp cận với thị trường, nơi sản xuất hàng hóa để tạo

ra một cách làm ăn mới ở một vùng đất giàu tiềm năng” 7

Nếu không làm được như thế thì giải pháp di dân không thực hiện được nhiệm vụ “phân công lại lao động” theo yêu cầu của công nghiệp hóa, mà không khéo lại là “nông nghiệp, nông thôn hóa” cơ cấu lao động vốn đã bất hợp lý trên phạm vi toàn quốc trong đó, có những vùng kinh

tế cần được bố trí một cơ cấu hợp lý cho nhiệm vụ công nghiệp hóa Và nếu thế thì cũng chỉ là cách chia đều vốn tài nguyên nông nghiệp đã quá thấp (nếu ở nước ta, bình quân mỗi hộ là 0,7 ha thì ở Châu Âu, bình quân canh tác của một lao động khoảng 17 ha, châu Mỹ khoảng 45-50 ha, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương khoảng từ 4 đến 4,5 ha) trải rộng ra cho cả nước

Để phân công lại lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, và theo đó, chuyển đổi cơ

cấu xã hội thuận lợi cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông ngiệp và nông thôn, thì

cùng với giải pháp di dân, phải tính đến nhiều giải pháp khác nữa Trong các giải pháp có triển

vọng, việc tạo ra được một tầng lớp các nhà doanh nghiệp có đủ bản lĩnh, đủ khả năng và

đủ điều kiện để đầu tư cho sản xuất và kinh doanh nông nghiệp, bám trụ tại nông thôn và đồng

thời có cơ chế chính sách hỗ trợ và khuyến khích việc đầu tư xây dựng những cơ sở công nghiệp tại địa bàn nông thôn để thu hút sức lao động dư thừa tại địa phương, đào tạo và đào tạo lại để sử dụng trong sản xuất công nghiệp là giải pháp có nhiều ý nghĩa Tạo việc làm, mở rộng sản xuất (bao gồm cả khâu chế biến và vận chuyển sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế và sản phẩm tinh chế ), hình thành được một thị trường ổn định giữa thu mua nguyên liệu của nông dân sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tất cả những cái đó đòi hỏi một sự đầu tư thích đáng, ấy thế mà đây lại là sự đầu tư dễ gặp nhiều rủi ro, cần phải có những cơ chế, chính sách tạo điều kiện Không có sự tham gia mạnh mẽ của các thành phần kinh tế, chỉ với sức mạnh của thành phần kinh tế nhà nước thì chưa tạo ra được năng lực nội sinh cần thiết cho việc công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Mà để

7 TƯƠNG LAI: “Những nghiên cứu xã hội học về cơ cấu xã hội và chính sách xã hội”, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội-1994, Tr 140

Trang 10

huy động được nhiều thành phần kinh tế tham gia thì lại phải có những chính sách xã hội phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế

IV MÔ HÌNH VĂN HÓA TIỂU NÔNG VÀ SỰ THÁCH ĐỐ CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Văn hóa là một nhân tố hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế Các Mác đã từng đòi

hỏi phải “thay đổi những phương pháp nệ cổ, kinh nghiệm chủ nghĩa bằng việc áp dụng một cách tự giác khoa học tự nhiên” 8 của xã hội nông nghiệp khi bước vào xã hội công nghiệp Ông đã chỉ ra

rằng: “một nét đặc trưng cho tận thế kỷ XVIII, các nghề thủ công đều được gọi là

mysteries (mistere) (bí quyết) mà chỉ những người am hiểu kinh nghiệm và nghề nghiệp mới có thể đi sâu nắm vững được

Đại công nghiệp đã xé toang cái tấm màn che đậy không cho người ta thấy được

Sự chuyển đổi căn bản đó kéo theo nó sự chuyển đổi mô hình văn hóa và ứng xử xã hội Liệu mô hình ấy đã chuyển đổi như thế nào? Thật không đơn giản

Khi phân tích về “ chủ nghĩa tư bản và xã hội nông thôn ở Đức thế kỷ 19”, nhà xã hội học Max Weber đã cho thấy “Hai nghìn năm quá khứ vẫn không huấn luyện được cho người nông dân cách sản xuất ra để kiếm lợi nhuận” 10 Vậy thì với bốn nghìn năm của xã hội nông nghiệp, trong

cái mô hình văn hóa làng xã, liệu người nông dân của làng quê cổ truyền có được huấn luyện để có thể làm quen được với kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của cơ chế thị trường chưa? Câu hỏi

này cần phải được giải đáp thận trọng Bởi lẽ, “nhìn văn hóa như là động lực để phát triển kinh tế là điều tư tưởng phương đông chưa hề có Mọi trào lưu văn hóa của nó chỉ lo tạo cho con người an phận, vui với cái nghèo, tránh xa cái lợi Nho, Phật, Lão đều thống nhất ở điểm này” 11

Cộng đồng làng, văn hóa làng và nhân cách văn hóa là chủ thể của cuộc sống nông thôn hôm nay, đang đối diện với những đòi hỏi của công nghiệp hóa Chính ở đây đòi hỏi phải có sự nhìn nhận thấu đáo khi hình thành những giải pháp kinh tế của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn Bởi lẽ, “làng là tế bào của xã hội Việt Nam Xã hội Việt là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong sự năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể

của nó, trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước những

Trước nhiệm vụ lịch sử của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đai hóa nông nghiệp, nông

thôn, “những phản ứng của nó” sẽ là gì đây?

Có rất nhiều phản ứng, song dễ thấy nhất có lẽ là: giữa tâm thế cộng đồng, chủ nghĩa cộng đồng và sự đòi hỏi phát huy mạnh mẽ sáng kiến cá nhân, sự khẳng định vai trò của cá nhân trong cuộc cạnh tranh của cơ chế thị trường và của sự đòi hỏi công nghiệp hóa, hiện đại hóa

8 CÁC MÁC.Tư bản Quyển I, Tập I, Nxb Sự Thật, Hà Nội-1973 Tr.338

9 CÁC MÁC Sđd, tr.179

10 Xem “Những nghiên cứu xã hội học về cơ cấu xã hội và chính sách xã hội” của TƯƠNG LAI, NXB Khoa học Xã hội,

Hà Nội - 1994 Tr 23

11 PHAN NGỌC: “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội - 1994 Tr 100

12 NGUYỄN TỪ CHI: ”Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc ngươiì”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội - 1996 Tr 177

Ngày đăng: 20/05/2021, 00:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w