1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu tang ma các tộc người

8 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 163,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ xưa đến nay, các nghiên cứu đã công bố đều tiếp cận tang ma theo trình tự các nghi thức của tang lễ: Quan niệm hồn vía /thể xác, sống/chết; thông báo có người chết; mời thày cúng (mo, tào,...); khâm liệm người quá cố; cúng dẫn đường,...; đưa ma; mai táng, đắp mộ, dựng nhà mồ,... Tiếp cận theo cách này không chú ý đến mục đích, chức năng của việc làm ma; ít đề cập tới tín ngưỡng liên quan và các nghi thức liên quan.

Trang 1

MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI TRONG NGHIÊN CỨU TANG MA CÁC TỘC NGƯỜI

TRẦN BÌNH Tóm tắt

Từ xưa đến nay, các nghiên cứu đã công bố đều tiếp cận tang ma theo trình tự các nghi thức của tang lễ: Quan niệm hồn vía /thể xác, sống/chết; thông báo có người chết; mời thày cúng (mo, tào, ); khâm liệm người quá cố; cúng dẫn đường, ; đưa ma; mai táng, đắp mộ, dựng nhà mồ, Tiếp cận theo cách này không chú ý đến mục đích, chức năng của việc làm ma; ít đề cập tới tín ngưỡng liên quan và các nghi thức liên quan Hiện nay, có một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu tang ma các tộc người là tiếp cận từ mục đích, nguyên tắc của việc làm ma: Thông qua các nghi thức cúng

tế, làm phép, bùa yểm, người sống làm các thủ tục (bắt buộc), tạo điều kiện cho ma người chết chuyển sang thế giới ma và sau đó đầu thai làm kiếp người mới Trên cơ sở mục đích bao trùm này, thông qua các nghi thức, ma chay phải thực hiện các mục tiêu cụ thể: Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện

để ma đầu thai làm kiếp người mới; bảo vệ vía con cháu, những người tham gia đám ma, tránh chết trùng, ; ma mới cảm ơn vì được người sống đã làm ma cho họ

Từ khóa: Tang ma, mo tang, nhà mồ, chết trùng, người quá cố, tộc người thiểu số

Abstract

So far, the published researches have approached funerals according to the funeral rituals: conception of the soul/body and life/death; death announcements; inviting shaman (mo, tao, ); enshrouding and encoffining the death; worshipping to “pave the way” to the cemetery, taking the death to the cemetery, burying the death, tomb building, etc., However, little attention has been paid

to the purposes and functions of funerals and the related belief and rituals if approaching this way

At present, there is a new approach in studying of the funeral is the approach from the purposes, principles of funerals: Through such rituals as worshipping, blessing, enchanting and others as condition for the death to move to another world and then reincarnate into a new life On that basis, rituals in funeral must be carried out for concrete objectives: to make it sufficent for the death to reincarnate; to protect spirit of the relatives and people participarting the funeral, to avoid possible coincident death, and to make it possible for the death to thank those who organize the funeral.

Keywords: Funerals, tombs, dead house, coincident dead, deceased people/death, ethnic

minorities

1 Tiếp cận truyền thống

Phần lớn các nghiên cứu đã công bố

đều tiếp cận ma chay của các tộc

người thiểu số theo trình tự các nghi

thức của tang lễ: Quan niệm hồn vía/thể xác,

sống/chết; thông báo có người chết; mời thày

cúng (mo, tào, ); khâm liệm người quá cố;

cúng dẫn đường, ; đưa ma; mai táng, đắp mộ,

dựng nhà mồ ; đưa cơm, mời về làm ma tổ tiên (ma nhà);

Mục đích làm ma, theo Mạnh Tử: Dưỡng

sinh tang tử vô hám vương đạo chi thủy giả (Đạo trị thiên hạ cần nhất là khiến dân nuôi dưỡng người sống và tang ma cho người chết, không

có điều gì hối hận) Theo X.A Tocarev: Ma chay

Trang 2

V Ă N HÓ A

là khái niệm dùng để biểu thị toàn bộ các nghi lễ

tôn giáo liên quan đến người chết và tín ngưỡng

gắn liền với nó (27).

Thực tế kết quả nghiên cứu tang ma ở các

tộc người cho thấy hầu như các nghiên cứu

đều đề cập đến quan niệm: con người có thể

xác/hồn vía Đây là hai thực thể độc lập, nhưng

lại không thể tách rời nhau, tồn tại thống nhất

trong một con người cụ thể: đó là sự sống Khi

chúng lìa nhau, không thống nhất, con người sẽ

chết Đó là nguyên nhân của sự chết Trong một

số nghiên cứu, cái chết được lý giải:

- Người chết đi là sang thế giới của ma Họ

vẫn có mọi nhu cầu như người đang sống, nên

trước khi chôn cất phải cử hành nhiều nghi lễ

phức tạp (26, tr 213)

- Ở người Tày, “hệt phi” là tiễn đưa linh hồn

người quá cố sang thế giới bên kia và chuẩn bị

cho họ mọi thứ cần thiết cho cuộc sống và sinh

hoạt hàng ngày Làm ma là rửa tội mà lúc sinh

thời người quá cố phạm phải, giúp họ sống an

nhàn, no đủ, sung túc, ở thế giới ma Vì thế,

ma chay thường tổ chức linh đình, kéo dài nhiều

ngày (28, tr 286).

- Người Dao quan niệm, người chết là vĩnh

biệt những người thân thích, lìa khỏi trần gian

sang với tổ tiên ở thế giới khác, cũng không

khác gì ở thế giới trần gian Vì thế, phải làm ma

(10, tr.240)

- Trên cơ sở quan niệm về sự tồn tại của linh

hồn và thể xác, tang ma của người Dao Tiền ở

Ba Bể (Bắc Cạn) phải được tiến hành hai nghi lễ:

Chôn cất xác chết (piuốp ca nai tải) và đưa người

chết về với tổ tiên (piuốp miến) (24, tr 250).

- Theo người Si La, vũ trụ có 3 tầng Người

chết đi, hồn vía (lá tù) không ở tầng nào trong số

đó và không đề cập tới tại sao phải làm ma, mục

đích của việc làm ma (5, tr 195).

- Người Mảng tin rằng người chết đi hồn/vía

sẽ tồn tại và sinh sống ở Mường Trời và được thần

thánh chăm sóc, nên khi chết đi phải làm ma (chi

plị) Người chết đi bắt buộc phải là người đã xăm

miệng Vì thế ai chết mà chưa xăm miệng, phải

dùng than củi vẽ quanh miệng, vờ làm hình xăm

(20, tr 107)

- Các dân tộc nhóm Hà Nhì – Lô Lô tin rằng

nhiều hình thức khác nhau, phổ biến là biến thành các con vật (gia súc hay muông thú) gây họa cho người Vì thế, người ta phải tìm mọi cách tránh sự tái sinh này (15, tr 188)

- Theo quan niệm của người Ba Na, người

chết đi linh hồn sẽ biến thành ma (cháh), sống với ma tổ tiên Chưa làm ma, hồn người chết vẫn

ở bên xác, nên phải làm ma (8, tr 201-202)

- Người Mường quan niệm chết là kết thúc

một đời người, là sự vĩnh viễn ra đi không bao giờ gặp lại, là đem lại sự mất thăng bằng tới một nhóm gia đình do sự mất đi của một thành viên Khi còn sống với nhau, đạo lý làm người của người Mường đã chỉ ra rằng nên đối xử tốt đẹp với nhau, thì khi chết đi đạo lý

ấy cũng khuyên người sống phải chăm lo tận tình, nghĩa tử là nghĩa tận Đó là trách nhiệm, bổn phận, đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người thông qua tang lễ

(20, tr.107)

- Đối với người Tày Mường, cái chết là sự khép

lại một chu kỳ sống của con người, và chuyển sang sống ở một thế giới khác sung sướng hơn

Để linh hồn về được với thế giới tốt đẹp đó, cần phải có sự tiễn đưa và dẫn đường (làm ma) (9,

tr 212-213)

- Chịu ảnh hưởng Phật giáo, người Khmer

Nam Bộ quan niệm chết chưa phải là chấm dứt cuộc sống mà tiếp tục sống ở một thế giới khác bằng linh hồn bất diệt Vì thế họ làm ma cho người chết với nhiều lễ tiết phức tạp (4, tr 96-97).

- Với người Gia Rai, Ba Na: Chết là sự tái sinh

sang thế giới khác, sống ở một dạng khác Ở thế giới bên kia, ngày là đêm, đêm là ngày, đẹp là xấu, cùn là sắc, ngược là thuận, Người chết vẫn

là người nhưng chỉ như cái bóng không có thân xác, vật chất như người sống, sống cuộc sống như người sống, nhưng ở dạng ma (7, tr 111-112).

Sau khi lý giải việc vì sao phải làm ma cho người chết, các nghiên cứu mang tính chuyên

đề đều mô tả đám ma theo trình tự các nghi thức Trình tự đó thường như sau: Thông báo

có người chết; mời thày cúng (mo, tào, ); khâm liệm người quá cố; làm quan tài; chọn đất, đào huyệt; cúng dẫn đường, ; đưa ma; mai táng, đắp mộ, dựng nhà mồ, ; đưa cơm, mời về làm

Trang 3

Hmông, người Tày, người Nùng, cơ bản cũng

đều tiếp cận theo theo trình tự đó, bởi các tộc

người này có những đặc thù riêng về tang ma,

nên các nghiên cứu có thể thêm, hoặc bớt một

số nghi thức

Trình tự tiếp cận như sau:

* Trình tự các nghi thức tang ma của người Hmông:

Mời thày cúng (Triz muav); đi mời trống; đi

mời thầy khèn và kèn; đi mời tổng quản (trung

ca); đi mời người nấu cơm; đi mời chủ trì đám

(Zhua Zha); đi mời bên họ ngoại; cúng tế dẫn

hồn người chết đi về với tổ tiên; nghi thức thổi

khèn, treo trống; đưa quan tài vào nhà; khâm

liệm; cho người chết ăn; đón khách đến phúng

viếng; cúng tế đuổi ma Hán (Trươs tros); cúng

tế vật hiến sinh; cúng đưa áo quan ra bãi rộng

ngoài nhà (zhưv ztrax); cúng thu vía người

sống (lăn trứng); cúng gói cơm trưa cho người

chết; cúng tiễn biệt hồn người chết; cúng gọi

và thu vía người tham gia đưa ma; hạ huyệt,

mai táng, đắp mộ (18)

* Trình tự các nghi thức trong đám ma người Tày:

Đón thầy tào; khâm liệm (lồng phượn, lâm

khốc); rửa mặt (dào nả); nhập quan (khẩu mạy);

cúng cơm (pjầu ngài); phát tang (phát háo);

cúng tế mở đường (khay tàng); cúng tế ba

ngày (tam tian); cúng phá ngục (xiên đàn phả

ngục); cúng xem phần mộ (tỵ huyệt); cúng tổ

tiên (khao chỏ); tế ngựa bên ngoại; tế cây tiền

(co xuông)/các con gái cúng bố/mẹ; tế mai hoa

chi, thạch sơn/cháu gái, con nuôi cúng; tế đại

trường (đại đăng đại tế); cúng tế hồi đăng; tế

dọn đường cho ma đi (cải câu); cúng tế dẫn

ma về cõi trời (mừa phạ); cúng tế xuất tang (Óc

phi); cúng giao nhà táng (rườn bao); cúng hạ

huyệt; tạ ơn bản làng, (14)

* Trình tự nghi thức trong đám ma nhóm Dao

Quần Chẹt:

Cúng rửa mặt, mặc quần áo mới; báo tang

(đống pà xóa mìn sinh say), mời thầy cúng; làm

quan tài (quyền dòi); cúng nhập quan (tắp pịa

quya nòi); cúng dẫn đường cho ma mới (chẩu

chê com); cúng chia tài sản cho người chết

(pưm nền miền); đưa ma (pưm ken tậy); mai táng

(phủng mình thảu chinh); lập bàn thờ; cúng cơm

cho ma mới (sểng duấn đăm chúa hắng); cúng

(chảu chê lẳm); cúng treo tranh, lập đàn cúng;

cúng phát tang, lập ban thờ, cúng cơm; Khoi tàn

(do thầy khoi tàn cúng); cúng rửa tội, minh oan (poong sim sẹ đút); chia tài sản cho người chết (pưm nền miền); cúng đưa người chết lên thiên đàng (phào tằm tồng); cúng báo tổ tiên, (11)

* Trình tự nghi thức tang lễ của người Xinh Mun (Puộc Dạ):

Bắn súng (con gò giắc ống pềnh); khâm liệm cho người chết (sắt xống, tà bắc gàng); nhuộm răng đen/nếu là đàn ông (xào tắp); phá ban thờ ma nhà (xướch xưl giềng); phát tang (khát

lóp luốc); đi báo tang (du thằn); cúng trâu, lợn

cho người chết (chình cà choòng); đưa ma (giắc

dù ùng), mai táng; dựng nhà mồ (giềng hà miền); thu vía của những người đi đưa ma về

nhà, (22, tr 47-48)

* Trình tự nghi thức đám tang người Chăm Bani):

Tắm rửa cho người chết; thày Char tế làm

phép cho người chết uống nước; đưa tử thi ra ngoài sân, tắm lại ở buồng tắm mới; mặc quần

áo mới cho người chết; đặt xác lên giàn, bó vải; đưa xác lên đòn, khiêng đi mai táng; các thầy cầu kinh dẫn hồn ra nghĩa địa (4 thầy ngồi trên đòn khiêng); mai táng (tay phải gối vào gáy, tay trái đặt úp sát miệng; không có quan tài); cúng tế rửa tội, (2, tr.235-237)

Đối với các luận văn, luận án, sau khi mô

tả các nghi thức của đám tang theo một trình

tự, các tác giả thường dành một chương bàn

về những biến đổi của tập quán tang ma và nêu các giải pháp công tác, liên quan đến tang ma Rất ít có các lý giải, phân tích về cơ

sở xuất hiện, tồn tại của các nghi thức, hành

vi được thực hiện trong đám tang Kể cả các hành vi cúng tế của thầy mo, thầy tào và của con cháu thực hiện khi chịu tang ông bà, bố mẹ, Nói cách khác, các tác giả ít quan tâm đến nguồn gốc, mục đích của các nghi thức và hành vi được thực hiện trong đám tang Mục đích của việc làm ma chỉ được giải thích chung chung, thường không được lý giải trên một cơ

sở tín ngưỡng, hoặc khẳng định nguồn gốc tín ngưỡng rõ ràng, trong nhiều nghiên cứu

Với tiếp cận như trên, sẽ rất khó khăn cho việc tìm hiểu: Tại sao phải làm ma cho người

Trang 4

V Ă N HÓ A

chết; tín ngưỡng liên quan đến làm ma cho

người chết của các tộc người là gì, khác nhau

như thế nào; trong ma chay có các nguyên tắc

bất di, bất dịch nào bắt buộc phải tuân thủ hay

không; bản sắc tộc người thể hiện trong tang

ma như thế nào Vì thế chúng tôi thử nghiệm

cách tiếp cận sau đây

2 Một hướng tiếp cận thử nghiệm

Đây là cách tiếp cận từ mục đích, nguyên

tắc của việc làm ma Theo chúng tôi, ngoài các

yếu tố tâm lý, tình cảm, nghĩa tình, của con

cháu, người sống đối với người chết, mục đích

chính của việc làm ma là: Thông qua các nghi

thức cúng tế, làm phép, bùa yểm, người sống

làm các thủ tục (bắt buộc), tạo điều kiện cho

ma người chết chuyển sang thế giới ma và đích

là đầu thai làm kiếp người mới Trên cơ sở mục

đích bao trùm này, thông qua các nghi thức,

ma chay phải thực hiện các mục tiêu:

(1) Hỗ trợ bằng được ma mới đầu thai làm

kiếp người mới (Bảo vệ ma mới, không cho quỷ

bắt, dẫn ma mới trình báo tổ tiên, trả nợ chuộc

tội, trình báo các cửa thánh thần, hướng dẫn

cách đầu thai).

(2) Bảo vệ vía con cháu, người sống, người

tham gia đám ma, tránh chết trùng,

(3) Ma người chết phải được cảm ơn người

sống đã làm ma, tạo điều kiện cho họ có đủ điều

kiện cần thiết để đầu thai làm kiếp người mới

Có thể tạm minh họa việc thực hiện các

mục tiêu, thông qua các nghi thức trong việc

làm ma của một số tộc người

2.1 Hỗ trợ bằng được để ma mới đầu thai

kiếp người mới

* Bảo vệ ma mới không cho quỷ bắt

Các tộc người đều cho rằng, con người khi

sống trên trần thế, không thể không vô tình

hay hữu ý phạm phải tội lỗi, nên khi vừa chết

thì quỉ tới bắt ngay (nhất là các tộc người chịu

ảnh hưởng Đạo giáo) Để cho ma mới được đầu

thai kiếp người mới, trước tiên, các tộc người

đều thực hiện các nghi thức bảo vệ bằng được

ma mới, không cho quỷ bắt

- Người Hmông ở Kỳ Sơn (Nghệ An) bắn

súng và thổi tù và ngay sau khi nguời chết tắt

- Người Hmông Đen ở Sa Pa bắn súng khi

người chết vừa tắt thở Nếu người chết già thì bắn 9 phát, người chết còn trẻ bắn 3 phát (12).

- Từ cổ xưa, khi người thân tắt thở, trước tiên

con trai người Hmông ở Phan Thanh bắn ba phát súng kíp để đuổi quỷ dữ, bảo vệ ma vừa chết Tiếng súng đó đã ăn sâu vào tâm thức người Hmông, nên đó cũng là tín hiệu thông báo đến cả cộng đồng (19, tr 39).

Rất nhiều tộc người, trong đó điển hình

là người Hmông, Dao, Sán Dìu, Nùng, thực

hiện nghi thức tế đuổi quỷ (tua ke mùa) ngay

khi thày cúng tới Với người Hmông ở Phan Thanh (Bảo Lạc, Cao Bằng), nghi thức tế đuổi quỷ được thực hiện hàng ngày trong thời gian

quàn linh cữu ở trong nhà Mỗi ngày tế 3 lần:

sáng, chiều, đêm Khi tế, con cháu cầm gậy gộc, dao, chạy 7 hoặc 9 vòng quanh nhà; thầy tào

và 2 thợ khèn hành lễ, con cháu, anh em chạy đàn (19, tr 39)

Có thể dẫn ra được nhiều đề cập tới việc bắn súng báo hiệu khi có người chết Nhưng các

đề cập ấy đều cho rằng bắn súng chỉ để loan tin có người chết Thực ra đó chỉ là hệ quả thứ yếu, đích chính của nghi thức này là đuổi quỷ bảo vệ ma mới chết, khi thầy cúng chưa tới Có nhiều trường hợp, nhiều tộc người không bắn súng mà thổi tù và, đập phá gây tiếng động mạnh trong nhà, kể cả đập mạnh vào ban thờ, vào bếp cũng là để đuối quỷ, bảo vệ ma mới Thực tế, ngoài việc bắn súng đuổi quỷ bảo vệ

ma mới, dùng tiếng động mạnh, tiếng nổ, để đuổi ma quỷ là tín ngưỡng của rất nhiều cộng đồng ở Trung Hoa, Đông Á và Đông Nam Á: Tục

gõ nồi, nong nia, thúng mủng, khi có nhật

thực; tục đốt pháo khi làm lễ trừ tịch (cúng Giao

thừa); khi đón dâu vào nhà chồng; khi đưa ma

ra khỏi nhà và trên đường đưa ma, (Choang ở Trung Hoa) (23, tr 53)

Bảo vệ ma mới chết, cũng được thực hiện

thông qua nghi thức, cho tiền chinh vào mồm

người vừa chết Khi chưa có thầy cúng bảo vệ,

con cháu phải cho người chết ngậm tiền Nếu

quỷ đến bắt, tra khảo, người chết mở miệng ra nói, quỷ nhìn thấy kim loại trong miệng người chết, sẽ bỏ chạy (24, tr 221) Nhiều nghiên cứu

khi đề cập tới nghi thức này chỉ giải thích là để

Trang 5

vào miệng còn giắt liềm, hái, dao vào thắt lưng

người vừa chết Cũng nhiều tộc người có nghi

thức: con trưởng đeo dao hoặc vác dao đứng

túc trực bên linh cữu bố mẹ khi họ vừa qua đời

Một số tộc người còn thực hiện nghi thức treo

dao ngay trên phía đầu người vừa chết

- Theo tập quán của các nhóm Hmông, ngoài

các nghi thức bảo vệ ma mới, họ còn thực hiện

nghi thức tế đuổi quỷ, ma Hán, bảo vệ ma mới

(12, tr 157)

- Một thày cúng cho biết: Vào tế, thầy tào

khấn báo ma mới: anh em chúng tôi đang chuẩn

bị đi đuổi quỷ, đuổi tà, ông (bà) hãy đi theo chúng

tôi Đi sau thầy tào là hai người thổi khèn (tào

khèn) có nhiệm vụ thổi bài khèn đuổi ma; con

cháu và anh em cầm vũ khí làm động tác đuổi tà,

đuổi quỷ Tế đuổi quỷ được thực hiện trong suốt

quá trình làm ma cho đến khi đắp xong mộ cho

người quá cố1

Đuổi quỷ, bảo vệ ma mới còn được thầy

cúng thực hiện trong các nghi thức nhập quan,

hạ huyệt Trong các nghi thức đó, thầy cúng

dùng cành lá tươi có gai xua đuổi trong áo

quan, dưới huyệt trước khi cho linh cữu nhập

quan và trước khi hạ quan tài xuống huyệt (21,

tr 78) Bảo vệ hồn vía của ma mới còn được

thực hiện trong nghi thức: Dùng sợi vải tết lại

buộc hai ngón chân cái và hai ngòn tay cái của

người vừa chết

Một số tộc người hiện vẫn thực hiện nghi

thức bó người chết bằng võng gai Khi mai

táng xong xuôi lấy võng gai vắt trên vách nhà

mồ (người Thổ) Khi người quá cố vừa tắt thở,

sau khi làm thủ tục rửa mặt, thay quần áo thì

cho người chết vào quan tài (cũi/trong) hình

mắt cáo, làm bằng tre Các nghi thức đó nhằm

bảo vệ ma mới, ngăn không cho quỉ đến bắt

Khi thầy cúng tới sẽ thực hiện nghi thức giam

ma mới vào ngục để bảo vệ không cho quỷ bắt

Nghi thức này có ở nhiều tộc người: Hmông,

Dao, Sán Dìu, Tày, Nùng, Sán Chay (Cao Lan),

Táy Khao (Thái Trắng), (6, tr 363) (21, tr 69) (16,

tr.54) Khi đã xin được ấn kiếm, ma thuật, âm

binh về, thầy sẽ làm nghi thức phá ngục, bảo vệ

ma mới và dẫn đi làm các thủ tục ở ba tầng vũ

trụ, do thày cúng đảm nhiệm 2

Mục đích này được thực hiện thông qua các nghi thức tế lễ, mo dẫn đường, trong tập quán làm ma của các tộc người Theo tín ngưỡng của họ, thầy cúng là người đặc biệt, có khả năng đánh đuổi ma quỷ, bảo vệ ma mới, biết đường dẫn ma mới đi và giúp ma mới thực hiện các thủ tục rửa tội lỗi, trả nợ, hầu kiện, trình báo và xin phép các thế lực siêu nhiên, dặn dò ma mới cách sinh sống ở thế giới ma, chuẩn bị và thực hiện các nghi thức đầu thai làm kiếp người mới Điều này thể hiện trong

mo tang của các tộc người

+ Người Mường (Mo Đường lên trời):

(1) Sắm sửa ra đi: Đẻ gà: Sự tích con gà; Dặn

con: Mua sắm, cúng tế, làm cỗ cảm ơn; Tiếng đồn Mường Trời; Bảo con sắm sửa ra đi: sắm sửa đồ đạc, tiền của, ma mới đi; Dọn đồ con khang (người sang); Dọn đồ kẻ khó

(2) Ra đường: Dẫn hồn ra đường; Mượn

thuyền xuôi thác Bờ; Xuôi sông Bờ; Thăm đình bến Tăl; Thăm chợ bến tăl; Từ bến Tăl đi; Lối vào chạu-rẹ; Gửi gà vàng lịt-vàng là; Lên Thanh Đồng; Thăm đình Chung Blơi

(3) Mở cổng vào Mường Trời: Mường Cul

Thai-tả Thổng (cổng Trời); Bà Ngửi; Ông Tín Dín săn muông; Ông Miùn Ciù-Mành Cành (ông nghèo khổ); Bà Theng Mư/mụ (chợ Tồng Thì –

Vi Thai);Chạu Rẹ-Thè Mu (Mường Chạu Rẹ-Thè Mu); Tạng Kha Tạng Khuôc, Lang tả chín tồng; Mượn thuyền qua sông Lang, bến Loỏng; Cầu kỳ Liêm La; Keo Reng (thăm sống Tùng, s.Tuộng, s Khàng); Bắt kem nhỏ; Bắt Kem lớn; Sắm lễ lên hầu kiện; Muông thú lên kiện; Chuôc số; Ném còn; Kéo co; Xin tuông; Bán bông; Mường Lu Ly

- Lu Lít

(4) Mở cổng trời về trần gian: Trở về trần

gian; Nhòm kho tối kho sáng; Qua sông ly đò láng; Trả đồ Theng Mư; Xin đuốc vào chùa hàng Pịp; Mở cổng trời đi xuống; Xuống trần gian, (1)

Đối với các đám tang thường dân, việc tế lễ dẫn đường kéo dài 12 ngày đêm Khi kết thúc

sẽ thực hiện nghi thức dẫn hồn ra vườn hoa,

nơi chôn cất Đối với đám tang nhà lang, sau

tế lễ 12 ngày đêm sẽ thực hiện nghi thức dẫn

hồn đi cun Chướng Lý Vi Thàng, sau đó mới dẫn

ra nơi chôn cất

Trang 6

V Ă N HÓ A

+ Người Hmông (Tang ca/Kruoz cez):

Trình tự mo tang Hmông lenhf (Hmông Hoa):

Tế kiểm tra cái chết (2 bài đầu) Có nghi thức

kéo người quá cố dậy, xem đã chết chưa; Tế

dẫn người chết phải lắng nghe thày tào dẫn

đường, chỉ lối (bài 3-5) Bài 5 tế về cây tre -

vật chỉ đường, làm cầu nối (cxenhx ntuos) giữa

người và ma mới; Tế xin phép ma trong nhà

cho ma mới ra đi (bài 6-8); Tế cho ma mới nghe

cổ tích (bài 9-11): hướng dẫn ma mới biết các

loại thần thánh đã tạo ra vũ trụ, trời đất, các

loài vật và vai trò của chúng liên quan đến ma

mới? Về việc ông bà Chài tạo ra trời đất (bài

9); Các thần thánh trị vì trên trời, dưới đất (do

nàng Á/ chàng Âu sinh ra); Các phương trời;

Tại sao con người phải chết; Tại sao lại có mưa

bão, hạn hán, thiên tai (bài 10); Sự tích nhật

thực, nguyệt thực: 9 mặt trời, 8 mặt trăng làm

khổ nhân gian; Nàng Giàng Li Dua, Giàng Li

Dù bắn rụng 7 mặt trăng, 6 mặt trời cứu nhân

gian và bị Ngọc Hoàng hành tội (bài 11); Tế

Dẫn ma mới lên trời (bài 12-18): dẫn ma trình

báo, chuộc tội, làm các thủ tục để quay lại

đầu thai làm kiếp người mới; Tế dẫn ma mới

về trần gian đầu thai (bài 19-20); Tế Cân bằng

âm dương, hướng dẫn ma mới đầu thai (bài

23-31): Dặn ma mới không được tham lam,

gây tội lỗi; phải sống thuận hòa với muôn loài

bài, giữ thân thể khỏe mạnh, (bài 23-26);

Dặn ma mới phải tuân theo sự che chở, chỉ

dẫn của con gà (bài 27); Hướng dẫn ma mới

đi đầu thai (bài 28-29); Kể cho ma mới việc tổ

chức tang lễ; Thầy cúng và ma mới vĩnh biệt

nhau (bài 30-31)(12, tr.58-66)

Tang ca của nhóm Hmông duz, Hmông deux,

tương tự như Hmông Lenhf chỉ khác trình tự

thực hành các bài văn tế Các bài văn tế trong

tang lễ của các nhóm Hmông đều ở thể thơ,

dễ gieo vần, dễ xướng Giai điệu trong tang ca

của các nhóm Hmông không khác mấy so với

các giai điệu trong Tiếng hát làm dâu, Tiếng hát

mồ côi,

+ Mo dẫn đường của nhóm Táy Khao ở

Mường Lay: Dẫn hồn lên cõi trời; Dẫn hồn đến

cửa suối Nặm Cân; Dẫn hồn vượt sông Đà; Dẫn

hồn đến Liến pán luông; Dẫn đến Liến pán nọi;

Dẫn đến Mường Sừng Nai là nguồn lúa mọc;

Mãnh; Dẫn hồn về Mường Trần Gian; Dẫn đến Đẳm hóng; Dẫn hồn đến Đẳm nhà; Dẫn hồn vào rừng ma (pá heo) (3).

2.2 Bảo vệ vía con cháu, người tham gia đám ma

Trong tập quán tang ma của các tộc người đều có các nghi thức nhằm thực hiện mục đích

và nguyên tắc này Nhất là các tộc người có nguồn gốc Hoa Nam di cư sang Việt Nam

+ Người Dao (dẫn 2 nghi thức làm ví dụ):

Bắn súng đuổi quỷ khi thầy tào chưa tới để bảo

vệ ma mới, cũng là bảo vệ vía của con cháu Sau khi an táng cho người quá cố, mọi việc xong xuôi, thầy tào khấn đọc bài phú gọi vía của tất

cả những người đi đưa đám trở về nhà (24)

+ Người Hmông:

Bắn súng đuổi quỷ bảo vệ ma mới và vía con cháu là nghi thức phổ biến trong tang ma của các nhóm Hmông vẫn thịnh hành cho đến nay Trước khi khiêng linh cữu đi, tiến hành nghi lễ lăn trứng gà để gọi vía người đưa đám và con cháu trở lại (dùng trứng gà lăn trên người quá

cố, vừa lăn vừa gọi vía người sống trở về nhà, không theo người chết đi Mỗi người sống

dùng một quả trứng) Trước khi hạ huyệt, thầy

tào lấy cỏ tranh khua dưới huyệt, khấn gọi vía

người sống về Sau đó thầy lấy một nắm đất ở

huyệt đưa cho một người bí mật chạy về nhà, đặt ở gầm giường trong buồng (18, tr.67,71)

+ Người Táy Khao ở Mường Lay:

Trước khi nhập quan, thầy mo dùng nhang

khua đi khua lại trong áo quan, khấn trú: “Vía

người khỏe hãy ra; vía người chết vào nằm!” để

đuổi quỷ và vía người sống ra trước khi nhập linh cữu Trước khi hạ huyệt, thầy mo dùng cành lá xanh có gai làm nghi thức đuổi, gọi vía người sống trở về, Cùng với bảo vệ, dẫn

đường cho ma người chết, mo còn bảo vệ,

gom vía, thu vía cho con cháu và những người tham gia đám ma để tránh ốm đau, chết chóc cho họ (3)

Nhìn chung, đa số các tộc người thực hiện nghi thức thu vía, gom vía, bảo vệ vía người tham gia đám tang và con cháu người quá cố Việc thực hiện có khác nhau: khấn thu vía, dùng

lá xanh cành gai xua đuổi về; lăn trứng; người

Trang 7

nhà Khi những người đưa ma tới nhà, các tộc

người đều thực hiện nghi thức đuổi quỷ về theo:

Đốt cỏ tranh cho người đưa ma chạy qua trước khi

vào nhà, bước qua đống lửa, rửa tay chân, bằng

nước có đặt tiền chinh trong chậu (máng),

2.3 Cỗ cảm ơn của người quá cố

Nghi thức này được các tộc người thực hiện

từ cổ truyền tới nay không có gì thay đổi Thực

tế cho thấy, những người thực hiện nghi thức

này, nay đều đã quên mục đích, chức năng thực

của nó và nhiều nhà nghiên cứu cũng không

rõ Tiệc cỗ cuối cùng trong các đám ma chính là

sự cảm tạ của ma mới đối với những người đã

làm ma cho họ Tại bữa tiệc này, con cháu người

quá cố phải là những người sắm sửa và thay

mặt người quá cố cảm ơn tất cả những người

đã tham gia đám ma Vì thế khi hấp hối, người

quá cố đều dặn con cháu nhớ làm bữa cỗ đó

cho bằng được Đó cũng là một trong những ý

nguyện của họ trước khi từ giã cõi đời Để hiệu

nghiệm, để người quá cố có thể biết được con

cháu đã làm theo ý nguyện của họ, cỗ trong tiệc

này bắt buộc phải có (không thể thiếu) một hay

vài món nhất định Đối với người Kinh ở Sơn

Nam Hạ cũ là bát chuối nấu, hoặc ở Xứ Đoài cũ

là bát củ chuối nấu, đối với người Mường là bát

canh xương nấu với thân cây chuối rừng thái

nhỏ, Các tộc người thiểu số khác là món tim,

gan, ruột, thận, vật tế làm cỗ

3 Một số kết luận ban đầu

Nghiên cứu về tang ma được các nhà nhân

học, dân tộc học, văn hóa học, rất quan tâm vì

nó là một trong những thành tố rất quan trọng

trong hệ thống văn hóa của các tộc người Hơn

thế, nó là thành tố ít thay đổi nhất hoặc thay

đổi rất chậm so với các thành tố khác Và nó là

một trong những thực hành văn hóa hàm chứa

đầy ắp niềm tin dân gian hay niềm tin tôn giáo,

của các tộc người

- Việc nghiên cứu tang ma xưa nay chủ yếu

tiếp cận theo trình tự diễn tiến của các nghi

thức diễn ra trong tang lễ Ít thấy các nghiên

cứu tiếp cận theo: chức năng, mục đích, của

các nghi thức, cũng như của cả đám tang

- Gần đây có một vài nghiên cứu đã đề cập

tới chức năng chuyển đổi của một số nghi lễ,

nghiên cứu cũng chỉ nhắc tới mục đích (hoặc chức năng) chuyển đổi, chưa đề cập được việc muốn đạt được chức năng, mục đích các nghi lễ, nghi thức đó bắt buộc phải thực hành những nghi thức gì, trên cơ sở tín ngưỡng nào

- Bài viết này mong muốn gợi mở một hướng tiếp cận tang ma theo mục đích của các nghi thức trong đám tang, đám ma Theo đó, các nghi thức của một đám ma, gồm các mục đích, chức năng chính: 1 Làm ma giúp ma người chết có đầy đủ mọi điều kiện cần thiết

để đầu thai kiếp người mới Muốn vậy, trước hết phải bảo vệ được ma mới, không cho quỷ bắt; 2 Bảo vệ được vía con cháu, những người tham gia làm ma cho người quá cố, tránh chết trùng; 3 Người quá cố phải cảm ơn được người sống đã làm ma, tạo mọi điều kiện để họ đầu thai kiếp người mới

- Phương pháp tiếp cận này, thực ra là trên

cơ sở tín ngưỡng, giải thích các thực hành trong các nghi thức, cũng như trong toàn bộ tang lễ Theo chúng tôi, không rõ tín ngưỡng thì không hiểu nổi các hành vi trong các nghi thức của đám tang Nghiên cứu tín ngưỡng là điều tối quan trọng trong nghiên cứu tang ma

T.B

(PGS.TS., Trường Đại học Văn hóa Hà Nội)

Chú thích

1 Theo thầy tào Sùng A Quả, Phan Thanh, Bảo Lạc, Cao Bằng

2 Nghiên cứu thêm: Hà Sủm (CB), Ẳm Ệt, Sở

VH - TT Hòa Bình- UBND huyện Mai Châu, 2001 (về nguồn gốc thày cúng, có thể hiểu được tại sao thầy cúng, mo, tào, them, pụt, mo một, lại

có được phép thuật, có âm binh, có thể trừ được

ma quỷ, bảo vệ được vía người sống và hồn người chết; Nguồn gốc con gà, con trâu, có thể hiểu được tại sao phải dùng gà và trâu làm lễ vật trong tế lế, )

Tài liệu tham khảo

1 Đinh Văn Ân (2002), Mo đường lên trời, Nxb

Văn hóa Dân tộc, Hà Nội

2 Phan Xuân Biên (Cb, 1991), Văn hóa Chăm,

Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

Trang 8

V Ă N HÓ A

3 Trần Bình, Hoàng Mai Lan (2010), Tục làm

ma của người Táy Khao ở Mường Lay, Thông báo

Văn hóa dân gian

4 Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và nghi

lễ vòng đời người Khơ Me Nam Bộ, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

5 Khổng Diễn (Cb, 2001), Dân tộc Si la ở Việt

Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

6 Khổng Diễn, Trẩn Bình (Cb, 2011), Dân tộc

Sán Chay ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

7 Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả Bắc Tây

Nguyên, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội

8 Bùi Văn Đạo (Cb, 2003), Dân tộc Cơ Ho ở Việt

Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

9 Lê Hải Đăng (2014), Nghi lễ gia đình của

người Tày Mường ở Nghệ An, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội

10 Bế Viết Đẳng và các tác giả (1971), Người

Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

11 Đỗ Minh Đức (2014), Tang ma của người

Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Đại

học Văn hóa Hà Nội

12 Giàng Xeo Gà (2004), Tang ca (kruoz cê) của

người Hmông Sa Pa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

13 Ngọc Hải (2003), Bản sắc văn hóa dân tộc

Mảng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội

14 Vi Thanh Hoài (2008), Tang lễ của người Tày

(Khảo sát tại xã Bình La, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng

Sơn), Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Đại học Văn

hóa Hà Nội

15 Nguyễn Văn Huy (1985), Văn hóa và nếp

sống Hà Nhì – Lô Lô, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

16 Hoàng Mai Lan (2009), Tang lễ của người

Thái với vận động xây dựng đời sống văn hóa mới

ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên, Khóa

luận cử nhân VHDTTS, Đại học Văn hóa Hà Nội

17 Hoàng Xuân Lương (2010), Văn hóa

Hmông ở Nghệ An, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

18 Sùng Thị Mai (2011), Tang ma của người

Hmông Trắng ở xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh

Hà Giang, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Đại học

Văn hóa Hà Nội

19 Nguyễn Thị Trà My (2013), Tang ma của

tỉnh Cao Bằng, Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học, Đại

học Văn hóa Hà Nội

20 Nguyễn Thị Thanh Nga và các tác giả

(2003), Người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình, Nxb

Văn hóa - Thông tin, Hà Nội

21 Nguyễn Thị Ngân (2010), Tang ma của

người Nùng Phàn Slinh ở Thái Nguyên, Luận án

Tiến sĩ Dân tộc học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

22 Vì Văn Nén (2006), Bì ta háy và Bì giềng hà

miền, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

23 J Wei Peng (1984), Hoa ngữ hiện đại, tập III,

Nxb Hồng Kông

24 Lý Hành Sơn (2005), Các tập tục chủ yếu

trong chu kỳ đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắk Kạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

25 Hà Sủm (Cb, 2001), Ẳm Ệt, Sở Văn hóa, Thể

thao Hòa Bình, UBND huyện Mai Châu

26 Viện Dân tộc học (1992), Các dân tộc Tày

- Nùng ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

27 X A Tocarev (1993), Các hình thức tôn giáo

sơ khai và sự phát triển của chúng, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

28 La Công Ý (2010), Đến với người Tày và văn

hóa Tày, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

Ngày nhận bài: 21 - 9 - 2017 Ngày phản biện, đánh giá: 15 - 3 - 2018 Ngày chấp nhận đăng: 23 - 3 - 2018

Ngày đăng: 20/05/2021, 00:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w