1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian công trình công cộng cho người khiếm thị tiếp cận – Nhìn từ góc độ pháp lý

11 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 437,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu đặt ra một số vấn đề nhìn từ góc độ pháp lý về quyền tiếp cận công trình công cộng của người khiếm thị; từ đó có những định hướng trong việc hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, tạo cơ hội bình đẳng để họ vươn lên làm chủ cuộc sống.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

KHÔNG GIAN CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG CHO

NGƯỜI KHIẾM THỊ TIẾP CẬN – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ

Space of public works for visually impaired people –

View from legal perspective

ThS Nguyễn Minh Kiên

Trường Đại học FPT

TÓM TẮT

Tại Việt Nam hiện nay, các công trình công cộng đang xây dựng và sử dụng hầu hết đều thiếu các phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế để người khiếm thị tiếp cận Đây là rào cản hạn chế họ hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội Bài nghiên cứu đặt ra một số vấn đề nhìn từ góc độ pháp lý về quyền tiếp cận công trình công cộng của người khiếm thị

Từ khóa: công trình công cộng, không gian, người khiếm thị, pháp lý

ABSTRACT

Nowadays in Vietnam, public works which have been constructed and used mostly lack facilities and equipment, as well as design solutions for visually impaired people to access This is a barrier that restrains visually impaired people to integrate into the community, promote their capacities and contribute to the society The research raises several issues from legal perspective on the right of access

to public works of the visually impaired people

Keywords: public works, space, visually impaired people, legal

1 Đặt vấn đề

Hiện nay, người khuyết tật nói chung,

người khiếm thị nói riêng gặp nhiều khó

khăn trong việc tiếp cận các công trình

công cộng, thậm chí đó là những công

trình đặc biệt như các trung tâm người

khuyết tật, văn phòng hội người khuyết tật,

trường học cho người khuyết tật Có rất

nhiều rào cản cản trở họ tham gia bình

đẳng như những người khác trong cuộc

sống, hầu hết những rào cản này lại do xã

hội dựng nên Người khuyết tật mặc dù

gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, hòa

nhập cuộc sống nhưng họ cũng có những

ước mơ, hy vọng và những ý tưởng muốn chia sẻ với cộng đồng Mỗi người đều là một phần của xã hội và đều có thể cống hiến cho xã hội khả năng độc đáo của riêng mình Abraham Harold Maslow, giáo

sư tâm lý học người Mỹ đưa ra năm nhu cầu cơ bản của con người:

- Nhu cầu sinh lý cơ bản

- Nhu cầu an toàn

- Nhu cầu về quan hệ xã hội

- Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ…

- Nhu cầu được phát huy bản ngã, thành đạt.v.v (Nguyễn Quang Uẩn, 2010,

tr.12)

Trang 2

Mỗi người đều có sự khác biệt, từ vẻ

bề ngoài tới những ý tưởng, suy nghĩ, trải

nghiệm, cách sống và khả năng Sự khác

biệt, độc đáo trong mỗi người là tài sản vô

giá mà chúng ta cần trân trọng và chia sẻ

Sự khác biệt tạo ra những cơ hội mới, hy

vọng mới, ước mơ mới và cả sự nhân ái

trong cộng đồng Cộng đồng cần quan tâm

tới ước vọng cá nhân giúp cho con người

tìm được bản ngã đích thực của mình để

sống một cách thoải mái, cởi mở, hồn

nhiên và sáng tạo, “bản chất con người vốn

tốt đẹp, con người có lòng vị tha, có tiềm

năng kỳ diệu” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010,

tr.12) và “con người ta phải đối xử với

nhau một cách tế nhị, cởi mở, biết lắng

nghe và chờ đợi, cảm thông với nhau”

(Nguyễn Quang Uẩn, 2010, tr.13) Quan

tâm tới người khiếm thị là một phần của sự

phát triển vì “chất lượng của một xã hội,

xét cho cùng, được đánh giá bằng cách đối

xử với những người dân yếu thế nhất trong

xã hội” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.96)

2 Quyền được tiếp cận các công

trình công cộng của người khiếm thị

“Lịch sử loài người đã chứng minh

rằng, về mặt cơ thể học, xã hội bao giờ

cũng gồm hai nhóm người: người lành lặn

và người khuyết tật Người khuyết tật là

một bộ phận dân cư, là nhóm người dễ bị

tổn thương, tồn tại khách quan trong xã hội

loài người” (Nguyễn Thị Báo, 2010, tr.5)

Người khuyết tật có ở các nước trên thế

giới, trong đó có Việt Nam Tôn trọng và

đảm bảo quyền của người khuyết tật không

chỉ là vấn đề mang ý nghĩa nhân đạo, từ

thiện mà còn là vấn đề mang ý nghĩa kinh

tế, xã hội và pháp lý (Nguyễn Thị Báo,

2011, tr.5) Quyền của người khuyết tật đã

trở thành một định chế pháp lý quan trọng

trong luật quốc tế hiện đại Đảm bảo quyền

của người khuyết tật là nghĩa vụ và lương tri của nhân loại tiến bộ bởi vì “tất cả các quyền con người và tự do cơ bản mang tính phổ cập cho tất cả mọi người và do đó, cho

cả những người khuyết tật Mọi người sinh

ra đều bình đẳng và đều có quyền sống và phúc lợi, quyền được giáo dục và có việc làm, quyền sống một cách độc lập và được tham gia tích cực vào mọi mặt đời sống xã hội Bất kỳ một sự phân biệt trực tiếp hoặc phân biệt đối xử tiêu cực khác đối với người khuyết tật đều vi phạm các quyền

con người” (Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền

con người, 1998, tr.126) và “… người

khuyết tật cần được đảm bảo cơ hội đồng đều thông qua việc xóa bỏ tất cả các trở ngại, định kiến xã hội về mặt thể chất, tài chính, xã hội hoặc tâm lý mà đã loại trừ hoặc hạn chế sự tham gia hoàn toàn của họ vào đời sống xã hội” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, 1998, tr.127) Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa các cơ hội cho người khuyết tật được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày

20-12-1993 (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.4; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.16, tr.95, tr.97) là văn bản ra đời từ kết quả của thập kỷ về người khuyết tật Công ước Quốc tế về người khuyết tật được Liên Hợp quốc thông qua ngày 13-12-2006 đã tiếp cận khái niệm khuyết tật và người khuyết tật một cách toàn diện dưới góc độ quyền con người (Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.4; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.7, tr.95), công ước khẳng định: “Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như là một bộ phận và sự

đa dạng của con người và của nhân loại” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.17) Công ước

“thừa nhận rằng khuyết tật là một khái

Trang 3

niệm ngày càng phát triển và rằng khuyết

tật là kết quả của việc tương tác giữa

những người bị khiếm khuyết và những rào

cản môi tường và thái độ làm mất đi sự

tham gia hiệu quả và đầy đủ của họ vào xã

hội trên cơ sở bình đẳng với những người

khác” và “những người khuyết tật là những

người có sự khiếm khuyết suốt đời cả về

thể chất, tinh thần, trí tuệ mà những khiếm

khuyết này tạo ra rào cản có thể hạn chế

khả năng tham gia đầy đủ và hiệu quả vào

xã hội trên cơ sở bình đẳng với những

người khác” Các quốc gia tham gia Công

ước phải đảm bảo quyền được thụ hưởng

bình đẳng mọi dịch vụ công cộng của

người khuyết tật Công ước quốc tế về các

quyền của người khuyết tật được xây dựng

dựa trên khuôn khổ tuyên ngôn Quốc tế về

nhân quyền, có hiệu lực ngày 3-5-2008 và

lần đầu tiên Công ước đã thiết lập quyền

của tất cả người khuyết tật trên toàn thế

giới Đây là Hiệp ước đầu tiên mang lại vị

thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng

khuyết tật như là một vấn đề về quyền con

người Công ước còn có ý nghĩa đặc biệt

khi thay đổi cách nhìn đối với tình trạng

khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không

phải là vấn đề y tế và xác lập sự dịch

chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng

nhân đạo sang hướng nhân quyền Ngoài

ra, còn có tuyên bố Melen Kellee về quyền

của những người mù, điếc năm 1977

(Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.7), tuyên bố về

sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của người

khuyết tật ở khu vực châu Á-Thái Bình

Dương năm 1993 (Nguyễn Thị Báo, 2007,

tr.7) Thập kỷ người khuyết tật khu vực

châu Á – Thái Bình Dương lần thứ hai từ

năm 2003 – 2012, khuôn khổ hành động

thiên niên kỷ Biwako hướng tới một xã hội

hòa nhập và không rào cản trong đó có lĩnh

vực tiếp cận các môi trường xây dựng và giao thông công cộng (Bùi Sỹ Lợi, 2009, tr.6; Nguyễn Thị Báo, 2007, tr.8)

Vấn đề quyền của người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng, không còn là mối quan tâm của một quốc gia mà

đã trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng quốc tế Năm 1981, Liên Hợp quốc

đã phát động “Năm quốc tế về người khuyết tật” thông qua Chương trình hành động vì người khuyết tật năm 1982 nhằm đạt tới một xã hội công bằng cho tất cả mọi người (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.5) Theo tài liệu của Liên Hợp quốc, trên thế giới có khoảng 700 triệu người khuyết tật, trong đó

có 200 triệu là trẻ em (Nguyễn Thị Kim Anh và cộng sự, 2007, tr.15) Như vậy có khoảng 10% dân số ở bất kỳ các quốc gia

là người khuyết tật Hiến pháp các năm

1946, 1959, 1980, 1992 cũng đều khẳng định người khuyết tật là công dân, là thành viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân, được chung hưởng thành quả xã hội (Nguyễn Thị Báo, 2005, tr.3; Bùi Hồng Lĩnh, 2009, tr.3) Chủ tịch

Hồ Chí Minh từng nói: tàn nhưng không

phế, câu nói đó khái quát và phản ánh rõ

quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn tôn trọng quyền, tự do, phẩm giá và năng lực của người khuyết tật Người khuyết tật tuy là nhóm người đặc biệt, dễ bị tổn thương cần được xã hội quan tâm, nhưng họ vẫn có những quyền cơ bản

và bình đẳng như những người khác (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.8) Người khuyết tật cần xã hội quan tâm giúp đỡ không chỉ để tồn tại mà họ có quyền yêu cầu xã hội tạo cơ hội bình đẳng để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, khẳng định vị trí và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội (Nguyễn Thị Báo, 2011,

Trang 4

tr.12) Pháp lệnh về người khuyết tật năm

1989 cũng đã khẳng định “Nhà nước

khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi

cho người tàn tật thực hiện các quyền bình

đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

và phát triển khả năng để ổn định cuộc

sống, hòa nhập cộng đồng và tham gia các

hoạt động xã hội” (Đàm Hữu Đắc, 2007,

tr.4-5) Nhằm đảm bảo quyền lợi và cơ hội

của người khuyết tật phù hợp với luật pháp

quốc tế, ngày 23-11-2007 Việt Nam đã ký

Công ước quốc tế về người khuyết tật

(Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.5) và “các quốc

gia thành viên cam kết bảo đảm thúc đẩy

sự hiện thực hóa đầy đủ các quyền và tự do

cơ bản của toàn bộ những người khuyết tật

mà không có bất cứ sự phân biệt nào dựa

trên cơ sở khuyết tật” (Nguyễn Thị Báo

2011, tr.50) Năm 2010, Quốc hội đã thông

qua Luật người khuyết tật (Nguyễn Linh

Giang và cộng sự, 2014, tr.21; Nguyễn Thị

Báo, 2011, tr.149), trong đó có các quy

định khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi

để người khuyết tật thực hiện quyền bình

đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,

thúc đẩy an sinh xã hội và thực hiện mục

tiêu Thiên niên kỷ (Nguyễn Linh Giang và

cộng sự, 2014, tr.21)

Những rào cản về điều kiện cơ sở vật

chất ngăn cản những người khiếm thị có

thể tiếp cận bình đẳng như giao thông công

cộng, các công sở, công trình phúc lợi,

trường học, bệnh viện.v.v Xã hội cần xem

người khiếm thị như là một bộ phận cấu

thành không thể tách rời của xã hội, họ

cũng có trách nhiệm tham gia vào các hoạt

động của cộng đồng và đóng góp năng lực

vào sự phát triển, đồng thời có quyền được

hưởng đầy đủ những thành quả phát triển

của nhân loại vì “mục tiêu và động lực

chính của sự phát triển là vì con người, do

con người” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.74)

và “chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.76)

Điều 26, Pháp lệnh về người khuyết tật

đã quy định: “Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công trình công cộng và thiết kế, chế tạo các dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng của người khuyết tật, trước hết là người khuyết tật các dạng thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành” Ngày 10-7-1999, Chính phủ ban hành nghị định số

55/1999/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về Người khuyết tật, trong

đó có quy định các bộ, ngành phải có kế hoạch triển khai pháp lệnh trên Thực hiện Pháp lệnh về Người khuyết tật và nghị định của Chính phủ, năm 2002, Bộ xây dựng đã chính thức ban hành Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng (Đăng Doanh, 2008, tr.8; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.19; Nguyễn Trọng Đàm, 2009, tr.5) Đây là hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn về kỹ thuật đảm bảo việc thiết kế xây dựng mới

và cải tạo các công trình công cộng, đường

và hè phố cho người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng, đồng thời là cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng khi xem xét, thẩm định cấp phép các dự án đầu tư xây (Đàm Hữu Đắc, 2007, tr.5; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.219) Ngày 1-7-2004, Luật xây dựng cũng đã chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó tại Điều 52 ghi rõ: “Đối với các công trình công cộng, phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người

Trang 5

khuyết tật”, hơn nữa “người khuyết tật chỉ

có cơ hội hòa nhập cộng đồng khi nhà

nước và xã hội tạo điều kiện cho người

khuyết tật có cơ hội tiếp cận và hưởng thụ

quyền được tiếp cận các công trình công

cộng” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.218)

Luật của Người khuyết tật năm 2010 đã

quy định về quyền được hưởng thụ các giá

trị văn hóa, tiếp cận các công trình công

cộng và hòa nhập cộng đồng (Nguyễn Linh

Giang và cộng sự, 2014, tr.21; Nguyễn Thị

Báo, 2011, tr.221) Theo điều 40, đến ngày

01-01-2020, các công trình công cộng phải

đảm bảo điều kiện tiếp cận đối với NKT

như trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước,

nhà ga, bến xe, bến tầu, cơ sở giáo dục dạy

nghề, công trình văn hóa thể dục thể thao

(Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.222) Đến ngày

01-01-2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm

việc phải đảm bảo điều kiện tiếp cận đối

với người khuyết tật (Nguyễn Thị Báo,

2011, tr.223)

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê

duyệt đề án Trợ giúp người khuyết tật giai

đoạn 2012-2020 nhằm đẩy mạnh chính

sách trợ giúp người khuyết tật (Nguyễn

Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.21) Theo

đó, đề án đưa ra những chỉ tiêu cụ thể

nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người

khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục

lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ

thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý Như

vậy, có thể thấy Việt Nam có lộ trình rõ

ràng để trở thành thành viên chính thức của

Công ước về Quyền của người khuyết tật

Một trong những chính sách thúc đẩy

người khuyết tật tham gia hòa nhập cộng

đồng là nâng cao khả năng tiếp cận các

công trình công cộng (Bùi Hồng Lĩnh,

2009, tr 4)

Để đảm bảo mọi hoạt động xây dựng

tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng đã được ban hành theo và thực hiện theo quy định của Luật xây dựng, các cơ quan chức năng phải thực hiện chặt chẽ khâu kiểm tra, giám sát và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết

kế kỹ thuật trong quá trình thực hiện các

dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng và các công trình giao thông, tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận và sử dụng dễ dàng (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.219), đây là yêu cầu tất yếu trên tinh thần

“tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như là một phần của sự đa dạng nhân loại và nhân văn” (Nguyễn Thị Báo,

2011, tr.48), phát huy truyền thống tương thân, tương ái đối với những người yếu thế trong xã hội, đảm bảo rằng mọi cá nhân đều có thể bình đẳng đóng góp năng lực cho sự phát triển của cộng đồng

Theo tài liệu (Bộ Xây dựng, 2004, tr.5), các thể loại công trình sau phải đảm bảo để người khuyết tật sử dụng:

- Các công trình y tế: bệnh viện, trung tâm chỉnh hình và phục hồi chức năng, các cơ sở khám chữa bệnh, trung tâm điều dưỡng;

- Các cơ quan hành chính các cấp:

ủy ban hành chính các cấp, tòa án, viện kiểm sát;

- Các công trình giáo dục: trường học phổ thông các cấp, trường dạy nghề, trường đại học, trường trung học và chuyên nghiệp;

- Các công trình thể thao: sân vận động, sân thể thao, nhà thi đấu thể thao;

- Các công trình văn hóa: công viên, khu vui chơi giải trí, vườn thú, nhà hát, rạp chiếu bóng, bảo tàng, triển lãm, nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, các khu du lịch, danh lam thắng cảnh;

- Các công trình dịch vụ công cộng:

Trang 6

khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, ga hàng

không, ga xe lửa, bến xe ô tô, bến cảng vận

chuyển hành khách, cửa hàng ăn uống, bưu

điện, trung tâm thương mại, chợ, siêu thị,

ngân hàng;

- Nhà ở chung cư;

- Đường và hè phố.v.v

3 Thực trạng vấn đề tiếp cận không

gian công cộng của người khiếm thị tại

Việt Nam

Đặc thù lịch sử Việt Nam trải qua

nhiều cuộc chiến tranh, những di chứng

của chiến tranh để lại không hề nhỏ, nhiều

người khuyết tật là bệnh binh, thương

binh Có nhiều nguyên nhân gây ra khuyết

tật như bẩm sinh (35,8%), bị bệnh (32,34

%), tai nạn lao động, tai nạn giao thông và

khuyết tật do hậu quả chiến tranh cũng

chiếm tới 25,65% (Bùi Hồng Lĩnh, 2007,

tr.3; Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.31) Với

truyền thống uống nước nhớ nguôn, tạo

điều kiện để những người có công với đất

nước có thể hòa nhập bình đẳng trong xã

hội Dự báo trong nhiều năm tới, số lượng

người khuyết tật nói chung, người khiếm

thị nói riêng chưa giảm do tác động của ô

nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, tai

nạn lao động, hậu quả thiên tai.v.v Ngoài

ra, Việt Nam là một trong những quốc gia

có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất ở châu

Á và đứng thứ bảy trên thế giới (Nguyễn

Linh Giang và cộng sự, 2014, tr.19) Số

lượng người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay

là 7,5 triệu người, chiếm khoảng 8.7% dân

số cả nước (Nguyễn Linh Giang và cộng

sự, 2014, tr.19) Sự lão hóa dân số kéo

theo vấn đề suy giảm thị lực ở một bộ

phận dân cư

Trong những năm gần đây, với chức

năng nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức,

cơ quan đã tiến hành một số cuộc điều tra,

khảo sát vấn đề người tàn tật Tuy nhiên, các cuộc điều tra với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm

vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương, đó là chưa kể sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa cho tới các tiêu chí phân loại, tiêu chí đánh giá… dẫn tới kết quả nhiều số liệu còn thiếu hoặc trùng lặp, chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng về vấn đề người khuyết tật ở Việt Nam Theo thống kê của Viện mắt Trung ương, tỷ lệ người khiếm thị năm 2015 là 1,8% dân số, tỷ lệ người hơn 50 tuổi với thị lực kém tăng lên tới 2,1 triệu người (Nguyễn Xuân Hiệp, 2018) Trong những năm gần đây, các tật khúc xạ

về mắt phổ biến trong thanh thiếu niên với khoảng 15-20% học sinh ở nông thôn, 30-40% học sinh ở thành phố (Nguyễn Xuân Hiệp, 2018) Có thể thấy tỷ lệ về tật thị giác ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội một cách bền vững

“Một trong các yếu tố cơ bản của quy hoạch đô thị bền vững là tổ chức địa điểm cho các cuộc gặp gỡ và tăng cường liên kết cộng đồng, không gian đó được gọi là không gian công cộng” (Lê Thị Bích Thuận, 2016b) Công trình công cộng ngày càng phát triển với nhiều loại hình, từ những loại hình cơ bản ban đầu như đình làng, chợ, đường phố, quảng trường tới các loại hình không gian công cộng của xu hướng đô thị hiện đại như nhà hát, nhà thi đấu, công viên, trung tâm mua sắm, khu vực đi dạo, vườn hoa.v.v Sự thay đổi về cấu trúc văn hóa và lối sống tạo nên các hình thái mới về không gian công cộng, phong phú và đa dạng hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội Để đảm bảo

Trang 7

sự hài hòa trong không gian công trình

công cộng, cần hướng tới sự cân bằng lợi

ích, thiết lập những giá trị văn minh, mang

tính giáo dục và phát triển cộng đồng,

trong đó có quyền được tiếp cận của người

khuyết tật, “phân biệt đối xử với bất kỳ

một người nào căn cứ trên sự khuyết tật

của họ đều là sự xâm hại đến nhân phẩm và

chân giá trị vốn có của con người” (Công

ước Quốc tế về các quyền của người

khuyết tật) và “nhu cầu của người khuyết

tật phải được đảm bảo thụ hưởng một cách

đầy đủ và không có bất kỳ sự phân biệt đối

xử” (Công ước Quốc tế về các quyền của

người khuyết tật)

Theo khảo sát sơ bộ, mặc dù đã có

những tiến bộ trong thời gian gần đây

nhưng không gian công trình công cộng tại

Việt nam hầu như chưa có những yếu tố

cho người khiếm thị tiếp cận (Mai Long,

2016) Theo kết quả điều tra (Lê Thị Bích

Thuận, 2016a) (Châu Anh, 2019) tại 137

công trình công cộng tại quận Hoàn Kiếm

và quận Ba Đình do tổ chức người khuyết

tật Quốc tế thực hiện, chỉ 11% công trình

cho phép người khuyết tật sử dụng thuận

tiện Hầu như các trung tâm thương mại,

giáo dục, y tế, hành chính… không có

không gian dành cho người khuyết tật Hệ

thống giao thông cũng không có lối đi dành

cho người khiếm thị, tạo ra một rào cản

khá lớn hạn chế người khiếm thị có thể tiếp

cận và hòa nhập cộng đồng Tại vỉa hè,

vườn hoa, đường đi dạo không đáp ứng

theo quy định, quy chuẩn xây dựng công

trình đảm bảo người khuyết tật sử dụng

Thiếu hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn hỗ

trợ người khuyết tật, trong khi chúng ta đã

có Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quy chuẩn,

Tiêu chuẩn, đề án trợ giúp người khuyết

tật Nhưng vì nhiều lý do khách quan và

chủ quan nên trong quá trình thực hiện thiếu sự đồng bộ, phụ thuộc nhiều vào mức

độ quan tâm của các cấp chính quyền nên không đạt được hiệu quả như mong muốn

Có thể thấy, từ những văn bản, quy định đến thực tế cuộc sống là cả một vấn đề và cần có thời gian để thực hiện Không khó

để nhận ra, trong hàng nghìn công trình kiến trúc hiện đại đã và đang mọc lên ngày càng nhiều trong các đô thị lớn như

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đều thiếu những giải pháp cho người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng tiếp cận

và hòa nhập Công ước Quốc tế về các quyền của người khuyết tật chỉ ra tầm quan trọng của việc tiếp cận đối với người khuyết tật trong môi trường vật chất, kinh

tế, văn hóa, xã hội, chỉ như vậy mới hỗ trợ người khuyết tật được hưởng quyền con người và các quyền tự do cơ bản một cách đầy đủ “Rất nhiều rào cản trên con đường của người khiếm thị, nhiệm vụ của chúng

ta là phải loại bỏ rào cản đó” (Peter Backer

và cộng sự, 1995, tr.7), cần có những giải pháp thiết kế phù hợp với cho người khiếm thị Hạn chế về khả năng thị giác, người khiếm thị sử dụng các giác quan khác để định hướng và di chuyển như khứu giác, thính giác, mạc giác, cảm giác vận động, cảm giác thăng bằng (Nguyễn Minh Kiên,

2018, tr.11), những người được xem là khuyết tật về thị giác khi mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, mầu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường, người khuyết tật thị giác có thể ở các mức độ khác nhau như không có khả năng phân biệt sáng tối, hạn chế tầm nhìn, hạn chế khả năng nhìn rõ, bị lóa khi gặp ánh sáng mạnh (Nhà xuất bản xây dựng, 2015, tr.10), đây là những cơ sở

để các nhà thiết kế, kiến trúc sư có thể kiến

Trang 8

tạo không gian công trình công cộng vừa

đảm bảo được giá trị nghệ thuật, vừa đảm

bảo cho người khiếm thị có thể tiếp cận

theo quan điểm của Thiết kế phổ quát

(Selwyn Goldsmith, 2000, tr.1), loại bỏ tất

cả những trở ngại, rào cản đối với người

khuyết tật nhằm “thúc đẩy sự tham gia của

họ trong mọi lĩnh vực văn hóa, xã hội,

chính trị, kinh tế, dân sự với những cơ hội

bình đẳng” (Công ước quốc tế về các

quyền của người khuyết tật) và “mỗi cá

nhân có trách nhiệm với các cá nhân khác

và với cộng đồng của chính họ, đều phải có

trách nhiệm nỗ lực thúc đẩy và tuân thủ các

quyền được công nhận trong Luật quốc tế

về nhân quyền” (Công ước Quốc tế về các

quyền của người khuyết tật) “Không gian

công cộng có thể hiểu là những không gian

mà ở đó tất cả mọi người đều có quyền tiếp

cận bất luận địa vị xã hội hay điều kiện

kinh tế, quyền này được bảo vệ bởi pháp

luật Môi trường công cộng được cấu thành

từ các yếu tố không gian, môi trường, tính

công cộng và cộng đồng, bao gồm cả các

yếu tố vật thể như không gian thuộc sở hữu

công cộng và được tham gia các hoạt động

sống, lao động, nghỉ ngơi… bởi cộng

đồng” (Nguyễn Việt Huy và cộng sự,

2018, tr.22) Không gian công cộng cộng

có thể là quảng trường, trung tâm thương

mại, giáo dục, y tế, văn hóa, hành chính

Vẻ đẹp của không gian công trình công

cộng, hay nói một cách khác, vẻ đẹp của

một tác phẩm nghệ thuật không chỉ đẹp về

tỷ lệ, hình khối, mầu sắc, ánh sáng, mà ở

trong tác phẩm đó, ta còn nhận thấy vẻ đẹp

của sự cảm thông và chia sẻ, của sự nhân ái

trong cộng đồng Trong không gian công

cộng như vậy, chúng ta sẽ có một chút

ngậm ngùi, một chút tĩnh lặng trước những

ồn ào của cuộc sống, đó là nơi giao cảm

giữa con người với nghệ thuật và giữa con người với nhau Bản chất của nghệ thuật là hoạt động sáng tạo để truyền tải cảm xúc Ngôn ngữ thị giác trong mỗi không gian công trình công cộng có thể không tạo nhiều giá trị cảm xúc thẩm mỹ với người khiếm thị do những hạn chế khả năng nhìn, nhưng những giải pháp giúp họ tiếp cận các công trình công cộng có thể tạo cho họ nguồn cảm xúc khác, đó là cảm xúc được quan tâm, chia sẻ Với cảm xúc nào thì đó cũng là thành công của nghệ thuật, bởi vì giá trị của một tác phẩm nghệ thuật chính

là sự lan tỏa cảm xúc tới nhiều người nhất với nhiều cung bậc khác nhau Người khiếm thị cảm nhận được giá trị của nghệ thuật không chỉ bằng khả năng thị giác còn lại, mà còn là sự cảm nhận của nhiều giác quan khác, trong đó có cảm nhận giá trị nhân bản từ cộng đồng Những không gian như vậy sẽ chạm tới cảm xúc sâu kín và tinh tế nhất trong mỗi con người, đó là lòng trắc ẩn, bởi ở đó không chỉ là nghệ thuật,

mà còn là sự trăn trở và suy tư về xã hội Nghệ thuật vị nhân sinh, vì vậy nghệ thuật cũng phải đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội Người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng cần được “công nhận phẩm giá và giá trị vốn có, quyền bình đẳng và bất di bất dịch của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như một nền tảng

tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” (Công ước Quốc tế về các quyền của người khuyết tật)

Cuộc sống mưu sinh của người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng gặp vô vàn khó khăn và số phận của họ cũng không ai giống ai Mỗi mảnh đời là những câu chuyện của ý chí và nghị lực, là nỗi khắc khoải và trái tim khát khao thể hiện giá trị bản thân Cộng đồng phải tạo

Trang 9

điều kiện để người khuyết tật hòa nhập trên

tinh thần của Công ước về các quyền của

người khuyết tật tại Điều 5: bình đẳng và

không phân biệt đối xử Chúng ta biết, nhà

vật lý lý thuyết Stephan Hawking, người

đầu tiên khởi đầu cho một nền khoa học vũ

trụ dựa trên sự thống nhất giữa thuyết

tương đối tổng quát và cơ học lượng tử

John Bramblitt, họa sỹ khiếm thị đương đại

nổi tiếng nước Mỹ, sử dụng kỹ thuật đặc

biệt để vẽ tranh mà không cần đến thị giác

Nick Vujicic bằng ý chí và nghị lực, đã

truyền cảm hứng khát vọng trong cuộc

sống cho giới trẻ toàn thế giới Đó là

những minh chứng về khả năng phi thường

trong mỗi con người, dù họ là người tàn tật

và kém may mắn Công ước Quốc tế về các

quyền của người khuyết tật “ghi nhận

những đóng góp hiện tại và tiềm năng có

giá trị mà người khuyết tật đã cống hiến

cho sự thịnh vượng và đa dạng của cộng

đồng, và rằng nhận thức của người khuyết

tật được nâng cao về việc mình thuộc về xã

hội và những tiến bộ trong quá trình phát

triển kinh tế, xã hội, con người và quá trình

xóa đói giảm nghèo là kết quả của việc

thúc đẩy cơ hội hưởng thụ đầy đủ quyền

con người, các quyền tự do cơ bản và sự

tham gia của người khuyết tật” Quan tâm

tới người khiếm thị cũng chính là sự tiếp

nối truyền thống rất nhân văn của dân tộc

trên tinh thần tương thân tương ái: Lá lành

đùm lá rách, hãy cho những người khuyết

tật nói chung, người khiếm thị nói riêng

một điểm tựa, đó là sự đồng cảm và chia sẻ

với những khó khăn, họ sẽ có cơ hội phát

huy bản ngã và giá trị năng lực độc đáo của

mỗi cá nhân, góp phần vào sự phát triển đa

dạng của cộng đồng

4 Kết luận

Nhìn chung, người khuyết tật được xã

hội xem như những người phụ thuộc vào người khác trong cuộc sống hàng ngày Họ không có được sự tôn trọng về khả năng cũng như những sở thích riêng, đó là nguyên nhân gây cản trở người khuyết tật hòa nhập trở lại với cộng đồng Mặc dù trong những năm gần đây đã có những cải thiện đáng kể, nhưng thành kiến vẫn tồn tại, người khuyết tật vẫn không có địa vị bình đẳng trong xã hội so với những người bình thường Để thay đổi định kiến và cải thiện tình hình, cần giáo dục và tuyên truyền và xúc tiến những hoạt động tương tác giữa người khuyết tật với cộng đồng, phát triển tiềm năng và khả năng đặc biệt của người khuyết tật, cần loại bỏ các rào cản cản trở người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng, “nâng cao khả năng

sử dụng các công trình công cộng đảm bảo cho người khuyết tật ngày càng tiếp cận được dễ dàng, thuận lợi hơn” (Nguyễn Trọng Đàm, 2009, tr.9), “cần khẳng định rằng đây không phải là những ưu tiên, từ thiện hay nhân đạo của Nhà nước, xã hội đối với người khuyết tật mà là trách nhiệm bảo đảm các quyền đó của người khuyết tật với tư cách là những quyền con người tự nhiên, vốn có, bình đẳng như những thành viên khác trong xã hội” (Trần Thái Dương, 2015)

Việt Nam đã tham gia công ước quốc

tế về người khuyết tật, vì vậy cần có lộ trình rõ ràng để các chính sách dành cho người khuyết tật được thực thi, trong đó có vấn đề quyền được tiếp cận các công trình công cộng, đây cũng là chuẩn mực cho một cộng đồng phát triển văn minh, hiện đại, bền vững và phù hợp với xu thế hội nhập Quốc tế Trước mắt cần cải tạo ở mức phù hợp các công trình công cộng đã xây dựng nhưng chưa đạt tiêu chuẩn người khuyết tật

Trang 10

tiếp cận Các giai đoạn sau cần đầu tư có

chiều sâu, tổ chức không gian cho tất cả

các công trình công cộng theo tiêu chuẩn

tiếp cận của người khuyết tật như lắp đặt

hệ thống nghe nhìn, hỗ trợ tín hiệu âm

thanh, tín hiệu xúc giác, hệ thống biển báo

chữ nổi Braille Đây cũng là vấn đề được

đưa ra trong Công ước Quốc tế về các

quyền của người khuyết tật tại Điều 9 Các

công trình công cộng nếu đầu tư xây dựng

có tính đến nhu cầu của người khuyết tật sẽ

giúp họ hoà nhập và đóng góp vào sự phát

triển xã hội một cách dễ dàng hơn Hạn chế

về khả năng thị giác, người khiếm thị có

thể không cảm nhận được giá trị nghệ thuật

của công trình công cộng, tuy nhiên họ có

thể cảm nhận giá trị nhân bản từ cộng

đồng Điều này được coi là đòi hỏi tất yếu

khách quan, xuất phát từ nhu cầu tôn trọng

và bác ái, là tiếng gọi của lương tri nhân loại, “người khuyết tật có các quyền cơ bản của con người như mọi thành viên khác trong xã hội” và “có quyền hưởng thụ văn hóa, tiếp cận các công trình công cộng, hòa nhập cộng đồng” (Nguyễn Thị Báo, 2011, tr.51) Hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, tạo cơ hội bình đẳng để họ vươn lên làm chủ cuộc sống, tức là chuyển

từ việc hỗ trợ mang tính phong trào thiện nguyện, ban ơn sang hỗ trợ nguồn lực và phương thức cho người khuyết tật nói chung, người khiếm thị nói riêng chủ động xây dựng cuộc sống bằng chính năng lực

và trí tuệ của họ, đây chính là sự phát triển mang tính bền vững, chuyển từ sự chăm sóc tách biệt cộng đồng sang hòa nhập cộng đồng, cùng đóng góp năng lực phát

triển xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Châu Anh (2019, ngày 08 tháng 5) Người khuyết tật khó tiếp cận công trình công cộng

Truy xuất từ http:// www.baodansinh.vn

Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Hồng Hương (2007) “Không gian dành cho người khuyết

tật” Tạp chí Xây dựng, số 8, tr.15

Nguyễn Thị Báo (2005) “Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam” Tạp chí Luật học, số 6, tr.3

Nguyễn Thị Báo (2007) “Quyền của người khuyết tật trong các văn kiện Quốc tế về

quyền con người” Tạp chí Luật học, số 10, tr.5, tr.7, tr.8

Nguyễn Thị Báo (2011) Pháp luật về quyền của Người khuyết tật Việt Nam hiện nay

NXB Tư pháp, tr.3, tr.5, tr.8, tr.12, tr.16-17, tr.19, tr.31,tr.48-51, tr.74, tr.76, tr.95-97, tr.218-219, tr.221-222

Bộ Xây dựng (2004) Quy chuẩn và tiêu chuẩn Xây dựng công trình để đảm bảo người tàn

tật tiếp cận sử dụng, tr.5

Đăng Doanh (2008) “Những hướng đi mới cho người khiếm thị” Tạp chí Lao động và Xã

hội, số 332, tr.42-43

Trần Thái Dương (2015) Phê chuẩn công ước về quyền của người khuyết tật và việc thực

thi nghĩa vụ thành viên công ước Truy xuất từ http://www.tapchicongsan.org.vn

Ngày đăng: 19/05/2021, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm