Tham khảo nội dung bài viết Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa để nắm bắt được bối cảnh toàn cầu của sự phát triển nguồn nhân lực hiện nay, tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, đặc điểm nguồn lao động ở nước ta, một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta,...
Trang 1một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Trịnh Duy Luân
Bối cảnh toàn cầu của sự phát triển nguồn nhân lực hiện nay
Trên thế giới ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đang tạo
ra những điều kiện để chuyển các xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức: từ lao
động chân tay sang lao động trí óc; từ sản xuất kiểu vật chất sang sản xuất kiểu phi vật chất; từ tính khép kín, tính khu vực sang tính mở, tính toàn cầu Bên cạnh đó, là
sự chuyển biến to lớn và cơ bản về quản lý và tổ chức sản xuất và các quy trình công
nghệ khác Những điều này sẽ làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội Xu thế chung
không thể đảo ngược là sự tăng nhân lực trong các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ
có hàm lượng trí tuệ cao như xử lý thông tin, giao dịch tài chính ngân hàng, bưu
chính viễn thông và các dịch vụ tri thức khác Và do vậy, đòi hỏi có sự đổi mới mang
Đối với Việt Nam, khi chúng ta đang chuẩn bị nguồn nhân lực đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thập kỷ tới, vấn đề làm chủ công nghệ cao, đảm bảo tính cạnh tranh trong khoa học, công nghệ có
vị trí cực kỳ quan trọng ở đây, vị trí quyết định là yếu tố trí tuệ của nguồn nhân lực, bởi vì lao động trí óc có vai trò nòng cốt trong nền sản xuất sử dụng công nghệ cao
Nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia Theo kinh nghiệm của thế giới, việc vận dụng những tiến bộ công nghệ và tri thức khoa học, việc mở rộng những ngành nghề mới v.v đang đòi hỏi những điều kiện như:
- Một nền giáo dục mạnh đủ sức nâng cao dân trí thường xuyên và đào tạo,
đổi mới nguồn nhân lực có trình độ trí tuệ và tay nghề cao
- Một hệ thống chính sách giúp khuyến khích phát triển tài năng trẻ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nước và nước ngoài
- Một hệ thống hỗ trợ và phát triển môi trường nghiên cứu để liên tục tăng trưởng kho tàng trí tuệ của đất nước
Trang 2Việt Nam không thể thoát ly những bối cảnh và đòi hỏi thực tế như vậy nếu muốn đạt tới một sự phát triển nhanh và bền vững của toàn xã hội
Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
Có nhiều nhân tố tác động tới nguồn nhân lực về lượng như tốc độ tăng dân
số, quy định về độ tuổi lao động, thu nhập, mức sống, các điều kiện sống, phong tục tập quán, Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, phổ biến tình trạng thiếu việc làm, thừa lao động do dân số tăng nhanh, nên trong nhiều giải pháp, hạn chế tốc độ tăng dân số là một yêu cầu cấp bách
Về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động, có thể chia thành mấy nhóm như sau:
- Nhóm nhân tố liên quan đến thể chất nguồn lao động như: di truyền, chất lượng sống của phụ nữ, chăm sóc sức khỏe, mức sống vật chất và cơ cấu dinh dưỡng, các điều kiện về môi trường sống, nhà ở, thể dục thể thao
- Nhóm nhân tố liên quan đến trình độ nghề nghiệp như: giáo dục, đào tạo
- Nhóm các chính sách, biện pháp của nhà nước đối với người lao động như: chính sách phân phối, tiền lương, chế độ tuyển dụng
- Nhóm nhân tố về tập quán, truyền thống, văn hóa
- Nhóm nhân tố về nhu cầu về việc làm hay là đầu ra của nguồn lao động Cho dù vai trò và ảnh hưởng của các nhân tố này là khác nhau, song không thể không tính đến chúng trong qua trình xây dựng các chiến lược và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai
Tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế và sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay đang đòi hỏi phải cấu trúc lại nền kinh tế trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết 07 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về “Phát triển công nghiệp, công nghệ
đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” đã khẳng định: “Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”
ở Việt Nam, quan niệm “Con người là động lực và là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội” là quan niệm phổ biến Phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận quan trọng hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nguồn nhân lực được coi là tài nguyên quan trọng nhất, cơ bản nhất của quốc gia,
là yếu tố động nhất và quyết định nhất của lực lượng sản xuất Phát triển nguồn
nhân lực chính là phát huy nhân tố con người, gia tăng toàn diện giá trị con người trên các mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực, năng lực lao động sáng tạo và bản lĩnh chính
Trang 3trị Đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực sáng tạo của
con người để phát triển đất nước
Đặc điểm của nguồn lao động nước ta
1 Nguồn lao động lớn (với dân số gần 80 triệu người và sẽ đạt tới 100 triệu trong vòng 2 thập niên tới) Do dân số vẫn đang tăng với tốc độ nhanh, trung bình mỗi năm lực lượng lao động tăng thêm 1 triệu người
2 Tỷ lệ thất nghiệp cao, một bộ phận lao động chỉ có việc làm không thường xuyên Mặc dù có nhiều biện pháp tích cực, nhưng số việc làm tạo thêm hàng năm chỉ xấp xỉ bằng số lao động tăng thêm trong năm đó
3 Chất lượng nguồn nhân lực thấp: về thể chất, sức khỏe Số lao động được đào tạo ít, nhiều ngành nghề chuyên môn được đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế cả về cơ cấu ngành nghề lẫn chất lượng chuyên môn
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thực hiện hòa nhập quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì nguồn nhân lực nước ta bộc lộ nhiều nhược điểm
Đáng lưu ý là sự yếu kém không chỉ về kỹ thuật tay nghề mà cả về trình độ tổ chức, quản lý việc sử dụng lao động Điều này dẫn đến thu nhập của người lao động thấp, không có đủ điều kiện học tập nâng cao trình độ chuyên môn, và do vậy, cũng không
đủ tiềm lực để nuôi dưỡng, đào tạo con cái - nguồn nhân lực tương lai Chất lượng nguồn nhân lực của các thế hệ nối tiếp bị ảnh hưởng trong cái vòng luẩn quẩn này
4 Tỷ lệ cao nguồn lao động còn làm việc trong khu vực nông nghiệp và phân
bố không đều giữa các vùng
Cho đến nay, khoảng 70% lực lượng lao động vẫn tập trung ở nông thôn Mật
độ dân cư và lao động phân bố rất không đồng đều, chỉ tập trung ở các vùng đồng bằng Hiện tượng di cư tự phát không kiểm soát được đang gia tăng Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao chất lượng nguồn lao động, cần có các biện pháp phân bố lại lao
động và dân cư giữa các vùng
5 Mức sống của dân cư tuy có được cải thiện trong những năm vừa qua, song nhìn chung vẫn còn thấp Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao
động hiện tại mà cả trong tương lai do chỗ người lao động không có đủ điều kiện học tập bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn Vì vậy, để có được nguồn nhân lực dồi dào về số lượng và có chất lượng cao, việc cải thiện đời sống nhân dân là một giải pháp chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng
Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta
Có thể nêu lên một số giải pháp góp phần phát triển nguồn nhân lực ở nước ta như sau
1 Hạ thấp tỷ lệ sinh để giảm sức ép lao động tăng quá nhanh về số lượng, yếu
về chất lượng
2 Các biện pháp tạo việc làm, giảm thất nghiệp để tận dụng triệt để tiềm
năng nguồn nhân lực hiện có
Trang 43 Nâng cao đời sống và thể chất của người lao động
4 Tạo lập và quản lý thị trường lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
nhân lực trên quy mô toàn xã hội
5 Phát triển giáo dục và đào tạo nghề nghiệp
6 Nghiên cứu những đặc trưng văn hóa-xã hội của con người Việt Nam nói chung và người lao động nói riêng, tạo cơ sở khoa học cho các chính sách sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả cao
Trong số những giải pháp trên, hai giải pháp cuối cùng rất đáng được lưu ý từ góc độ của khoa học xã hội Dưới đây sẽ đề cập thêm về hai giải pháp này
a) Giáo dục và đào tạo là giải pháp có tính chiến lược để phát triển nguồn nhân lực của thập kỷ tới
Năm 1998, đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho thế kỷ tới, ủy ban Văn hóa Giáo dục của Liên hợp quốc UNESCO đã khẳng định cần phải coi giáo dục và đào tạo là nhân tố then chốt trong đó 4 điểm đòi hỏi con người hiện đại phải học tập là: “học tri thức”, “học làm việc”, “học tồn tại” và “học chung sống"
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức, chứ không còn là nền văn minh dựa trên sức cơ bắp và máy móc nguyên thủy nữa Công nghệ cao và trí tuệ là những yêu cầu đối với nguồn nhân lực, nhằm đảm bảo tính cạnh tranh cao trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, dường như chúng ta đang bị “mắc kẹt” trong hệ thống giáo dục đào tạo hiện nay Có những dấu hiệu báo động về sự hụt hẫng, đứt đoạn trong việc phát triển những thế hệ nguồn nhân lực kế tiếp Những yếu kém hiện còn chưa được khắc phục trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo những năm gần đây là thực sự đáng lo ngại và chắc chắn sẽ để lại những di chứng trong thập niên tới
Một trong những bất cập trong sản phẩm của hệ thống giáo dục và đào tạo
là sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn nhân lực hiện nay và trong tương lai gần Chẳng hạn, đó là sự mất cân đối theo ngành, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp cần thiết để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các ngành mũi nhọn và các ngành mà ta có ưu thế Mất cân đối về trình độ kỹ năng đào tạo cũng là điều đáng nói Chẳng hạn, trong công nghiệp, đó là sự cân đối giữa tỷ lệ thợ bậc cao, thợ lành nghề, kỹ sư, Hệ thống các trường dạy nghề so với các trường đại học đang bị xem nhẹ Trong khi rất cần thiết khôi phục và phát triển chúng một cách mạnh mẽ Bên cạnh đó, lại chưa có một chiến lược truyền thông mạnh mẽ, sâu rộng, đa dạng trong thanh niên về các định hướng và sự lựa chọn nghề nghiệp Cũng như chưa có những định hướng vận động hướng dẫn cụ thể cho họ Hiện nay, có cảm tưởng rằng, thế hệ trẻ đang phải tự mình tìm đường "lập thân, lập nghiệp" dưới sự chỉ đạo của bàn tay vô hình “thị trường lao động” còn sơ khai, thiếu sự quản lý và điều tiết của nhà nước
Trang 5Xét về tương quan giữa số lượng và chất lượng thì trong điều kiện hiện đại hóa, cơ cấu nguồn nhân lực không chỉ xét trên bình diện số lượng, mà chủ yếu là trên bình diện chất lượng Nhiều ngành nghề do áp dụng công nghệ hiện đại, số lượng nguồn nhân lực không tăng, song hiệu quả sản xuất tăng nhanh với chất lượng nguồn nhân lực rất cao Bên cạnh đó, trong thời gian trước mắt, do sức ép của nạn dư thừa lao
động, đôi khi chúng ta lại phải chấp nhận một sự ưu tiên cho những ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động hơn là áp dụng công nghệ cao với một số ít lao động
Học vấn và kỹ năng lao động là một yêu cầu không thể có một sớm một chiều Nếu như thể chất, trong một chừng mực nào đó, có thể tự động được nâng cao theo
đà tăng trưởng kinh tế và mức sống, thì trí tuệ, kỹ năng, học vấn phải được phát triển theo những chiến lược đầu tư dài hạn Không thể có một nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cao một cách ngẫu nhiên tự nó đến Bên cạnh đó, từ giác độ sinh học và vật thể của nguồn nhân lực, cần xây dựng hệ thống các chỉ số nhân trắc học
về thể chất và trí tuệ của con người Việt Nam Trên cơ sở đó theo dõi sự phát triển chất lượng các nguồn nhân lực qua từng thời kỳ và có những định hướng phát triển
rõ ràng và có chủ đích những yếu tố này
Nam nói chung và người lao động nói riêng, tạo cơ sở khoa học cho các chính sách sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và hiệu quả cao
Không nên hiểu nguồn nhân lực một cách đơn giản và máy móc chỉ như là một tập hợp (tổng số) những con người có khả năng lao động, cùng với thể chất và những kỹ năng của họ Nguồn nhân lực còn rất quan trọng khi có sự liên kết họ với nhau trong những điều kiện nhất định, khi mà một tập thể lao động không phải chỉ
là tổng số đơn giản những người lao động Thế giới đang nói về những nguồn vốn xã hội (social capital) bao hàm rất nhiều yếu tố của nguồn nhân lực được nối kết trong một mạng lưới các quan hệ xã hội (social network), và nhờ vậy họ mạnh hơn rất nhiều so với tổng số các cá nhân người lao động riêng lẻ
Tương tự như vậy, không thể xem xét nguồn nhân lực tách rời các thể chế quy
định việc sử dụng chúng như thế nào, trong những điều kiện ràng buộc gì Cùng một nguồn nhân lực, trong những “môi trường” hoạt động khác nhau sẽ đem lại những sản phẩm và các hệ lụy khác nhau
Đó chính là lý do tại sao lại cần phải nghiên cứu những đặc trưng văn hóa - xã hội của con người Việt Nam nói chung và của lực lượng lao động nói riêng
Từ trước đến nay, chúng ta thường nói nhiều về những phẩm chất đặc trưng của con người Việt Nam như cần cù, thông minh, giỏi chịu đựng gian khổ, sáng tạo, Những cái đó đúng nhưng chưa đủ Còn nhiều đặc trưng văn hóa - xã hội khác của con người Việt Nam, của người lao động Việt Nam, tích cực có và tiêu cực cũng có,
mà chưa được khám phá hết, chưa được khẳng định về mặt thực nghiệm Những nhân tố dân tộc học, địa văn hóa, địa chính trị, chi phối sự hình thành những nét tính cách người Việt điển hình là gì ? Và trong điều kiện hiện đại, những đặc trưng vừa nói thúc đẩy và cản trở việc thực hiện định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6đất nước như thế nào ? Vì vậy rất cần có những nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về tâm lý, ý thức, các mô thức hành vi và ứng xử, những phẩm chất cố kết cộng đồng / nhóm hay năng lực làm việc tập thể, cùng nhau, để thấy hết những tiềm năng, thế mạnh không chỉ về mặt vật chất mà cả những nguồn lực xã hội - văn hóa, những nguồn vốn xã hội của nguồn lực kinh tế xã hội cực kỳ quan trọng này
Sau cùng, có thể thấy rằng, quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghệ cao thông qua mạng Internet đang làm cho ranh giới giữa nguồn nhân lực trong nước và ngoài nước bị mờ đi Một bộ phận nguồn nhân lực trong nước đang
được xuất khẩu Một bộ phận khác có thể đang được các nhà đầu tư nước ngoài khai thác tại chỗ (chính thức hoặc không chính thức) cũng như chúng ta cũng có thể khai thác một phần nguồn nhân lực từ nước ngoài (lực lượng Việt kiều) Như vậy trong bối cảnh toàn cầu hóa, cũng cần có một quan niệm rộng rãi hơn về nguồn nhân lực tương lai để có chiến lược sử dụng quản lý và điều hành hiệu quả hơn
Bên cạnh đó, cơ chế kinh tế mới, mở cửa, liên doanh và chất lượng nguồn nhân lực trẻ của Việt Nam đang tồn tại nhiều vấn đề Trong khi kêu gọi đầu tư nước ngoài, chúng ta ra sức tuyên truyền về giá lao động ở nước ta rẻ Nhìn dài hạn hơn, liệu điều này có phải là lợi bất cập hại? Kết quả trong nhiều trường hợp, người công nhân bị vắt kiệt sức trong các liên doanh, bị chuyên môn hóa thành một bộ phận của máy móc, bị tha hóa, bị tước đoạt nhiều quyền lợi hợp pháp và chính đáng mà không có người bảo
vệ Những sự khai thác phát triển nguồn nhân lực như vậy mới chỉ mang tính quá độ,
“chiến thuật” và không thể bảo đảm một sự phát triển bền vững, có tính “chiến lược”
đối với nguồn nhân lực với chất lượng ngày càng cao trong tương lai
Rõ ràng là trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển nguồn nhân lực rất cần có những bước chuyển căn bản về chất, trong
đó việc nghiên cứu những chiều cạnh xã hội và văn hóa là không thể thiếu nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đúng, khả thi và có hiệu quả cao trong lĩnh vực quan trọng này