Bài giảng Bài 6: Văn hóa tổ chức đời sống nông thôn Việt Nam giới thiệu tới các bạn về việc tổ chức đời sống của nông thôn nước ta theo huyết thống, theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp và sở thích, theo hành chính.
Trang 1Bài 6:
Văn hóa tổ chức đời sống nông
thôn Việt Nam
Soạn giảng: TS Phan Quốc Anh
Trang 21 Theo huyết thống: gia đình và gia tộc
Gia đình là cơ sở của xã hội Gia đình truyềnthống là đại gia đình nhiều thế hệ (tam đại, tứđại đồng đường) Người Tây Nguyên còn cónhà sàn dài cho Đại gia đình
Gia tộc với người Việt là rất quan trọng Một ngườilàm quan, cả họ được nhờ
Xưa kia, làng là nơi ở của một họ: Đỗ xá, Trần xá,Nguyễn xá v.v…
Trang 3Tính tôn ty
• Quan hệ huyết thống là quan hệ theo hàng dọc (lên đến cửu tộc)
Kị/cố Cụ Ông Cha Tôi Con Cháu Chắt Chút
Tôn ti gián tiếp (con chú, con bác, anh em họ) cũng được quy định
nghiêm ngặt: Xanh đầu con nhà bác, bạc đầu con nhà chú; Bé bằng củ khoai, cứ vai mà gọi
Tính tôn ti dẫn đến óc gia trưởng Tổ chức nông thôn theo huyết thống nhiều khi gây cản trở sự phát triển, nhất là trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh dòng họ “ma làng”
Trang 42 Tổ chức theo địa bàn cư trú:
Văn hóa làng
Điều kiện nông nghiệp lúa nước đòi hỏi mọi ngườiphải liên kết, hợp sức với nhau để vần công, đổicông, để cùng nhau chống lụt bão, chống trộmcướp và chống giặc ngoại xâm Sự liên kết chặtchẽ: bán anh em xa, mua láng giềng gần; mộtgiọt máu đào…
Liên kết thành làng tạo nên dân chủ làng xã Tínhchất dân chủ này kéo theo mặt trái là thói dựadẫm, ỷ lại, thói đố ky, cào bằng
Trang 53 Tổ chức theo nghề nghiệp và sở thích:
Phường, hội
Phường là tập hợp những người làm cùng một nghề thủ công như phường gốm làm sành sứ; phường nề (xây dựng); phường chài (đánh cá);
phường vải (dệt); mộc, đúc đồng v.v…
Hội là tổ chức của những người cùng sở
thích: tư văn (quan văn); Hội văn phả (nhà nho ko làm quan); hội Bô lão (cụ ông); hội chư bà (cụ bà); hội cờ
tướng; hội tổ tôm v.v…
Phường và hội là những tổ chức tự nguyện, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau
Trang 64 Tổ chức theo hành chính:
thôn, xã
• Một làng nhiều khi cũng là một xã, cũng có thể một xã gồm nhiều làng, trong làng lại
có thôn, xóm, ở Nam bộ có ấp Ngày nay, đơn vị hành chính của nước ta là thôn.
• Trong văn hóa làng xã, sự phân biệt dân chính cư và dân ngụ cư là rất quan trọng (dẫn đến cục bộ địa phương ngày nay)
Trang 7Dân chính cư xưa chia làm 5 hạng:
- Chức sắc gồm những người đỗ đạt hoặc cóphẩm hàm
- Chức dịch gồm những người đang làm việc trongxã
- Lão gồm những người thuộc hạng lão
- Đinh gồm con trai trưởng thành
- Ti ấu là hạng trẻ con
Quan viên hàng xã là 3 hạng đầu Bộ máy hànhchính xưa kia gọn nhẹ Đứng đầu là lý trưởng, dưới ông là phó lý, đến hương trưởng, đến trương tuần (lo an ninh) Phương tiện quản lý chủ yếu chỉ có hai loại sổ: Sổ đinh và sổ điền (con người và ruộng đất)
Trang 9Làng xã Việt Nam
• Toàn quyền Đông Dương Paul Donmer năm
1905 nhận xét: Mỗi Làng xã Việt Nam truyềnthống được coi như “một nước cộng hòa nhỏ”,độc lập trong giới hạn những quyền lợi địaphương, được tổ chức chặt chẽ, có tính kỷ luật,
có trách nhiệm
• Tính cộng đồng và tính tự trị là 2 đặc trưng baotrùm nhất, quan trọng nhất, tồn tại song songnhư hai mặt của một vấn đề trong văn hóa làng
xã Việt Nam
Trang 10Sân đình – Bến nước – Cây đa
Cái đình là biểu tượng tập trung nhất của làng
về mọi phương diện
• Là “Trung tâm hành chính”, nơi diễn ra nhữngviệc quan trọng như hội họp, thu sưu thu thuế,giam giữ xử tội phạm nhân
• Là “Trung tâm văn hóa”, nơi tổ chức hội hè, ănuống (đình đám), nơi biểu diễn chèo tuồng
• Là “Trung tâm sinh hoạt tôn giáo”: Thờ thầnhoàng làng, thần “bảo trợ” cho dân làng
• Là “Trung tâm giao lưu tình cảm”: Qua đình ngảnón trông đình…”
Trang 11BẾN NƯỚC
• Dần dần, do ảnh hưởng văn hóa phụ quyền, đình chỉ còn là nơi của đàn ông Phụ nữ tụ quần nơi bến (giếng nước) để rửa rau, vo gạo, giặt giũ và chuyện trò,
“buôn dưa lê”.
Trang 12về, của khách qua đường Cây đa cũng là cánh cửa sổ liên thông với thế giới bên ngoài.
Trang 13LŨY TRE
• Rặng tre bao kín quanh làng như một thành lũykiên cố bất khả xâm phạm: đốt không cháy, trèokhông qua, đào đường hầm ko được (lũy) Hội
tụ hình ảnh lũy tre, cây đa, bến nước sân đìnhchỉ có làng Việt Nam mới có (làng Trung hoa cótường đất bao bọc)
• Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưnggốc rễ, là nguyên nhân sinh ra ưu điểm vànhược điểm về tính cách của người Việt
Trang 14TÍNH CỘNG ĐỒNG TÍNH TỰ TRỊ
Chức năng Liên kết các thành viên Xác định sự độc lập của làng
Biểu
tượng
Sân đình bến nước cây đa Lũy tre xanh
Hệ quả tốt - Tinh thần đoàn kết, tương trợ
- Tính tập thể, hòa đồng
- Nếp sống dân chủ bình đẳng
-Tình thần tự lập -Tính cần cù
Tính cộng đồng và tính tự trị của làng xã
Trang 15• Tính cộng đồng nhấn mạnh vào tính đồng nhất: cùng hội, cùng thuyền, cùng cảnh ngộ > sẵn sàng đoàn kết giúp đỡ, coi những người trong làng như anh chị em trong nhà; tay đứt ruột xót, lá lành đùm lá rách, chị ngã
em nâng > tính tập thể, hòa đồng, là nguồn gốc của tính dân chủ - bình đẳng theo địa bàn cư trú, theo sở thích, theo giáp
Trang 16• Thủ tiêu ý thức cá nhân: Do hòa tan vào
các MQH nên ý thức cá nhân bị thủ tiêu, thường xử theo lối “hòa cả làng”; “đóng cửa bảo nhau” (quan hệ thân tình từ họ hàng đến
Trang 17• Thói cào bằng, đố kỵ: Ko muốn cho ai
hơn mình (để cho tất cả đều đồng nhất, giống nhau: “xấu đều hơn tốt lỏi; khôn độc ngốc đàn, chết một đống còn hơn sống một người; toét mắt là tại hướng đình…”
• Làng Việt Nam ‘tự cung tự cấp”, tự đáp
ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống làng mình; mỗi nhà có vườn rau, chuồng gà; ao
cá, tự đảm bảo nhu cầu về ăn Làm nhà thì đã có tre, xoan, rơm rạ lợp nhà…
Trang 18• Óc tư hữu, ích kỷ: bè ai người nấy chống, ruộng nhà ai nhà nấy đắp bờ; ai có thân người
ấy lo, ai có bò người ấy giữ; thân trâu trâu lo, thân bò bò giữ; của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bò nó ăn
• Óc bè phái, cục bộ địa phương, làng
nào biết làng ấy: trống làng nào làng nấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ; trâu ta ăn cỏ đồng ta; ta về ta tắm ao ta…trai làng ta quyết giữ gái làng ta.
Trang 19• Óc gia trưởng, tôn ti: Tôn ti là tổ chức
nông thôn theo huyết thống là truyền thống văn hóa tốt đẹp nhưng khi gắn với
óc gia trưởng thì lại sinh ra quyền huynh thế phụ, áp đặt, sống lâu nên lão làng; áo mặc ko qua khỏi đầu> trở thành lực cản rất đáng sợ của sự phát triển (gia đình chủ nghĩa, dòng họ chủ nghĩa…)
Trang 20• Với lối tư duy tổng hợp, biện chứng của nguyên lý âm dương dẫn đến sự ứng xử nước đôi; vừa là, vừa là…vừa có tinh thần đoàn kết tương trợ vừa có óc tư hữu, ích kỷ và thói cào bằng; vừa có tính tập thể hòa đồng vừa bè phái, địa phương; vừa có tính tự lập vừa coi nhẹ vai trò cá nhân; vừa cần cù vừa dựa dẫm ỷ lại Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt hay mặt xấu sẽ được phát huy…hòa bình thì cạnh tranh khốc liệt, cục
bộ địa phương, nhưng mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì cả nước sát cánh cùng đứng dậy
Trang 21Làng nam bộ
• Hình thành cách nay hơn 300 năm, làng Nam
bộ là dân Bắc bộ vào khai khẩn Làng Nam bộ được hình thành dọc theo bờ sông và bờ kinh rạch, trên những giồng đất cao (miệt giồng).
Bờ tre chỉ còn là một biểu tượng đánh dấu ranh giới giữa các ấp, thôn Thành phần cư dân của Nam bộ thường hay biến động, không
bị gắn chặt với làng rễ cội như ở Bắc bộ Tính cách người Nam bộ do vậy cũng phóng khoáng hơn; làm bao nhiêu ăn nhậu bấy nhiêu, ko cần biết đến ngày mai “xả láng, sáng dậy sớm”.
Trang 22• Thành phần cư dân không ổn định, vì nơi đây còn quá nhiều vùng đất chưa khai phá, nông dân hay tá điền có thể đi tới đâu cũng được Làng trải dài theo các dòng kinh, giao thông nước thuận lợi, nhất
là khi kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển Địa văn hóa Nam bộ tạo nên tính cách người Nam bộ; phóng khoáng, văn hóa
mở, vì vậy dễ tiếp nhận văn hóa mới từ các luồng văn hóa Nam bộ là nơi tiếp nhận văn hóa phương Tây như Pháp – Mỹ.
Trang 23• Tuy nhiên, dù hay biến động, người
Nam bộ vẫn sống thành làng với thấp thoáng bóng tre, mỗi làng vẫn có một ngôi đình với tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Hàng năm cư dân vẫn tụ họp nhau ở lễ hội Dù thuận lợi trong canh tác nông nghiệp, nhưng vẫn giữ nếp cần cù, coi trọng tính cộng đồng Hàng xóm, láng giềng vẫn là quan
trọng: “nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận
giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền”.
Trang 24• Bức tranh của làng Nam bộ đã góp
phần làm nên tính thống nhất của dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
• Văn hóa khu vực Nam bộ còn giữ nhiều
yếu tố văn hóa người Việt, trong khi đó
ở Bắc bộ đã mất đi Ví dụ như đàn ông
ở Nam bộ còn búi tó v.v…Đó là thuyết ngoại vi trên biên trong văn hóa học