1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa mộ ở thành phố đà nẵng

95 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1 Quan niệm của người dân Đà Nẵng về xây dựng mộ phần 28 Bảng 3 Thống kê họa tiết trang trí các ngôi mộ 36 Bảng 4 Những nghi lễ được thực hiện tại mộ của người Đà

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Đà Nẵng, 05/2014

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tư liệu 4

5.2 Phương pháp thực địa 5

6 Đóng góp đề tài 5

7 Bố cục của đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ VĂN HÓA MỘ Ở VIỆT NAM 7

1.1 Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng 7

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7

1.1.1.1 Vị trí địa lý 7

1.1.1.2 Khí hậu 8

1.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 8

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 10

1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội 14

1.2 Khái niệm mộ 19

Trang 3

1.3 Vài nét về văn hóa mộ ở Việt Nam 20

CHƯƠNG 2: MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA VĂN HÓA MỘ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 23

2.1 Mộ ở thành phố Đà Nẵng 23

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 23

2.1.2 Phân loại 26

2.1.2.1 Theo tôn giáo 26

2.1.2.2 Theo sở hữu 27

2.2 Quan niệm của người Đà Nẵng về xây dựng mộ phần 27

2.3 Biểu hiện văn hóa mộ 29

2.3.1 Vị trí và phương hướng mộ 29

2.3.2 Kiến trúc mộ 31

2.3.2.1 Hình dáng và kích thước 31

2.3.2.2 Cấu trúc ngôi mộ 32

2.3.3 Họa tiết trang trí 34

2.3.4 Nghi lễ 36

2.3.4.1 Lễ động thổ khai sơn 36

2.3.4.2 Lễ hạ huyệt 37

2.3.4.3 Lễ thành phần 40

2.3.4.4 Lễ mở cửa mả 40

2.3.4.5 Lễ tạ mộ 42

2.3.4.6 Cải táng 42

2.3.4.7 Thanh minh, tảo mộ, chạp mộ 44

2.4 Nhận xét về văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng 45

Trang 4

2.4.1 Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển 45

2.4.2 Văn hóa mộ đa dạng và phong phú 46

2.4.3 Văn hóa mộ Đà Nẵng vẫn giữ được những yếu tố truyền thống của văn hóa mộ Việt Nam 47

2.4.4 Có những thay đổi so với văn hóa mộ truyền thống ở Đà Nẵng 48

2.4.4.1 Đơn giản hóa nghi lễ 48

2.4.4.2 Kiến trúc mộ thay đổi 49

2.4.4.3 Chịu sự tác động của yếu tố kinh tế thị trường 50

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ LỤC 60

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Quan niệm của người dân Đà Nẵng về xây dựng mộ phần 28

Bảng 3 Thống kê họa tiết trang trí các ngôi mộ 36

Bảng 4 Những nghi lễ được thực hiện tại mộ của người Đà Nẵng 48

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dạng, phong phú với một hệ thống các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của con người Việt Nam từ thời xưa cho đến ngày nay, bao trùm lên nhiều lĩnh vực như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán,

lễ hội… Nó được hình thành và đúc kết qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của tổ tiên kết hợp với kết tinh tinh hoa văn hoá nhân loại, từ đó tạo nên các đặc trưng văn hóa nổi bật Điển hình là văn hóa tang ma, một truyền thống tốt đẹp từ bao đời phản ánh nhiều giá trị của văn hoá dân tộc, được biểu hiện cụ thể nhất là qua những nét văn hóa tang lễ, văn hóa mộ, văn hóa thờ cúng…

Trong văn hóa tang ma, văn hóa mộ là một nét đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt, là một hình thức văn hóa phổ biến trong cả nước, có vai trò quan trọng trong đời sống đời sống tâm linh của con người Đối với người Việt xưa

nay cho rằng “sống ở, thác về”, xem cuộc sống trên mặt đất chỉ là tạm bợ, và chết

không phải là hết, mà về cõi vĩnh cữu

Văn hóa mộ không chỉ đơn giản là xây mộ cho người mất, mà nó còn chứa đựng nhiều giá trị trong kiến trúc, trang trí, nghi lễ chôn cất và đặc biệt là biểu hiện qua tâm thức, nhân sinh quan của người Việt Do đó, qua việc tìm hiểu văn hóa mộ, chúng ta sẽ thấy được những nét giá trị đặc sắc trong văn hóa tang ma ở Việt Nam nói chung và ở các địa phương nói riêng

Đà Nẵng là mảnh đất có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử, cũng như phong tục, tập quán hết sức phong phú và đa dạng Những cư dân ở đây với đức tính kiên định, cần cù, anh hùng, trong quá trình xây dựng và đấu tranh bảo vệ tổ quốc cùng với tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc, đã tạo nên những giá trị văn hóa độc đáo, những truyền thống tốt đẹp mang đậm bản sắc địa phương

Những giá trị đó đã in đậm dấu ấn trong văn hóa mà biểu hiện cụ thể là văn hóa mồ mả, một văn hóa có nhiều nét độc đáo, riêng biệt, nhiều nét đặc trưng của

Trang 7

dân gian, một văn hóa thể hiện đạo hiếu và đời sống tinh thần của người dân địa phương

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Văn hóa mộ ở thành phố

Đà Nẵng” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam như:

Phong tục cổ truyền người Việt của Thục Anh (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội,

2007), Phong tục tang lễ của Phạm Minh Thảo (Nxb Thanh Niên,2008), Nghi lễ mộ

phần người Việt của Trương Thìn (Nxb Thời Đại, 2010), Thọ mai gia lễ - Phong tục dân gian về tục cưới hỏi ma chay của người Việt Nam của Đức Thành (Nxb Thời

đại, 2011), Phong tục dân gian – Hỏi đáp về tang lễ của Từ Liêm (Nxb Thời Đại,

2011) …

Hay các công trình nghiên cứu về mảnh đất Đà Nẵng như: Lần giở văn hóa

miền Thuận Quảng của Lê Duy Anh - Lê Hoàng Vinh (Nxb Đà Nẵng, 2004), Tập tục Xứ Quảng Theo Một Vòng Đời của Võ Văn Hòe (Nxb Đà Nẵng, 2006), Văn hóa

Xứ Quảng một góc nhìn của Võ Văn Hòe, Hồ Tấn Tuấn, ưu nh Rô (Nxb Đà

Nẵng, 2007), Địa danh thành phố Đà Nẵng của Võ Văn Hòe (Nxb Đà Nẵng, 2011),

Đà Nẵng mảnh đất, con người của Hoàng Hương Việt, Thy Hảo Trương Duy Hy

(Nxb Đà Nẵng, 2012), Đà Nẵng - dấu ấn thời gian của Huỳnh Yên Trầm My (Nxb

Đà Nẵng, 2014 )…

iên quan đến văn hóa mộ Việt Nam có một số công trình như: Công trình

nghiên cứu “Phong tục tang lễ” của Phạm Minh Thảo, thì chủ yếu chỉ đề cập đến

phong tục tang lễ của một số tộc người trên thế giới, về phong tục tang lễ của Việt Nam thì cũng chưa đề cập rõ về vấn đề văn hóa mộ của người Việt Công trình mới chỉ sơ lược về một số nghi lễ hạ huyệt và viếng mộ Về yếu tố mộ phần cũng chỉ nêu lên được một vài nét về hình dáng và cấu trúc…

Trang 8

Cuốn “Thọ mai gia lễ - Phong tục dân gian về tục cưới hỏi ma chay của

người Việt Nam” của Đức Thành thì chỉ có phần luận về tống chung là có đề cập

khái quát đến một số nghi lễ như: ễ hạ huyệt, lễ quy lăng… chưa có đi sâu vào yếu

tố mộ phần

Cuốn “Nghi lễ mộ phần người Việt” của Trương Thìn thì đề cập khá rõ về

một số nghi thức, nghi lễ của văn hóa mộ như lễ hạ huyệt, cải táng… Ngoài ra, tác giả còn trình bày một số văn khấn truyền thống của một số nghi lễ như văn khấn thổ thần, văn khấn lễ hạ huyệt…

Về văn hóa mộ ở Đà Nẵng, trong cuốn “Lần giở văn hóa miền Thuận Quảng của Lê Duy Anh - Lê Hoàng Vinh và “Tập tục Xứ Quảng Theo Một Vòng Đời” của

Võ Văn Hòe, có nhắc đến một số yếu tố về ma chay, chôn cất của cư dân Quảng Nam - Đà Nẵng, chưa có đề cập đi sâu vào văn hóa mộ

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và các công trình nghiên cứu về vùng đất Đà Nẵng nói riêng chưa có một công trình nghiên cứu nào nhìn nhận văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng là một đối tượng chủ yếu để đi sâu nghiên cứu đầy đủ, toàn diện Dù vậy, những công trình nghiên cứu trên sẽ là những tài liệu tham khảo, cũng như cơ sở lý luận để tôi đi vào tiếp cận thực tế, tìm hiểu và nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng” nhằm xây dựng bức

tranh tổng thể về văn hóa mộ của người Việt ở thành phố Đà Nẵng như: Nghi thức, nghi lễ chôn cất, kiến trúc mộ, yếu tố phong thủy…

Bên cạnh đó, đề tài mong muốn giúp người dân tự hào về phong tục, về truyền thống văn hóa địa phương của mình Từ đó có những suy nghĩ, hành động trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp này

Trang 9

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính mà đề tài muốn hướng đến là văn hóa mộ của người Việt ở thành phố Đà Nẵng Mặc dù nguồn tư liệu còn nhiều hạn chế nhưng trong đề tài này tôi cố gắng tìm hiểu và trình bày một cách toàn diện, hệ thống về văn hóa mộ bao gồm: Lịch sử hình thành và phát triển, đối tượng và biểu hiện của văn hóa thông qua nghi thức, nghi lễ chôn cất, kiến trúc mộ…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Do điều kiện hạn hẹp về thời gian cũng như

văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng yêu cầu kiến thức phải rộng, chuyên sâu, sự đầu

tư công sức đi thực tế, tôi chỉ xin tìm hiểu một số vấn đề của văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng như sau: Giới thiệu khái lược về lịch sử thành phố Đà Nẵng để có một cái nhìn tổng quan hơn về bối cảnh lịch sử và các nhân tố tác động đến quá trình hình thành, phát triển của văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng

Nghiên cứu các biểu hiện của văn hóa mộ của người Việt, rút ra đặc điểm văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng Từ đó có thể thấy được vị trí, vai trò và ý nghĩa của văn hóa mộ đối với đời sống xã hội và tâm linh của người Việt tại Đà Nẵng

Phạm vi không gian nghiên cứu: Tập trung đi sâu nghiên cứu văn hóa mộ tại

một số vùng ở thành phố Đà Nẵng như: Nghĩa trang Gò Cà, nghĩa trang Hòa Sơn, nghĩa trang Hòa Quý

Phạm vi thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu về văn hóa mộ ở thành phố Đà

Nẵng từ khi ra đời cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tư liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp logic và lịch sử để xem xét các sự vật, hiện tượng, kết hợp với các phương pháp như thống

Trang 10

kê, mô tả, phân tích, tổng hợp Vận dụng các phương pháp đó, trong quá trình nghiên cứu tôi thực hiện đề tài qua các bước sau:

Thứ nhất: Tìm kiếm, sưu tầm tập hợp tư liệu cần thiết, phù hợp với nội dung

nghiên cứu của đề tài Tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu đang được lưu trữ tại các thư viện tại Đà Nẵng, Quảng Nam… Ngoài ra còn tìm kiếm tư liệu ở bạn bè, cô giáo hướng dẫn

Thứ hai: Sau khi thu thập đủ tài liệu, tôi tiến hành phân tích, thống kê các

nguồn tư liệu để tìm ra được những kiến thức cần thiết, phù hợp với vấn đề đang nghiên cứu từ đó đưa ra những kết luận cuối cùng để đưa vào đề tài

5.2 Phương pháp thực địa

Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp trên, chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu thực địa, khảo sát thực tế tại các nghĩa trang và thu thập các thông tin từ những người làm trong công tác bảo tồn, tổ chức các nghi thức, nghi lễ chôn cất tại thành phố Đà Nẵng, các bậc cao niên của một số dòng họ lâu đời ở Đà Nẵng

6 Đóng góp đề tài

- Về mặt khoa học:

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng, nên đóng góp lớn nhất của đề tài là khảo cứu một cách khái quát về văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng, góp phần làm phong phú thêm về giá trị văn hóa tín ngưỡng tại địa phương Đề tài đã hệ thống hóa, đi sâu tìm hiểu những nét văn hóa mộ, những nghi thức tang lễ, kiến trúc mộ…

- Về mặt thực tiễn:

Với kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ giúp cho người dân hiểu rõ về giá trị cũng như ý nghĩa của văn hóa mộ ở thành phố Đà Nẵng để từ đó giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp Bên cạnh đó, đề tài góp phần làm phong phú, đa dạng các nguồn tư liệu tham khảo cho quá trình học tập cũng như nghiên cứu về lịch sử - văn hóa tại địa phương

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ

VĂN HÓA MỘ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Đà Nẵng gồm có vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15°15' đến 16°40' vĩ độ bắc và từ 107°17' đến 108°20' kinh độ Đông Phía Bắc Đà Nẵng giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15°45’ đến 17°15’ vĩ độ bắc, 111° đến 113° kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam

Đà Nẵng nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam

về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội

764 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra,

Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố

cổ Hội n, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Mặt khác, trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa

Với những yếu tố vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi như vậy, Đà Nẵng ngày càng phát triển nhanh chóng và bền vững

Trang 13

1.1.1.2 Khí hậu

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao

và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc

và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm ở thành phố Đà Nẵng có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài

Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Đà Nẵng vào khoảng 25,9 °C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28 - 30 °C và thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18 - 23 °C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C

Độ ẩm không khí trung bình ở Đà Nẵng là 83,4%, cao nhất vào các tháng 10,

11, trung bình từ 85,67 - 87,67% và thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình từ 76,67 - 77,33%

ượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng và thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23 - 40 mm/tháng

Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ, nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng và ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng [62]

1.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Về tài nguyên đất, Đà Nẵng có tổng diện tích 1.255,53 km², trong đó đất lâm

nghiệp chiếm 514,21 km², đất nông nghiệp chiếm 117,22 km², đất chuyên dùng (sử dụng cho mục đích công nghiệp, xây dựng, thủy lợi, kho bãi, quân sự ) chiếm 385,69 km², đất ở chiếm 30,79 km² và đất chưa sử dụng, sông, núi chiếm 207,62 km²

Trang 14

Trên địa bàn thành phố có các loại đất khác nhau như: Cồn cát và đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng

Về tài nguyên biển, Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, trong đó có vịnh

Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà Vịnh Đà Nẵng có mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác, ngoài

ra do nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông

và thông thương đường thuỷ Mặc khác, vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn

Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km², có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11 loài tôm, 2 loại mực và 3 loại rong biển) với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có độ sâu từ 50 - 200m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50m (chiếm 31%), vùng nước sâu trên 200m (chiếm 20,6%) Hàng năm có khả năng khai thác trên 150.000 - 200.000 tấn hải sản các loại

Đà Nẵng có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà thì có những bãi san hô lớn, cho nên Đà Nẵng có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển

Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt

Về tài nguyên nước: Đối với nguồn nước mặt, hệ thống sông suối ở Đà Nẵng

nhiều, phân bố đều, rất thuận lợi cho việc phân bố và sử dụng Do vậy có đủ lượng nước để sử dụng và tưới cho cây trồng quanh năm Đối với sông ngòi, các con sông của thành phố Đà Nẵng đều bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc thành phố và tỉnh Quảng Nam Hầu hết các sông ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc Có 2 sông chính là sông Hàn (chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180km²) và sông

Trang 15

Cu Đê (chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426km²) Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông: Sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản tạo điều kiện tốt để xây dựng thành vùng nuôi thủy sản với các loại chính như: Cá mú, cá hồi, cá cam, tôm sú, tôm hùm…

Về tài nguyên rừng, Đà Nẵng có diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành

phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất có rừng là 15.933 ha Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là 17.468 ha Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176 ha

Rừng ở Đà Nẵng phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp, tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m³ [58]

“Đà Nẵng” là biến dạng của từ Chăm cổ “Daknan”

Vào năm 1306, thông qua cuộc hôn nhân của Vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) với Công chúa Huyền Trân bằng việc nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần thì các làng xóm của người Việt bắt đầu được hình thành Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), Vua Trần nh Tông sai đổi tên châu Ô và châu Lý thành châu Thuận và châu Hoá, Đà Nẵng từ đây là phần đất thuộc châu Hóa

Trang 16

Từ sau năm 1446, Đà Nẵng thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa Sau khi sáp nhập vào Đại Việt, vùng Đà Nẵng trở vào vẫn là miền biên viễn, luôn bị quấy nhiễu và cướp phá Vào năm 1470, ê Thánh Tông đánh bại quân Chiêm Thành và mở rộng biên giới Đại Việt đến mũi Nạy (giữa Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay) thì vùng đất này mới được bình ổn và bắt đầu có những cuộc khai phá mở mang Những cư dân Việt đến sinh sống ở vùng này đã tiếp nhận và cải biến những yếu tố của văn hóa Chăm Pa để hòa nhập vào văn hóa Việt

Thời kỳ các chúa Nguyễn cũng đánh dấu sự thành lập của Hải đội Hoàng Sa với nhiệm vụ ra đóng ở quần đảo Hoàng Sa, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: Đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm đem về nộp cho triều đình Quá trình hoạt động của Hải đội Hoàng Sa cũng là quá trình xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa) kéo dài từ đầu thế kỷ XVII

Với vị trí chiến lược quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự an nguy của kinh đô Phú Xuân, Đà Nẵng là một quân cảng và một thương cảng quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn Ngay sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã chú trọng xây dựng tại đây một hệ thống quản lý và phòng thủ cảng biển đặc biệt Năm 1813, triều đình sai Nguyễn Văn Thành lập pháo đài Điện Hải và đồn An Hải nằm hai bên

tả hữu sông Hàn để quan sát ngoài biển và phòng thủ Đà Nẵng

Nhà Nguyễn tiếp tục thực thi nhiều chính sách khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa Năm 1816, Vua Gia ong chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình Năm 1835, Vua Minh Mạng cho xây miếu, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây Đội Hoàng Sa được trao nhiều nhiệm vụ: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ quần đảo Hải đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương

Năm 1858, cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam khởi đầu bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng Ngày 25 tháng 8 năm 1883, triều đình Huế buộc phải ký với

Trang 17

Pháp hiệp ước Harmand Theo điều 6 và 7 của Hiệp ước này, ngoài việc yêu cầu mở cửa Đà Nẵng để thông thương còn quy định rằng Pháp sẽ được phép lập các khu nhượng địa ở đây Ngày 17 tháng 8 năm 1888, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập ba thành phố ở Việt Nam là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng

Ngày 24 tháng 5 năm 1889, Toàn quyền Đông Dương Étienne Richaud ra nghị định thành lập thành phố Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng là thành phố loại 2, tương tự như thành phố Chợ Lớn thành lập trước đó Đơn vị hành chính này chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương thay vì triều đình Huế

và đổi tên Đà Nẵng thành Tourane.

Ngày 15 tháng 1 năm 1901, dưới sức ép của Pháp, vua Thành Thái buộc phải

ký một đạo dụ nới rộng nhượng địa Đà Nẵng thêm 14 xã, cụ thể là thêm 8 xã thuộc huyện Hòa Vang bên tả ngạn sông Hàn và 6 xã thuộc huyện Diên Phước bên hữu ngạn sông Hàn Ngày 19 tháng 9 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách Đà Nẵng khỏi tỉnh Quảng Nam để trở thành một đơn vị hành chính độc lập gồm 19 xã Như vậy vào đầu thế kỷ 20, thành phố Tourane (Đà Nẵng) đã vươn về phía tây và tây bắc, còn phía đông thì đã vượt sang hữu ngạn sông Hàn chiếm trọn bán đảo Sơn Trà

Đầu thế kỷ 20, Tourane (Đà Nẵng) được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu, sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ được hình thành và phát triển, cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane (Đà Nẵng) trở thành trung tâm thương mại quan trọng

Năm 1945, sau nhiều lần đổi tên Hội đồng Chính phủ ra quyết nghị giữ nguyên tên cũ của các đơn vị hành chính từ cấp kỳ, thành phố, tỉnh, huyện trong cả nước để tiện việc thông tin liên lạc và công văn giấy tờ Thành phố trở lại tên gọi cũ

Đà Nẵng Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính phủ Quốc gia Việt Nam dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại Từ tháng 10 năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành phân chia lại địa giới hành chính úc này, Đà Nẵng trực thuộc tỉnh

Trang 18

Quảng Nam Đến ngày 31 tháng 7 năm 1962, tỉnh Quảng Nam được tách thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín

Tháng 3 năm 1965, các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng

và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật

Năm 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho phân chia lại địa giới hành chính Đà Nẵng, giữ nguyên 3 quận như cũ, chỉ sáp nhập 28 khu phố bên dưới cấp quận thành 19 phường Thị xã Đà Nẵng được đặt dưới quyền điều hành của Hội đồng thị xã gồm 12 ủy viên và do một thị trưởng đứng đầu

Sau khi hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, gồm 28 phường Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương Ngày 23 tháng 1 năm 1997, 5 quận Hải Châu, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê được thành lập Ngày 15 tháng 7 năm 2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1 Năm 2005, một phần huyện Hòa Vang được tách ra và thành lập nên quận mới là quận Cẩm Lệ

Để chuẩn bị cho một cuộc bức phá của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, những năm qua, Đà Nẵng đã và đang nỗ lực cải thiện hình ảnh, vị thế của mình, ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Sau khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, Đà Nẵng luôn đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn bình quân chung của Việt

Trang 19

Nam GDP bình quân đầu người năm 2011 là 2.283 USD, trong khi trung bình cả nước là 1.300 USD

1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội

Về tình hình kinh tế, Đà Nẵng đang là một trong những thành phố phát triển

nhất hiện nay của miền Trung Trong những năm trở lại đây, kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh và vững chắc Vì vậy, việc xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn với các chức năng

cơ bản là một trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ của miền Trung và là trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục đào tạo của khu vực là tất yếu khách quan nhằm tranh thủ thời cơ và khai thác lợi thế vốn có của thành phố

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2013 (giá so sánh 2010) của thành phố Đà Nẵng ước đạt 41.570 tỷ đồng, tăng 8,11% so cùng kỳ năm 2012 Trong đó: Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 2,80%, khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 4,62%, khu vực dịch vụ tăng 11,05% so với năm 2012 và thuế sản phẩm tăng 3,99%

so với cùng kỳ năm trước Năm 2013, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 8,11% thì vai trò ngành dịch vụ đóng góp tăng trưởng 6,17%, công nghiệp đóng góp tăng trưởng 2,08%, xây dựng ảnh hưởng giảm 0,6%, nông lâm, thủy sản chỉ đóng góp tăng 0,07%, thuế sản phẩm đóng góp tăng trưởng 0,39%

Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước năm 2013 (giá hiện hành) như sau: Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp 2,37% (2012 là 2,62%), khu vực công nghiệp, xây dựng 29,74% (2012 là 31,32%), khu vực dịch vụ 57,95% (2012 là 56,08%) và Thuế sản phẩm 9,94% (2012 là 9,99%)

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) đạt 38.384 tỷ đồng, tăng 11,39% so với cùng kỳ Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp (giá so sánh 2010) đạt 2.097 tỷ đồng tăng 3,71% so với cùng kỳ Giá trị sản xuất dịch vụ (giá so sánh 2010) đạt 40.574 tỷ đồng tăng 10,9% so với cùng kỳ Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 1.002 triệu USD, tăng 9,99%so với cùng kỳ [59]

Trang 20

- Thu ngân sách nhà nước

Tổng thu cân đối ngân sách trên địa bàn 17.003 tỷ đồng, đạt 126% so với dự toán Trong đó: Ước tính thực hiện tổng thu nội địa (thu thuế, phí, thu khác và thu tiền sử dụng đất) là 8.170 tỷ đồng, đạt 100% so với dự toán giao Thu thuế xuất nhập khẩu: 2.130 tỷ đồng, đạt 73,7% là do kim ngạch nhập khẩu mặt hàng xăng dầu giảm mạnh, dẫn đến thuế nhập khẩu của mặt hàng này giảm theo [59]

- Chi ngân sách địa phương

Dự ước thực hiện chi chi ngân sách địa phương năm 2013 là 15.925 tỷ đồng, tăng 3,59% so với dự toán Cụ thể một số lĩnh vực như sau: Chi đầu tư phát triển, ước tính thực hiện 9.169 tỷ đồng Chi xây dựng cơ bản, vốn trong nước uớc tính chi là 6.594 tỷ đồng, bằng 81,5% dự toán, nguồn vốn ngoài nước 168 tỷ đồng Chi thường xuyên, ước thực hiện là 4.102 tỷ đồng, trong đó: Chi theo dự toán đã trừ tiết kiệm là 3.820 tỷ đồng, đạt 95,1% dự toán giao Nếu tính các khoản chi bổ sung do thay đổi chính sách chế độ, thực hiện cải cách tiền lương, các khoản phụ cấp, các chế độ chính sách mới phát sinh trong năm và các nội dung nhiệm vụ năm trước chuyển sang năm 2013 thì đạt 102,1% dự toán giao [59]

- Về ngoại thương

Dự ước kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2013 đạt 1.002 triệu USD, tăng 9,99% so cùng kỳ năm trước Trong đó: Hàng nông lâm sản ước đạt 3,71 triệu USD, bằng 88,96% so cùng kỳ Hàng thủy hải sản ước đạt 141 triệu USD, tăng 20,01% so cùng kỳ Hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ước đạt 858 triệu USD, tăng 8,61% so cùng kỳ năm trước

Dự ước kim ngạch nhập khẩu của năm 2013 là 991,16 triệu USD, tăng 9,08% so cùng kỳ năm trước Trong kim ngạch nhập khẩu: Khu vực kinh tế tư nhân đạt 346,51 triệu USD, tăng 9,04% so cùng kỳ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt kim ngạch 417,82 triệu USD, tăng 13,6% Kim ngạch nhập khẩu khu vực kinh tế nhà nước đạt 226,81 triệu USD, tăng 1,71% so cùng kỳ [59]

Trang 21

Về tình hình xã hội, trước hết là lĩnh vực giáo dục Năm 2009 - 2010 toàn

ngành có 437 đơn vị, trường học, tăng thêm 24 đơn vị so với năm học trước Duy trì 56/56 phường, xã đạt chuẩn xoá mù chữ, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, trung học

cơ sở và phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở đúng độ tuổi; 53/56 xã, phường đạt chuẩn phổ cập bậc trung học (tăng 03 xã, phường so với cuối năm 2009) Triển khai tốt kế hoạch tổ chức các kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh Kết quả thi Tốt nghiệp THPT đạt 96,68%, tăng 5,73% so với năm 2008 - 2009 Bổ túc THPT đạt 55,29%, tăng 16,7%

Về y tế, tiếp tục thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Tích cực triển khai công tác phòng chống dịch sốt xuất huyết, tiêu chảy cấp và một số dịch bệnh mùa hè trên địa bàn thành phố Duy trì 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế Tăng cường thực hiện công tác xã hội hóa hoạt động y

tế, tăng cường trang thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Trong năm, nhiều thành tựu khoa học và kỹ thuật y tế chuyên sâu được áp dụng vào chẩn đoán và điều trị, góp phần đáng kể vào việc bảo vệ sức khỏe nhân dân

Về lĩnh vực lao động - thương binh - xã hội, các thành phần kinh tế trên địa bàn ước tạo việc làm mới cho 32,2 nghìn lao động, đạt 100,6% kế hoạch Ngành chức năng thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng lao động, trả lương,

cho người lao động và hướng dẫn triển khai “chính sách bảo hiểm thất nghiệp” cho

các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp, ký hợp đồng với 13 cơ sở dạy nghề, tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2010

Tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ, đảm bảo an sinh xã hội như: Thăm, tặng quà các cơ sở xã hội, chi hỗ trợ gần 6 tỷ đồng cho trên 20.000 đối tượng xã hội,

hỗ trợ thêm 200.000đ/người/tháng đối với hộ đặc biệt nghèo đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và hỗ trợ 300.000đ/người/tháng đối với hộ đặc biệt nghèo không thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗ trợ 2,9 tỷ đồng cho 995 hộ đặc biệt nghèo còn sức lao động (mức 3.000.000 đồng/hộ), mua và cấp 113.797 thẻ bảo

Trang 22

hiểm y tế cho người nghèo, người mắc bệnh hiểm nghèo, dân tộc thiểu số, tổ chức dạy nghề cho 530 người nghèo

Thực hiện mục tiêu “có việc làm”, thành phố đã phối hợp tổ chức 17 phiên

chợ việc làm định kỳ với 868 đơn vị tuyển dụng và trên 13.866 lao động tìm việc làm tham gia, kết quả đã giới thiệu việc làm cho 7.623 lao động Thẩm định đề nghị phê duyệt 601 dự án cho vay giải quyết việc làm, tổng kinh phí 11,970 tỷ đồng, trong đó có 259 dự án cho vay đối với hộ di dời giải tỏa, kinh phí 5,170 triệu đồng [60]

Đến năm 2013, cùng với phát triển kinh tế, thành phố Đà Nẵng cũng chú trọng đến việc nâng cao đời sống xã hội, trước hết là lĩnh vực giáo dục Thành phố

sau một năm triển khai thực hiện đề án “chống mù chữ và phổ cập giáo dục”, tỷ lệ

người biết chữ nhóm tuổi 16 - 60 đạt 99,4%, tỷ lệ người biết chữ nhóm tuổi 15 - 35 đạt 99,4% Năm học 2012 - 2013, tại 7 quận, huyện trên địa bàn thành phố đã mở

10 lớp dành cho những người biết chữ và không mù chữ trở lại, với 106 học viên 100% xã, phường đạt chuẩn xóa mù chữ, 56/56 xã, phường được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học 56/56 xã, phường và 7/7 quận, huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục THCS và phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi 100%

xã, phường trên địa bàn thành phố có trung tâm học tập cộng đồng để phổ biến kiến thức, triển khai một số chuyên đề cho người dân…

Về y tế, Đà Nẵng hiện có 1.654 cơ sở hành nghề y tế ngoài công lập bao gồm

y tư nhân, y học cổ truyền, dược, kinh doanh mỹ phẩm, kinh doanh trang thiết bị y

tế, vaccine và sinh phẩm y tế Từ đầu năm đến nay, sở Y tế đã kiểm tra 165 cơ sở, phát hiện 65 cơ sở vi phạm

Về lao động việc làm, trong năm 2013 ước tính giải quyết việc làm cho hơn

30 nghìn lao động, đạt 96,77% so với kế hoạch năm 2013 Thẩm định trình các cấp phê duyệt và giải ngân cho vay năm 2013 là 37.117 triệu đồng với 1.583 dự án, thu hút 2.377 lao động (trong đó vốn uỷ thác từ ngân sách cho vay đối với hộ di dời giải toả 16.566 triệu đồng, 741 dự án thu hút 1.087 lao động)

Trang 23

Tổ chức 24 phiên giao dịch việc làm, thu hút 1.093 doanh nghiệp và 21.720 lượt người lao động đến tham gia giao dịch, kết quả sơ tuyển, phỏng vấn có 8.123 lao động được giới thiệu việc làm

Các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động trên địa bàn thành phố

đã đưa 200 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài sang các thị trường Nhật bản

71 người, Đài oan 10 người, Malaisia 114 người, U E 01 người, Hàn Quốc 04 người…

Tiếp nhận 8.851 người lao động đến đăng ký thất nghiệp, thẩm định và có quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho 7.861 trường hợp

Đã mua và cấp 97.884 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người thoát nghèo, người mắc bệnh hiểm nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, với kinh phí 55,24 triệu đồng Cho 3.210 hộ nghèo vay vốn với tổng kinh phí 49.298 triệu đồng, vận động xây dựng 207 nhà cho hộ nghèo có đất ở ổn định với kinh phí 7.869 triệu đồng, sữa chữa 277 nhà với kinh phí 2.649,63 triệu đồng Hỗ trợ sinh kế cho 3.043

hộ đặc biệt nghèo còn sức lao động và không còn sức lao động với kinh phí 6,086 tỷ đồng [59]

Nhìn chung, năm 2013, kinh tế thành phố đã có tín hiệu phục hồi nhờ các chính sách của Chính phủ và ãnh đạo thành phố triển khai nhiều biện pháp khắc phục khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, tăng cường thu hút đầu tư, huy động các nguồn vốn, quản lý tốt công tác đầu tư, kiểm soát, ổn định thị trường, đảm bảo an sinh xã hội và kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai Kết quả kinh tế thành phố có sự tăng trưởng khá trên các lĩnh vực dịch vụ du lịch, thông tin truyền thông, công nghiệp… an sinh xã hội được đảm bảo, giá cả thị trường hàng hóa ổn định, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, thể dục thể thao, khoa học công nghệ được đảm bảo và phát triển, an ninh chính trị

xã hội được giữ vững

Trang 24

1.1.4 Đặc điểm văn hóa

Lịch sử hình thành và phát triển của Đà Nẵng gắn liền với quá trình mở đất của người Việt về phương Nam Qua nhiều thế kỷ, địa giới hành chính có nhiều thay đổi nhưng tên gọi Đà Nẵng vẫn được lưu giữ với nhiều truyền thống tốt đẹp về văn hóa lịch sử và cách mạng

Đà Nẵng đã được biết đến là vùng đất trù phú với nhiều sản vật dồi dào, là vùng kinh tế, xã hội trọng điểm của miền trung, đồng thời rất nổi tiếng với các ngành nghề như: àng đá mỹ nghệ Non Nước, làng chiếu Cẩm Nê, làng nước mắm Nam Ô Ngoài ra, Đà Nẵng cũng có nhiều lễ hội nổi tiếng, thu hút đông đảo du khách tới đây như: ễ hội Quán Thế Âm, lễ hội pháo hoa, lễ hội Cá Ông…

Đà Nẵng cũng được mệnh danh là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” gắn liền với

tên tuổi các nhà danh nhân, khoa bảng, chí sĩ nổi tiếng như: Nguyễn Văn Thoại, Ông Ích Khiêm, Ông Ích Đường, Thái Phiên, Lê Thị Dãnh, ê Độ, Thái Thị Bôi…

Đà Nẵng cũng là nơi còn lưu giữ nhiều tín ngưỡng, phong tục, lễ hội: Tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ cô bác, lễ hội đình làng, cầu ngư, mục đồng, lễ tế

âm linh, tục cúng cơm mới, tục tang ma… Những sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán ấy thể hiện rõ nếp sống trọng đạo lý, đạo hiếu, nặng tình nặng nghĩa của con người Đà Nẵng

1.2 Khái niệm mộ

“Mộ (đồng nghĩa: mồ mả) là nơi người chết được chôn cất, hay còn được hiểu là phương thức táng người chết theo hình thức địa táng” [54]

“Mộ (dt: mồ mả): nơi chôn người chết” [26, tr.588]

Mộ thường nằm tập trung ở các nghĩa địa (nghĩa trang) hoặc nằm riêng lẻ trên một khu đất, với xác người chết hoặc tro đốt xác chôn bên dưới Về mộ cũng có nhiều cách gọi như sau:

Phần, vốn là đống đất, sau này được dùng để gọi mồ mả (mộ phần)

Trang 25

Nấm mồ, vốn chỉ phần đất chôn người chết

Chủng (mộ), vốn nghĩa là đỉnh núi Sau này gọi mộ cao là chủng

Lăng, vốn nghĩa là núi đất lớn Đời sau gọi mộ dành cho các bậc đế vương,

danh nhân, quý tộc là lăng…

Mộ thường chứa đựng những đồ vật, là dấu tích cho biết về cuộc sống và văn hóa của các thời kỳ trước đó như: Các lăng mộ của các bậc Đế vương, các ngôi mộ của người Chăm… trong đó thường có các loại trang sức, tượng người bằng đá, động vật bằng đá như các con ngựa, rùa, voi…

1.3 Vài nét về văn hóa mộ ở Việt Nam

Vào thời xa xưa, con người chưa có hành vi mai táng Về sau thì mới có hành vi chôn cất và xuất hiện một số nghi thức như táng bằng chum, vò, kèm theo

đó là việc chôn theo một số vật dụng Như các chuyên gia khảo cổ học ở bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa phát hiện 10 ngôi mộ cổ có niên đại hơn 3.000 năm Các ngôi mộ này táng bằng chum, táng vò và nhiều hiện vật chôn kèm tại thôn Tre

1, xã Trà Thọ, huyện Tây Trà - Quảng Ngãi Các chum được đặt nằm ngang và nằm nghiêng, trên miệng chum có một cái vò, dưới chum có nhiều đồ gốm [19]

Nhiều thế kỉ trôi qua, việc chôn cất và các nghi thức, nghi lễ táng mộ dần dần xuất hiện nhiều hơn và con người ngày càng quan tâm hơn đến mộ phần, qua đó văn hóa mộ cũng phát triển theo Như khi đoàn khảo cổ khai quật ngôi mộ cổ Cầu Xéo (thị trấn Long Thành, tỉnh Đồng Nai), đã cho thấy rằng: Ngôi mộ được chôn theo

dạng “trong quan - ngoài quách”… Áo quan nằm lọt chính giữa quách gỗ, với tấm

thiên làm bằng nửa thân cây và khoét rỗng rất nặng, được chế tác kỳ công, toàn bộ vòm cong tấm thiên phủ tấm minh tinh bằng vải mỏng đã bị mủn, mờ gần hết chữ

và trang trí dày đặc (hình họa nhận rõ nhất là dây leo và các hàng hoa cúc, hoa 5 - 6 cánh viền dọc, các hình vòng cung đối xứng rất đều nhau…)

Theo PGS.TS Phạm Đức Mạnh, phần đặc biệt nhất mà lần đầu tiên ông được thấy là toàn bộ phần bên trên của thi hài cụ bà đều được phủ bằng lá sen (một

Trang 26

nét văn hóa Phật giáo rất rõ ràng), sau đó là phần y phục chủ nhân đã bị mủn nát kết dính nhau thành khối, có thể nhận rõ nhiều lớp lụa, gấm in hoa cầu kỳ, tinh xảo, các tệp giấy bản dài và hẹp dọc hai bên thân… [25]

Đến ngày nay, văn hóa mộ đã phát triển mạnh mẽ và có mặt ở nhiều nơi trên đất nước ta với những nghi lễ, nghi thức táng mộ khác nhau

Đối với người Việt, văn hóa mộ không chỉ thể hiện đạo lý, nghĩa tình của

người sống đối với người đã khuất, mà nó còn có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần Mộ phần của người Việt thường xây theo nhiều môtíp, kiến trúc khác nhau Một số thì khi xây mộ thường áp dụng yếu tố phong thủy

Trước khi hạ huyệt thường có lễ tế thổ thần, đất đai Khi hạ huyệt xong thì mọi người thường rải những nắm đất hoặc hoa xuống huyệt, sau đó thì đứng trước

mộ vái lạy từ biệt Đúng 3 ngày kể từ khi chôn, thì làm lễ mở cửa mả Hằng năm thì còn có các lễ thanh minh, tảo mộ, chạp mộ… Khi thực hiện các nghi lễ, người ta sẽ đọc văn khấn hoặc vái miệng Ngoài ra, đối với mỗi tôn giáo, sẽ có những nghi thức, nghi lễ khác nhau

Với những người theo Phật giáo, ngoài các lễ hạ huyệt, mở cửa mả, thì còn

có nghi lễ trị huyệt, lễ quy lăng, mỗi nghi lễ, sẽ có các nghi thức tán tụng riêng, do các sư thầy, chư Tăng đảm nhận

Với Kitô giáo, họ cũng có lễ hạ huyệt, mở cửa mả nhưng các nghi lễ này

không có cúng kiến, thay vào đó, vị Linh mục và những người khác sẽ đọc các lời

nguyện và kinh Thánh để cầu nguyện cho người mất

Về yếu tố mộ phần, người Việt thường xây mộ cao khoảng từ 60cm - 90cm bằng xi măng hoặc ốp đá hay chạm khắc các hình bông hoa, con vật lên trên mộ phần, tùy theo gia đình giàu hay nghèo Ngoài ra còn có bia mộ, trên bia ghi rõ họ tên, ngày sinh, ngày mất, quê quán… Một số người còn xây thêm nhà bia, nhà mộ nhằm mục đích hạn chế những ảnh hưởng của thời tiết đến mộ phần

Trang 27

Trong khi đó, mồ mả của người Bana cũng đắp cao nhưng chung quanh lại

có hàng rào Trước khi hạ huyệt, họ cũng làm lễ tạ thổ địa Mồ mả được người nhà chăm sóc trong một năm, sau đó họ làm lễ rồi san phẳng Từ đó không ai còn ngó tới…

Người Brâu, lại có văn hóa mộ khá đặc biệt Lỗ huyệt rất nông, quan tài chôn

nửa kín, nửa hở, phần nắp được để lộ hoàn toàn trên mặt đất Trước khi từ giã người mất, người ta hòa tiết gà vào rượu và vẩy xung quanh nấm mồ, vứt những miếng gan gà quanh đó và ca những bài ca ly biệt Họ an ủi người chết nằm lại và khấn cầu đừng trở lại, kéo theo người khác đi…

Người Chăm (miền Trung) thì đào huyệt không sâu, khoảng hơn 1 thước

Huyệt thường đào gần mộ mẹ người chết Nhà mồ được làm trước khi chôn Người chết được người sống cho một phần của cải, bằng cách phá hỏng đi rồi bỏ ngoài mộ… Chôn cất xong, thân nhân người chết kiêng cữ một ngày, ở luôn trong nhà, không ra ngoài và mua bán gì…

Người Chứt thì khi tiễn người mất đến nơi đã định, thấy cúng cầm quả trứng

gà ném xuống đất, nếu trứng gà không vỡ thì đào huyệt ở chỗ quả trứng rơi Chôn xong, người ta để bát cơm, quả trứng và những đồ dùng sinh hoạt hằng ngày của người chết lên trên mộ Mộ đắp thành nấm nhỏ, không có nhà mồ Ba ngày sau, tộc trưởng mang lễ (cơm, gà) tới mộ gọi hồn về nhà Từ đó, bỏ mả hẳn, kể cả ngày giỗ con cháu cũng không nhớ…

Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có một văn hóa mộ riêng của mình,

có phong tục tập quán khác nhau, có hành vi chôn cất khác nhau và có nghi thức táng mộ khác nhau… Những văn hóa đó đôi lúc trái ngược nhau nhưng lại có điểm tương đồng giống nhau đó là công nhận sau khi con người mất đi về phần thể xác thì vẫn tồn tại phần linh hồn ở trong nó Vì lý do này nên con người mới xây các ngôi mộ để giữ thể xác của người mất, mặc dù cách giữ đó mang nhiều tính chất khác nhau theo ý niệm của người sống

Trang 28

CHƯƠNG 2: MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA VĂN HÓA MỘ Ở

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Mộ ở thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Văn hóa mộ là một văn hóa phổ biến của cộng đồng dân cư người Việt, nó không chỉ thể hiện đạo lý, đạo hiếu nhằm tưởng nhớ người mất, mà nó còn mang nhiều giá trị tinh thần, tác động mạnh mẽ đến đời sống con người

Vào thời xa xưa, nơi đây có các cư dân cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã định

cư từ hàng nghìn năm trước Người Sa Huỳnh đã dựng lên một nền văn minh lúa nước và dâu tằm nổi tiếng Họ không chỉ là những cư dân nông nghiệp mà còn đi biển và có hoạt động giao thương bằng đường biển khá phát triển Và khi đời sống kinh tế đạt được nhiều bước tiến quan trọng đó thì đời sống tinh thần bắt đầu được chú trọng, văn hóa mộ từ đó cũng bắt đầu xuất hiện và phát triển Như tại di tích vườn đình Khuê Bắc (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn), các nhà khảo cổ học

đã phát hiện và khai quật lớp dưới (0.40 - 0,85), mang tính chất di chỉ xen mộ táng Đây là dạng mộ nồi úp nhau, một dạng mộ vò sớm, đã được phát hiện ở địa điểm Bàu Tró, được xác định trước đây thuộc hậu kỳ đá mới hay là sơ kỳ kim khí… Dựa vào kiểu thức mộ, hiện vật gốm, đá… các nhà khảo cổ cho rằng Vườn đình Khuê Bắc (lớp dưới) thuộc giai đoạn văn hóa Tiền Sa Huỳnh - Sơ kỳ kim khí… [50]

Khi nhà nước Chăm Pa ra đời, trải qua nhiều thế kỷ, những giá trị văn hóa của các phong cách nghệ thuật đỉnh cao được biểu hiện đậm nét qua tôn giáo, tín ngưỡng Văn hóa mộ thời kỳ này cũng chịu nhiều ảnh hưởng và phát triển hơn, đã

xuất hiện đồ tùy táng và “tục” bỏ châu báu, trang sức chôn theo người chết Như tại

di tích Cẩm Mít (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang), các nhà khảo cổ khai quật được các phế tích tháp Chăm cho rằng: Ngoài chức năng là đền tháp thờ các vị thần, còn

có sự xuất hiện của vò gốm men và đồ tùy táng, nơi đây có thể còn mang vai trò của tháp mộ [10]

Trang 29

Hay tại di tích Gò ăng (phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ), anh Chi, một người dân ở thôn Đông Phước cho biết: Trước đây khu vực này có rất nhiều mộ Chăm Đặc biệt hầu hết các mộ Chăm có hình dáng giống như cái mai rùa, kích thước khung mộ bề ngang khoảng 2m, bề dài gần 3,5m, bề cao khoảng 0,7m, được làm bằng hợp chất ô dước Nhiều hũ vàng cũng tìm được từ trong những mộ mai rùa này Phần lớn là vàng có hình thù như lá bồ đề nhưng nhỏ bằng 3 ngón tay chụm lại, hoặc hình chùm cau [46]

Vào năm 1306, thông qua cuộc hôn nhân của Vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) với Công chúa Huyền Trân bằng việc nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần thì các làng xóm của người Việt bắt đầu được hình thành tại đây

Từ thế kỷ XV - XIX, khi vùng đất này trở nên trù phú thịnh vượng, kinh tế, văn hóa phát triển mạnh mẽ, các đoàn người Việt tiếp tục nam tiến, làng xã mọc lên khắp nơi, các thương nhân cùng tàu thuyền trong nước và ngoài nước thường xuyên

ra vào mua bán, trao đổi hàng hóa Văn hóa mộ lúc này cũng đã có nhiều ảnh hưởng của văn hóa Việt và càng ngày tác động lớn đến đời sống tinh thần của người dân Yếu tố phong thủy, địa lý đã được sử dụng nhiều trong văn hóa mộ, các nghi thức, nghi lễ táng mộ, kiến trúc mộ đã có hệ thống rõ ràng và có mang nhiều ảnh hưởng của màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng Như các nhà nghiên cứu thuộc Phân viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế đã tìm ra 2 mộ cổ cùng và nhiều văn bia rất độc đáo tại thành phố Đà Nẵng Ngôi mộ thứ nhất được tìm thấy trong khu dân cư xóm 10/53, đường Nguyễn Văn inh, phường Nam Dương, quận Hải Châu Ngôi mộ thứ hai nằm trên đường Nguyễn Hoàng, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê Chủ nhân ở

2 ngôi mộ này đều có gốc tích là tầng lớp giàu có lúc xưa Cả 2 văn bia chính trên

mộ đều có chữ “Việt cố” - là chữ có gốc tích thời chúa Nguyễn Điều này được

khẳng định qua nghiên cứu của nhiều nhà sử học và khảo cổ học ở 2 lăng người vợ chúa Nguyễn tại huyện Duy Trinh và Duy Xuyên (Quảng Nam)

Văn bia ở mộ thứ nhất có ghi năm Bính Dần Theo giả thiết các nhà nghiên cứu đặt ra là mộ được xây dựng nằm 1 trong 3 mốc: 1626, 1686 hay 1746 (theo niên

Trang 30

kỷ 60 năm) Trên văn bia tại ngôi mộ thứ 2, theo các nhà nghiên cứu, mộ này thuộc niên đại từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên đến chúa Nguyễn Phúc Khoát (1679 hay 1739)

Hình dáng hai ngôi mộ cổ được đắp nổi, gò mộ nhô lên theo hình lưng ngựa Hoa văn trang trí trên bia bằng đá sa thạch được khắc rất sâu nhằm giữ được lâu theo thời gian Đỉnh bia có hình mặt trời và hoa lửa - là hệ ký hiệu rất đặc trưng vào thời đầu chúa Nguyễn Diềm bia có nhiều đường nổi và sự phổ biến môtíp hoa sen tượng trưng cho tư tưởng Phật giáo dưới thời chúa Nguyễn [16]

Từ những yếu tố trên cho thấy rằng, văn hóa mộ thời kỳ này đã có nhiều biến đổi, bia mộ là yếu tố mới của thời kỳ này, các mảng trang trí, chạm khắc thì thể hiện tinh tế hơn và đã có sự ảnh hưởng bởi màu sắc tôn giáo Nhìn chung, văn hóa mộ thời kỳ này mang nhiều yếu tố đặc sắc và phát triển mạnh mẽ

Từ nửa sau thế kỷ XIX - XX, Đà Nẵng phải đối diện cuộc chiến tranh xâm lược của phương Tây và chịu sự đô hộ Văn hóa mộ lúc này bắt đầu bị ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây và ảnh hưởng màu sắc của Kitô giáo Biểu hiện là tại nghĩa địa Y- Pha - Nho, đây là nghĩa địa tập thể chôn những binh sĩ Pháp và Tây Ban Nha

tử nạn từ cuộc tấn công đầu tiên vào cảng Đà Nẵng mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.Hiện nay còn một căn nhà nhỏ, mặt tiền có chiếc thánh giá với

một từ tiếng Pháp “OSSUAIRE” (có nghĩa là “đồi hài cốt, nhiều lớp chồng lên

nhau”) chạm nổi Ngôi nhà có bề ngang hơn 3m, dài trên 12m, cao 3,5m, cuối

tường là bàn thờ theo nghi thức Thiên chúa giáo Xung quanh là 32 ngôi mộ lớn nhỏ

có bia hoặc không bia [57]

Mặt khác, vì phải sống dưới chiến tranh, nên đời sống nhân dân đói khổ, tâm thức của người dân đối với văn hóa mộ không còn như trước nữa Vì lẽ đó, văn hóa

mộ ở thời kỳ này suy yếu rõ rệt Mộ xây dựng chỉ bài trí đơn giản, nghi lễ không cầu kỳ, đầy đủ

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi hòa bình lặp lại đã được một thời gian, đời sống nhân dân dần được ổn định và có bước phát triển Văn hóa mộ bắt

Trang 31

đầu được phục hồi, mặc dù lúc này một số hình thức, nghi lễ đã bị mất Đến nay, khi kinh tế, xã hội phát triển, văn hóa mộ đang có những bước chuyển mình và có vai trò to lớn đối với đời sống tinh thần của người dân Đà Nẵng

2.1.2 Phân loại

Trong quá trình đi thực địa, tôi nhận thấy rằng mộ phần ở Đà Nẵng thường được chôn tập trung tại các nghĩa trang lớn như: Nghĩa trang Gò Cà, nghĩa trang Hòa Sơn… Các ngôi mộ ở đây có thể phân theo hai tiêu chí: Theo tôn giáo và theo

sở hữu

2.1.2.1 Theo tôn giáo

Ngoài mộ phần của những người không theo tôn giáo (hay còn gọi là người

“lương”) thì còn có mộ phần của những người theo Phật giáo và Kitô giáo, hai tôn

giáo lớn nhất ở thành phố Đà Nẵng

Người “lương” xây mộ theo hình chữ nhật, chiều dài khoảng 2m - 2,5m,

chiều rộng từ 0,6m - 1m Mộ thường ốp đá hoặc gạch, có chạm khắc thêm hoa văn xung quanh mộ phần

Về Phật giáo, mộ phần của họ xây giống như người “lương”, một số khác

thì họ xây mộ theo hình hoa sen Mặt khác, các nhà sư, chư Tăng thì họ thường xây tháp mộ để lưu giữ tro cốt, như ở Ngũ Hành Sơn hay ở chùa Tịnh Quang (phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu)…

Về Kitô giáo, họ cũng xây mộ theo hình chữ nhật như người “lương”, nhưng trên mộ họ thường gắn thêm “chữ thập” biểu tượng của tôn giáo mình

Nhìn chung, trong một nghĩa địa hay một nghĩa trang thì mộ phần của người

“lương”, người theo Phật giáo và người theo Kitô giáo thường xây xen kẽ, nằm

chung với nhau trong một khu hay một phần đất Nhưng cũng có một số trường hợp tại nghĩa trang Hòa Sơn hay nghĩa trang núi Sọ, nhiều ngôi mộ của người theo Phật

giáo và người theo Kitô giáo được xây riêng biệt mỗi khu khác nhau

Trang 32

2.1.2.2 Theo sở hữu

Trong nghĩa trang, mộ phần còn phân theo loại hình mộ vô chủ, mộ tư gia và

mộ tộc họ

Mộ vô chủ là những ngôi mộ được xây từ lâu, qua nhiều năm bị bỏ hoang,

không có ai chăm sóc, nhìn nhận Ngoài ra, mộ vô chủ còn do khi giải tỏa, quy hoạch dự án, nhiều ngôi mộ bị bốc lên nghĩa trang xây mới mà người thân không biết hoặc không lên bàn giao, cho nên khi lên nghĩa trang, các ngôi mộ này trở thành vô chủ

Mộ tư gia là những ngôi mộ được các gia đình xây nên, hằng năm vẫn có

người lên chăm sóc Trong một khu đất, có nhiều mộ phần của nhiều gia đình khác nhau được chôn cùng với nhau

Mộ tộc họ là những mộ phần có họ hàng với nhau hay cùng “tôn tộc”, “chi”

hoặc “phái” được chôn chung cùng một khu đất Trong đó, có mộ ngài Tiền hiền hay mộ ngài Thủy tổ của một “tộc”, một “phái” hay một “chi” được xây phía trên

cùng khu đất, nằm ngay ở trung tâm, tiếp theo xuống phía dưới là mộ phần của những người thuộc vế nhỏ hơn

2.2 Quan niệm của người Đà Nẵng về xây dựng mộ phần

Đối với người dân Đà Nẵng xây dựng mộ phần là một việc rất quan trọng, đó

là cử chỉ đạo hiếu, đạo nghĩa của người sống đối với người mất Họ luôn muốn làm những điều tốt đẹp cuối cùng cho người mất, muốn người mất được mồ yên, mả đẹp, mộ phần được ấm cúng

Mặt khác, yếu tố tâm linh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng

mộ phần Họ tin rằng giữa người sống và người mất luôn có một mối liên hệ tương quan nhất định, mộ phần tốt hay xấu đều dẫn đến hậu quả cho tang quyến nơi trần thế Đối với họ, xây mộ phần cho người mất, cũng như là xây nhà cho người sống

Theo ông Tuệ Vinh, một thầy địa lý, phong thủy ở phường Thạc Gián, quận Thanh Khê cho biết: Nhiều người cho rằng, nếu mộ phần có tốt, kết phát thì người

Trang 33

sống, con cháu của người mất sẽ làm ăn phát đạt, công danh sự nghiệp, học hành sẽ thuận lợi, tốt đẹp Còn nếu mộ phần mà xấu, không tốt thì sẽ gây ra nhiều vấn đề tiêu cực, tai ương, dẫn đến làm ăn khó khăn, công danh sự nghiệp trì trệ, sức khỏe yếu kém Cho nên khi xây dựng mộ phần, nhiều người tìm tới các thầy địa lý, phong thủy để áp dụng phong thủy, chọn vị trí, phương hướng, ngày giờ tốt đẹp để xây mộ

Bảng 1: Quan niệm của người dân Đà Nẵng về xây dựng mộ phần

Để người chết

có “nhà” để ở

Đem lại may mắn, thịnh vượng cho người sống

Về kích thước, quy mô

To Vừa Nhỏ

“Nguồn: Theo kết quả điều tra, khảo sát của sinh viên”

Qua quá trình khảo sát, điều tra ngẫu nhiên 100 người dân (59 nam và 41 nữ) nằm trên địa bàn thành phố về quan niệm xây dựng mộ phần, gồm 31 người ở quận Thanh Khê, 11 người ở quận Sơn Trà, 12 người ở Ngũ Hành Sơn, quận Hải Châu có 18 người, Cẩm Lệ 8 người, Liên Chiểu 6 người và huyện Hòa Vang có 14 người Thì 100% đều cho rằng xây mộ là cử chỉ đạo hiếu, đạo nghĩa của người sống đối với người mất

Ngoài ra, 47% cho rằng, ngoài đạo hiếu, đạo nghĩa thì việc xây mộ còn có thể đem lại sự may mắn, thịnh vượng cho người sống Trong khi đó, 6% lại cho rằng xây mộ cho người chết cũng như xây nhà cho người sống

Về kích thước, quy mô xây dựng mộ phần thì 9% cho rằng xây mộ càng to, quy mô càng lớn thì càng tốt Trong khi đó 89% thì cho rằng chỉ nên xây mộ vừa phải Chỉ có 2% là muốn xây dựng mộ phần nhỏ

Trang 34

Nhìn chung, có rất nhiều quan niệm khi xây dựng mộ phần và dù quan niệm thế nào đi chăng nữa thì việc xây dựng mộ phần luôn đóng một vai trò quan trọng đối với người dân Đà Nẵng

2.3 Biểu hiện văn hóa mộ

2.3.1 Vị trí và phương hướng mộ

Vị trí nơi chôn cất thường là ở những vùng đất có địa thế cao, ở trên đồi hoặc

địa hình bán sơn địa Ngoài ra cũng có trường hợp người ta chôn cất ở trên núi hoặc lưng chừng núi Những vị trí này nhằm mục đích hạn chế lũ lụt và xa khu dân cư hoặc cũng có thể là nhằm mục đích phong thủy Hiện nay thì phần đông người ta chôn mộ tại các nghĩa trang lớn như: Nghĩa trang Hòa Sơn, nghĩa trang núi Sọ, nghĩa trang Gò Cà

Phương hướng của mộ phần thường tùy thuộc vào hai trường hợp:

Thứ nhất là do tang quyến, người thân tin vào các yếu tố tâm linh nên họ lựa chọn phương hướng của mồ mả cho người mất Hướng này được chọn dựa theo yếu

tố phong thủy của thực địa để tìm ra “cát huyệt” hoặc dựa trên tuổi của người chết

để xây mộ theo hướng không gây ảnh hưởng xấu cho người sống

Thứ hai là do tang quyến, người thân không tin vào các yếu tố tâm linh nên

họ không quan tâm đến phương hướng của mộ phần, hướng gì cũng được

Đối với trường hợp thứ nhất, vị trí và phương hướng của mộ phần rất được

coi trọng Thế đất, vị trí, hướng mộ luôn có những ảnh hưởng to lớn đến sự suy vong, hưng thịnh của cuộc sống tang quyến nơi trần thế Cho nên để tìm được vị trí, phương hướng thích hợp cho ngôi mộ, người ta dựa rất nhiều vào yếu tố phong thủy

Yếu tố phong thủy của ngôi mộ bắt đầu từ việc đi tìm thế đất tốt để chôn

người mất hay còn gọi là “âm trạch” Người xưa xem âm trạch là gốc còn dương

trạch là nhánh ngọn, nên có chăm lo mộ phần rất chu đáo, thì con cháu mới được hưng thịnh

Trang 35

Theo ông Tuệ Vinh cho biết: Ngày nay, việc áp dụng phong thủy để tìm vị trí, phương hướng chôn mộ phụ thuộc vào hai yếu tố, một là yếu tố tìm đất chôn

mộ, hai là yếu tố chôn mộ tại nghĩa trang

Để tìm đất chôn mộ, đầu tiên ta phải xem xét địa thế của sơn mạch Sau đó,

xem xét về địa thế của huyệt, cần nhất tìm nơi âm trạch có sinh khí Thuyết phong thủy cho rằng sinh khí vận hành trong lòng đất dựa theo hình thế của núi

Cần xem xét núi bắt đầu từ đâu và dừng lại nơi nào Nơi núi dừng lại có địa thế bằng phẳng rộng rãi, có dòng nước chảy uốn quanh kề gần, huyệt đất đó sẽ tích

tụ được nhiều sinh khí, huyệt đất đó sẽ có long mạch, tức là nơi “cát địa” hay

“phúc địa” Khi tìm được mảnh đất có địa thế thích hợp như vậy, người ta sẽ tiến

hành chôn mộ theo phương hướng thích hợp

Về yếu tố chôn mộ tại nghĩa trang, vì được bố trí theo một khuôn số thứ tự

do sự sắp xếp của ban quản lý nghĩa trang nên phương hướng của mộ phần sẽ được quy định bất kỳ Do vậy, thầy địa lý lúc này sẽ xem la bàn, rồi điều chỉnh quan tài trong huyệt mộ chếch về một phương hướng, tọa độ thích hợp nào đó, để hạn chế

bớt tính “hung” (nếu hướng mộ xấu) hoặc nhằm tìm hướng “cát”

Đối với những ngôi mộ chôn trong khu đất của “Gia tộc” mà được bố trí,

quy hoạch ở nghĩa trang, thì phương hướng của mộ phần đó sẽ phụ thuộc vào phương hướng của mộ phần tổ tiên được xây trước đó Lúc này, thầy địa lý cũng chỉ điều chỉnh quan tài chênh về một tọa độ, phương hướng nào đó

Ông Tuệ Vinh còn cho biết thêm: Dù phong thủy là vậy nhưng huyệt cát, huyệt hung còn do chọn giờ, ngày, tháng và năm hạ huyệt Ngoài ra, cũng phải chọn giờ tránh các loại trùng tang liên táng, trùng tam tang, tam sát… để tránh việc hung

và hệ lụy xảy ra cho gia đình

Các thầy địa lý, phong thủy ở Đà Nẵng thường căn cứ vào phép sinh khắc ngũ hành để đặt hướng mộ, cần chọn giờ, ngày, tháng, năm phù hợp để tránh hung phùng cát như:

Trang 36

Tọa Đông (thuộc Mộc): Mộ nhìn hướng Tây Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ,

ngày, tháng, năm Tỵ, Dậu, Sửu (tam hợp Kim cục)

Tọa Tây (thuộc Kim): Mộ nhìn hướng Đông Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ,

ngày, tháng, năm Hợi, Mão, Mùi (tam hợp Mộc cục)

Tọa Nam (thuộc Hỏa): Mộ nhìn hướng Bắc Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ,

ngày, tháng, năm Thân, Tý, Thìn (tam hợp Thủy cục)

Tọa Bắc (thuộc Thủy): Mộ nhìn hướng Nam Đại kỵ động thổ, hạ huyệt giờ,

ngày, tháng, năm Dần, Ngọ, Tuất (tam hợp Hỏa cục) [48]

Đối với trường hợp thứ hai, vì không quan tâm đến yếu tố phong thủy nên

khi xây dựng mộ phần, lúc này phương hướng của ngôi mộ cũng sẽ phụ thuộc vào phương hướng của khu mộ, phần đất mà ban quản lý nghĩa trang hoặc gia tộc quy định hay theo phương hướng của những ngôi mộ đã được xây trước đó để đồng bộ

2.3.2 Kiến trúc mộ

2.3.2.1 Hình dáng và kích thước

Mộ hay mồ mả là nơi người chết được chôn cất (chôn xuống đất) theo hình thức địa táng hoặc hỏa táng Mộ thường nằm tập trung ở các nghĩa địa (nghĩa trang) hoặc nằm riêng lẻ, với xác người chết hoặc tro cốt chôn bên dưới Có rất nhiều loại

mộ như mộ đất, mộ đá, tháp…

Mộ đất được xây bằng đất thường là hình chữ nhật, kích thước thường không

thống nhất, khoảng 2m x 0,5m x 0,5m, đỉnh mộ vẫn có hình chữ nhựt nhưng hơi tròn và càng cao bề mặt càng nhỏ dần Nếu không được chăm sóc hay đắp bồi mộ hằng năm, những ngôi mộ đất này lâu ngày sẽ bị mưa gió làm sói mòn làm cho mộ thấp đi hay lở dần, có khi bị san bằng Ở nghĩa trang Hòa Quý vẫn còn nhiều ngôi

mộ đất bị sói mòn, sạt lở

Mộ đá được xây bằng đá, thường là hình chữ nhật, kích thước không thống

nhất vì tùy thuộc vào gia quyến của người mất, thường thì chiều dài khoảng 2m - 2,5m, chiều rộng 0,8m - 1m và chiều cao từ 0,6m - 0,8m Có nhiều trường hợp mộ

Trang 37

xây theo hình hoa sen, bán kính thường dao động từ 0,5m - 1m, cao khoảng 0,3m - 0,7m Độ sâu của các ngôi mộ thì tùy vào vùng đất chôn mộ, nếu ở bình địa, vùng đất nông thì từ 0,6m - 0,8m, còn ở đồi, ở núi hay vùng đất có địa thế cao thì sẽ sâu hơn

úc trước thì người ta xây bằng xi măng, sau này phát triển, người ta ốp thêm đá hoa cương, đá mài, đá xanh, gạch men hoặc xây bằng đá nguyên khối…

Mộ đá khối được gia công và lắp đặt sẵn tại xưởng nên có thể cung cấp và xây ngay cho người mất mà không phải mất quá nhiều thời gian so với các loại mộ khác Nếu không thích lắp ráp thì cũng có trường hợp đem đá lên cắt và xây tại chỗ

Do được làm từ những tấm đá hoặc xi măng nên mộ đá có độ bền vĩnh cửu, không bị nứt nẻ hay hư hại như các loại mộ đất trước các tác động của thiên nhiên

Mộ đá có thể đánh bóng, điêu khắc hoa văn mà không bị phai mờ theo thời gian nhờ vào các công nghệ tiên tiến hiện nay Do đó, hiện nay mộ đá rất được nhiều người

ưa chuộng so với mộ đất Ở nghĩa trang Hòa Sơn có rất nhiều mộ đá được xây với nhiều kích thước khác nhau

Tháp là nơi chôn cất dành cho các bậc tu hành theo Phật giáo, trong tháp

không chứa xác chết mà chỉ là nơi chứa đựng tro cốt của người mất sau khi hỏa táng Thời xưa, tháp được xây bằng gạch, hoặc đắp đất nên dễ bị tác động và tàn phá Nhưng ngày nay, tháp được xây bằng đá hoặc xi măng, có nhiều tầng và theo nhiều kiểu dáng khác nhau Tháp được xây trong khuông viên chùa nơi người mất

tu hành trước khi qua đời Vì được xây dựng kiên cố nên tháp có thể chịu được nhiều tác động của thời gian và thiên nhiên Như một số tháp tại chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn hay tại chùa Tịnh Quang

2.3.2.2 Cấu trúc ngôi mộ

Hình dáng ngôi mộ hầu hết là hình chữ nhật, dưới chân mộ thì người ta để bát hương và gắn bia, có nhiều trường hợp gắn bia trên đầu mộ Trên bia thường ghi tên, ngày tháng năm sinh, năm mất, quê quán và con cháu lập mộ…

Trang 38

Người lớn, người có gia đình, có con cháu, khi mất thì bia có gắn đầu

“triệu” Người chết trẻ và chết chưa có gia đình hoặc chưa có con thì bia không có

gắn đầu “triệu” Đầu “triệu” nằm ở trên đầu tấm bia, thường thì khắc hình lưỡng

nghi ở giữa, hai bên là hai con rồng, cũng có trường hợp không có lưỡng nghi, thay vào đó là hai con rồng hoặc rồng và phụng chầu vào nhau…

Song song với việc dựng bia thì người ta hay xây nhà bia và gắn hai câu đối

ở hai cây trụ phía trước của nhà bia Hai câu đối này thể hiện tâm tư, ý nguyện… của người sống hay ca ngợi công lao, phước đức… của người mất Ví dụ như:

“Tổ tông công đức còn thơm dấu Cháu thảo con hiền sáng mãi gương”

Bảng 2: Thống kê cấu trúc các ngôi mộ

Cấu

trúc

Nhà bia

Câu đối

Mộ đá Mộ

đất

Đầu triệu

Không

có đầu triệu

Chữ Việt

Chữ Nho

Chữ Việt + Nho

Tỷ lệ 98,5% 1,5% 37% 47,5% 24,5% 4,5% 0% 2,5%

“Nguồn: Theo kết quả điều tra, khảo sát của sinh viên”

Trang 39

Qua quá trình điều tra, khảo sát ngẫu nhiên 200 ngôi mộ tại các nghĩa trang của thành phố như: Nghĩa trang Hòa Sơn, nghĩa trang núi Sọ, nghĩa trang Gò Cà thì 98,5% người ta xây mộ đá, chỉ có 1,5% là mộ đất

Trong 200 ngôi mộ thì chỉ có 84,5% là có bia mộ, còn lại 15,5% thì không

có bia Trong 84,5% ngôi mộ có bia, thì có 37% là bia có đầu triệu, 47,5% còn lại là bia không có đầu triệu

Ngoài ra, chỉ có 24,5% là mộ có nhà bia và 7% là mộ có câu đối, trong đó 4,5% là câu đối chữ Việt và 2,5% là chữ Việt xen lẫn chữ Nho

Cấu trúc mộ phần của người “lương” và người theo Phật giáo thì đều giống

như nhau, bao gồm: Mộ phần, bia mộ, nhà bia, nhà mộ, câu đối Riêng cấu trúc mộ

phần người theo Kitô giáo gồm có mộ phần, bia mộ, nhà mộ, nhà bia và gắn thêm

chữ thập lên trên mộ phần nhưng không có gắn câu đối

Nhìn chung, tuy cấu trúc nhiều ngôi mộ có khác nhau, nhưng quy chung đều

là tâm nguyện muốn người chết được mồ yên, mả đẹp, là nghĩa cử của đạo hiếu, đạo nghĩa của người sống đối, là quan niệm, là biểu hiện của mối liên hệ tâm linh mật thiết giữa người sống và người chết

2.3.3 Họa tiết trang trí

Với quan niệm mồ yên, mả đẹp xưa nay, người sống bao giờ cũng muốn xây

mộ phần cho người mất thật chắc chắn và đẹp Do vậy, ngoài việc xây mộ phần, người ta còn trang trí, chạm khắc thêm các hoa văn, họa tiết trang trí trên phần mộ

hoặc trên “quynh” (bức tường bao quanh phần mộ)

Các hoa văn, họa tiết thường được trang trí, chạm khắc như: Hoa lá, chữ hay động vật Mỗi hoa văn, họa tiết đều mang những ý nghĩa nhất định

Về “hoa lá” thì tùng, cúc, trúc, mai, sen… là những hoa văn, họa tiết trang

trí thường được dùng nhiều, mỗi cây đều mang những ý nghĩa nhất định khác nhau

Cây tùng: Hiện thân cho đấng trượng phu, đấng anh hào

Trang 40

Hoa cúc: Biểu tượng của sự trường thọ

Cây trúc: Biểu tượng của mẫu người quân tử bởi loài cây này tuy cứng mà

vẫn mềm mại, đổ mà không gẫy, rỗng ruột như tinh thần an nhiên tự tại, không mê đắm quyền vị, vật chất

Hoa mai: Là một cây hoa quý tượng trưng cho sự thanh khiết Nếu “Trúc” là

biểu tượng của quân tử, thì “Mai” là hình ảnh của giai nhân

Hoa sen thì mang rất nhiều ý nghĩa như: Biểu hiện của sự đạo đức, của đức

hạnh, trong sạch… Đối với Phật giáo, hoa sen còn mang ý nghĩa của sự thanh tịnh, thanh khiết, sự tinh tấn… Việc trang trí hoa sen như muốn cầu mong sự thanh tịnh cho người mất hoặc biểu hiện của sự đạo đức, trong sạch

Về “chữ” thì gồm có chữ “Phúc” và chữ “Thọ” là được dùng nhiều Việc

chạm khắc chữ Phúc như là biểu hiện sự mong muốn tốt lành, phúc đức cho người mất của như người sống, còn chữ Thọ là sự mong muốn cuộc sống được trường thọ, lâu bền

Về linh vật thì có “Rồng, phượng”, đây là hai linh vật cao quý trong bộ tứ

linh Nếu rồng được xem là biểu tượng của người chồng, người cha, bậc chính nhân quân tử, hoàng đế, thì phượng là biểu tượng của người vợ, phu nhân, hoàng hậu Sự kết hợp của rồng và phượng là hình tượng đẹp của hạnh phúc lứa đôi cũng như của

sự may mắn và thịnh vượng về công danh sự ngiệp, tài lộc Chính vì ý nghĩa tốt đẹp

đó mà biểu tượng đôi rồng phượng rất được coi trọng và được trang trí trên nhiều ngôi mộ

Tuy nhiên, thực tế ở Đà Nẵng, các họa tiết, hoa văn trang trí trên các mộ phần khá đơn giản, ít hoa văn, họa tiết trang trí như các ngôi mộ ở ngoài Bắc hay ở Huế

Ngày đăng: 19/05/2021, 23:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm