Lindsay, 2002; Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu Lý Thực Cốc, 1996; Một số điều chỉnh chính sách châu Á của Mỹ sau sự kiện 11/9, Hà Hồng Hải, 2002, Nghiên cứu quốc tế; Tư tưởng Hồ Chí
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn: PGS.TS Lưu Trang
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lưu Trang và sự động viên, giúp đỡ của Quý thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử - Trường Đại học
Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Qua đây em cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ, đông viên trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Mặc dù có nhiều cố gắng, song chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và toàn thể bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Chi
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5.Nguồn tư liệu 6
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
7 Đóng góp của đề tài 7
8 Bố cục đề tài 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – HOA KỲ (1995 – 2014) 9
1.1 Tình hình quốc tế và khu vực 9
1.1.1 Tình hình quốc tế 9
1.1.2 Tình hình khu vực 11
1.1.3 Nhu cầu hợp tác cả từ hai phía 12
1.2 Khái quát về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ trước năm 1995 15
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1787 đến năm 1945 15
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1975 18
1.2.3 Giai đoạn từ 1976 đến 1995 21
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – HOA KỲ (1995 – 2014) 24
2.1 Quan hệ ngoại giao song phương và đa phương 24
2.1.1 Các chuyến viếng thăm và đối thoại cấp cao 24
2.1.2 Thông qua các tuyên bố chung về ngoại giao 26
2.1.3 Hoạt động “Ngoại giao nhân dân” 29
2.2 Quan hệ ngoại giao về vấn đề hai nước và khu vực 33
2.2.1 Vấn đề nhân quyền 33
2.2.2 Hợp tác nhân đạo 35
2.2.3 Vấn đề Biển Đông 37
2.3 Một số nhận xét và triển vọng quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ 41
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
1 ASEAN: Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc gia Đng Nam Á
2 APEC: Asia-Pacific Economic Cooperation – Diễnn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
3 COC: Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông
4 MAG: Mine Advisory Group - Tổ chức rà phá bom mìn
5 NGO: Non- Governmental Organization - Tổ chức phi chính phủ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quan hệ quốc tế thì mối quan hệ giữa các nước lớn là một trong những nhân tố quan trọng góp phần định hình trật tự thế giới Mười năm cuối của thế kỉ
XX, với sự chấm dứt của Chiến tranh lạnh, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và
Đông Âu sụp đổ Sự tan rã của Đảng cộng sản Liên Xô và “sự biến dạng của các
Đảng cộng sản” [31, tr.7] ở nhiều nước đã làm cho trật tự thế giới có sự thay đổi
căn bản Sau cục diện đó, trật tự hai cực chính thức chấm dứt, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục
giữ vai trò là “nhân vật” trung tâm trong bàn cờ chính trị quốc tế, trở thành cường
quốc số 1 trên nhiều lĩnh vực Hoa Kỳ vươn lên làm chủ thế giới không chỉ thể hiện
ở sự vượt trội về kinh tế mà còn thể hiện trên các lĩnh vực an ninh, chính trị, ngoại giao và quân sự Mặc dù sau sự kiện đánh bom khủng bố ở Lầu năm góc vào ngày
11 – 9 - 2001, vị thế và uy tín của Hoa Kỳ về an ninh, chính trị đã ít nhiều bị lung lay, tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn là một nước có tầm ảnh hưởng lớn tác động đến nhiều quốc gia khác
Những diễn biến của tình hình thế giới sau sự kiện 11 - 9 đã tác động rất lớn đến tình hình khu vực và nước ta trên nhiều phương diện Xuất phát từ lợi ích chiến lược căn bản của mình, các cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ tiến hành điều chỉnh lại chính sách đối ngoại để tìm chỗ đứng tốt nhất, xây dựng khuôn khổ quan hệ mới, xác lập các điều kiện quốc tế có lợi hơn để thúc đẩy phát triển toàn diện đất nước Cùng với việc mở rộng ảnh hưởng đến phương Tây, khu vực Trung Đông – Trung Cận Đông thì Hoa Kỳ đang hướng trọng tâm vào Đông Nam Á Một số quốc gia Đông Nam Á cũng đang tìm kiếm sự hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ bắt nguồn từ nhu cầu đất nước
Năm 1986, khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI quyết định tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đang trong tình hình rất khó khăn Đó là hậu quả của 30 năm chiến tranh tàn phá, những di sản nguy hại của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, những khuyết tật sai lầm của mô hình kinh tế nhà nước tập trung, quan liêu bao cấp Đồng thời, đó còn là những chống phá điên cuồng của các thế lực phản động trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chính trị trong nước Bên cạnh đó, lúc nước ta tiến hành đổi mới, tình hình ở Liên Xô, Đông Âu và các nước
Trang 6xã hội chủ nghĩa lại lâm vào tình trạng khủng hoảng Theo đó, đất nước ta đang dần
mất đi những “đồng minh chiến lược”, thị trường truyền thống Trước thực trạng đó,
với bản lĩnh kiên cường được tôi luyện lâu dài trên ngọn lửa chiến tranh cách mạng, Đảng ta đã bình tĩnh xem xét tình hình, tỉnh táo nhận rõ các nguy cơ và thách thức, tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện Đặc biệt, trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng và nhà
nước ta chủ trương “Kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình và hữu nghị
Chúng ta chủ trương ủng hộ chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế
độ chính trị và xã hội khác nhau, loại trừ chiến tranh xâm lược, và mọi hình thức của chủ nghĩa khủng bố, nhất là chủ nghĩa khủng bố nhà nước…” [7, tr.50]
Bước sang thập kỉ 90 của thế kỉ XX, thế giới ngày càng diễn biến phức tạp
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu kéo theo sự tan rã của trật tự hai cực, theo đó là sự gia tăng mạnh mẽ của xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa Thế giới tiếp tục đổi thay Năm 1991, Đảng ta tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, tiếp tục tư tưởng cơ bản và nhất quán là không ngừng mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho xây dựng xã hội
chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc Đường lối đối ngoại chỉ rõ: “Việt Nam muốn là bạn
của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Và Việt Nam thực hiện chính sách mở rộng, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ quốc tế” [8, tr.20] Phương châm, chính sách đối ngoại đó đã được triển
khai tích cực bằng những biện pháp đúng đắn trong thực tiễn Nhờ đó nước ta thu được nhiều thành tựu trong đối ngoại
Trước bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước có nhiều biến đổi, ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill – Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam là hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện nay Đó là một dấu mốc quan trọng chấm dứt 50 năm quan hệ bất bình thường, mở ra một trang mới trong quan
hệ hai nước Các hợp tác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và đặc biệt là ngoại giao có ý nghĩa hết sức quan trọng và để lại nhiều thành quả tốt đẹp
Một thực tế cho thấy, trong những năm trở lại đây, khi Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ đã có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến nhiều quốc gia khu vực châu Á Đặc biệt là sự bành trướng về chính trị, quân sự, can thiệp vào vào nhiều nước cũng
Trang 7như tư tưởng bá quyền của Trung Quốc đã làm thay đổi cục diện chịnh trị - ngoại giao ở khu vực và trên thế giới, đặc biệt là vấn đề biển Đông, điều này càng khiến cho Hoa Kỳ lo ngại hơn Chính vì thế, Hoa Kỳ càng tăng cường hơn nữa sự hiện diện và ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Nam Á nhằm kiềm chế phần nào sự lớn mạnh của Trung Quốc Việc tăng cường quan hệ, đầu tư và hợp tác mạnh mẽ với Việt Nam là chiến lược lâu dài mà Hoa Kỳ đặt ra
Nghiên cứu mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên lĩnh vực ngoại giao trong xu thế hiện nay là điều cần thiết Bởi lẽ Việt Nam đang thực hiện chính sách ngoại giao đa phương hóa – đa dạng hóa, sẵn sàng làm bạn và là đối tác tin cậy của mọi quốc gia, trong đó Hoa Kỳ là một đối rất quan trọng Mặt khác, bên cạnh những thành quả đạt được, mối quan hệ hai nước vẫn còn một số khó khăn cần được tháo
gỡ, vì thế, việc nghiên cứu và đề xuất một số phương án giải quyết cũng như dự đoán triển vọng của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong tương lai có ý nghĩa thực tiễn to lớn
Vì những lý do và ý nghĩa nêu trên, tôi chọn vấn đề: Quan hệ ngoại giao
Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 – 2014)làm đề tài khóa luận
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là kể từ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ Tuy nhiên, về tổng quát có thể thấy các công trình có đề cập đến quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ ở những khía cạnh sau:
1.1 Vấn đề quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 – 2014) trong một
số công trình nghiên cứu về lịch sử thế giới, lịch sử quan hệ quốc tế Hệ thống các
công trình này gồm: Lịch sử thế giới hiện đại (Nguyễn Anh Thái, 2006); Quan hệ
quốc tế thế kỉ XX (Nguyễn Quốc Hùng); Quan hệ quốc tế - những khía cạnh lý thuyết và vấn đề (Nguyễn Quốc Hùng, Hoàng Khắc Nam, 2006); Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỉ XXI vấn đề, sự kiện và quan điểm (Trình Mưu, Vũ Quang
Minh, 2005) Đây là hệ thống các công trình tổng tập nghiên cứu nhiều vấn đề của lịch sử thế giới và quan hệ quốc tế thời hiện đại Các tác giả trong các công trình cũng đề cập đến những vấn đề chung toàn cầu, các quan hệ và sự chi phối của Hoa
Kỳ đối với các quốc gia trên thế giới cũng như quan hệ của Việt Nam đối với các
Trang 8nước trong và ngoài khu vực, đặc biệt là trong thời kì đổi mới đất nước Tuy nhiên, các công trình này chỉ trình bày hệ thống những kiến thức chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ của Việt Nam và Hoa Kỳ
1.2 Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ trong các công trình nghiên cứu
về chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng như Hoa Kỳ Các công trình này bao
gồm: Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh Lạnh(Randall B Ripley, James M Lindsay, 2002); Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu (Lý Thực Cốc, 1996); Một số điều chỉnh chính sách châu Á của Mỹ sau sự kiện 11/9, (Hà Hồng Hải, 2002, Nghiên cứu quốc tế); Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường Đảng
và nhân dân ta đang tiến vào thế kỉ XXI (Lê Khả Phiêu, 2000); Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam(Vũ Dương Huân);Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI (Nguyễn
Xuân Sơn, Nguyễn Văn Du, 2006) So với các công trình chuyên khảo về lịch sử thế giới, lịch sử quan hệ quốc tế, các công trình về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
và Việt Nam có tính chuyên sâu hơn Tuy nhiên, hầu hết đối tượng mà các công trình nêu trên quan tâm là chính sách, chiến lược ngoại giao của Hoa Kỳ và Việt Nam chứ chưa đi sâu trình bày mối quan hệ của hai nước như thế nào Nếu có thì cũng chỉ là sự liên hệ mang tính chất khái quát, chưa trở thành hệ thống: thực trạng, thành tựu, hạn chế cũng như triển vọng của quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ
1.3 Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 – 2014) trong các công
trình nghiên cứu về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ Hệ thống các công
trình này gồm: Mười năm ngoại giao Việt Nam (Lưu Văn Lợi, 1998); Bình thường
hóa và phát triển mối quan hệ hợp tác Việt Nam và Hoa Kỳ trong quá trình đổi mới đất nước, (Nguyễn Xuân Thắng, 2007, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị
thế giới); Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam (Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, 2010); Quan hệ Việt – Mỹ: 15 năm phát triển và trưởng thành (Đại sứ quán Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, 2010)… Trên đây là các công trình, bài viết nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ một cách khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên, về vấn đề quan hệ trên lĩnh vực ngoại giao thì lại chưa thực sự đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống Mặc dù vậy, công
Trang 9trình đã bước đầu tiếp cận được các phương diện hợp tác cơ bản trên lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam và Hoa Kỳ kể từ khi bình thường hóa đến nay
Dù không phải là công trình nghiên cứu, nhưng các văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc qua các thời kì đã thể hiện được chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước trên lĩnh vực ngoại giao phục vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Đặc biệt là tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam được coi là những tư liệu gốc về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ như: Các hiệp định, thông cáo, tuyên bố chung, nghị định thư và các văn bản ký kết về hợp tác chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục và hợp tác về khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Các bài phát biểu, tuyên bố của giới lãnh đạo hai nước Đây là các tư liệu gốc phản ánh một phần quan hệ ngoại giao hai nước về phương diện pháp lí, song nó chưa phản ánh thực tiễn cũng như thành tựu, hạn chế của quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa
đó thấy được những đặc điểm, thành tựu và triển vọng quan hệ giữa hai nước trong
tương lai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 10- Một là, khái quát mối quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳvề lĩnh vực ngoại
giao trước năm 1995, đồng thời tìm hiểu cơ sở và nhu cầu quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn 1995 – 2014 Bên cạnh đó, tìm hiểu và phân tích tình hình quốc tế,
khu vực trước năm 1995 và nhu cầu hợp tác từ hai phía trong bối cảnh hiện nay
- Hai là,trình bày diễn biến chính trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳtrên lĩnh
vực ngoại giao từ năm 1995 đến 2014
- Ba là,Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995 -
2014), tác giả rút ra những đặc điểm, nhận xét, đánh giá, đồng thời qua đó dự đoán
triển vọng quan hệ của hai nước trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa
Kỳ từ 1995 đến 2014
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu mối quan hệ về ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ giai đoạn 1995 đến 2014 Bên cạnh đó, khóa luận cũng dành một mục trong Chương 1 để giới thiệu khái quát về quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳtrước năm 1995
5 Nguồn tư liệu
Để hoàn thanh đề tài khóa luận, tác giả cố gắng khai thác từ các nguồn tư liệu sau:
- Các văn bản gốc về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ: Hệ thống các
văn bản này gồm: Các hiệp định, thông cáo, tuyên bố chung, nghị định thư và các văn bản ký kết về hợp tác chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục và hợp tác
về khoa học công nghệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Các bài phát biểu, tuyên bố của giới lãnh đạo hai nước
- Các sách chuyên khảo về quan hệ quốc tế, quan hệ ngoại giao hai nước:
Hệ thống các công trình này khá phong phú bao gồm các sách tham khảo, chuyên
Trang 11khảo, các bài tạp chí Nguồn tư liệu này góp phần bổ sung, làm phong phú thêm việc nghiên cứu quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ Các công trình có nội dung phản ánh trực tiếp về lịch sử của hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ, đặc biệt là những công trình viết về mối quan hệ về mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn
1995 đến 2014
- Các bài nghiên cứu có liên quan đến quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa
Kỳ trên các website của các cá nhân và tổ chức Dù không được đánh giá cao về độ
khoa học, song các bài viết từ các website, đặc biệt là của Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ góp phần cập nhật những sử liệu và quan điểm mới nhất đánh giá về quan hệ hai nước Do đó, khai thác các bài viết này cho phép đảm bảo tính thời sự, cập nhật trong nghiên cứu đề tài…
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Khóa luận quán triệt lấy quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu, đặc biệt là quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong nghiên cứu quan hệ quốc tế
- Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận kết hợp phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgic và các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế Sử dụng phương pháp lịch sử và các phương pháp chuyên ngành như sưu tầm thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu,… cho phép tác giả sưu tầm, xử lý, đánh giá được hệ thống
tư liệu phục vụ trực tiếp cho đề tài và hệ thống hóa tư liệu đó thành những vấn đề cơ bản của nội dung vấn đề Ngoài ra khóa luận còn sử dụng phương pháp logic Dựa vào hệ thống tư liệu đã sưu tầm và xử lý, tác giả cố gắng sắp xếp theo từng vấn đề đặt ra cho đề tài, từ đó phân tích, lý giải, nhận định một cách hợp lý khoa học và khách quan
7 Đóng góp của đề tài
7.1 Đóng góp về mặt khoa học
- Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sưu tầm, phân tích và xử lý các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó, hi vọng khóa luận sẽ là
Trang 12một đóng góp nhỏ về mặt tư liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu trong quan hệ giữa hai nước
- Khóa luận trình bày một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về quan
hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995 – 2014) Góp phần làm rõ những bước phát triển trong quan hệ giữa hai nước giai đoạn 1995 đến 2014, đồng thời qua đórút ra được những đặc điểm, thành tựu cũng như dự đoán triển vọng trong quan hệ giữa hai nước
7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ phần nào đóng góp thêm vào nguồn tư liệu về nghiên cứu về Việt Nam - Hoa Kỳ Qua đó, khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu cho sinh viên chuyên ngành Lịch sử, giáo dục chính trị, Quan hệ quốc tế, Quốc tế học ở các trường đại học, cao đẳng…đồng thời là tài liệu tham khảo cho các giáo viên phổ thông và những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NGOẠI GIAO
VIỆT NAM – HOA KỲ (1995 – 2014) 1.1 Tình hình quốc tế và khu vực
1.1.1 Tình hình quốc tế
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự “hai cực” bị phá vỡ, cục diện thế
giới có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) và xã hội chủ nghĩa (XHCN), giữa các cường quốc tư bản với nhau Lúc
này trật tự “hai cực” tan rã, “bóng ma cộng sản” không còn là mối đe dọa hàng đầu
đối với Hoa Kỳ Sự tan ra của Liên bang Xô Viết đã tạo cho Mỹ một lợi thế hơn bao giờ hết, Hoa Kỳ ra sức thiết lập thế giới một cực khẳng định bản thân là siêu cường
số một Tuy nhiên, trong khi các quốc gia khác như Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga phát triển như vũ bão, có đủ tiềm lực để cạnh tranh với Hoa Kỳ thì sức mạnh lúc này của Hoa Kỳ lại không thể đưa đất nước trở thành một siêu cường do quá trình chạy đua vũ trang với Liên Xô đã khiến Hoa Kỳ suy yếu phần nào Như vậy,
kể từ sau Chiến tranh lạnh, thế giới hình thành một trật tự mới, đó là trật tự của
“nhất siêu đa cường”
Bước qua một thời kỳ mới của lịch sử, các quốc gia trên thế giới bắt đầu lao vào công cuộc phát triển kinh tế thúc đẩy đất nước đi lên Yếu tố toàn cầu hóa cũng
đã thúc đẩy các nước mở rộng giao lưu, hợp tác với nhau cùng phát triển: “Ngày
nay, hầu như ở khắp lục địa, khu vực đều có các tổ chức liên minh kinh tế với những quy mô lớn, nhỏ khác nhau” [17, tr.102] Chính vì xu thế chung của quốc tế,
yếu tố phụ thuộc lẫn nhau nên Hoa Kỳ không thể tự mình thiết lập một thế giới đơn cực mà buộc phải hợp tác, liên minh với nhiều quốc gia khác Quá trình toàn hóa,
khu vực hóa đã tạo nên một “sợi xích” gắn kết các quốc gia lại với nhau, đồng thời
nó cũng tạo ra một môi trường mới buộc các nước vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau, kiềm chế nhau tránh các cuộc chiến tranh, xung đột và đối đầu
Một trong những xu thế chung của lịch sử thế giới kể từ sau Chiến tranh lạnh
là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ hiện đại Với những thành tựu
kì diệu cách mạng khoa học – công nghệ đã đóng vai trò rất quan trọng trong đời
Trang 14sống quốc tế, mở ra khả năng cho các quốc gia đi sau, kém phát triển hơn tận dụng các thành tựu đó phục vụ cho mục tiêu phát triển của quốc gia mình
Nhìn chung, hầu hết các quốc gia lớn, nhỏ trên thế giới đều điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tạo dựng môi trường bên ngoài thuận lợi để tham gia hiệu quả vào quá trình hợp tác, liên kết, hội nhập quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế, thế giới vận động không đi theo chiều hướng hòa bình ổn định, đằng sau đó xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới, đó là mâu thuẫn giữa các cường quốc với nhau, mâu
thuẫn về văn hóa sắc tộc, tôn giáo: “Xiềng xích của cuộc xung đột Đông – Tây đã
mất đi, chỉ còn lại những lợi ích dân tộc đấu tranh với nhau” [17, tr.97] Một trong
những biểu hiện đáng chú ý về những mâu thuẫn liên đến vấn đề sắc tộc tôn giáo là
sự kiện đánh bom khủng bố vào Trung tâm Thương mại thế giới của Mỹ tại thành phố New York vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 gây nên những thiệt hại lớn về người
và của
Sau sự kiện 11 – 9 - 2001, Tổng thống Mỹ G Bush đã điều một loạt các chiến lược an ninh quốc gia để đối phó với những mối đe dọa từ bên ngoài có thể nhắm vào Mỹ hoặc lợi ích của Hoa Kỳ, theo đó chiến lược chống khủng bố trở thành chiến lược hàng đầu của Hoa Kỳ ít nhất là trong thập kỷ tới Đối với Hoa Kỳ,
ở khía cạnh nào đó, chống khủng bố đã thay thế mục tiêu chống cộng sản thời kỳ Chiến tranh lạnh và trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng, là ranh giới phân định bạn thù [40, tr.50] Bên cạnh đó, các vấn đề khác của thế giới cũng đang trong tình trạng rối ren, tình hình ở Trung Đông tiếp tục căng thẳng, vấn đề vũ khí hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên và Iran vẫn chưa đưa ra được một giải pháp hợp lý và thống nhất
Trong bối cảnh này, “dấu ấn” chính sách đối ngoại của chính quyền Bush trong nhiệm kỳ hai sẽ phải là “vượt lên thách thức” [40, tr.54] Sự kiện 11/9 đã làm thay
đổi sâu sắc tình hình an ninh, chính trị thế giới, đưa cục diện thế giới luôn trong tình thế rối ren, chiến tranh và căng thẳng cục bộ Mặc dù tính cục bộ của xung đột không đến mức phá vỡ tình thế hòa hoãn nhưng nó đã làm cho tình hình thế giới chuyển từ trạng thái tĩnh ổn định chuyển sang trạng thái động không yên ổn
Ngoài ra, tình hình thế giới cũng cho thấy rằng xu hướng đơn cực và đa cực đang mâu thuẫn đan xen và chồng chéo nhau trên nhiều vấn đề và lĩnh vực, đó là vấn đề như suy thoái kinh tế toàn cầu, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa bảo hộ, tội
Trang 15phạm quốc tế, các vấn đề về sức khỏe, môi trường, thiên tai lũ lụt… Tất cả những vấn đề này đòi hỏi cộng đồng quốc tế cũng chung tay giải quyết
các nước phát triển trên thế giới, là một trong những “con rồng châu Á” Điều đó
chứng tỏ chỉ sau thời gian ngắn giành độc lập, các nước Đông Nam Á đã rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tư bản châu Âu và Bắc Mỹ Đồng thời, tăng cường giao lưu với các cường quốc nhằm mở rộng nền kinh tế quốc gia và khu vực
ra quy mô toàn cầu Trước xu thế của thế giới và khu vực đã tác động đến quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Đầu thế kỷ XXI, tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng đã có sự phát triển năng động của quá trình hội nhập Quá trình hợp tác khu vực đã diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao… Sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn ngày càng mạnh mẽ hơn Bên cạnh Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) còn xuất hiện nhiều sáng kiến hợp tác, liên kết khu vực và liên khu vực như nhóm kinh tế Đông Á (EAEC), nhóm hợp tác Thượng Hải, và đặc biệt là mô hình hợp tác kinh tế ASEAN + 1, ASEAN +
3, hợp tác Á – Âu (ASEM) Mặc dù vậy, tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng tồn tại nhiều bất ổn như tranh chấp ảnh hưởng quyền lực, biên giới, lãnh thổ… Đây là khu vực tập trung nhiều nước lớn như Hoa Kỳ, Nga, Nhật, Trung Quốc, nên tiềm ẩn những mâu thuẫn trong việc tranh giành bá quyền ở đây, chẳng hạn như sự tranh chấp biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc Sự can thiệp ngày càng sâu vào đời sống chính trị cũng như kinh tế ở khu vực Đông Nam Á làm đe dọa đến quyền lợi của Hoa Kỳ tại khu vực này mà trực tiếp hơn là quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.Vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, Mỹ lại thực hiện kế hoạch
“quay trở lại châu Á” nhằm khẳng định vai trò vị thế của mình tại khu vực Trong
đó Mỹ đặt trọng tâm chiến lược là muốn cân bằng sự lớn mạnh và ảnh hưởng của
Trang 16Trung Quốc Sức ảnh hưởng của Trung Quốc được hình thành trong quá trình kinh
tế phát triển cao, liên tục trong những năm vừa qua đã trở thành một mệnh đề lớn
mà Mỹ phải đối mặt trong quan hệ đối ngoại [49, tr.6] Khi ngoại trưởng Mỹ Hillary
Clinton trình bày chính sách châu Á của Mỹ tại Hawaii đã chỉ rõ: “Phần lớn lịch sử
của thế kỷ XXI sẽ được viết tại châu Á Khu vực này sẽ xuất hiện sự tăng trưởng kinh tế mang tính thay đổi nhất, rất nhiều thành phố của châu Á sẽ trở thành trung tâm kinh tế, thương mại và văn hóa toàn cầu” [49, tr.6] Trong gần 10 năm Mỹ tập
trung cho cuộc chiến chống khủng bố và cuộc chiến Iraq, châu Á đã xuất hiện một chu kỳ phát triển mới trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là đại diện đã khiến cho tầm quan trọng của khu vực này vượt qua các khu vực khác trong nền kinh tế toàn cầu [49, tr.6] Sự quay trở lại của Mỹ tại khu vực này chính là một dấu mốc thúc đẩy, tác động đến quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh khu vực mới
Như vậy, sự hình thành các mối quan hệ chằng chéo giữa các cường quốc tại châu Á, đặc biệt là quan hệ giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc – Việt Nam đã có tác động
to lớn đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có quan hệ ngoại giaoViệt Nam–Hoa
Kỳ Chính sách của các nước lớn tới khu vực này là cơ sở để thúc đẩy hai quốc giatừng là đối đầu xích lại gần nhau bằng các chính sách ngoại giao hai bên cùng có lợi
1.1.3 Nhu cầu hợp tác cả từ hai phía
Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với điều kiện hợp tác hai bên cùng có lợi Điều này được thể hiện trong các chính sách và đường lối đối ngoại của mỗi nước
Nhận thức được những xu thế mới của thế giới và khu vực, để “bắt kịp” với
các chiều hướng mới, đồng thời từ yêu cầu đổi mới toàn diện, theo đó, qua các kì đại hội, Đảng ta đã tiến hành đề ra các chính sách đáp ứng tình hình chung Trong Đại hội VI, tháng 8 – 1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VI
đã đánh giá tình hình quốc tế và khu vực, kiểm điểm với tinh thần thực sự cần cầu thị hoạt động đối ngoại trong thời gian 10 năm kể từ ngày nhà nước thống nhất, trên
cơ sở đó thông qua Nghị quyết 13, nhấn mạnh chủ trương “thêm bạn, bớt thù”,
chuyển từ đối đầu sang hòa bình trong đấu tranh Đồng thời, trong nghị quyết 13 cũng đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong chính sách của Việt Nam với Mỹ, rằng
Trang 17“chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ” [40, tr.206] Theo đó,
Nghị quyết 13 xác định chủ trương của Đảng là đấu tranh thúc đẩy từng bước việc
bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ Nghị quyết đã chỉ rõ: “Chúng ta cần có chính
sách mới toàn diện đối với Mỹ nhằm tranh thủ dư luận nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới,… tạo điểu kiện thuận lợi cho ta tập trung giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế” [40, tr.206]
Đến những năm đầu thập niên 90, tình hình thế giới có nhiều biến đổi và diễn biến bất lợi với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, cùng với đó là sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa Trước bối cảnh đó, tháng 6 –
1991, Đại hội Đảng lần thứ VII được tiến hành và đề ra đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, mở rộng “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế” với phương châm
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đầu vì
hòa bình, độc lập và phát triển” [8, tr.147] Trên cơ sở đường hướng đối ngoại đổi
mới chính sách đối ngoại tổng thế đó, Đại hội VII xác định bình thường hóa quan
hệ với Hoa Kỳ là một trong những chủ trương đối ngoại quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển khu vực Đảng ta quan niệm việc cải thiện quan hệ với Mỹ chẳng những tạo cơ hội cho nước ra tiếp cận một cường quốc có thị trường lớn, tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ mạnh mà còn góp phần tạo dựng một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ra có thể tập trung nỗ lực vào thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược là phát triển kinh tế Do đó, chính sách của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ luôn nhấn mạnh nội dung hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học – kĩ thuật Hơn nữa, nếu cải thiện được quan hệ với Mỹ theo chiều hướng tăng cường các mặt hợp tác sẽ giúp Việt Nam có điều kiện thuận lợi hơn để cải thiện và thúc đẩy mối quan hệ của Việt Nam với các nước khác; đồng thời, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế; cùng với đó thu hút sự quan tâm hơn của cộng đồng quốc tế đến Việt Nam Mặt khác, việc cải thiện và xử lí tốt các lĩnh vực quan
hệ với Hoa Kỳ cũng nằm trong việc triển khai thực hiện phương châm đối ngoại mới – phương châm cân bằng quan hệ với các nước lớn, trước hết là các nước lớn trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Có thể nhận thấy lợi ích của Việt Nam cũng liên quan đến các nước lớn và họ cũng đều có lợi ích nhiều mặt và khá lớn ở
Trang 18khu vực này, từ đó, các nước này đều muốn gia tăng ảnh hưởng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Vì thế, trước hết Việt Nam phải bình thường hóa quan hệ với các nước lớn mà quan hệ với Mỹ (và Trung Quốc) là quan trọng nhất, từ đó mới tạo
ra điều kiện tiên quyết để thực hiện phương châm cân bằng quan hệ với các nước lớn theo hướng tranh thù mặt hợp tác, hạn chế mặt kìm chế trong chính sách của các nước này với Việt Nam
Đối với Hoa Kỳ, Tổng thống Bill Clinton đã có tham vọng để lại dấu ấn
trong lịch sử nước Mỹ bằng một chiến lược thay thế cho chiến lược “ngăn chặn”
của thời kì Chiến tranh lạnh Theo đó, điều chỉnh chiến lược và sách lược của mình cho phù hợp với tình hình thế giới Trong bài phát biểu tại Liên hợp quốc, ngày
27/09/1993, Clinton đã nói rõ: “Trong chiến tranh lạnh chúng ta tìm cách ngăn
chặn mối đe doạ đối với sự sống còn của các thể chế tự do Giờ đây chúng ta tìm cách mở rộng tập hợp các quốc gia sống dưới các thể chế tự do đó” [33, tr.15] Như
vậy, Mỹ đã chuyển từ chiến lược “ngăn chặn” trong chiến tranh lạnh sang chiến lược “mở rộng” và chuyển vai trò của Mỹ trên thế giới từ “sen đầm quốc tế” sang
“người lãnh đạo thế giới” Điều đó cho thấy, việc quan hệ đối ngoại hòa bình với Việt Nam nằm trong dự định chiến lược của Mỹ, nhằm khẳng định vai trò “người
lãnh đạo thế giới”
Theo đó, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vừa xuất
phát từ nhu cầu nội tại của nước Mỹ, nhất là nhu cầu thoát khỏi “Hội chứng Việt
Nam” đang chia rẽ xã hội Mỹ, vừa do tác động của các nhân tố quốc tế sau Chiến
tranh lạnh, vừa nằm trong sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau chiến tranh lạnh nói chung, với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á nói riêng của
Mỹ Có được mối quan hệ bình thường với Việt Nam là đáp ứng được lợi ích nhiều mặt của Mỹ không những trong các mối quan hệ song phương Mỹ - Việt mà cả trong mối quạn hệ đa phương và song phương khác của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương
Một nhân tố không thể xem nhẹ khiến Hoa Kỳ đặt trọng tâm chiến lược tại châu Á là muốn cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Sức ảnh hưởng của Trung Quốc được hình thành trong quá trình kinh tế phát triển cao, liên tục trong những năm vừa qua đã trở thành một mệnh đề lớn mà Hoa Kỳ phải đối
Trang 19mặt trong quan hệ đối ngoại Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của một số nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Hàn Quốc, trong khi đó những nước này lại là đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ Ngoài ra trong 10 năm qua, Hoa Kỳ đã đánh mất vai trò của mình tại khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc đã thành công trong việc lấp khoảng trống quyền lực tại khu vực này [49, tr.6 – 7]
Chính do những nhu cầu, lợi ích và cả tính toán hai bên trong việc bình thường hóa quan hệ, do vậy mà ngày 12 tháng 7 năm 1995, Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với nhau và sự kiện này trở
thành “dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển quan hệ hai nước và là một
đóng góp đáng kể đối với tiến trình hòa bình, hợp tác và phát triển ở trong khu vực
và thế giới” [43, tr.32] Sự kiện này đánh dấu một giai đoạn phát triển mới, một
trang sử mới trong quan hệ giữa hai quốc gia, hai dân tộc từng đối đàu trực tiếp nhau trong một cuộc chiến tranh mang đậm dấu ấn của thời kì Chiến tranh lạnh
Như vậy, việc tiến hành bình thường hóa quan hệ giữa hai nước là nằm trong mục tiêu chiến lược của mỗi nước Thiết lập quan hệ ngoại giao hai bên cùng có lợi bằng việc đi đến thống nhất, giải quyết các nội dung liên quan đến vấn đề của đất nước, khu vực và thế giới
1.2 Khái quát về quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ trước năm 1995 1.2.1 Giai đoạn từ năm 1787 đến năm 1945
Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ được bắt đầu ngay từ khi Thomas Jefferson chưa làm Tổng thống nước Mỹ, muốn có giống lúa cạn ở xứ Việt Nam xa xôi ở thế
kỉ XVIII đến thời kì của Tổng thống Truman và Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt thập kỉ
40 của thế kỉ XX Mối quan hệ này có những chuyển biến quan trọng được thể hiện thông qua các dấu mốc lịch sử
Nếu như chúng ta xem cuộc gặp gỡ tại Paris, năm 1787 giữa Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh – con trai đầu của Chúa Nguyễn Phúc Ánh và Thomas Jefferson – tác giả bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ, Đại sứ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Pháp là khởi đầu cho mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, thì lịch sử quan hệ hai nước
cho đến nay đã trải qua gần 230 năm với những thăng trầm “ghê gớm” [53, tr.7] Từ
không hiểu nhau đến những cơ hội tốt lành bỏ lỡ, đến những năm tháng đối đầu trong cuộc chiến tranh khốc liệt trên 20 năm rồi sau một quá trình mới hiểu nhau và
Trang 20thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường hóa Trong suốt chiều dài của hai thế kỉ, hai quốc gia đã tạo dựng lên cho mình những cột mốc đáng nhớ Cuộc gặp gỡ của Thomas Jefferson và Hoàng tử Cảnh đã không đạt được thành công khi những lời hứa hẹn về giống lúa cạn gieo trồng ở Việt Nam giữa hai người không được thực hiện Cơ hội đầu tiên để hai nước thiết lập bang giao đã bị bỏ lỡ
Năm 1832, chính phủ Mỹ cử đặc sứ Edmuad Poberts mang bức thư sang trình Quốc vương Việt Nam để hai nước được giao hảo thông thương Năm 1835, lần thứ hai phái bộ Mỹ vẫn do Edmuad Roberts làm trưởng đoàn cập bến vịnh Trà Sơn để xin yết kiến, trình quốc thư Ngay trong bức thư đầu tiên, Tổng thống
Andrew Jackson đã nói rõ ý định giao hảo của Chính phủ Hoa Kỳ: “Thư này sẽ
được trình bệ hạ bởi ngài Edmuad Roberts, một công dân khá kính của Hoa Kỳ, được cử làm đặc sứ mang trọng trách chuyển tới Bệ hạ những việc hệ trọng của bản quốc Tôi xin bệ hạ bảo hộ cho ông ta một cách bao dung và tin cậy, hãy hoàn toàn tin tưởng vào những gì mà ông ta nhân danh nhắc lại lời cam đoan về tình hữu hảo và thiện chí đối với Bệ hạ” [27, tr.268] Tuy nhiên, chuyến đi này cũng không
thành công, cơ hội tốt đẹp đó trôi qua cho chính sách đóng cửa của nhà Nguyễn
Nửa cuối thế kỉ XIX, trong lúc Thiên hoàng Minh Trị đang đưa nước Nhật tiến mạnh mẽ vào con đường tư bản chủ nghĩa bằng công cuộc duy tân thì tình hình Việt Nam lại nhiều bất ổn với nguy cơ mất các tỉnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ Vua Tự Đức nhu nhược trước âm mưu mở rộng xâm lược của thực dân Pháp, bác bỏ đề nghị cải cách Duy tân của Nguyễn Trường Tộ và nhiều nhà cải cách khác Tuy vậy, ông vẫn muốn nắm tình hình phương tây để điều chỉnh chính sách cho phù hợp Tháng 7 – 1873, Tự Đức cử Bùi Viện, một nhà nho thức thời và năng động, đi ra nước ngoài
Bùi Viện sang Mỹ với hi vọng tìm được “người bạn mới” giúp Việt Nam đánh
Pháp Tuy nhiên, một lần nữa, cuộc gặp gỡ giữa đại sứ Việt Nam và chính phủ Hoa
Kỳ không đạt được thành công Về sau, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp,
Mỹ đặt lãnh sự quán tại Sài Gòn và Hà Nội
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, giữa Mỹ và Việt Nam cũng có quan hệ bang giao thông qua hợp tác tích cực trong khối Đồng minh chống phát xít Tham gia khối đồng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đặt quan hệ với Hoa Kỳ
Trang 21Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian Việt Nam thực hiện cuộc chiến tranh chống xâm lược tiếp tục được diễn ra bằng các cuộc gặp gỡ giữa chính phủ hai nước Ngày 29/3/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp tướng Chennault - Chỉ huy
quân đoàn không quân số 14 của Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc) Sự hợp tác giữa
Việt Minh với Mỹ được định hình Việt Minh đã cung cấp cho phía Mỹ nhiều tin tức
có giá trị chiến lược về hoạt động của quân đội Nhật tại Việt Nam và tại một số nước ở vùng Đông Nam Á Phía Mỹ đã cung cấp điện đài, một số vũ khí bộ binh và
cử người đến huấn luyện quân sự cho Việt Minh Thông qua sự hợp tác có hiệu quả
giữa những người Mỹ đến Việt Bắc trong những năm 1944-1945, quan hệ Mỹ Việt
trở nên gần gũi hơn Nhưng rất tiếc mối quan hệ đó đã bị phá hỏng bởi tư tưởng
chống cộng điên cuồng dưới thời các Tổng thống Truman, Eisenhower, Kennedy, Nixon, Jhonson và Ford Thời kỳ thù địch này kéo dài trong suốt 50 năm, kể từ ngày ngày Tổng thống Truman bước chân vào Nhà Trắng đến năm 1994, ngày Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ một phần cấm vận đối với Việt Nam Cho
dù vậy, phía Việt Nam vẫn không ngừng tìm kiếm mọi cách để làm cho quan hệ
Mỹ Việt trở nên thân thiện hơn Ngày 01 – 11 - 1945, Hồ Chí Minh, Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gửi cho Ngài James Bierner – Bộ trưởng
Ngoại giao Mỹ bức thư với nội dung: “Thưa Ngài, nhân danh Hội Văn hóa Việt
Nam, tôi xin được bày tỏ nguyện vọng của Hội, được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về
kỷ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác Nguyện vọng mà tôi đang chuyển tới Ngài là nguyện vọng của tất cả các kỷ sư, luật sư, giáo sư Việt Nam, cũng như các đại biểu trí thức khác của chúng tôi mà tôi đã gặp Trong suốt nhiều năm nay họ quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của nước Mỹ và tha thiết mong muốn tạo được mối quan tâm với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế và những thành tựu kỷ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam.” [65]
Trong suốt quá trình lịch sử từ 1787 đến trước 1940, đã không ít lần Hoa Kỳ
và Việt Nam mong muốn và có những hành động cụ thể nhằm thiết lập quan hệ với
Trang 22nhau, dù những nỗ lực này không mang lại kết quả cụ thể và rõ ràng Khi hai nước đều có chung một mục tiêu, nhiệm vụ chung là chống lại phát xít Nhật (1940-1945),
đã đưa hai nước xích lại gần nhau và trong hoàn cảnh đó, Việt Nam và Hoa Kỳ đã
có một quan hệ đặc biệt Tuy không có sự công nhận chính thức của Nhà nước Hoa
Kỳ đối với cách mạng Việt Nam, nhưng hai bên đã phối hợp hành động chung, gắn
bó với nhau Cách mạng Việt Nam đã xem Hoa Kỳ lúc bấy giờ như “những người
bạn Đồng minh to lớn, những người chống thực dân đầy tiềm lực”
Như vậy, trong hai thế kỉ XVIII và XIX, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có nhiều lần ý định thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt là vấn đề thương mại, tuy nhiên không đạt được kết quả do những nguyên nhân khác nhau Quan hệ hai nước bước qua một thời kì mới dưới vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1975
Đảng cộng sản Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã có một cuộc chuẩn bị chu đáo, toàn diện cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Bên cạnh việc chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng, một trong những quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là thực hiện chính sách đối ngoại tranh thủ sự ủng hộ của Đồng minh, nhất là sự ủng hộ của
Mỹ, từ đó đã dẫn đến sự hình thành một quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia Việt –
Mỹ Nhìn lại tấn thảm kịch về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam (1954 – 1975),
ít người nghĩ rằng trước đó không lâu, Mỹ và Việt Nam từng là đồng minh của nhau, cùng trên một trận tuyến chống kẻ thù chung của nhân loại là chủ nghĩa phát xít
Với cương vị là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với mới giành được chính quyền, Người trực tiếp phụ trách công tác ngoại giao Hồ Chí Minh đa thảo bản tuyên bố về chính sách ngoại giao, trong đó khẳng định chủ trương quan
hệ hòa bình hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước Với Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những mối quan hệ đa có trong chiến tranh Nhân danh Chính phủ Việt Nam, Người
đã gửi hàng chục bức thư, công hàm tới Tổng thống Truman, Chính phủ và Bộ Ngoại giao Mỹ Nội dung của các văn bản ấy xoay quanh vấn đề yêu cẩu Mỹ ủng
Trang 23hộ nền độc lập của Việt Nam, khẳng định sự hợp tác của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Tháng 10 – 1945 Tổng thống Truman ra tuyên bố 12 điểm về chính sách đối ngoại của Mỹ, Hồ Chí Minh bày tỏ thái độ hoan nghênh và mong muốn Chính phủ
Mỹ sẽ thực hiện đúng tinh thần của bản tuyên bố, ủng hộ chủ quyền của các dân tộc nhỏ và tiềm lực còn yếu Ngày 16 – 02 - 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư cho Tổng thống Truman bức thư với nội dung bày tỏ Việt Nam mong muốn được độc lập hoàn toàn và ý nguyện thiết lập hợp tác đầy đủ với Hoa Kỳ Tuy nhiên, các bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được gửi đi mà không được đáp lại Lúc này, Chính phủ Mỹ đã ngả sang chủ trương ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương Những cố gắng trong quan hệ ngoại giao chính thức với Mỹ không đạt được kết quả Tuy vậy, Việt Nam vẫn luôn chú ý đến việc giữ tôn trọng của Chính phủ mình đối với vai trò của
Mỹ trong Đồng minh, sự có mặt của đại diện phái bộ Mỹ trong các buổi lễ kí Hiệp định sơ bộ ngày 6 – 3 – 1946 cũng như trong các văn bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Chính phủ Mỹ đa nói lên điều đó
Trong thời gian này, tuy quan hệ ngoại giao chính thức không thành công nhưng quan hệ của Việt Nam với Chính phủ Mỹ vẫn có dấu hiệu khả quan thông qua hình thức ngoại giao nhân dân mà điển hình là Hội hữu nghị Việt – Mỹ
Ngày 2 – 9 – 1947, trong thư gửi Việt Mỹ ái hữu hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã viết: “Chúng ta không bao giờ quên sự hợp tác giúp đỡ thân ái của các người
bạn Mỹ hồi chúng ta du kích chống Nhật và chúng ta mong rằng sự hợp tác đó được tiếp tục trong cuộc đấu tranh của chúng ta chống thực dân phản động Pháp giành thống nhất và độc lập Chúng ta mong rằng Hoa Kỳ, nước đầu tiên đã tranh đấu cho nền độc lập và dân chủ quốc gia,… sẽ giúp chúng ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng hiện nay và trong công cuộc kiến thiết xây dựng sau này”
Với lập trường chống cộng, từ 1947 đến năm 1954, Mỹ đã viện trợ vũ khí, tiền bạc cho Pháp để chống lại cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam Tiếp đến, Mỹ lại tiếp sức cho các thế lực chống đối lại việc thống nhất Việt Nam bằng phương pháp hòa bình theo Hiệp định Gionever năm 1954 về Đông Dương Từ 1961, từ vị trí cố vấn, Mỹ trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh dài nhất, với tổn thất sinh mạng, tiền của nhiều nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh của
Trang 24nước Mỹ để chống lại cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất của nhân dân Việt Nam Sự phát triển theo chiều hướng đó đã dẫn tới sự dình líu trực tiếp ngày càng sâu sắc của Mỹ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam
Sau khi Pháp thua, Mỹ đã thế chân Pháp can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã chứng tỏ rõ ràng ý đồ của Mỹ Hoa
Kỳ chính thức chống lại Việt Nam dân chủ cộng hòa Cuộc chiến đấu của Đảng và nhân dân ta chống cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và cuộc chiến tranh cục bộ
ở miền Nam đã khởi đầu trong sự so sánh lực lượng bất lợi cho ta, thấm nhuần tư
tưởng Hồ Chí Minh “không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhân dân cả 2 miền đều
đứng lên kiên quyết chống giặc Mỹ xâm lược Năm 1967, ta mở mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị cùng đánh Mỹ Ta tăng cường đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác, củng cố
và phát triển mặt trận nhân dân Đông Dương, đoàn kết với phong trào phản chiến ở
Mỹ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Trong quan hệ ngoại giao, nước ta luôn phân biệt rõ bạn – thù, phân biệt rõ nhân dân Mỹ với những nhà cầm quyền của My theo đuổi chính sách chiến tranh Mục đích của nhân dân Việt Nam
là đấu tranh để giành độc lập tự do, đem lại hạnh phúc cho dân tộc và chung sống hòa bình với cộng đồng thế giới trên cơ sở bình đẳng, hữu nghị Vì vậy, chính phủ
và nhân dân Việt Nam sẵn sàng đàm phán với điều kiện là quân Mỹ phải rút khỏi Việt Nam Với mục đích đó, ta chủ trương buộc địch xuống thang từng bước, giành thắng lợi từng phần Sau thắng lợi tết Mật Thân (1968), Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, mở cho ta cục diện vừa đánh vừa đàm Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao, tạo điều kiện cho thắng lợi sau này
Chiến tranh Mỹ - Việt được chấm dứt bằng Hiệp định đình chỉ chiến sự lập lại hòa bình ở ba nước Đông Dương được ký kết tại Paris vào ngày 27 – 01 - 1973
tại Paris Tại điều 21 Hiệp định Paris có nêu rõ: “Hoa Kỳ mong rằng Hiệp định này
sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc Đông Dương Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hòa và toàn Đông Dương” [67] Cùng với đó:
“Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi
Trang 25giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau” Nhưng Mỹ đã
không hành động đúng theo lời văn và nội dung của điều 21 Hiệp định Paris Sau Hiệp định Paris, Mỹ vẫn giữ mãi thái độ thù địch với Việt Nam bằng chính sách bao vây cấm vận Thái độ thù địch này kéo dài trong khoảng thời gian dài đến 22 năm (1973-1994), dài hơn bất cứ thời gian nào mà Mỹ đã đối xử với các cựu thù trong các cuộc chiến tranh trước đây như với Anh, Đức và Nhật
Như vậy, quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ năm
1945 đến 1975 có những bước thăng trầm Dưới vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ hai nước có lúc hòa dịu nhưng cũng có lúc gay gắt, đặc biệt là dưới thời kì Hoa Kỳ thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975)
1.2.3 Giai đoạn từ 1976 đến 1995
Sau năm 1975, khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước hoàn thành mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỉ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội Ngay sau khi miền Nam được giải phóng, nhân dân bắt tay ngay vào việc ổn định tình hình đất nước, khắc phục hậu quả của chiến tranh để tiến đến thống nhất đất nước, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế Ở những ngày đầu của Việt Nam thống nhất, lệnh cấm vận của Mỹ đã phong tỏa mọi quan hệ quốc tế của Việt Nam Mối quan hệ hai nước diễn ra căng thẳng
Trong thời gian này, lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam được xiết chặt Washington cắt đứt toàn bộ quan hệ ngoại giao với Hà Nội Suốt những năm sau chiến tranh, lệnh cấm vận được thực thi nghiêm ngặt: Không có bất kỳ một hình thức bang giao nào giữa hai nước, ngoại trừ một số có chọn lọc các hoạt động vì mục đích nhân đạo như gửi thuốc men trị bệnh, sách báo nghiên cứu – nhưng ngay
cả việc này cũng bị ngáng trở rất nhiều Đơn cử, người Việt ở Mỹ muốn gửi 1-2 cuốn sách cho các viện khoa học ở Việt Nam cũng gặp khó khăn: Bị ràng buộc bởi lệnh cấm vận, bưu điện Mỹ trả lại hoặc thiêu hủy tất cả những cuốn sách tham khảo
gửi về Việt Nam Trong cuốn “Traveling to Vietnam” (Đường đến Việt Nam, 1998),
tác giả Mary Hershberger nhận xét khi viết về phong trào của những nhà hoạt động
hòa bình người Mỹ: “Chính phủ Mỹ đã chống lại Việt Nam trên từng bước đường đi
Trang 26và phong tỏa mọi mối liên hệ quốc tế của Việt Nam, ngay cả khi điều đó có nghĩa là
Mỹ sẽ phải liên kết với quân Khmer Đỏ ở Campuchia”
Không khí chính trị đầy màu sắc thù địch: Tổng thống Ford phủ quyết quyền thành viên của Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, đóng băng 150 triệu dola tài sản của Việt Nam ở Mỹ, ngăn trở Việt Nam gia nhập Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế Quốc hội Mỹ còn cấm vận mạnh hơn khi nghiêm cấm bất kỳ hình thức cứu trợ nào cho Việt Nam và xiết chặt các thủ tục pháp lý về nhập cư
Từ 1977 đến 1978 Việt Nam và Hoa Kỳ đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành, một phần do Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường những tổn thất mà họ đã gây ra ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đã bác bỏ Năm 1979, các cuộc đàm phán để bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ ngưng trệ Về phía Mỹ cho rằng Việt Nam đã vi phạm Luật quốc tế khi đưa quân vào Campuchia Mỹ đã lấy lí do này để lôi kéo các nước ủng hộ hành động chống phá Việt Nam dưới danh nghĩa bảo vệ ổn định an ninh thế giới Vấn đề Camphuchia đã kéo theo sự dính líu của nhiều nước và sự phân cực gay gắt trong nền chính trị khu vực Từ đó, đánh dấu thời kì băng giá trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
Đầu thập kì 80, Tổng thống Hoa Kỳ Regan tuyên thệ nhậm chức, dưới sức ép mạnh mẽ của vấn đề tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh về phía Hoa Kỳ cũng có một số động thái nhằm cải thiện quan hệ hai nước, tuy nhiên ngoại giao hai bên ít đạt được kết quả Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới, cải thiện vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới nên Mỹ bắt đầu thay đổi chính sách quan hệ với Việt Nam Việt Nam và Hoa Kỳ thực hiện các cuộc thảo luận về vấn đề nhân đạo
mà hai bên cùng quan tâm Năm 1988, Tổng thống Regan tuyên bố: “Trong khung
cảnh một giải pháp cho vấn đề Camphuchia, Mỹ sẵn sàng đi vào bình thường hóa quan hệ với Việt Nam trên cơ sở tiến bộ trong vấn đề MIA trởi lại trại cải tạo” [27,
tr.275]
Trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến 1992, hai nước có nhiều cuộc gặp
gỡ bàn về các vấn đề chung và tuyên bố sẽ nhanh chóng tiến tới bình thường hóa,
kể cả bãi bỏ lệnh cấm vận Với nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, tháng 7 năm
1995, Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao Tổng
thống Bill Clinton đã tuyên bố: “Hôm nay tôi loan báo việc bình thường hóa quan
Trang 27hệ ngoại giao với Việt Nam Từ thời gian đầu của chính quyền này, bất kì sự cải thiện nào trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đều dựa vào tiến bộ đạt được về vấn
đề người Mỹ bị mất tích trong khi làm nhiệm vụ hay bị bắt làm tù binh Năm ngoái tôi đã hủy bỏ lệnh cấm vận buôn bán đối với Việt Nam để đáp lại sự hợp tác của họ,
và nhằm làm tăng cường sự nỗ lực của chúng ta đảm bảo tìm kiếm hài cốt của những người Mỹ bị mất tích và xác định số phận của những người mà hài cốt của
họ vẫn chưa được tìm thấy” [53, tr.12] Đây là một bước đi quan trọng, một dấu
mốc đáng chú ý, thể hiện được nguyện vọng của nhân dân hai nước, phù hợp với xu thế phát triển hiên nay của tình hình quốc tế, đồng thời góp phần vào sự nghiệp hòa bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á
Trang 28CHƯƠNG 2:
QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – HOA KỲ (1995 – 2014)
2.1 Quan hệ ngoại giao song phương và đa phương
2.1.1 Các chuyến viếng thăm và đối thoại cấp cao
Kể từ thời điểm Hoa Kỳ chính thức tuyên bố dỡ bỏ cấm vận Việt Nam, tháo
gỡ rào cản cuối cùng tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã bước sang một trang mới, tin cậy và cùng hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn
Từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ năm 1995, hai nước
đã có những bước tiến đáng kể trên con đường hợp tác cùng có lợi theo tinh thần
“gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” Bước đi quan trọng đầu tiên sau mười năm
bình thường hóa là năm 2005 hai nước đã thỏa thuận xây dựng khuôn khổ quan hệ
“đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn
nhau và cùng có lợi” [31, tr.197] Trên cơ sở của khuôn khổ hợp tác đó, hai nước đã
cùng nhau phát triển các quan hệ nhiều mặt từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, đầu tư, đến quốc phòng, an ninh, khoa học - công nghệ, giáo dục, thậm chí hợp tác để giải quyết cả những vấn đề mà hai nước còn có nhiều bất đồng, cách biệt, như dân chủ, nhân quyền, tôn giáo mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực và quốc tế
Đến nay, hai nước đã thiết lập 10 cơ chế đối thoại về chính trị - an ninh - quốc phòng, kinh tế, phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương… Trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, thành quả lớn nhất là hai quốc gia đã chính thức công nhận chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập dân tộc của nhau, từ đó ngày càng phát triển mối quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, đẩy mạnh các cuộc trao đổi, viếng thăm của các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước, cùng các bộ, ngành, doanh nghiệp và nhân dân hai nước Kể từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay, hai bên
đã tiến hành 6 chuyến thăm cấp caovà nhiều cuộc gặp gỡ cấp Bộ trưởng, Thứ trưởng, các ban ngành Về phía Hoa Kỳ là các chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Bill Clinton (2000), Tổng thống Geogre W Bush (2006) Về phía Việt Nam
là các chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2007), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2008) và Chủ tịch nước
Trang 29Trương Tấn Sang (2013) Chuyến thăm gần đây nhất của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang là bước tiến mới nhất nhằm nâng cấp mối quan hệ hợp tác giữa hai nước lên một tầm cao mới: Xác lập quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ
Trong các chuyến viếng thăm này, về phía Hoa Kỳ, nổi bật là chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton năm 2000 Trong chuyến thăm lần này, ông Bill Clinton được ghi nhận là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam kể từ khi Việt Nam thống nhất năm 1975 Trong hai nhiệm kỳ Tổng thống của mình, ông Clinton đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng liên quan đến Việt Nam như dỡ bỏ cấm vận, cho phép công ty của Mỹ đầu tư tại Việt Nam, tiến tới bình thường hóa vào tháng 7 -
1995, thiết lập quan hệ ngoại giao ngay sau đó và ký Hiệp định thương mại song phương năm 2000 Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng thống Mỹ Billl Clinton đã diện kiến Chủ tịch nước Trần Đức Lương và có cuộc nói chuyện với sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Đây có thể coi là một chuyến thăm lịch sử, bởi dù hai nước đã bình thường hóa quan hệ được 5 năm nhưng phải sau chuyến thăm này, hình ảnh Việt Nam hòa bình và thân thiện tiếp đón vị Tổng thống Mỹ được cả thế giới biết tới, góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với cộng đồng quốc tế
Đối với Việt Nam, cuộc viếng thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ vào năm 2013 là một sự kiện quan trọng Ngày 25 - 7, tại Nhà Trắng đã diễn ra cuộc hội đàm giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama Tổng thống Obama đã hoan nghênh Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và đoàn đại biểu cấp cao Nhà nước Việt Nam tới thăm chính thức Hoa Kỳ Cuộc hội
đàm này đã khẳng định “sự coi trọng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và vai trò của
Việt Nam tại khu vực” [62]; đồng thời mong muốn quan hệ giữa hai nước trong thời
gian tới sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ
Tổng thống Obama nhấn mạnh Hoa Kỳ tiếp tục coi trọng khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong tổng thể chiến lược chung của Hoa Kỳ, trong đó có vai trò trung tâm của ASEAN trong một cấu trúc khu vực đang định hình cũng như các cơ chế hợp tác tiểu khu vực; mong muốn thúc đẩy quan hệ với ASEAN cũng như các đối tác khác của Hoa Kỳ tại Đông Bắc Á
Trang 30Trên cơ sở của những thỏa thuận cấp cao, hai bên đã mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực thông qua các cuộc trao đổi đoàn các cấp bộ, ban, ngành, doanh nghiệp và cả ngoại giao nhân dân Tại các diễn đàn quốc tế, hai bên cũng đã
có những cuộc gặp gỡ bên lề các hội nghị, phối hợp có hiệu quả trên các diễn đàn, như Diễn đàn Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn An ninh châu
Á (ARF), Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng mở rộng (ADMM+)… hay tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc…
Cùng với những vấn đề thuộc quan hệ song phương, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã đẩy mạnh sự hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế hai bên cùng quan tâm, đó là sự hợp tác với các nước thành viên và tổ chức ASEAN, với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xây dựng Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, giải quyết những bất đồng và căng thẳng ở Biển Đông Trước thực tế tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, trong khi châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động nhất với những liên kết đa tầng nấc, thì việc thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ càng có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như sự phát triển của các quốc gia có liên quan
Như vậy, các với các cuộc viếng thăm và đối thoại cấp cao trong khuôn khổ song phương và đa phương đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Bên cạnh việc giải quyết các vấn đề riêng, Việt Nam và Hoa Kỳ còn nỗ lực duy trì môi trường hòa bình trong khu vực, tiến tới thực hiện các mục tiêu chiến lược khác không chỉ trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao mà còn ở lĩnh vực thương mại, an ninh, quân sự…
2.1.2 Thông qua các tuyên bố chung về ngoại giao
Thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á, đẩy mạnh hơn nữa sự điều chỉnh trong chiến lược đối ngoại, quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ cũng có sự điều chỉnh với những thay đổi trong phương thức, mục tiêu thực hiện Để phù hợp với mục đích của mỗi giai đoạn trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đầu thế kỷ XXI, các tuyên bố chung giữa hai nước được thông qua nhằm triển khai các nội dung cụ thể của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trang 31Các tuyên bố chung giữa hai nước được thông qua trong các năm 2005,
2006, 2008, 2013 sau các cuộc hội đàm của Chính phủ hai bên Chính qua các Tuyên bố chung này đã thể hiện được quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ trong việc giải quyết các vấn đề chung của quốc gia và khu vực
Trong các vấn đề chung, mối quan tâm giữa hai nước là vấn đề hòa bình Vì
vậy, nội dung đầu tiên mà tuyên bố chung hai nước là “khẳng định mong muốn xây
dựng quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt, ổn định lâu dài giữa hai nước Tổng thống G Bush cam kết tôn trọng chủ quyền, an ninh của Việt Nam”
[59] Điểm lại việc thực hiện bản Tuyên bố chung tháng 6 năm 2005 giữa Tổng thống Bush và Thủ tướng Phan Văn Khải, hai nhà lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng về những tiến bộ đạt được trong quan hệ hai nước, nhờ đó tạo dựng được mối quan hệ nhiều mặt, hướng tới tương lai tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và Tổng thống Bush cả hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ý định tiếp tục đối thoại về những vấn đề còn có sựkhác nhau Tổng thống và Thủ tướng nhấn mạnh, hai nước có lợi ích chung trong việctăng cường hơn nữa hợp tác song phương trong khuôn khổ một mối quan hệ đối tác ổnđịnh và bền vững Để đạt được điều đó, Tổng thống và Thủ tướng khẳng định chủ trươngđưa quan hệ song phương lên tầm cao mới thông qua việc phát triển mối quan hệ đối tácxây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau vàhai bên cùng có lợi Trên tinh thần đó, hai nhà Lãnh đạo nhất trí khuyến khích các ngànhhành pháp, lập pháp, giới khoa học, doanh nhân, quân nhân và công dân hai nước giatăng tiếp xúc, và thúc đẩy hơn nữa sự trao đổi về văn hóa và giáo dục, đặc biệt thông quaQuỹ Giáo dục Việt Nam Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tăng cường hợp tác song phương và đa phương về cácvấn đề xuyên quốc gia, bao gồm cuộc đấu tranh trên toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố,chống tội phạm xuyên quốc gia, ma túy, nạn buôn người, và hợp tác sâu hơn trên các vấnđề y
tế và nhân đạo…
Mối quan hệ hữu nghị này bao gồm “hợp tác nhiều mặt” được thể hiện bằng
các quan hệ kinh tế - thương mại quan trọng và đang gia tăng, các bước khởi đầu về quan hệ giữa hai Bộ Quốc phòng, sự hợp tác tốt đẹp về các vấn đề y tế, văn hóa, giáo dục và phát triển, sự cam kết giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại và lợi
Trang 32ích chung trong việc bảo đảm hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hai bên cũng trao đổi thẳng thắn và chân thành các vấn đề còn khác biệt Ngoài ra, hai bên khẳng định quyết tâm bảo đảm cho quan hệ song phương ổn định, xây dựng, có nền tảng rộng lớn và được tiến hành trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền và cùng có lợi [57]
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Bush thảo luận những tiến bộ đạt được kể từ cuộc gặp giữa hai nhà Lãnh đạo tại Việt Nam năm 2006, cam kết có
nỗ lực cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ song phương đang ngày càng
năng động Hai nhà Lãnh đạo nhất trí rằng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ “được xây
dựng trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị tích cực và đang phát triển, tôn trọng lẫn nhau, và cùng cam kết hợp tác nhiều mặt mang tính xây dựng trên nhiều vấn đề để góp phần làm sâu rộng quan hệ vì lợi ích lâu dài của hai nước” [56] Hai nhà lãnh
đạo cũng chia sẻ tầm nhìn và mục tiêu hướng tới một khu vực châu Á – Thái Bình Dương ổn định, an ninh, dân chủ, hòa bình và trao đổi về việc đóng góp của Việt Nam và Hoa Kỳ cho mục tiêu này trong tương lai
Trong bản tuyên bố sau chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 6 – 2008, Thủ tướng Việt Nam và Tổng thống Mỹ Bush nhất trí đánh
giá: “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị
tích cực và đang phát triển, tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết hợp tác nhiều mặt mang tính xây dựng trên nhiều vấn đề để góp phần làm sâu rộng quan hệ vì lợi ích lâu dài hai nước Hai nhà lãnh đạo cũng chia sẻ tầm nhìn và mục tiêu hướng tới một khu vực châu Á – Thái Bình Dương ổn định, an ninh, dân chủ, hòa bình” [58]
Tóm lại, trong các tuyên bố chung, các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí đưa “quan hệ
đối tác, xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi” Lợi ích này không chỉ dành riêng cho hai nước mà vì hòa
bình, an ninh, ổn định và hợp tác phát triển ở Đông Nam Á và châu Á
Bản Tuyên bố chung được thông qua gần đây nhất là vào tháng 7 – 2013, sau cuộc hội đàm giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tại Nhà Trắng Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, trong khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ hai bên nhất trí tăng cường trao đổi, tiếp xúc ở tất cả các cấp và ủng hộ việc tăng cường các cơ chế đối thoại và hợp tác Bên cạnh
Trang 33các cuộc gặp gỡ song phương, hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), và Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Như vậy, bằng việc thông qua các Tuyên bố chung, quan hệ ngoại giao hai nước có chiều hướng này các tốt đẹp khi cùng nhau hợp tác tiến hành giải quyết các vấn đề của đất nước, khu vực và thế giới Điều này thể hiện được thiện chí của mỗi bên, cùng nhau thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời, duy trì hòa bình và an ninh khu vực
2.1.3 Hoạt động “Ngoại giao nhân dân”
Nếu như giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thực hiện “ngoại giao bóng bàn” thì giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong hoạt động đối ngoại được biết đến với “ngoại giao
nhân dân”
Đối với Việt Nam, ngoại giao nhân dân là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng cộng sản và chính phủ Việt Nam, hoạt
động với phương châm: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng
cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức và nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân
ta và nhân dân các nước trong khi vực và trên thế giới […] Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao Nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân, […], làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta” [10, tr.122 –
123] Các hình thức hoạt động của ngoại giao nhân dân chủ yếu của Việt Nam bao gồm trao đổi văn hóa, giáo dục, vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài và thông tin đối ngoại Những hoạt động của ngoại giao nhân dân đã tạo cơ sở cho nhân dân Việt Nam có điều kiện giao lưu với nhân dân các nước nói chung và nhân dân Hoa Kỳ nói riêng, cũng như hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, hỗ trợ việc thực hiện chính sách đối ngoại của nhà nước