Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, sách chuyên khảo, tạp chí viết về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, như Nguyễn Thị Côi chủ biên: “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ s
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ CHƯƠNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở LIÊN XÔ (1921 - 1941) (SGK LỚP 11 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thu Hằng
Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Mạnh Hồng
Đà Nẵng tháng 5 năm 2015
Trang 2Lời cảm ơn
Sau khi thu thập tài liệu và tìm hiểu, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ nhiều phía cá nhân, đơn vị; dù gặp một số khó khăn song đến nay, khóa luận của tôi đã hoàn thành.Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy (cô) giáo trong khoa Lịch sử, các cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện để tôi có đủ nguồn tài liệu tham khảo để thực hiện đề tài Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, động viên từ các bạn trong tập thể lớp 11SLS trong suốt quá trình làm đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy (cô) giáo và học sinh tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (thành phố Đà nẵng); THPT Nguyễn Duy Hiệu, THPT Lương Thế Vinh (tỉnh Quảng Nam) đã giúp đỡ tôi trong quá trình về điều tra, tiến hành thực nghiệm sư phạm
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới Th.S Nguyễn Mạnh Hồng –
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm khóa luận
Bài khóa luận của tôi được làm trong thời gian có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều nên còn nhiều thiếu sót Tôi hi vọng nhận được nhiều
sự đóng góp ý kiến từ phía thầy (cô) và các bạn để bài khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn Xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục đề tài 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THIẾT KẾ ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Đồ dùng trực quan quy ước và việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử 7
1.1.1.1 Khái niệm về đồ dùng trực quan quy ước 7
1.1.1.2 Việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử 8
1.1.2 Phân loại đồ dùng trực quan quy ước 10
1.1.2.1 Bản đồ lịch sử 10
1.1.2.2 Niên biểu 13
1.1.2.3 Đồ thị 15
1.1.2.4 Sơ đồ, biểu đồ 16
1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan qui ước trong dạy học lịch sử 18
1.1.3.1 Về mặt giáo dưỡng 18
1.1.3.2 Về mặt giáo dục 19
1.1.3.3 Về mặt phát triển 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
Trang 41.2.1 Tình hình trang bị đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 22
Trang 51.2.2 Tình hình sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường
phổ thông 23
1.2.3 Tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 23
1.2.4 Kết quả điều tra 25
Chương 2: THIẾT KẾ ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ (1921 - 1941)” (SGK LỚP 11 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 26
2.1 Các nguyên tắc thiết kế đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử 26
2.1.1 Nắm vững kiến thức, yêu cầu và nội dung môn học 26
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học 27
2.1.3 Đảm bảo tính trực quan 28
2.1.4 Đảm bảo tính thẩm mĩ 28
2.2 Chương trình lịch sử lớp 11 29
2.2.1 Vị trí 29
2.2.2 Nội dung chương trình bộ môn lịch sử lớp 11 chương trình chuẩn 30
2.2.3 Nội dung cơ bản của chương “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)” 32
2.3 Thiết kế đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học chương “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)” (SKG lớp 11 – chương trình chuẩn) ở trường Trung học phổ thông 34
2.3.1 Bài 9: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917 - 1921) 34
2.3.2 Bài 10: Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921 - 1941) 41
Trang 6Chương 3: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM
1917 VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ (1921 - 1941)” (SGK LỚP 11 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” 47
3.1 Các yêu cầu chung khi sử dụng đồ dùng trực quan quy ước 47
3.2 Các biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử chương “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)” (SGK lớp 11 - chương trình chuẩn) ở trường Trung học phổ thông 49
3.2.1 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong bài nội khóa 49
3.2.1.1 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để đặt vấn đề và giải quyết vấn đề (nêu nhiệm vụ nhận thức) 49
3.2.1.2 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để hình thành tri thức mới 51
3.2.1.3 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để tường thuật diễn biến sự kiện 52
3.2.1.4 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 53
3.2.1.5 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để củng cố, hệ thống kiến thức đã học 55
3.2.1.6 Sử dụng ĐDTQ quy ước để ra bài tập về nhà và giao nhiệm vụ chuẩn bị bài mới 56
3.2.2 Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong các hoạt động ngoại khóa 59
3.3 Thực nghiệm sư phạm 59
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.3.2 Nội dung và phương pháp tiến hành 60
3.3.3 Kết quả thực nghiệm 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 7NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mỗi môn học trong nhà trường phổ thông đều có phương pháp giảng dạy phù hợp với bộ môn của mình Trong dạy học lịch sử, nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học lịch sử, gây hứng thú cho học tập của học sinh
Đổi mới và nâng cao chất lượng của dạy học trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đã đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo một yêu cầu cấp thiết, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, của đất nước Trong công tác dạy học ở trường Trung học phổ thông, phương pháp dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng và đang được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu phát triển, nhất là trong giai đoạn đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay
Như trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (Phần I) đã nhận định tình hình
giáo dục nước ta hiện nay “Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc
hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Để khắc phục tình trạng nêu trên, Đại
hội đặt ra yêu cầu bức thiết “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo” Trong đó, nhấn mạnh rõ hơn biện pháp đổi mới toàn diện là: “Đổi mới mạnh mẽ nội
dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học; coi trọng giáo dục năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp” [8,
tr.167,168, 131] để từng bước hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, mà ở đó sự quan tâm nhiều nhất chính là tinh thần giáo dục sáng tạo, là đường hướng giáo dục nhân bản - giáo dục con người trở về chính mình
Việc đổi mới phương pháp dạy học được luật Giáo dục 2005 qui định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm; đem lại niềm vui, hứng thú học tập
Trang 9cho học sinh” [23, chương II, mục II, điều 28] Đồng thời, Hội nghị lần thứ hai của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định cần phải đổi mới phương
pháp dạy học bằng cách: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”
[7, tr.41]
Khi khoa học kỹ thuật đã thâm nhập sâu rộng và mạnh mẽ hơn trong đời sống xã hội loài người, việc ứng dụng ngày càng cao của khoa học kĩ thuật, nhất là trong dạy học Với lượng kiến thức mới, phong phú và nhu cầu lĩnh hội tri thức ngày càng cao của học sinh thì người giáo viên ngoài việc sử dụng các phương pháp giảng dạy truyền thống, cần phải kết hợp các phương pháp dạy học mới sao cho phù hợp như sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử có tác dụng giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh kiến thức lịch sử Vì vây đáp ứng yêu cầu của giáo dục học sinh về mọi mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử chương Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941) (SGK lớp 11 - chương trình chuẩn) ở trường Trung học phổ thông” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc giảng dạy lịch sử nói chung và lịch sử thế giới nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu lĩnh hội tri thức nhân loại của học sinh Trên thực tế cũng có một số công trình, tạp chí nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài khóa luận này Tôi đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu sau:
Cuốn Phương pháp dạy học lịch sử của Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị
(chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), Nhà xuất bản Giáo dục, đã trình bày hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử, cơ sở của việc sử dụng đồ
Trang 10dùng trực quan quy ước, đã đánh giá cao phương pháp trực quan và là một trong những biện pháp tích cực để đổi mới phương pháp dạy học
Công trình Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế và sử dụng đồ dùng
trực quan quy ước trong dạy học phần lịch sử thế giới hiện đại giai đoạn 1945 -
2000 ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn), Nguyễn Thị Lan (2009),
Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đai học sư phạm - Đại học Huế Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về đồ dùng trực quan quy ước, thiết kế và đưa ra các biện pháp sư phạm để và sử dụng các đồ dùng trực quan quy ước bằng công nghệ thông
tin
Ngoài ra, có cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 2 của Phan Ngọc
Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2009), NXB Đại học Sư phạm
và một số tài liệu khác Các công trình này đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của đồ dùng trực quan, trình bày cụ thể các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, trong
đó có trình bày về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, sách chuyên khảo, tạp chí viết về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, như Nguyễn Thị Côi (chủ
biên): “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”; Đặng Văn Hồ: “Một số
vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam 1858 -
1918 ở trường Trung học phổ thông (ban nâng cao)”, Tạp chí giáo dục, Trường Đại
học Sư phạm Huế; Lê Văn Tỉnh: “Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1954)
ở trường trung học phổ thông (ban nâng cao)”, Trường Đại học Sư phạm Huế;
Nguyễn Thị Hà Tiến: “Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
thế giới lớp 11 trung học phổ thông (chương trình chuẩn)”… các công trình này
cũng đã đề cập đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước, đề xuất các biện pháp sư phạm cụ thể, nêu những yêu cầu và phương pháp xây dựng đồ dùng trực quan quy ước
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã sâu tìm hiểu lý luận về đồ dùng trực quan, trực quan quy ước hoặc thiết kế, sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong bài giảng lịch sử Các công trình này là nguồn tư liệu quan trọng, quí giá giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu nội dung, phương pháp cụ thể về xây dựng và
Trang 11sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử chương “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)” lịch sử lớp 11 chương trình chuẩn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các kiến thức trong sách giáo khoa
và sách giáo viên lịch sử lớp 11 chương cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941) (chương trình chuẩn)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu làm rõ việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử chương cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941) lớp 11 ở trường THPT (Trung học phổ thông) và tiến hành thực nghiệm tại các trường THPT
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay nói chung và việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử nói chung
Qua đó, khẳng định tầm quan trọng của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử Việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong giai đoạn này có tác dụng và lợi ích như thế nào đối với dạy - học lịch sử của giáo viên và học sinh hiện nay?
Ngoài ra còn góp phần cung cấp thêm tư liệu giảng dạy lịch sử lớp 11 chương trình chuẩn (phần lịch sử thế giới) ở trường THPT
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 125.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng tài liệu từ các sách chuyên khảo, một số công trình nghiên cứu, các tư liệu liên quan trên các trang Web, cũng như một số tài
liệu tham khảo khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là lí luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về lịch sử và giáo dục lịch sử trong trường phổ thông
5.2.2 Phương pháp cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Các sách về phương pháp, các khóa luận, các báo cáo về đổi mới phương pháp dạy học, các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu khác có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp tiến hành điều tra: Tiến hành điều tra tình hình sử dụng các loại đồ dùng trực quan qui ước để thiết kế và sử dụng các loại đồ dùng trực quan qui ước trong dạy học lịch sử thế giới của giáo viên Bên cạnh đó thấy được mức độ nắm và hiểu bài của học sinh qua bài giảng của giáo viên
- Phát phiếu điều tra cho học sinh nhằm kiểm tra khả năng quan sát trực quan thông qua đó nắm và nhớ kiên thức của học sinh, để xác định phương pháp và nội dung dạy của giáo viên có phù hợp đặc điểm bộ môn và lứa tuổi học sinh
- Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm sư phạm theo hướng đặt ra của đề tài ở một số trường phổ thông để đối chiếu với kết quả điều tra, từ đó rút ra kết luận
về việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế giới lớp 11 ở trường THPT
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng một số phép thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm và kiểm định kết quả qua hai nhóm: Đối chứng - thực nghiệm
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ mang lại những đóng góp sau:
Trang 13Bước đầu làm quen, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, mong muốn của chúng tôi là góp phần khắc phục được hiện trạng thiếu hụt đồ dùng trực quan quy ước trong sách giáo khoa hiện nay
Sản phẩm của đề tài là nguồn tư liệu giảng dạy cho giáo viên, tài liệu học tập của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn lịch sử ở trường trung học phổ thông
Đề tài còn góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Trang 14NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THIẾT KẾ
ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đồ dùng trực quan quy ước và việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
1.1.1.1 Khái niệm về đồ dùng trực quan quy ước
Trước hết, chúng ta có một số khái niệm về đồ dùng trực quan như: Đồ dùng trưc quan là những đồ vật, những công cụ do con người sáng tạo ra, giúp con người
có những hình ảnh cụ thể về một sự vật hiện tượng nào đó
Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện lịch
sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng nhất, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội [21, tr.62]
Đồ dùng trực quan là công cụ nhằm đảm bảo tính trực quan trong dạy học, đảm bảo nguyên tắc trực quan trong nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” mặt khác đồ dùng trực quan còn đảm bảo nguyên tắc về sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng Để đảm bảo tính trực quan trong dạy học lịch sử thì yêu cầu giáo viên phải sử dùng đồ dùng trực quan xuyên suốt trong tất cả các khâu, các yếu tố, các hình thức của quá trình dạy học
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử được hiểu là những công cụ, phương tiện như bản đồ, tranh ảnh, đồ thị, đồ họa, đồ biểu do nhà nước cung cấp hoặc do giáo viên, học sinh tự thiết kế để phục vụ hoạt động dạy học
Về khái niệm đồ dùng trực quan quy ước: Đồ dùng trực quan quy ước là loại
đồ dùng trực quan mà giữa người thiết kế, người sử dụng và người học có những qui ước ngầm nào đó (về màu sắc, ký hiệu hình học, tỉ lệ xích…) Đây là loại đồ dùng dạy học đơn giản, không tốn kém nhưng tính hiệu quả lại rất cao và là công cụ
Trang 15biểu hiện tư duy mở rộng, GV có thể viết nhanh trên bảng hoặc vẽ trên giấy, hay được thiết kế bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Đồ dùng trực quan quy ước là một loại tài liệu có giá trị, với hình ảnh, màu sắc, mã số… tạo nên sức thu hút, hấp dẫn, cá tính, nhờ đó đẩy mạnh sự sáng tạo, khả năng ghi nhớ, đặc biệt là sức gợi nhớ thông tin cho học sinh Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm [11, tr.18]
Nếu như trong các bộ môn khoa học khác, nhất là khoa học tự nhiên để đảm bảo tính trực quan trong dạy học, giáo viên có thể cho học sinh trực tiếp quan sát các sự vật hay hiện tượng xảy ra trong phòng thí nghiệm, thì bộ môn lịch sử lại khác Lịch sử bao gồm những sự vật hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người, con người không thể đem con người ra thử nghiệm, lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn để con người quan sát trực tiếp
Vì vậy đồ dùng trực quan để giảng dạy và học tập lịch sử không giống với đồ dùng trực quan để giảng dạy các bộ môn khác Nó có những đặc thù riêng, thiết kế tái tạo dựa trên cơ sở nội dung lịch sử, mang những thông tin về quá khứ nhằm giúp học sinh hiểu và đánh giá đúng quá khứ, đặt trong bối cảnh lịch sử của nó Đồ dùng trực quan của môn khoa học tự nhiên mang tính cụ thể, còn đồ dùng môn lịch sử mang tính khái quát trừu tượng cao Do đặc điểm của việc học tập lịch sử, không trực tiếp quan sát sự kiện, nên phương pháp trực quan có ý nghĩa rất quan trọng
1.1.1.2 Việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
Khi nói đến tầm quan trọng của đồ dùng trực quan trong dạy học, nhà giáo
dục học Sée J A Komesky cho rằng: “để có tri thức vững chắc, nhất định phải
dùng phương pháp trực quan” hay Lê – nin đã khái quát thành lí luận: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ đó trở thành thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan” [34,
tr37]
Nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử là thực hiện lí luận của quy luật
nhận thức (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ cảm tính đến lý tính)
Trang 16Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng tực quan quy ước nói riêng nhằm tạo biểu tượng, trên cơ sở đó để hình thành khái niệm cho học sinh
Sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng tực quan quy ước nói riêng trong dạy học lịch sử góp phần:
Một là, tạo biểu tượng, cụ thể hóa các sự kiện lịch sự kiện lịch sử chính xác,
không hiện đại, không kéo lùi lịch sử Hai là, là chỗ dựa để giúp học sinh từ biết
đến hiểu và hiểu sâu sắc bản chất các sự kiện lịch sử Trên cơ sở đó để nắm vững
khái niệm, qui luật Ví dụ: Từ trực quan công cụ - hiệu quả kinh tế - chuyển biến xã hội – rút ra vai trò của sự phát triển khoa học kỹ thuật, quy luật phát triển xã hội loài
người… Ba là, có tác dụng giúp học sinh hiểu sâu, nhớ lâu những kiến thức lịch sử
Bốn là, giúp học sinh quan sát, bồi dưỡng năng lực tưởng tượng tư duy tái tạo và tư
duy ngôn ngữ cho học sinh Năm là, trực quan có ý nghĩa giáo dục đạo đức tư tưởng
rất lớn (ví dụ: yêu mến, kính trọng nâng niu, phê phán, thông cảm, tự hào…) [24; tr.40]
Như vậy, trực quan là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại Là thực hiện tốt các chức năng giáo dục, gây hứng thú cao trong học tập bộ môn Theo đó, giáo viên cần
sử dụng và chế tạo để sử dụng các loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, khắc phục tình trạng dạy chay Ngoài ra, biết cách sử dụng trực quan đối với các loại bài lịch sử nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Bởi vì, chúng ta cải cách giáo dục theo tinh thần nghị quyết Đại hội X và nghị quyết trung ương khóa IV:
Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục và công tác quản lí giáo dục, khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu giáo dục – đào tạo; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng nâng cao dân trí phát triển nhân lực, đào tạo nhân tài, cả dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống trong đó có môn lịch sử [25, tr.23 - 24] Trên tinh thần đó, việc sự dụng đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nói riêng trong dạy học lịch sử cũng vì mục đích cuối cùng là hiệu quả của mà quá trình học tập môn lịch sử mang lại
Trang 171.1.2 Phân loại đồ dùng trực quan quy ước
Để thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước có hiệu quả, trước hết chúng ta cần phân biệt được các loại đồ dùng trực quan Phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử có nhiều cách, song về cơ bản chúng ta có thể chia chúng thành ba nhóm lớn thường được sử dụng trong dạy học lịch sử phổ thông
Nhóm thứ nhất – Đồ dùng trực quan hiện vật: nhóm này bao gồm những di
tích lịch sử và cách mạng (như thành nhà Hồ, hang Pác Bó, nhà số 5D Hàm Long…), những di vật khảo cổ và di vật thuộc các thời đại lịch sử (như công cụ đồ
đá cũ núi Đọ, trống đồng Đông Sơn; cọc gỗ Bạch Đằng; trống và cờ trong thời kì
Xô viết Nghệ - Tĩnh, truyền đơn cách mạng…) Đây là loại tài liệu gốc rất có giá trị,
có ý nghĩa to lớn về mặt nhận thức
Nhóm thứ hai – Đồ dùng trực quan tạo hình: nhóm này bao gồm các loại
phục chế, mô hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử… Ví dụ như bức ảnh Nguyễn Ái Quốc
ở Đại hội Tua 1920, Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944), bức tranh chiến binh Giacôbanh, phim tư liệu Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ… Nó có khả năng khôi phục lại hình ảnh con người, đồ vật, sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động và khá xác thực
Nhóm thứ ba – Đồ dùng trực quan quy ước: nhóm này gồm các loại bản đồ
lịch sử, đồ thị, sơ đồ niên biểu… Loại đồ dùng trực quan này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng, khi phản ánh những mặt số lượng và chất lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng khuynh hướng phát triển của hiện tượng kinh tế, chính trị - xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện lịch sử
mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh [21, tr.66]
Trong dạy học lịch sử, ở trường trung học phổ thông, giáo viên thường sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước sau:
1.1.2.1 Bản đồ lịch sử
Bản đồ (lược đồ): là loại đồ dùng trực quan quy ước được sử dụng thông dụng trong các trường THPT Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định Đồng thời bản đồ lịch sử còn giúp học sinh
Trang 18suy nghĩ và giải thích các hiện tượng lịch sử về mối quan hệ nhân quả, về tính qui luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học
Về hình thức bản đồ lịch sử không nhất thiết có nhiều chi tiết về điều kiện thiên nhiên (khoáng sản, sông núi…) mà cần có những kí hiệu về biên giới các quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố, các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những biến cố quan trọng (các cuộc khởi nghĩa, cách mạng, chiến dịch…) Vì vậy, thường dùng là
“lược đồ” để chỉ các loại bản đồ Các minh họa trên bản đồ phải đẹp, chính xác, rõ ràng
Về nội dung, bản đồ lịch sử có thể chia làm hai loại chính: bản đồ tổng hợp
và bản đồ chuyên đề:
Bản đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một
nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kì nhất định, trong những điều kiện tự nhiên nhất định (đặc biệt là biên giới các quốc gia trong thời điểm diễn ra sự kiện)
Ví dụ, các bản đồ Sự phân chia thuộc địa của các nước đế quốc cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX, Chiến tranh thế giới thứ nhất (1919 - 1918), Việt nam giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919 – 1939, Lược đồ châu Âu năm 1923…
Bản đồ chuyên đề (“chuyên đồ”): nhằm diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay
một mặt của quá trình lịch sử, như diễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của
một nước trong một giai đoạn lịch sử, như bản đồ Chiến dịch Biên giới thu đông
năm 1950; Nội chiến ở Pháp 1871, Lược đồ nước Nga năm 1922… [ 21, tr.67]
Trong thực tiễn dạy học lịch sử cần kết hợp cả hai loại bản đồ nêu trên (bản
đồ tổng hợp và bản đồ chuyên đề) khi trình bày một sự kiện Việc sử dụng bản đồ trong dạy học là điều cần thiết, không thể thiếu được trong điều kiện nước ta hiện nay, đem lại nhiều kết quả về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Đây là loại tài liệu trực quan cần khai thác, sử dụng
Trang 19Ngoài bản đồ treo tường, giáo viên, học sinh còn sử dụng nhiều loại bản đồ khác: bản đồ trong SGK, átlát lịch sử, bản đồ câm (bản đồ bài tập)… Theo loại hình, bản đồ giáo khoa lịch sử được phân thành các loại sau:
+ Bản đồ trong sách giáo khoa lịch sử in kèm theo bài viết, thể hiện nội
dung sự kiện được trình bày, nhưng khổ nhỏ, khó quan sát hơn bản đồ treo tường và chỉ là lược đồ Vì vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc bản đồ khi học bài; vẽ lại trong vở, trên giấy rời hay bảng đen, trình bày diễn biến sự kiện theo bản đồ [21, tr.81] Đây là một nguồn cung cấp kiến thức quan trọng nhằm cụ thể hóa các sự kiện lịch sử, và là một nguồn tư liệu nghiên cứu để thầy trò xây dựng bản đồ treo tường phục vụ việc dạy trên lớp
+ Bản đồ treo tường có vị trí, vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì tạo
cho học sinh có được biểu tượng lịch sử rõ nét ngay trên lớp, đây được xem là một loại chủ lực phổ biến nhất trong bản đồ giáo khoa nhà trường Hiện nay, bản đồ treo tường được xây dựng từ hai nguồn: do các cơ quan chức năng của Nhà nước xây dựng, in và phát hành hoặc do thầy trò tự xây dựng Các bản đồ treo tường có thể chia làm hai loại: Một là, bản đồ giáo khoa treo tường với nội dung đầy đủ theo yêu cầu của bài giảng, của cấp học để dùng tại lớp Hai là, bản đồ giáo khoa treo tường được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của phương pháp truyền thụ, trên đó chỉ có một số yếu tố cơ sở, còn những nội dung khác được đưa thêm vào dần dần theo bài giảng
+ Át-lát giáo khoa lịch sử gồm một hệ thống bản đồ lịch sử theo nội dung
chương trình sách giáo khoa Các bản đồ trong át-lát giáo khoa lịch sử in nhiều màu, đẹp, diễn tả chi tiết nội dung sự kiện, phù hợp trình độ, yêu cầu học tập của học sinh, bảo đảm thực hiện các nguyên tắc của bản đồ học Giáo viên hướng dẫn học sinh “làm việc” với át-lát giáo khoa lịch sử ở nhà khi học bài hay làm bài tập, chuẩn bị bài mới Học sinh có thể bắt đầu việc học bài bằng việc tìm hiểu bản đồ trong átlát để nhớ lại, củng cố những kiến thức đã thu nhận trên lớp, rồi đối chiếu với bài ghi, SGK Tiếp đó, học sinh tự trình bày nội dung sự kiện lịch sử theo bản
đồ trong átlát [21; tr.81] Đây là một trong những tư liệu tốt để thầy trò nghiên cứu,
Trang 20tìm hiểu bổ sung cho bài giảng trên lớp, đồng thời cũng rất bổ ích, thuận lợi cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu ở nhà
+ Bản đồ câm là loại bản đồ chỉ có kí hiệu, dạng điểm, dạng đường và diện
tích, không có chữ viết để giáo viên khi trình bày là kiến thức mới, hay dùng để kiểm tra học sinh (viết, nói) cách làm tự điền nội dung kiến thức lịch sử, chủ yếu là xác định địa danh lên bản đồ Việc sử dụng bản đồ câm đòi hỏi giáo viên và học sinh phải nắm vững nội dung sự kiện và kí hiệu để điền cho đúng và trình bày theo bản đồ đã được hoàn tất [21; tr.82] Việc sử dụng loại bản đồ này trong quá trình giảng dạy góp phần tạo điều kiện để các em hoạt động nhận thức một cách tích cực
và tự giác
+ Bản đồ nổi là loại bản đồ thường được xây dựng để giảng dạy những nội
dung lịch sử có liên quan đến yếu tố địa hình (chiến dịch Véc-đoong, chiến dịch Xtalingrát…) có giá trị trực quan cao giúp học sinh hiểu rõ mối quan hệ ảnh hưởng của địa hình đối với sự kiện lịch sử [29, tr.7]
1.1.2.2 Niên biểu
Sử dụng niên biểu trong dạy học lịch sử nhằm hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian, đồng thời nêu mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trong một thời kì
Về đại thể, có thể chia niên biểu ra mấy loại chính sau:
Niên biểu tổng hợp là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong một thời
gian dài Loại niên biểu này giúp học sinh không những ghi nhớ những sự kiện chính, mà còn nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện
quan trọng Ví dụ như, niên biểu Các sự kiện quan trọng trong thời kì thứ nhất của
lịch sử thế giới cận đại (1640 – 1870) được sử dụng trong bài ôn tập, tổng kết [21,
tr.68]
Niên biểu tổng hợp còn trình bày những mặt khác nhau của một sự kiện xảy
ra ở một nước trong một thời gian hay nhiều thời kì, như niên biểu về Các thời kì
phát triển và xây dựng đất nước được dựng theo mẫu sau đây:
Trang 21Niên biểu chuyên đề đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bật
nào đấy của một thời kì lịch sử nhất định, nhờ đó mà học sinh hiểu được bản chất sự
kiện một cách toàn diện đầy đủ Ví dụ, niên biểu Các sự kiện chính của cách mạng
tư sản Anh thế kỉ XVII giúp học sinh thấy rõ hướng phát triển của cách mạng, vai trò
của quần chúng nhân dân và thành quả của cách mạng:
nhân dân) và nhà vua (được sự ủng hộ của quí tộc phong kiến và Giáo hội Anh)
Lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế Thiết lập nền cộng hòa do Crôm – oen đứng đầu, cách mạng đạt đến đỉnh cao
Niên biểu chuyên đề chỉ ghi những sự kiện cơ bản, nêu được nội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn song lại vừa khôi phục đúng bức tranh lịch sử quá khứ, vừa thấy rõ sự phát triển logic của sự kiện
Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một
lúc trong lịch sử, nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc để
Trang 22rút ra một kết luận khái quát có tính chất nguyên lí Ví như, niên biểu về Sự phát
triển kinh tế của các nước đế quốc Anh, Pháp, Đức, Mĩ, Nhật trong thời kì 1870 –
1914 nhằm so sánh tốc độ phát triển của các nước này, đồng thời rút ra kết luận có
tính chất quy luật về sự phát triển không đều của các nước đế quốc, về việc nảy sinh mâu thuẫn giữa chúng [21, tr.70]
Bảng so sánh là một dạng niên biểu so sánh, nhưng có thể dùng số liệu và cả tài liệu – sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện cùng loại hay khác loại Ví dụ, bảng so sánh sự khác nhau về nguyên tắc giữa cách mạng vô sản
và cách mạng dân chủ tư sản Qua bảng so sánh này, với các mục: Động lực, Lãnh đạo, Mục tiêu, Kết quả cách mạng, học sinh sẽ thấy những khác nhau cơ bản giữa cách mạng vô sản và cách mạng tư sản, tính chất, triển vọng của mỗi loại cách mạng
1.1.2.3 Đồ thị
Dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học; khắc họa vào trí óc học sinh những số liệu cần phải nhớ để hiểu sự phát triển, vận động của sự kiện ấy Đồ thị phát triển của một hiện tượng lịch sử, hoặc được biểu diễn trên các trục hoành (ghi thời gian) và trục tung (ghi sự kiện) [3, tr.57 - 58]
Trong dạy học lịch sử, chúng ta có thể sử dụng hai loại đồ thị Loại đơn giản được biểu diễn bằng một mũi tên đi lên (đi xuống) Ví dụ như đồ thị biểu diễn sự phát triển về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất từ 5,5 vạn (trước chiến tranh) tăng lên 22 vạn năm (1929)
Khi cần so sánh sự vận động của các sự kiện để nêu lên bản chất của chúng, giáo viên có thể sử dụng đồ thị phức tạp, trong đó trục tung ghi số liệu về các sự kiện, trục hoành ghi thời gian Ví dụ: vẽ đồ thị sự tăng lên của số lượng học sinh phổ thông trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) theo số liệu như sau:
Trang 23Năm học Số lượng học sinh phổ thông
1.1.2.4 Sơ đồ, biểu đồ
Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung một biến
cố hay một hiện tượng lịch sử để học sinh nắm được những nét chủ yếu, các
“lôgích” vận động, phát triển của lịch sử Trên cơ sở ấy, các em nắm vững được các
đặc trưng cơ bản cấu tạo nội hàm của khái niệm
Khi xây dựng đồ thị lịch sử, giáo viên có thể sử dụng các hình vuông, hình
chữ nhật hoặc hình tròn… Để biểu thị mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, quá trình
sử dụng, giáo viên phải giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của các kí hiệu quy ước Ví
dụ: khi dạy học về Xã hội cổ đại ( lớp 10 – THPT), giáo viên sử dụng sơ đồ về hình
Trang 24thành nhà nước Qua sơ đồ, kèm theo phương tiện trực quan minh họa, giáo viên tạo
biểu tượng cho học sinh, trên cơ sở ấy dùng “hỏi và trả lời” để học sinh hiểu quá
Biểu đồ còn được thể hiện dưới dạng biểu đồ chiều dài, biểu đồ diện tích (hình vuông, hình tròn) hoặc biểu đồ thể tích (hình khối, hình cầu), Việc sử dụng biểu đồ giúp học sinh dễ xác định được giá trị của các hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng Do đó, biểu đồ rất có ưu thế trong việc giúp học sinh so sánh trị số giá trị của các sự kiện và thấy được bản chất của các sự kiện đó [29, tr.8]
Việc phân loại đồ dùng trục quan quy ước chỉ là tương đối, trong quá trình dạy học giáo viên phải căn cứ vào đối tượng, điều kiện để sáng tạo và sử dụng chúng cho hiệu quả
Như vậy, đồ dùng trực quan quy ước có nhiều loại khác nhau, giáo viên phải biết thiết kế và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước cho phù hợp với nội dung bài học kết hợp với nhiều phương pháp khác trong giảng dạy sẽ giúp học sinh khắc sâu và dễ dàng ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử Dựa vào đồ dùng trực quan quy ước học sinh có thể trình bày chính xác các sự kiện, hiểu được các mối quan hệ, bản chất cả sự kiện lịch sử Đồ dùng trực quan quy ước rất dễ tìm lại ít tốn kém nên được thiết kế và sử dụng rộng rãi trong dạy học lịch sử
Trang 251.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan qui ước trong dạy học lịch sử
1.1.3.1 Về mặt giáo dưỡng
“Học lịch sử cũng như các bộ môn khác, trước hết cần phải cung cấp kiến
thức” [16, tr.432] tức là đảm bảo chức năng giáo dưỡng, cung cấp kiến thức khoa
học lịch sử để các em có kiến thức về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Thực hiện được chức năng đó, giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp đê tác động vào đối tượng học sinh, trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử cho học sinh
Do việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông có đặc điểm là học sinh không được trực tiếp tiếp xúc với các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội nên đồ dùng trực quan giúp học sinh “trực quan sinh động” quá khứ Đồ dùng trực quan là phương tiện rất có hiệu lực trong việc giúp học sinh hình thành những khái niệm lịch sử quan trọng cũng như nắm vững những quy luật của sự phát triển xã hội
Thiết kế, sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực quan quy ước nói riêng có ý nghĩa to lớn, góp phần giáo dục toàn diện học sinh Đồ dùng trực quan quy ước có tác dụng tạo hình ảnh, tạo biểu tượng, cụ thể hóa một số sự kiện, hiện tượng cụ thể để học sinh dễ hình dung sự kiện ấy Đồng thời sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để khắc phục tình trạng “hiện đại hóc lịch sử” Việc tạo biểu tượng, tạo hình ảnh cho học sinh rất cần thiết trong quá trình hình thành và phát triển tư duy, trong quá trình tìm kiếm phát hiện và chiếm lĩnh tri thức cũng như dễ hình dung về sự kiện, hiện tượng lịch sử ấy
Ví dụ: quan sát vị trí của Ba Lan, Tiệp Khắc trên “Lược đồ Đức- Italia gây
chiến và bành trướng (từ tháng 10/1935- 8/1939)” bài 17 “Chiến tranh thế giới lần
hai (1939- 1945)” học sinh hình dung được vị trí chiến lược của hai nước này, hiểu
được bì sao Đức tìm mọi cách để chiếm Tiệp Khắc và tấn công Ba Lan đầu tiên, châm ngòi cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện lịch
sử là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng, giúp cho học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội
Trang 26Ví dụ: sử dụng biểu bảng so sánh cách mạng tư sản và vô sản trong bài
“Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng
(1917- 1921)”, học sinh so sánh về mục tiêu cách mạng, giai cấp lãnh đạo, động lực
cách mạng, xu hướng phát triển, từ đó học sinh được củng cố khái niệm “cách mạng
tư sản” được học trong chương trình lịch sử lớp 10, đồng thời học sinh còn nắm được nội hàm khái niệm “Cách mạng vô sản”, có sự so sánh hai cuộc cách mạng, từ
đó ghi nhớ, nắm vững được khái niệm, bản chất khái niệm
K.D Usin-ki đã khẳng định “hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong
trí nhớ chúng ta, là hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bẳng trực quan và những hình ảnh nào được khắc sâu trong trí nhớ chúng ta thì cũng được chúng ta nhớ kỹ, hiểu sâu những tư tưởng của nó” Điều này chứng tỏ học sinh sẽ ghi nhớ sự kiện,
nhân vật lịch sử lâu hơn thông qua đồ dùng trực quan nói chung, dồ dùng trực quan quy ước nói riêng so với cách dạy học truyền thống
Như vậy, đồ dùng trực quan nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ, tai nghe, mắt thấy tạo điều kiện cho học sinh dễ nhớ, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát, hứng thú
1.1.3.2 Về mặt giáo dục
Cùng với việc bồi dưỡng kiến thức, đồ dùng trực quan quy ước còn có vai
trò rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh; “góp phần
đóng góp quan trọng vào việc xây dựng con người mới, phục vụ đất nước, phục vụ
xã hội” [26, tr.5]
Bộ môn lịch sử nói chung, đồ dùng trực quan, đồ dùng trực quan quy ước nói riêng có ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục học sinh Đồ dùng trực quan tác động mạnh mẽ vào tư tưởng, tình cảm, thái độ của học sinh về nội dung lịch sử mà giáo viên trình bày thông qua bản đồ, niên biểu, đồ thị vì khi sử dụng đồ dùng trực quan thì yêu cầu cơ bản là phải đảm bảo tính tư tưởng Các sự kiện, nhân vật, những gì
thuộc về qua quá khứ không còn tồn tại, thực tế “nó chỉ là dấu ấn, những hình ảnh,
những mảnh vỡ của hiện thực, của quá khứ khách quan” [28, tr.42] và đồ dùng trực
Trang 27quan quy ước là con đường góp phần tác động đến tư tưởng, tình cảm và giáo dục các em
Ví dụ: khi dạy về khởi nghĩa Ba Đình (1886- 1887) trong bài 21 “Phong trào
yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX”
(lớp 11- chương trình chuẩn), giáo viên sử dụng lược đồ căn cứ Ba Đình, kết hợp sử dụng lời nói, giúp học sinh tìm hiểu kết cấu, bố trị phòng bị của căn cứ, từ đó học sinh cảm thấy khâm phục trí tuệ tài năng của cha ông đi trước, đồng thời cũng nhận thức được những hạn chế của nghĩa quân trong việc xây dựng căn cứ đó
Hay khi dạy bài 31 “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” (lớp 10-
chương trình chuẩn) giáo viên có thể sử dụng biểu đồ hình tròn để thể hiện tình cảnh người dân Pháp trước cách mạng phải chia 50% hoa lợi nộp cho nhà nước, 10- 20% cho nhà thờ Một phần thì bị chim chóc sâu bệnh phá hoại, phần ít còn lại thì người nông dân mới được hưởng, thành quả mà họ phải lao động vất vả cực nhọc còn lại không đáng là bao, từ đó học sinh nhận thức được và căm ghét những gì xấu
xa của chế độ phong kiến, của giáo hội Kitô, hiểu được vì sao nông dân Pháp là động lực cơ bản của cách mạng, là những người kiên quyết cách mạng nhất
Bên cạnh yêu cầu về tư tưởng, chính xác, khoa học thì đồ dùng trực quan quy ước còn phải đảm bảo tính thẩm mỹ, vì vậy nó có tác dụng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, điều này thể hiện rõ nét ở bản đồ, niên biểu, biểu đồ, học sinh tiếp cận
và hình thành những tư tưởng, quan điểm về nghệ thuật, về cái đẹp một cách lành mạnh, đúng đắn
1.1.3.3 Về mặt phát triển
Đồ dùng trực quan quy ước còn có tác dụng rất lớn trong việc phát triển toàn diện học sinh Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước kết hợp với lời giảng của giáo
viên góp phần tích cực trong việc “phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư
duy và ngôn ngữ của học sinh” [29, tr.9-10] Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
góp phần gây hứng thú cho học sinh, phát triển trí nhớ cho học sinh thông qua các bản đồ, sơ đồ, niên biểu, Từ việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử dẫn đến phát triển được tư duy, nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
Trang 28Ngoài ra, sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nói riêng góp phần rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh, giảm bớt quan niệm học lịch sử không có thực hành Việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học rất có ích cho học sinh phát triển khả năng thực hành, tiếp cận tốt các nguồn tri thức trong quá khứ, giúp học sinh tiếp cận với phương pháp tìm kiếm và xử lí tài liệu, phương pháp xây dựng bản đồ,
Hiệu quả của giờ học và việc giảng dạy lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân
tộc “không chỉ bằng việc hình thành kiến thức vững chắc, mà còn bằng hiệu quả
của việc phát triển tư duy của học sinh” [35, tr.23] Những nội dung sự kiện,
những vấn đề lịch sử phong phú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học lịch sử Tuy nhiên qua thực tế cho thấy giáo viên dạy lịch sử ở các trường THPT hiện nay gặp không ít khó khăn, hạn chế về điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật, tổ chức quản lý, đặc biệt là năng lực của giáo viên lịch sử, ít
có điều kiện tiếp cận với hệ thống cơ sở lý luận và biện pháp sư phạm để thiết kế và
sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để phát tính tích cực của học sinh trong học tập lịch sử
Với tất cả ý nghĩa về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực quan quy ước nói riêng góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú và phát huy tính tích cực cho học sinh Nó là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại
Phương pháp trực quan giữ một vị trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng yêu cầu, đặc trưng của môn học, làm cho bài học phong phú, sinh động, kích thích hứng thú học tập và phát triển khả năng tự duy, bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng cho học sinh [21, tr.85]
Nhận thức này được quán triệt trong giáo viên học sinh, song cho đến nay kết quả chưa được cao, bởi vì những điều kiện để cung cấp đồ dùng trực quan cho dạy học lịch sử còn nhiều khó khăn, việc biên soạn tài liệu về hướng dẫn phương pháp
sử dụng chưa nhiều Công việc này được đẩy mạnh nhiều hơn trong thời gian sắp tới
Trang 29- Đối với loại đồ dùng trực quan quy ước do Nhà nước cung cấp:
Việc xây dựng và trang bị đồ dùng trực quan cho nhà trường phổ thông tăng liên tục qua các năm Nếu trước những năm 90 mới chỉ có một vài bản đồ được trang bị cho bộ môn lịch sử ở trường phổ thông thì đến năm 1995 đã có 16 bản đồ, đến năm 2003 là 52 bản đồ Bên cạnh đó cũng rất quan tâm đến việc biên soạn các
tài liệu hướng dẫn sử dụng như xuất bản cuốn “Nội dung và phương pháp sử
dụng bản đồ giáo khoa lịch sử treo tường – Tập I”… đã phần nào đáp ứng được
yêu cầu bức thiết của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tuy nhiên, các loại đồ dùng trực quan quy ước trên mới chỉ tập trung ở bản
đồ giáo khoa lịch sử treo tường, chưa đề cập đến các loại hình khác như biểu đồ, sơ
đồ, đồ thị.Tại các trường mà đề tài có tiến hành điều tra thực nghiệm thì tình hình trang bị đồ dùng, thiết bị dạy học bộ môn còn rất hạn chế, do các cơ quan chức năng của nhà nước cung cấp Các đồ dùng trực quan nói chung tự xây dựng còn ít
Về chất lượng của các loại đồ dùng trực quan quy ước do trung tâm bản đồ
và tranh ảnh giáo dục biên soạn và phát hành thì hơn hẳn các loại đồ dùng trực quan quy ước do thầy trò tự làm trên các mặt nội dung, kĩ thuật thiết kế, biên tập,
in ấn
- Đồ dùng trực quan quy ước do thầy trò tự xây dựng:
Đây là loại đồ dùng dạy học khá phổ biến và phần nào đáp ứng được nhu cầu về thiết bị dạy học bộ môn Cách thức xây dựng đồ dùng trực quan quy ước ở hầu hết các trường mới chỉ là phóng to bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong sách giáo khoa hoặc trong các tài liệu lịch sử khác lên giấy rôki, có thêm bớt những nội dung lịch sử cho phù hợp với nội dung sách giáo khoa, có tô màu để phân biệt các
Trang 30khu vực tính chất hoặc làm nổi rõ các kí hiệu, hình tượng… Chất lượng của các đồ dùng trực quan quy ước này nhìn chung chưa cao, chưa đồng đều
1.2.2 Tình hình sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Qua điều tra khảo sát ở các trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (Thành phố
Đà Nẵng), THPT Nguyễn Duy Hiệu, THPT Lương Thế Vinh ( Tỉnh Quảng Nam), chúng tôi thấy:
Hầu hết giáo viên phổ thông đều thừa nhận và khẳng định vai trò không thể thiếu của đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy, đồ dùng trực quan quy ước có được sử dụng hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan; hiệu quả sử dụng cũng tùy thuộc vào quan niệm, năng lực của từng giáo viên bộ môn
Qua trao đổi, thăm dò, chúng tôi hiểu nguyên nhân của tình trạng này:
- Thiếu đồ dùng trực quan quy ước
- Chưa có kế hoạch xây dựng đồ dùng phục vụ dạy học bộ môn
- Giáo viên còn ngại sử dụng có thể do kĩ năng đọc và khai thác đồ dùng trực quan quy ước còn yếu
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử chưa được các bộ phận chuyên môn đặt ra như một nguyên tắc bắt buộc, khiến giáo viên dễ tùy tiện với chính mình…
1.2.3 Tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
- Mục đích: xem việc sử dụng đồ dùng trực quan của giáo viên và học sinh ở các trường THPT như thế nào Quan sát sư phạm, trao đổi với GV và HS các trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam về tình hình sử dụng đồ dùng trực quan như thế nào? Qua đó có những nhận xét, đánh giá để làm
cơ sở cho đề tài thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử chương
Trang 31“Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)”, SGK lịch sử 11 (chương trình chuẩn) ở trường THPT; nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
- Đối tượng: chúng tôi tiến hành điều tra thực tế việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử chương Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941) lớp 11 (chương trình chuẩn) ở các trường phổ thông trên địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng
- Nội dung điều tra:
Chúng tôi thực hiện điều tra ở một số nội dung sau:
- Về phía học sinh, chúng tôi tiến hành thực hiện 2 nội dung:
+ Xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm (phụ lục 1) để kiểm tra khả năng nhớ kiến thức thông qua đồ dùng trực quan quy ước của học sinh lớp 11 ở các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng (năm học 2014 - 2015) với các mục đích:
Tìm hiểu xem học sinh có nhớ nội dung lịch sử chương “Cách mạng tháng
Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 – 1941)” thông qua việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước mang lại
Thông qua tìm hiểu học sinh, xác định phương pháp của giáo viên có phù hợp với đặc trưng bộ môn và đối tượng học sinh hay không?
+ Xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm, thăm dò ý kiến của học sinh tại một số trường phổ thông với nội dung:
Tìm hiểu về hiểu biết của học sinh đối với đồ dùng trực quan quy ước
Tìm hiểu thực trạng của việc dạy có sử dụng đồ dùng trực quan quy ước của giáo viên và hiệu quả giảng dạy của giáo viên
- Về phía giáo viên, chúng tôi xây dựng 12 câu hỏi trắc nghiệm (phụ lục 2), thăm dò ý kiến của giáo viên tại một số trường với nội dung như sau:
+ Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước phục vụ dạy học trong nhà trường
+ Vai trò của đồ dùng trực quan quy ước đạt được của bài giảng
Trang 321.2.4 Kết quả điều tra
Sau khi tiến hành điều tra, chúng tôi tiến hành xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học và thu được kết quả như sau:
- Học sinh chưa thật sự nắm vững kiến thức lịch sử thế giới chương “Cách
mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô (1921 – 1941)” và bản chất của các sự kiện lịch sử, do đó tư duy phát triển chưa
cao, chưa nhận thức sâu sắc lịch sử thế giới đầu thế kỉ XX
- Qua phiếu trả lời, tổng hợp ý kiến của giáo viên và học sinh, tôi thấy rằng:
Đa số đều cho rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
nói chung, lịch sử thế giới chương “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 – 1941)” nói riêng là rất cần thiết,
có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy học, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các
em nhớ lâu, khắc sâu kiến thức
Trang 33Chương 2: THIẾT KẾ ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917
VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ (1921 - 1941)” (SGK LỚP 11 – CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Các nguyên tắc thiết kế đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử
2.1.1 Nắm vững kiến thức, yêu cầu và nội dung môn học
Việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân tộc không nằm ngoài mục tiêu giáo dục chung của bộ môn Lịch sử
ở trường THPT là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển của dân tộc và xã hội loài người, rèn luyện kĩ năng tư duy và thực hành qua học tập bộ môn Trên cơ sở đó, giáo dục thái độ, tình cảm đúng với các sự kiện, nhân vật lịch
sử, bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội Thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Vì vậy, việc thiết kế đồ dùng trực quan quy ước phục vụ cho quá trình dạy học cũng nhằm đạt mục tiêu này
Khi tiến hành thiết kế đồ dùng trực quan quy ước, việc xác định kiến thức
cơ bản, qui định cách thể hiện nội dung đều phụ thuộc vào mục đích dạy học, phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản của quá trình dạy học
Nội dung yêu cầu giáo dục – giáo dưỡng của bài học quy định việc thiết kế
và sử dụng những loại đồ dùng trực quan tương ứng và thích hợp Bài này sử dụng bản đồ, bài khác lại sử dụng tranh ảnh hay sa bàn, mô hình Đôi khi trong một bài giảng lại kết hợp sử dụng một vài loại đồ dùng trực quan khác nhau Để xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài, GV (Giáo viên) cần tìm hiểu cơ sở nhận thức và yêu cầu sư phạm của công tác này khi chuẩn bị cho một bài giảng lịch sử
Trang 34Dạy học lịch sử phải cho HS (Học sinh) biểu tượng: Biểu tượng lịch sử là những hình ảnh của sự kiện, nhân vật được phản ánh trong óc HS với những nét điển hình nhất Các phương pháp dạy học, các loại đồ dùng dạy học điều đóng góp vào tạo biểu tượng cho HS Những đồ dùng trực quan được giáo viên thiết kế và sử dụng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho HS ở THPT
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học
Đảm bảo tính khoa học sư phạm phục vụ thiết thực nội dung bài học, chương trình SGK, góp phần đổi mới phương pháp dạy học Khi thiết kế đồ dùng trực quan quy ước phải đảm bảo trong một thời gian hợp lý ở từng bài cụ thể, phục vụ tốt cho quá trình dạy hoc Các tranh ảnh sơ đồ phải đảm bảo tính chính xác khoa học giúp học sinh hiểu được sự kiện lịch sử
Ví dụ: Khi dạy bài “Trung Quốc thời phong kiến”, mục 1: minh họa bằng
bản thống kê (niên biểu các triều đại phong kiến Trung Quốc); mục 2: minh họa bằng sơ đồ bộ nhà nước thời Đường; mục 3: cho học sinh quan sát hình 15 toàn cảnh Cố Cung Bắc Kinh; mục 4: xem một đoạn vạn lý trường thành…
Đồ dùng trực quan quy ước phải có cấu trúc hợp lý gọn nhẹ, chất liệu đảm bảo sử dụng lâu dài, không làm hại người sử dụng Ví dụ: khi sử dụng bản đồ quá lớn khi treo lên bảng quá lớn bên cạnh đó lại khó tháo gỡ và bảo quản cho việc sử dụng lần sau
Đồ dùng trực quan quy ước được coi như một nguồn cung cấp tri thức quan trọng để học sinh học tập và nghiên cứu lịch sử Do đó, nó trang bị cho học sinh kiến thức khoa học, qua đó phát triển trí tuệ và năng lực hành động, hình thành ở các em cơ sở thế giới quan khoa học và đạo đức cách mạng, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống lao động sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tính khoa học của đồ dùng trực quan quy ước biểu hiện ở độ chính xác của các sự kiện, hiện tượng được phản ánh, biểu thị được sự phát triển nội tại của nội dung sự kiện, giúp người đọc nhận thức được bản chất của chúng
Trang 352.1.3 Đảm bảo tính trực quan
Tính trực quan của đồ dùng trực quan quy ước có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra sự hấp dẫn đối với học sinh Mọi đồ dùng trực quan quy ước cần có nội dung đơn giản nhất, rõ ràng nhất và nó cho phép người sử dụng “đọc” được một cách thuận lợi, dễ dàng
Tính trực quan biểu hiện ở hình dáng trực quan, bao trùm lên đối tượng và hiện tượng với tất cả các tính chất nguyên vẹn và phức tạp của nó, với mọi chi tiết riêng phù hợp với qui luật Ví dụ: khi sử dụng bản đồ trong dạy học, không nên treo bản đồ giữa bảng đen mà nên treo trên góc phải của bảng, nơi có đủ ánh sang để cả lớp nhìn thấy rõ Giáo viên phải đứng bên phải bản đồ, dùng thước chỉ các địa điểm thật chính xác Không nên sử dụng bản đồ quá lớn, khi treo lên bảng sẽ chiếm nhiều diện tích, khó khăn trong quá trình khai thác thông tin…
Vì “đối tượng nghiên cứu của bộ môn lịch sử là các sự kiện hiện tượng đã
diễn ra trong quá khứ không bao giờ nhà sử học có thể nghiên cứu trực tiếp trước mắt” [26, tr.5-7] nên trong học tập học sinh không thể không quan sát trực quan Vì
vậy, giáo viên thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử cần diễn tả lại quá khứ một cách sinh động, chân thực, chính xác
2.1.4 Đảm bảo tính thẩm mĩ
Đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử phải đảm bảo hình thức đẹp, màu sắc phù hợp, hấp dẫn người sử dụng Khi dùng đồ dùng trực quan qui ước
do nhà nước cấp để dạy học thì phải đảm bảo nguyên tắc trên Các loại sơ đồ, lược
đồ, bản đồ mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học phải rõ ràng, tránh thiết kế các loại đồ dùng bị mờ, nhòe, khó theo dõi
Ví dụ: khi dạy bài Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh
bảo vệ cách mạng (1917 - 1921), cho học sinh quan sát hình Những người lính Nga
ngoài mặt trận, tháng 1 – 1917 mà giáo viên sử dụng hình phải rõ ràng học sinh mới quan sát được
Giáo viên cần chú ý tạo những nét riêng, dễ phân biệt khi sử dụng các loại đồ dùng trực quan nói chung, đồ dùng trực quan quy ước nói riêng để học sinh dễ nhận
Trang 36biết, dễ ghi nhớ Ví dụ: để học sinh nhớ các vị trí trên bản đồ, giáo viên có thể sử dụng các màu khác nhau để làm nổi bật các vị trí lịch sử trên bản đồ Cụ thể như:
khi dạy bài Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921 - 1941), giáo viên treo lên
bảng Lược đồ Liên Xô năm 1940 đã chuẩn bị, trong đó sử dụng các màu khác nhau
để làm nổi bật vị trí của 13 nước trong Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết
2.2 Chương trình lịch sử lớp 11
2.2.1 Vị trí
Lịch sử lớp 11 có vị trí quan trọng trong chương trình lịch sử ở trường trung học phổ thông Bởi vì ở chương trình lịch sử lớp 11 học sinh có thể nắm tương đối chắc chắn và hệ thống 3/4 thời kì lịch sử căn bản của loài người Đồng thời qua đó, hiêu biết phần nào quá trình sáng tạo và văn minh, những nét lớn của văn hóa các dân tộc trên thế giới Chương trình lịch sử lớp 11 còn đưa phần nội dung về lịch sử dân tộc vô cùng quan trọng đó là sự suy tàn của chế độ phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, là cơ hội để thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta Đây là giai đoạn đầu lịch sử dân tộc bước sang một trang mới Những phần kiến thức cụ thể mà chương trình lịch sử lớp 11 (chương trình chuẩn) cung cấp như sau:
Cung cấp hệ thống kiến thức phổ thông về lịch sử thế giới cận đại, tiếp nối chương trình lịch sử thế giới cận đại lớp 10 Ở phần này giúp học sinh nắm được:
Sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản Âu – Mĩ đối với các nước châu Á, Phi, Mĩ Latinh, phong trào dấu tranh của nhân dân các nước châu Á, Phi, Mĩ Latinh; Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc dẫn tới chiến tranh thế giới thứ nhất; Hiểu biết các thành tựu, tác động của văn hóa thời cận đại đến sự phát triển của lịch sử; Ôn tập toàn bộ chương trình lịch sử thế giới cận đại ở lớp 10, 11
Tiếp nối phần lịch sử thế giới cận đại, chương trình lịch sử lớp 11 cũng cung cấp cho học sinh những hiểu biết về phần lịch sử thế giới hiện đại với những diễn biến quan trọng của lịch sử thế giới Đó là sự hình thành chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới; các nước tư bản trong hai cuộc chiến tranh thế giới, tìm hiểu
về chiến tranh thế giới thứ hai và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á
Trang 37Bên cạnh lịch sử thế giới, chương trình lịch sử lớp 11còn cung cấp cho học sinh những kiến thức bổ ích về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đầu thực dân Pháp tiến hành xâm lược; về quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc qua các phong trào đấu tranh tiêu biểu
2.2.2 Nội dung chương trình bộ môn lịch sử lớp 11 chương trình chuẩn
Chương trình, nội dung SGK lớp 11 (chương trình chuẩn) gồm 2 phần: lịch
sử thế giới và lịch sử Việt Nam là 35 tiết; trong đó, phần lịch sử thế giới là 23 tiết (có 2 tiết ôn tập và kiểm tra); phần lịch sử Việt Nam là 12 tiết (có 1 tiết lịch sử địa phương và 2 tiết kiểm tra)
Bao gồm 3 chương, 7 bài và một bài tổng kết được giảng dạy trong 10 tiết (từ tiết 01 đến tiết 10), có những nội dung cơ bản sau:
Nội dung nổi bật của phần này là các nước châu Á, châu Phi, khu vực Mĩ Latinh từ thế kỉ XIX đã không đứng vững trước làn sóng thôn tính ào ạt của các nước phương Tây có trình độ kinh tế cao hơn và trang bị kĩ thuật quân sự cũng tối tân hơn nên lần lượt trở thành thuộc địa và phụ thuộc Riêng Nhật Bản với cuộc Duy Tân Minh Trị (1868) đã vượt qua thách thức đó, giữ vững chủ quyền, vươn lên thành một nước tư bản và bước vào hàng ngũ đế quốc Thành công của Nhật Bản gây nên tiếng vang lớn, ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhiều nước châu Á theo khuynh hướng tư sản, Trung Quốc do sự bảo thủ của triều Mãn Thanh đứng đầu là Từ Hi đã bị thất bại trong việc áp dụng kinh nghiệm duy tân trong cuộc vận động năm Mậu Tuất (1898), đã tiến theo con đường cách mạng với học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn, dẫn đến cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), nhưng dừng lại nửa chừng Các phong trào giải phóng dân tộc cũng lên cao ở In –
đô – nê – xi – a, Philippin, Đông Dương…
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) là sự tranh giành thuộc địa giữa các nước đế quốc và gây nên những thiệt hại to lớn về người và của
Trang 38Những thành tựu văn hóa thời cận đại với biết bao sự kiện lịch sử biến động
đã tác động mạnh mẽ đến tình hình văn hóa Nhiều thành tựu đã đạt được trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng…
Như vậy, nội dung cơ bản của lịch sử thế giới cận đại (thế kỉ XIX – đầu thế
kỉ XX) rất cần thiết cho học sinh, giúp các em hiểu rõ và sâu sắc hơn tiến trình phát triển của xã hội loài người từ thời kì trung đại, cận đại đến hiện đại
Bao gồm 4 chương, 9 bài và một bài tổng kết được giảng dạy trong 11 tiết Bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Sự chuyển biến quan trọng trong sản xuất vật chất của nhân loại đã làm thay đổi đời sống chính trị, xã hội, văn hóa các quốc gia trên thế giới
Sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917), chủ nghĩa xã hội đã được xác lập, phá vỡ thế độc tôn của chủ nghĩa tư bản và mở ra thời kì phát triển mới cho phong trào cách mạng thế giới
Phong trào cách mạng diễn bước sang một thời kì phát triển mới sau sự thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự kết thúc của chiến tranh thế giới thứ nhất Phong trào công nhân bùng nổ ở châu Âu, các phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục diễn ra và có bước phát triển mới với sự thành lập của các Đảng Cộng sản và Quốc tế cộng sản
Lúc này, chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất trên thế giới
và trải qua những bước thăng trầm đầy biến động, đặc biệt là cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa phát xít, đe dọa nền hòa bình thế giới
(1939 - 1945) chiến tranh thế giơi thứ hai bùng nổ - là cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất và tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử nhân loại Đứng trước thảm họa chiến tranh, các quốc gia đã cùng phối hợp với nhau trong khối Đồng
Trang 39minh chống phát xít, đặc biệt là vai trò lớn của Liên Xô Chiến tranh kết thúc đã
mở ra một thời kì phát triển mới trong lịch sử thế giới
Ở phần này gồm 2 chương, 6 bài và một bài lịch sử địa phương
Nội dung cơ bản trong giai đoạn lịch sử này là: Nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến nhà Nguyễn lâm vào khủng hoảng, tạo điều kiện cho thực dân Pháp và Tây Ban Nha nổ súng tấn công nước ta; địa điểm mà chúng chọn đầu tiên là Đà Nẵng Trên khắp các mặt trận Đà Nẵng, Nam Kỳ, Trung Kỳ quá trình tổ chức chiến đấu chống Pháp xâm lược của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ Sau gần 30 năm tiến hành xâm lược (1858 - 1884), cũng với quá trình đầu hàng, nhượng bộ của triều đình phong kiến nhà Nguyễn thì thực dân Pháp chính thức hoàn thành xâm lược nước ta Dưới ách áp bức bọc lột của thực dân Pháp, hưởng ứng chiếu “Cần Vương”, phong trào Cần Vương nổ ra rầm rộ từ 1858 đến hết thế kỉ XIX, tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại
Nội dung của phần này cũng đề cập đến sự chuyển biến của xã hội Việt Nam dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, sự ra đời và phát triển của trào lưu giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản Sự khởi đầu của một khunh hướng cứu nước mới gắn liền với hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm
1911 đến năm 1918
2.2.3 Nội dung cơ bản của chương “Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1921 - 1941)”
Chương gồm 2 bài: Bài 9 và 10
Bài 9: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917 - 1922) gồm một số nội dung sau:
Đầu thế kỉ XX, thế giới nổ ra một cuộc cách mạng có ý nghĩa mở đầu và mở đường cho sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới – Cách mạng tháng Mười Nga – cuộc đấu tranh giải phóng người lao động và các dân tộc bị áp bức, mở
ra kỉ nguyên mới cho lịch sử loài người
Trang 40Khi hội tụ đủ các tiền đề, cách mạng tháng Hai và sau đó là cách mạng tháng Mười đã bùng nổ và thắng lợi, lật đổ chế độ phong kiến Nga hoàng, thành lập hai chính quyền song song Với sự thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, nhà nước
xã hội chủ nhĩa đầu tiên đã ra đời, mở ra một thời kì mới trong lịch sử thế giới
Sau khi Cách mạng tháng Mười nổ ra, chính quyền Xô viết đã thực hiện những biện pháp để giải quyết tàn tích của chế dộ phong kiến, xây dựng bộ máy của nhà nước mới và nền kinh tế XHCN Nhân dân Xô viết cũng đã đẩy lùi được cuộc tấn công của các lực lượng phản cách mạng trong và ngoài nước, bảo vệ thành công những thành quả của Cách mạng tháng Mười
Bài 10: Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921 - 1941) với các nội dung:
Sau Cách mạng tháng Mười, nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nghiêm trọng; tình hình chính trị không ổn định, các lực lượng phản cách mạng điên cuồng chống phá gây bạo loạn ở nhiều nơi Trong khi đó, chính sách cộng sản thời chiến đã lạc hậu kìm hãm nền kinh tế, khiến nhân dân bất bình, nước Nga Xô viết lâm vào khủng hoảng
Để vượt qua được những khó khăn, thử thách to lớn trong quá trình khôi phục đất nước sau chiến tranh, tháng 3/1921 Đảng Bôn-sê-vích quyết định thực hiện Chính sách Kinh tế mới (NEP) do Lê-nin đề xướng Việc thực hiện chính sách kinh
tế mới đã góp phần thúc đẩy kinh tế quốc dân chuyển biến rõ rệt, giúp nhân dân Xô viết vượt qua khó khăn, hoàn thành khôi phục kinh tế Đồng thời cũng là bài học đối với công cuộc xây dựng của một số nước xã hội chủ nghĩa
Trải qua hai kế hoạch 5 năm đầu tiên, mặc dù còn có những hạn chế song
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô 1925 - 1941 vẫn đạt được những
thành tựu to lớn, tạo nên những biến đổi nhiều mặt, có lợi cho nhân dân, xây dựng lại lực lượng vũ trang hùng mạnh để bảo vệ tổ quốc, giúp đỡ phong trào cách
mạng thế giới Liên Xô đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt và trở thành
cường quốc công nghiệp xã hội chủ nghĩa