Lịch sử vấn đề Cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cũng đã được nhiều học giả, nhà sử học quan tâm nghiên cứu và đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Mạnh Hồng
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015
Trang 2Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất của mình tới Thầy giáo - Th.S Nguyễn Mạnh Hồng người đã hết lòng tận tình hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này
Trong suốt thời gian thực hiện Khóa luận tốt nghiệp, em cũng đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch sử - Trường Đại Học Sư phạm
Đà Nẵng cùng với sự động viên của gia đình và bạn bè Chính sự giúp đỡ quý báu đó
em mới hoàn thành tốt được Khóa luận này em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày tháng 5 năm 2015
Tác giả Nguyễn Tân Tiến
Trang 31.1.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa
1.2 Khởi nghĩa giành chính quyền tại Đà Nẵng (8-1945)
1.3 Xây dựng và củng cố chính quyền, chăm lo đời sống nhân dân
1.4 Chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Chương 2: Quân dân Đà Nẵng cùng cả nước kháng chiến chống Pháp
2.3.2 Các cuộc chiến đấu trong nội thành của quân dân Đà Nẵng
2.3.3 Củng cố lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dân tộc, Đà Nẵng được biết đến không chỉ là một thành phố cảng lớn nhất miền Trung Việt Nam mà còn là một địa danh gắn liền với công cuộc mở mang bờ cõi Đại Việt từ nhiều thế kỉ trước Dấu vết của một cửa ngõ giao lưu quốc tế gắn liền với xứ Đàng Trong vẫn còn, và trong dư bạ của lịch sử, đây còn là một tiền đồn quan trọng trong công cuộc chống ngoại xâm qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Đà Nẵng - một thành phố biển ở giữa đất nước, là địa bàn chiến lược của miền Trung, có tầm quan trọng về quân sự, chính trị, kinh tế của Tổ quốc Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, quân và dân Đà Nẵng đã anh dũng chống Pháp xâm lược, trở thành người lính tiên phong, trực tiếp đương đầu với sức mạnh quân sự của một cường quốc phương Tây Trong những tháng năm dưới ách kìm kẹp của chế
độ thuộc địa trên mảnh đất nhượng địa; người dân Đà nẵng vẫn liên lục đứng lên đấu tranh giành độc lập, trở thành chiếc nôi của cách mạng miền Trung
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vừa khẩn trương xây dựng chế độ mới, quyết tâm bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám, quân và dân Đà Nẵng vừa đối phó với thù trong, giặc ngoài, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai Chín năm kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh, các hoạt động dân vận, ngụy vận, du kích chiến tranh vẫn phát triển mạnh mẽ
Cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu kháng chiến gặp phải muôn vàn khó khăn, thử thách nhưng rất oanh liệt và hào hùng Nó là cơ sở, là tiền đề để vững lòng tin bước vào cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ Vì vậy, tìm hiểu về cuộc chiến đấu này sẽ góp phần làm rõ và nhận thức đầy đủ hơn về một giai đoạn lịch
sử hào hùng của quân dân Đà Nẵng, đồng thời góp phần làm rõ thêm về tầm vóc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta Với mong muốn bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, thực hiện nhiệm vụ của một sinh viên, chúng tôi đã
chọn đề tài “Cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến(19-12-1946 đến đầu 1947)” để làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cũng đã được nhiều học giả, nhà sử học quan tâm nghiên cứu và được công bố dưới nhiều thể loại khác nhau như: lịch sử Đảng bộ địa phương, giáo trình đại học, Tạp chí Cộng sản, lịch sử đấu tranh vũ trang của các tỉnh,…Trong các công trình đều có phần đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến các vấn đề liên quan đến cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp
Trước hết có thể kể đến những công trình nghiên cứu về cuôc ̣ chiến đấu chống thưc ̣ dân Pháp của quân dân Đà Nẵng như sau:
Nghiên cứu về những sự kiện xảy ra trong lịch sử Việt Nam được thể hiện trong
tác phẩm “Lược sử Đà Nẵng 1306 - 2006” của hai tác giả Lê Duy Anh và Lê Hoàng
Vinh Nội dung của cuốn sách đã tập trung làm rõ nét riêng biệt, độc đáo về những sự kiện xảy ra trên địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng
Tạp chí “Nghiên cứu Xứ Quảng” của Hội Khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng
đã trình bày một cách chân thực, thể hiện một cách sâu sắc, đúng đắn về lịch sử, văn hóa con người đất Quảng nói chung và Đà Nẵng nói riêng
Năm 2006, Tỉnh uỷ Quảng Nam và Thành uỷ Đà Nẵng xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng (tập 2) 1945-1954 Đây là tác phẩm chuyên khảo
nghiên cứu về lịch sử Quảng Nam - Đà Nẵng Trong đó đã trình bày khá chi tiết và cụ thể về công cuộc chuẩn bị kháng chiến và những cuộc chiến đấu giam chân địch trong thành của quân dân Đà Nẵng
Một tác phẩm nữa “Quá trình thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng” do ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
xuất bản Tác phẩm đã đề cập đến khía cạnh xây dựng chính quyền mà cụ thể là quá trình thành lập Chính quyền nhân dân, Đảng bộ ở Đà Nẵng
Nhà xuất bản nhân dân năm 1989 với tác phẩm “Quảng Nam - Đà Nẵng 30 năm chiến đấu và chiên thắng tập 1,2” là một công trình lớn, có giá trị Tác phẩm trình bày
rõ nét về cuộc chiến đấu anh dũng, những hi sinh, công lao to lớn của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong suốt thời gian 30 năm
Ngoài ra, trong sách giáo trình đại học, các cuốn Tạp chí Cộng sản, Tạp chí
Nghiên cứu cộng sản, một số tác phẩm khác như: “Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà
Trang 7Nẵng”, “Đà Nẵng trên con đường di sản”, “Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Hòa Vang”,… và một số tài liệu có liên quan cũng có đề cập đến vấn đề này
Các công trình trên đây nội dung đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.Mặc dù các tác phẩm này chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể vấn đề quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp nhưng đó là những công trình nghiên cứu
có giá trị quan trọng trong việc cung cấp tư liệu và là cơ sở giúp tôi định hướng một số vấn đề trong nội dung nghiên cứu của mình để có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (chỉ đạo chiến lược, lực lượng, xây dựng căn
cứ địa, tập dượt, quần chúng đấu tranh, bộ máy lãnh đạo, công tác tản cư,…); Quá trình chuẩn bị kháng chiến của Đảng ủy và nhân dân Đà Nẵng và những nội dung liên quan
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được giới hạn trong phạm vi không gian và thời gian, từ khi Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 cho đến khi Pháp chiếm đóng Đà Nẵng
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu trong các sách chuyên khảo, các Văn kiện Đảng, các tài liệu sách báo có liên quan, các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí cộng sản,… điền dã và các tài liệu tham khảo trên các phương tiện thông tin có liên quan
- Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở những nguồn tài liệu phức tạp của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều quan điểm và cách nhìn nhận
Trang 8khác nhau, chúng tôi đã đứng trên quan điểm lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp nghiên cứu lịch sử; phương pháp logic và các phương pháp cụ thể: sưu tầm, phân tích, so sánh, đối chiều,… nhằm rút ra kết luận
6 Đóng góp của đề tài
Mong muốn của chúng khi thực hiện đề tài này là làm rõ quá trình chuẩn bị, vai trò, mối quan hệ trong cuộc chiến đấu giữa quân dân Đà Nẵng và quân dân cả nước trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến
Giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau thêm tự hào về truyền thống đánh giặc giữ nước, nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của ông cha ta Góp phần nâng cao hiểu biết cho bản thân về lịch sử và là nguồn tài liệu tham khảo những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài chia làm 2 chương:
Chương 1: Xây dựng và củng cố chính quyền chuẩn bị kháng chiến
Chương 2: Quân dân Đà Nẵng cùng cả nước kháng chiến chống Pháp
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CHUẨN BỊ KHÁNG
CHIẾN 1.1 Tổng quan về Đà Nẵng
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Về vị trí địa lý: Đà Nẵng nằm ở 15013’ đến 16012’ vĩ tuyến bắc, 107013’ đến
108044’ kinh tuyến đông, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía nam và tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Với vị trí trung độ của cả nước, Đà Nẵng cách Hà Nội 765km về phía Bắc và thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, nối vùng Tây Nguyên qua Quốc lộ 14B và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và nước bạn Lào Các trung tâm kinh doanh - thương mại của các nước vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương đều nằm trong phạm vi bán kính 2000km từ thành phố Đà Nẵng
Về khí hậu: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu giao thoa giữa Bắc Hải Vân,
Nam Hải Vân, giữa Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1- 9, mùa mưa từ tháng 10-12 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 2500C , cao nhất là vào tháng 6, 7, 8 trung bình từ 280C-300C, thấp nhất vào các tháng : 12, 1, 2 trung bình từ 18-230C, thỉnh thoảng có những đợt rét đậm nhưng không kéo dài Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%, cao nhất là tháng 10, 11 trung bình 85,67% - 87,67%, thấp nhất vào các tháng 6, 7 trung bình từ 76,67% - 77,33%
Về địa hình: thành phố Đà Nẵng có địa hình khá đa dạng, vừa có đồng bằng vừa
có núi, một bên là đèo Hải Vân với những dãy núi cao, một bên là bán đảo Sơn Trà Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam Có 2 sông chính là Sông Hàn (chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180 km2) và sông Cu Đê (chiều dài khoảng 38 km, lưu vực khoảng 426
km2) Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có các sông: Sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc
Trang 10Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác; và nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ Mặt khác Vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển) với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có
độ sâu từ 50 - 200m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50m (chiếm 31%), vùng nước sâu trên 200m (chiếm 20,6%) Hàng năm có khả năng khai thác trên 150.000 - 200.000 tấn hải sản các loại
Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên; ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
Về diện tích - Dân số: Đà Nẵng có diện tích tự nhiên: 1.283,4 km2, có 6 quận nội thành, 2 huyện và 56 phường, xã Các quận: Cẩm Lệ, Hải Châu, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê và 2 huyện: huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa Dân số: 951.572 người; mật độ: 757,8 người/km2 (2011) [34, tr.9-17]
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Vị trí chiến lược: Thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho
sự phát triển nhanh chóng và bền vững.Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam của quốc gia về đường bộ, đường sắt, đường hàng không; cách thành phố Hà Nội 765 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Đà Nẵng có vị trí thuận lợi về các tuyến đường biển,
đường hàng không quốc tế
Đà Nẵng - Thành phố động lực của Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung:
Trang 11Ngày 13-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung gồm năm tỉnh và thành phố: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của Vùng, từng bước phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung thành một trong những vùng phát triển năng động của cả nước Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên
Đà Nẵng - Cửa ngõ phía Đông của Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC):
Hành lang Kinh tế Đông - Tây là một trong năm hành lang kinh tế được phát triển theo sáng kiến của Ngân hàng Phát triển Châu Á ở khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông Đây là tuyến đường bộ dài 1.481 km nối hai bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đi qua 13 tỉnh/thành phố của 4 nước, đi qua Thái Lan, Lào và điểm đến cuối cùng là cảng Tiên Sa - Đà Nẵng của Việt Nam
Hành lang Kinh tế Đông - Tây không chỉ đem lại cơ hội cho các quốc gia trên tuyến đường đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao mức sống cho nhân dân, mà còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp của các nước tiếp cận tốt hơn các vùng nguyên liệu, thị trường dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động , tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt động kinh tế và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển du lịch
Đà Nẵng - Cửa vào của các di sản văn hoá và di sản thiên nhiên thế giới:
Đà Nẵng nằm ở trung tâm của “Con đường di sản thế giới” kết nối các di sản thế
giới ở miền Trung - Việt Nam, bao gồm: Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình); Cố đô Huế với hai di sản là Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế; tỉnh Quảng Nam với hai di sản là: Thánh địa Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An Cùng với hai di sản thế giới khác là Cố đô Luang Prabang và quần thể Angkor Wat, chương
trình này kết hợp thành một chương trình hợp tác du lịch lớn hơn là “Lào, Campuchia, Việt Nam: 3 quốc gia, một điểm đến” [32, tr.19-24]
Cơ sở hạ tầng: Cảng Tiên Sa là cảng thương mại lớn thứ ba của Việt Nam sau
cảng Sài Gòn và cảng Hải Phòng Từ cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) hiện có các tuyến tàu biển quốc tế đi Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc
Sân bay Đà Nẵng được tổ chức hàng không quốc tế xác định là điểm trung chuyển của đường bay Đông - Tây Công suất phục vụ 6 triệu lượt khách/năm Tổng
Trang 12Công ty hàng không Cảng hàng không miền Trung đã có kế hoạch nghiên cứu mở rộng nhà ga để đạt mức 10 triệu hành khách mỗi năm vào năm 2020
Hệ thống đường giao thông không ngừng được mở rộng, với nhiều công trình lớn trên địa bàn thành phố như đường Nguyễn Tất Thành, đường Ngô Quyền, đường Hoàng Sa, đường Trường Sa, cầu Sông Hàn, cầu Tuyên Sơn, cầu Thuận Phước… Hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh, thành bên ngoài có hầm đường bộ Hải Vân, Quốc lộ 14B, Quốc lộ 1A và sắp tới là đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi tạo điều kiện thuận lợi về giao thông và phát triển du lịch và làm thay đổi cơ bản diện mạo của một đô thị thuộc loại sầm uất nhất ở miền Trung, Việt Nam
Về kinh tế: Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế với tốc
độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định
Với những ưu đãi thiên nhiên ban tặng và nỗ lực không ngừng của chính quyền thành phố trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch, Đà Nẵng đã và đang trở thành một trong những điểm hẹn du lịch hấp dẫn nhất trong khu vực
Cơ cấu kinh tế (2011):
+ Dịch vụ 52,98%
+ Công nghiệp và Xây dựng 43,84%
+ Nông nghiệp 3,18%
Mục tiêu đến năm 2020 là: Dịch vụ 55,6%; Công nghiệp và Xây dựng 42,8%;
Nông nghiệp 1,6% (Nguồn: Niên giám Thống kê Đà Nẵng 2011)
1.1.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa
Về lịch sử: Theo ngôn ngữ Chăm, địa danh “Đà Nẵng” có thể được giải thích là
“sông lớn”, “cửa sông lớn” Địa danh này đã được ghi chú trên các bản đồ được vẽ từ
thế kỉ XVI trở đi Điều đó có nghĩa là, từ rất sớm, trong cách hình thành tên gọi, tính chất cửa sông lớn, tính chất cảng thị đã được lưu ý như một điểm quan trọng của thành phố
Là một trong những cửa sông lớn của miền Quảng Nam (mở rộng về phương Nam), từ nhiều thế kỷ trước, kể cả khi Hội An còn đang trong thời kì phát triển rực rỡ vào thế kỉ XVII, cửa biển Đà Nẵng đã được đánh giá rất cao
Giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì
Đà Nẵng mới là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền
Trang 13Đầu thế kỷ XVIII, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng
Năm 1835, khi vua Minh Mạng có dụ: “Tàu Tây chỉ được đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được tới buôn bán” thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng
lớn bậc nhất miền Trung Tiểu thủ công nghiệp địa phương phát triển với những ngành sửa chữa tàu thuyền, sơ chế nông lâm hải sản; dịch vụ thương mại cũng phát đạt Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta vào năm 1889, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương
Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư Các ngành nghề sản xuất
và kinh doanh được hình thành và phát triển: Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu (chè, lương thực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá, rượu, nước mắm, cá khô), sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ Cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của cả nước Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại
Tháng 3-1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập
ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được Mỹ ngụy ấn định là thành phố trực thuộc Trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng Khu kỹ nghệ Hòa Khánh sản xuất oxygen, acetylene, bột giặt, xay xát, dệt ở thời kỳ này công nghiệp được phát triển ở mức độ cao hơn: các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công Tuy nhiên, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng trăm nghìn dân quê phải chạy vào các trại tỵ nạn, các khu ổ chuột đô thị; tệ nạn xã hội tăng nhanh, sản xuất không phát triển
Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam -
Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Mặc dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau 1986
Trang 14Ngày 6-11-1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa [32, tr.8-12]
Về văn hóa: Phần lớn cư dân Đà Nẵng, từ bao thế hệ sống bằng nghề nông, trồng
lúa và hoa màu, trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa Người dân miền núi sống chủ yếu bằng lao động kinh tế nương rẫy, chủ yếu là trồng lúa, bắp, sắn Người dân miền biển làm nghề chài lưới Các nghề thủ công ở Đà Nẵng tương đối phát triển, trong đó có những làng nghề nổi tiếng như làng nghề mộc Kim Bồng, làng đúc đồng Phúc Kiều, làng đá Non Nước…
Ở Đà Nẵng có nhiều danh lam thắng cảnh, khu di tích và các công trình kiến trúc
cổ có giá trị như Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng là vùng đất giàu tiềm năng văn học nghệ thuật, là vùng đất học, có nhiều khoa bảng nổi tiếng như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Các nhà khoa bảng trên đều là những sĩ phu yêu nước, những nhà hoạt động nổi tiếng trong phong trào yêu
nước ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Nhân dân Đà Nẵng có truyền
thống yêu nước, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, chống mọi kẻ thù xâm lược và chế độ thống trị, bóc lột của phongkiến, thực dân, đế quốc Trong lao động xây dựng, người dân nơi đây thể hiện tính cần cù, sáng tạo, ham học hỏi tư tưởng cách mạng tiến
bộ, khoa học
1.2 Khởi nghĩa giành chính quyền tại Đà Nẵng (8-1945)
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam có những
sự kiện mang ý nghĩa trọng đại, làm thay đổi vận mệnh của đất nước và cuộc cách mạng tháng 8-1945 vĩ đại là một trong những mốc son lịch sử như vậy Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự kiện thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945) đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập tự do và Chủ nghĩa xã hội
Đây là thắng lợi của ý Đảng, lòng dân; là kết quả từ một quá trình chuẩn bị lâu dài của toàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Riêng với Quảng Nam - Đà Nẵng, quá trình chuẩn bị đã được tổ chức thực hiện
từ trước Trong tháng 5-1945, Việt Minh tỉnh Quảng Nam lấy mật danh là Vụ Quang
Trang 15được thành lập Đến tháng 7-1945, Mặt trận Việt Minh Đà Nẵng được thành lập gồm các đồng chí: Huỳnh Ngọc Huệ, Lê Văn Quý, Nguyễn Thị Phi, Nguyễn Xuân Lâm, Lê Văn Tôn, Lê Văn Mậu (lấy tên là “Mặt trận Việt Minh thành Thái Phiên”)
Những ngày cuối tháng 7- đầu tháng 8-1945, không khí tổng khởi nghĩa lan rộng, khắp nơi háo hức rèn sắm vũ khí, rải truyền đơn, may cờ đỏ sao vàng; các cơ sở của ta
ở khắp thành phố như hiệu thuốc, nhà máy in,… cũng tích cực chuẩn bị
Đầu tháng 8-1945, hầu hết các tổng, xã ở huyện Hòa Vang đã lập xong Ủy ban Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc Ở khu Tây, khu Đông Đà Nẵng có Ủy ban Việt Minh khu Trong nội ô, ta có cơ sở và tự vệ mật trong các công tư sở Ngay trong hàng ngũ địch, ta cũng có cơ sở trong sở hiến binh Nhật, và một số lính lệ ở phủ, huyện Số này cung cấp tình hình cho ta và làm nội ứng khi ta khởi nghĩa
Thời gian này, phong trào cách mạng trong cả nước lên cao Tại Đà Nẵng, viên Thị trưởng Đà Nẵng tìm đường liên lạc với Việt Minh hy vọng sau này được tha tội chết Có những tên tay sai gian ác bị Việt Minh cảnh cáo không dám chống phá cách mạng Bộ máy tay sai Nhật ở cơ sở hầu hết nằm im trước khí thế cách mạng của quần chúng
Trước tình thế đó, từ ngày 12 đến ngày 13-8-1945, Tỉnh ủy Quảng Nam triệu tập cuộc họp khẩn cấp tại nhà ông Tòng (Khương Mỹ, Tam Kỳ) bàn kế hoạch chớp thời
cơ khởi nghĩa Cuộc họp đang tiến hành thì chiều ngày 13-8-1945, từ Đà Nẵng đồng
chí Huỳnh Ngọc Huệ vào cấp báo “Nhật Hoàng đã đầu hàng Đồng minh” Quán triệt
Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta của Trung ương về các khả năng cuộc khởi nghĩa của ta có thể nổ ra giành thắng lợi, cuộc họp Tỉnh ủy chuyển trọng tâm sang bàn chủ trương khởi nghĩa và quyết định: Phát động toàn dân trong tỉnh nổi dậy giành chính quyền; chuyển tất cả các cấp ủy Đảng và Ủy ban Việt Minh các cấp thành Ủy ban bạo động khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương
Tại Đà Nẵng, Tỉnh ủy chủ trương phải giành chính quyền ở bên dưới trước, khống chế bọn bên trên và khi thuận lợi sẽ công bố giành chính quyền ở thành phố Đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ - Tỉnh ủy viên, trực tiếp phụ trách khởi nghĩa ở Đà Nẵng Tối ngày 16-8-1945, Thành bộ Việt Minh thành Thái Phiên họp, bầu ra Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời thành phố gồm các đồng chí: Lê Văn Hiến - Chủ tịch, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Trác, Lê Văn Quý, Nguyễn Thị Phi và một số đồng chí phụ trách các ngành
Trang 16Thực hiện chủ trương trên của Tỉnh ủy, Ủy ban khởi nghĩa thành Thái Phiên chủ trương phối hợp cùng với cả tỉnh và Hòa Vang, Đà Nẵng tiến hành khởi nghĩa ở các xã thuộc Khu Đông và Khu Tây Ngày 22-8-1945, ở xã Mỹ Khê (Khu Đông), tự vệ và nhân dân giành chính quyền, tuyên bố thành lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời xã Trên đà thắng lợi, ngày 22 và 23-8 các xã Hà Khê, Thanh Khê, An Khê, Thuận An, Liên Trì, giành chính quyền cấp xã Trong nội ô, cán bộ ta đã lãnh đạo công nhân và cơ sở làm chủ Sở Công chánh và Đề-pô xe lửa, biến hai nơi này thành nơi sản xuất vũ khí và huy hiệu sao vàng trang bị cho lực lượng tự vệ thành, các phường, xã do cách mạng làm chủ, bộ máy tề thành phố nằm im
Tối ngày 25-8-1945, đồng chí Lê Văn Hiến từ Quảng Ngãi vừa về đến Đà Nẵng,
Ủy ban khởi nghĩa thành phố đang họp liền quyết định phát lệnh khởi nghĩa toàn thành phố vào sáng ngày 26-8-1945 Thực hiện mệnh lệnh trên, đúng 8 giờ sáng ngày 26-8-
1945, khi tiếng còi của thành phố vừa vang lên, tất cả lực lượng tự vệ, cơ sở cách mạng và cán bộ được bố trí phụ trách từng mục tiêu đã định, đồng loạt nổi dậy giành chính quyền Lập tức tại các đồn bảo an binh được cơ sở nội ứng của ta hướng dẫn binh lính, cai đội hưởng ứng cuộc khởi nghĩa đem nộp cho cách mạng 20 khẩu súng Tất cả các công sở, nhà máy, cán bộ, cơ sở ta đã bố trí tập hợp công nhân, viên chức đọc lệnh khởi nghĩa, tuyên bố xóa bỏ bộ máy điều hành cũ, thành lập Ban điều hành mới của cách mạng Tại cuộc mít-tinh lớn tổ chức trước Tòa Thị chính, đồng chí Lê Văn Hiến thay mặt cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành Thái Phiên tuyên bố chính quyền thuộc về tay nhân dân, công bố 10 chính sách của Việt Minh và nhận hồ sơ, ấn tín do Thị trưởng Nguyễn Khoa Phong giao nộp Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột
cờ Tòa Thị chính Đà Nẵng
Đúng 9 giờ sáng ngày 26-8-1945, lực lượng khởi nghĩa ở Đà Nẵng tiếp thu toàn
bộ công sở trong thành phố Khắp các công sở và trên đường phố, lực lượng tự vệ vũ trang mang phù hiệu sao vàng canh gác và kiểm soát Nhân dân phấn khởi hưởng ứng treo cờ Đà Nẵng rực màu cờ đỏ sao vàng Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Đà Nẵng đã thành công Sáng ngày 28-8-1945, tại Đà Nẵng, một cuộc mít-tinh lớn ở sân vận động Chi Lăng được tổ chức mừng khởi nghĩa thắng lợi Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời thành Thái Phiên do đồng chí Lê Văn Hiến làm Chủ tịch, làm lễ ra mắt trước hai vạn nhân dân thành phố [25, tr.55-62]
Trang 17Nét độc đáo của hình thái vận động khởi nghĩa trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Đà Nẵng là lực lượng quần chúng vũ trang với đội nồng cốt tự vệ vũ trang nổi dậy giành chính quyền tỉnh lỵ, phủ, huyện lỵ sau toả về thành lập cách mạng ở các
xã, phường, bố trí lực lượng tiếp cận tại chỗ nổi dậy giành chính quyền, việc huy động quần chúng vũ trang nổi dậy giành chính quyền ở huyện lỵ, thành phố khi thuận lợi, tránh va chạm với địch Nhờ có lực lượng cách mạng vững chắc và đều khắp, việc chuẩn bị chu đáo, lãnh đạo khởi nghĩa linh hoạt cơ động, Đảng bộ đã thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, của Đảng đã vượt lên mọi trở ngại đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh Chính những nhiệm
vụ thực tế trên đã giúp cho công cuộc giành chính quyền ở Đà Nẵng nhanh chóng thu được thắng lợi trọn vẹn, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc
Thắng lợi đó có ý nghĩa rất trọng đại, thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, mà trực tiếp là Xứ uỷ Trung Kỳ, Tỉnh uỷ Quảng Nam đã nắm chắc thời cơ và diễn biến tình hình Thành bộ Việt Minh, Uỷ ban Khởi nghĩa lấy lực lượng công nông, trí thức làm nòng cốt để xây dựng lực lượng tự vệ, du kích để hổ trợ cho quần chúng nỗi dậy khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền Thắng lợi còn có ý nghĩa là ta kết thúc sớm trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, làm thất bại âm mưu tranh quyền của bọn đế quốc, tay sai phản động
1.3 Xây dựng và củng cố chính quyền, chăm lo đời sống nhân dân
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Từ đây, nhân dân Việt Nam thoát khỏi cuộc đời nô lệ, nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, kỷ nguyên phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Nhưng đây mới là thắng lợi bước đầu Việc xây dựng, củng cố chính quyền và giữ vững chính quyền non trẻ, ổn định đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Kẻ thù của dân tộc mưu toan bóp chết chính quyền Cách mạng
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Ở Đà Nẵng Cách mạng gặp muôn vàn khó khăn, phức tạp Công việc cướp chính quyền trong toàn tỉnh đang tiếp tục hoàn thành thì gặp phải sự chống phá cách mạng từ phía thực dân Pháp và Nhật Cuối tháng 8-1945, 5.000 quân Nhật ở các tỉnh miền Trung kéo dồn về Đà Nẵng Chúng bắt giữ cán bộ, ngăn cản nhân dân ta đi lại, chiếm kho bạc, gây khó khăn cho ta về tài chính
Trang 18Bọn Nhật đồn trú ở núi Phước Tường, nhiều lần kéo tới cơ quan chính quyền địa phương hành hung
Cuối tháng 9-1945, 4.000 quân Tưởng kéo vào chiếm đóng Hội An, Đà Nẵng Ngày 17-3-1946, một lữ đoàn quân Pháp gồm 700 tên đổ bộ lên Đà Nẵng với
danh nghĩa “Tiếp phòng”, thay quân Tưởng, lén lút đưa vũ khí, tìm cách liên lạc, móc
nối với các tên quan lại tay sai cũ tổ chức thu thập tình báo, chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra Nam Trung Bộ Rõ ràng, chính quyền ta vừa giành được trong Cách mạng tháng Tám, chưa được củng cố đã phải đối phó với bao nhiêu giặc ngoài, thù trong vô cùng phức tạp
Tình hình khó khăn phức tạp đó đặt ra cho Đảng bộ tỉnh một trách nhiệm rất nặng nề Muốn làm tròn trách nhiệm lịch sử, Đảng bộ phải thực sự vững mạnh Qua nhiều năm hoạt động và đấu tranh sống chết với quân thù, Đảng bộ Đà Nẵng luôn bị
bể vỡ, Đảng viên bị bắt bớ, tù đày khắp các nhà lao, số còn lại phần nhiều đứt mối với
tổ chức Vừa thoát khỏi tù, các đồng chí lo móc nối lập lại Tỉnh ủy, tổ chức hệ thống Việt Minh và tổ chức lực lượng chuẩn bị cướp chính quyền cho kịp thời cơ, chưa có thời gian cần thiết để củng cố, xây dựng đều khắp các cơ sở Đảng
Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ xây dựng chính quyền và bảo vệ tổ quốc vừa rất khẩn trương, vừa phải đương đầu với mọi khó khăn, thiếu thốn Chính quyền cách mạng vừa mời được thiết lập, chưa đủ thời gian để tổ chức khôi phục và phát triển kinh tế; lực lượng vũ trang được ưu tiên phát triển nhưng thiếu thốn các điều kiện trang bị, trầm trọng nhất là thiếu vũ khí Đời sống của nhân dân còn rất nghèo, chưa lấy gì bù đắp được những thiệt hại về kinh tế do thực dân Pháp và phát xít Nhật đã vơ vét bóc lột tận cùng Đảng bộ và nhân dân thành Thái Phiên Đà Nẵng với tinh thần phấn khởi trong cuộc sống vừa thoát khỏi nô lệ, đã phấn đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng của thành phố và của cả đất nước Trước diễn biến tình hình nêu trên, Trung ương Đảng và Chính phủ đề ra các biện pháp cấp bách, chỉ đạo thực hiện các
nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc; với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”
Xây dựng chính quyền, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng là yêu cầu trước tiên lúc bấy giờ Từ thành phố đến các xã, bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể đều được xây dựng và tổ chức củng cố
Tháng 9-1945, Xứ uỷ Trung kỳ thành lập Thành uỷ Đà Nẵng gồm có các đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ - Bí thư, Nguyễn Trác - Phó bí thư; Lê Văn Quý, Nguyễn Xuân
Trang 19Bá, Nguyễn Thị Phi; Nguyễn Xuân Lâm, Lê Văn Mậu là thành uỷ viên Đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ thay mặt Thành uỷ truy nhận phục hồi số Đảng viên ở tù về trước và trong cuộc Tổng khởi nghĩa, tổ chức Đảng viên mới trong phong trào
Cách mạng tháng Tám thành công, phạm vi lãnh đạo của Đảng bộ mở rộng và toàn diện Để đáp ứng nhu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tháng 11-1945, Tỉnh ủy
tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại Hội An Hội nghị đề ra các chủ trương: củng cố
và mở rộng hệ thống bộ máy chính quyền nhân dân các cấp; phố biến các chính sách của Đảng và Chính phủ đến các tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân tăng gia sản xuất, ổn định đời sống; Xây dựng hệ thống tổ chức các đoàn thể từ xã đến tỉnh, tiến hành Đại hội bầu các ban chấp hành chính thức; củng cố hệ thống Đảng từ huyện đến
xã Thành lập các chi bộ Đảng ở các ngành, cơ quan và các xã có đủ điều kiện Những nơi không đủ điều kiện thì lập chi bộ ghép hoặc liên chi bộ Tổ chức chi bộ Đảng trong lực lượng vũ trang, phân công Tỉnh uỷ viên và cán bộ sang tăng cường lãnh đạo chi đội giải phóng quân; phát triển Đảng viên mới Hội nghị quyết định bổ sung các đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ và Phan Tích vào Tỉnh uỷ Phân công lại Tỉnh uỷ, đồng chí Lê Thanh Hải, Nguyễn Quang Chung, Phan Tốn và Nguyễn Ưng Đến cuối năm 1945, toàn Thành đã có 100 Đảng viên
Mặt trận Việt Minh thành phố được củng cố và mở rộng do đồng chí Đoàn Bá Từ làm Chủ nhiệm Ta mời linh mục Tô Đình Sơn, phụ trách xứ đạo Đà Nẵng - Hoà Vang vào Thường vụ Việt Minh, lập ra đoàn thể Thiên Chúa giáo cứu quốc để hỗ trợ cho linh mục Sơn hoạt động Cuối năm, Chi hội văn hoá cứu quốc được thành lập, có các
nhà giáo, nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Đến năm 1946, hình thành “nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác - lênin” để tập hợp giới trí thức Đà Nẵng [39, tr.108-109]
Các đoàn thể cứu quốc phát triển đều khắp ở các khu phố Ban chấp hành các đoàn thể cấp Thành được thành lập Liên hiệp công nhân cứu quốc do đồng chí Nguyễn Xuân Lâm phụ trách Đoàn thanh niên cứu quốc cử các đồng chí Đoàn Tiềm
là bí thư, Hứa Toản làm phó bí thư Ban chấp hành phụ nữ cứu quốc Thành đã có từ trước Cách mạng tháng Tám, nay bổ sung thêm một số chị
Thực hiện những chủ trương của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đồng bào hăng hái thi đua chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Với các nhiệm vụ đó, Đảng bộ và các cấp chính quyền ở thành phố Đà Nẵng tổ chức nhiều phong trào trong nhân dân Phong
Trang 20trào Bình dân học vụ, thanh toán nạn mù chữ đã lôi kéo hàng ngàn người cả già lẫn trẻ
nô nức đi học Các lớp bình dân học vụ được mở khắp nơi, thanh niên học sinh tự nguyện dạy học rất đông; người già 60 đến 70 tuổi vẫn đi học Thầy và trò tổ chức các lớp học ban trưa, buổi tối, trong những đình chùa, công sở và cả trong nhà dân Phong trào được nuôi dưỡng đến ngày toàn quốc kháng chiến
Đến khoảng giữa năm 1946, Uỷ ban nhân dân thành phố thành lập Ty bình dân học vụ do anh Nguyễn Đình phụ trách Một cố gắng rất lớn của chính quyền thành phố
là mở trường trung học Thái Phiên dạy chương trình tiếng việt
Phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hỗ trợ đồng bào miền Bắc
vượt qua nạn đói được thực hành sôi nổi “Hũ gạo cứu đói” là một hình thức tổ chức
được hầu hết mọi nhà tích cực hưởng ứng, cứ bớt mỗi bữa nấu cơm một nắm gạo bỏ vào hũ; Hội phụ nữ tổ chức đi thu theo định kỳ, đưa về kho đã quy định
Cùng với hũ gạo cứu đói còn có phong trào “ngày đồng tâm”; cứ trong vòng 10
ngày, mỗi gia đình nhịn ăn một bữa, lấy gạo đó đưa vào quỹ cứu tế
Trước những khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt, nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc
rất nặng nề,Chủ tịch Hồ Chí Minhphát động “Tuần lễ vàng” và “Tuần lễ đồng” để gây
quỹ quốc gia Tuần lễ vàng được tổ chức tại trung tâm thành phố, ở địa điểm ngã tư Hùng Vương, Phan Châu Trinh (nhà thuốc trung tâm), nhân dân tự nguyện đến đóng góp Nhiều người đem hiến các loại nữ trang là vật kỷ niệm trong cuộc đời mình Có những chị như chị Tám Nuôi, chị Nguyễn Thị Năm ở chợ Hàn, mỗi người hiến tặng 1
lạng vàng “Tuần lễ đồng” được tổ chức theo từng xã Nhân dân đóng góp từ mâm
thau, nồi đồng đến cả những vật dụng thờ cúng
Mọi sinh hoạt trong thành phố nhanh chóng ổn định Trật tự an ninh được đảm bảo Nạn ăn xin, trộm cắp, mại dâm biến mất Tất cả các trường học đều mở cửa đón nhận học sinh vào năm học mới Về đêm, đồng bào kéo đến Ty Thông tin tuyên truyền thành phố (nay là trụ sở Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh) nghe phát thanh tin tức Một số đồng bào khu Đông không ngại đò giang cách trở đã sang nghe thời sự mỗi tối Một số
xã dựng chòi phát thanh tin tức
Cuộc vận động xây dựng nếp sống mới, nền văn hoá mới tiến hành đều đặn Nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tệ nạn xã hội được nhân dân tự động tẩy chay, bãi
bỏ Thay vào đó là những nếp sống mới có nội dung tiến bộ, dân chủ và khoa học Truyền thống dân tộc, tính cộng đồng, nhân văn được đề cao, trân trọng và phát huy
Trang 21Ai ai cũng tự thấy vị trí của mình trong lòng dân tộc Phụ nữ bình đẳng với nam giới; thanh niên là rường cột nước nhà; công nông là chủ lực quân của cách mạng Luật lao động ngày làm tám giờ, ban hành là một sự đổi đời từ nguời nô lệ thành người làm chủ đất nước, do chế độ Dân Chủ Cộng Hoà đem lại một chế độ thật sự tốt đẹp, được xây dựng, cổ vũ, mọi người tự nguyện đem tính mạng, của cải bảo vệ nền độc lập ấy Trong khi chính quyền cách mạng được xây dựng, củng cố lòng dân phơi phới, một số xã đã lập hồ sơ số quan lại, Tổng lí cường hào kiến nghị lên cấp trên, yêu cầu xét xử; nhưng nhờ chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Chính phủ, việc xét
xử tội phạm không diễn ra tràn lan
Chỉ hơn một năm xây dựng chính quyền, tổ chức cuộc sống mới, thành phố Đà Nẵng đã có nhiều thay đổi, chứng tỏ được tính ưu việt của chế độ xã hội dân chủ; ý nghĩa quan trọng nhất là trình độ giác ngộ chính trị trong nhân dân được nâng cao, tạo được yếu tố cơ bản nhất cho phong trào kháng chiến, cứu nước ở thời gian tới
1.4 Chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết một lòng giữ vững và củng cố nền độc lập và xây dựng chính quyền nhân dân ngày càng vững mạnh
Tiếng súng kháng chiến của quân, dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ vẫn nổ vang
đã bác bỏ lời tuyên bố huênh hoang của thực dân Pháp là đã bình định xong Nam Bộ
và Nam Trung Bộ Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh Đông Dương trong vài tuần lễ không thực hiện được, buộc chúng phải cầu khẩn Mỹ thayquân Anh ở miền Nam và
“mua bán” với Tưởng cho Pháp được thay chân quân Tưởng ở miền Bắc Việt Nam
Để cứu vãn quyền lợi chung, bọn đế quốc tạm dẹp mâu thuẫn nội bộ ở Đông Dương, nhân nhượng với nhau qua việc ký Hiệp ước Hoa - Pháp vào đêm 29-2-1946: quân Pháp định vào thay thế quân Tưởng đã rút đi Tình thế rất nghiêm trọng: thực dân Pháp đã có mặt trên miền Bắc, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc Trước tình
hình đó, Đảng ta chủ trương “Hoà để tiến” Ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
thay mặt Chính phủ ta ký Hiệp định sơ bộ với Pháp Với Hiệp định Sơ bộ, ta tranh thủ được thêm thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến và tạo điều kiện để khôi phục, phát triển phong trào cách mạng ở miền Nam [39, tr.122]
Trước chủ trương “hoà để tiến” của Đảng ta, bọn Việt Quốc, Việt cách ra sức kêu gào “không điều đình với ai hết”, “đánh đến cùng”, “thắng hay là chết” làm ra vẻ
Trang 22chúng là cách mạng nhất, yêu nước nhất hòng mị dân để cô lập Đảng và Chính phủ ta Không để nhân dân lầm âm mưu của kẻ thù, công tác tuyên truyền xung phong ra đời gồm 60 đội viên do đồng chí Nguyễn Nhĩ phụ trách Nhờ một lòng tin tưởng vào Đảng
và Bác Hồ, nhờ công tác tuyên truyền được sâu rộng nên luận điệu của bọn phản động không còn mấy ai lưu tâm đến, nhất là khi ta phá vụ án phố Ôn Như Hầu ở Hà Nội của Quốc dân đảng
Theo Hiệp định sơ bộ 6-1946 ký giữa ta và Pháp, trung tuần giữa tháng
3-1946, quân Tưởng rút khỏi Đà Nẵng, sau đó một phái bộ quân Anh đến Đà Nẵng một tháng trước khi quân Pháp vào Phái bộ Anh vào Đà Nẵng cũng ngang ngược như quân Nhật, quân Tưởng mới vào Đà Nẵng
Ngày 1-4-1946, một ngàn quân Pháp do tên thiếu tá Coste chỉ huy đổ bộ lên Đà Nẵng Chúng đóng quân ở trại lính khố đỏ, nhà hàng Morin, nhà băng, hãng Demis, Ba kho, nhà thương Tây, khu Rô - đông (khu vực dọc theo đường Trần Phú, Bạch Đằng hiện nay, từ bưu điện xuống bến cảng) và sân bay Đà Nẵng Theo quy định, muốn đi ra ngoài khu vực đóng quân, chúng phải xin phép ta Nhưng bất chấp quy định, chúng tiếp tục lén lút đưa thêm vũ khí, tăng quân trái phép, đem theo một số tên Pháp trước đây trong bộ máy cai trị tại Đà Nẵng và các chủ hãng buôn với mưu đồ liên lạc móc nối số quan lại, tay sai cũ, tổ chức tình báo, chuẩn bị mở rộng chiến tranh xâm lược ra Trung Trung bộ, Trị Thiên và Hạ Lào
Chấp hành chỉ thị của Trung ương tránh khiêu khích và đề phòng khiêu khích,
không để nhân dân lầm lẫn âm mưu của kẻ thù, thành phố Đà Nẵng thành lập đội tuyên truyền xung phong do đồng chí Nguyễn Nhĩ phụ trách
Để đối phó với tình hình khiêu khích, phá hoại của quân Pháp, Uỷ ban hành chính Nam Trung Bộ quyết định điều Trung đoàn 96, gồm 2 Tiểu đoàn 17 và 18 do đồng chí Nam Long làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Hoài Ân làm chính trị viên
ra tăng cường cho mặt trận Đà Nẵng; Xứ uỷ Trung Bộ đưa đồng chí Trần Đình Tri về làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố Đà Nẵng
Trung đoàn triển khai lực lượng đóng ở những vị trí xung yếu của Đà Nẵng: Tiểu đoàn 17 đóng ở sân bay, Cẩm Lệ; Tiểu đoàn 18 đóng ở Thanh Khê, Nam Ô, ga xe lửa Trong thành phố có một bộ phận của Trung đoàn đóng giữ Ta và phía Pháp thoả thuận lập ra một đội tuần tra hỗn hợp Tiểu đoàn 17 được giao nhiệm vụ đi tuần với quân Pháp
Trang 23Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ sẽ lan rộng cả nước, chiến trường sẽ bị chia cắt, liên lạc giữa Trung ương và địa phương sẽ gặp khó khăn
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên một hướng chiến lược quan trọng, giữa tháng 11-1946, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Phạm Văn Đồng vào làm đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ Đồng chí
Phạm Văn Đồng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Phải quan tâm trước hết đến việc xây dựng Đảng bộ đi đôi với xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng, tăng cường đoàn kết toàn dân, củng cố và bảo vệ vùng giải phóng, đồng thời kiên trì chiến đấu và quyết tâm đánh bại kẻ địch ngay trên mặt trân Nam Trung Bộ”.[34, tr.226-227]
Xứ uỷ Trung Bộ tăng cường cán bộ về các tỉnh trực tiếp chỉ đạo công cuộc chuẩn bị kháng chiến, hợp nhất tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, đồng chí Trương Quang Giao, Uỷ viên Ban thường vụ Xứ uỷ làm Bí thư, đồng chí Trần Tống làm Phó bí thư Ban chỉ huy quân sự Liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng do đồng chí Đàm Quang Trung làm Chỉ huy trưởng
Tháng 11-1946, Uỷ ban nhân dân chính Liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng triệu
tập hội nghị cán bộ các ngành triển khai kế hoạch “Vườn không nhà trống”, tiêu thổ
kháng chiến, chuẩn bị tản cư và tiếp cư, cử cán bộ đi chỉ đạo và xây dựng căn cứ kháng chiến ở các huyện, nhất là các huyện miền núi
Để đảm bảo liên lạc thông suốt giữa các địa phương, Tỉnh uỷ chỉ đạo các địa phương lập các đường quốc phòng Nhân dân các huyện bỏ ra hàng triệu ngày công làm nên các con đường, hai bên có nhiều hầm trú ẩn, công sự chiến đấu và kho tàng dự trữ lương thực, cải tạo địa hình phù hợp kháng chiến
Tỉnh đội dân quân lập kế hoạch bố trí lực lượng dân quân các huyện, xã thành lập các bộ phận phục vụ bộ đội chủ lực, đưa đồng bào đi tản cư
Tháng 12-1946, thực dân Pháp ráo riết triển khai lực lượng, tăng cường hoạt động khiêu khích, từng bước lấn tới Cuộc kháng chiến toàn quốc nhất định sẽ bùng nổ
và hết sức gay go gian khổ, Quảng Nam - Đà Nẵng sẽ là chiến trường sớm nhất
Ngày 15-12-1946, Thành uỷ Đà Nẵng triệu tập cuộc họp gồm tất cả cán bộ chủ chốt Quân - Dân - Chính - Đảng, khu phố, chi bộ trực thuộc nghe đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Tổng bộ Việt Minh và đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ thay mặt xứ uỷ
Trang 24Trung Bộ phổ biến tình hình toàn quốc và chỉ thị của Trung ương cho các địa phương, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sẽ bùng nổ
Thực hiện chỉ đạo của mặt trận Liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Trung đoàn
96 tổ chức hội nghị cán bộ nghiên cứu những kinh nghiệm đánh địch của quân dân Hải Phòng Ban chỉ huy Tiểu đoàn 17 tổ chức Hội nghị Liên tịch giữa uỷ ban kháng chiến huyện Hoà Vang với Ban dân quân Đà Nẵng bàn kế hoạch tác chiến, phân công cụ thể cho từng địa phương
Quảng Nam và Đà Nẵng đều có kế hoạch sẵn sàng phá cầu, đường, nhà cửa để thực hiện ngăn bước tiến của thực dân Pháp khi kháng chiến bùng nổ Một số cầu trên Quốc lộ 1A sẵn sàng bị giật đổ khi có lệnh và đã có kế hoạch Quốc lộ 1A từ Đà Nẵng
đi Vĩnh Điện bị cắt nhiều đoạn, dựng chướng ngại vật
Giữa tháng 12 trở đi, thực dân Pháp tăng cường lực lượng, chuẩn bị đánh chiếm trở lại nước ta một lần nữa, chúng tiến hành gây hấn ở Hà Nội, gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí quân đội, tự vệ, công an và đòi chiếm sở công an Hà Nội
Tình hình căng thẳng ở các tỉnh phía Bắc ảnh hưởng trực tiếp đến Đà Nẵng Ngày 15-12-1946, Uỷ ban quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng quyết định cho các đơn vị chiếm lĩnh vị trí chiến đấu, đợi lệnh Uỷ ban quân dân chính quyền thành phố Đà Nẵng chuyển ra ngoại thành Không khí kháng chiến tràn ngập khắp nơi Thời kỳ hoà hoãn
đã chấm dứt Quân dân Đà Nẵng sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu quyết liệt với giặc Pháp, bảo vệ tổ quốc
Tháng 9-1945 đến 12-1945, chỉ hơn một năm, nhưng là thời gian đặc biệt của lịch sử dân tộc và Quảng Nam, Đà Nẵng: giặc ngoài thù trong đi liền với nạn đói, nạn thất học và lụt lội Tất cả đã hợp sức đe doạ sự mất còn của chính quyền nhân dân mới giành được sau Cách mạng tháng Tám thành công Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ những ngày hoà hoãn, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng biết khơi dậy và phát huy sức mạnh từ trong mỗi người dân yêu nước, mỗi làng xã, khắc phục muôn vàn khó khăn, từng bước củng cố chính quyền, xây dựng chế độ mới, ra sức chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhất định sẽ phải bùng nổ Bài học kinh nghiệm lớn nhất trong thời gian này là dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân
Trang 25CHƯƠNG 2: QUÂN DÂN ĐÀ NẴNG CÙNG CẢ NƯỚC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP 2.1 Tình hình ta và địch
Để kịp thời đối phó với tình hình, cấp trên điều ngay Trung đoàn 96 là đơn vị chủ lực của miền Nam trung bộ đã từng đọ sức với quân Pháp, về làm nhiệm vụ tiếp phòng quân ở Đà Nẵng Là Trung đoàn, nhưng ban đầu mới có hai Tiểu đoàn: Tiểu đoàn 17 do Lê Kích, Tiểu đoàn 18 do Võ Quang Hồ làm Tiểu đoàn trưởng So với quân Pháp đóng ở Đà Nẵng, trang bị của Trung đoàn 96 thua kém nhiều; mỗi đại hội chỉ vài ba khẩu trung liên, mỗi Tiểu đoàn chỉ có một khẩu đại liên và 2 súng cối 60 ly Súng trường thì cũ kỹ và đủ loại Trung đoàn chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính miền Nam Trung bộ và mới có ba Đảng viên, chưa hình thành chi bộ Đảng
Trung đoàn 96 ở Đà Nẵng, ngoài nhiệm vụ tiếp phòng quân, đã tích cực chuẩn
bị sẵn sàng đối phó với mọi hành động gây chiến của thực dân Pháp Trước ngày nổ súng đánh Pháp, Trung đoàn được tăng cường thêm Tiểu đoàn 19 (còn gọi là Tiểu đoàn Ba Tơ) - Tiểu đoàn trưởng là Giáp Văn Cương; đóng quân ở Nghi An, đèo Hải Vân Chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Trung đoàn cử cán bộ đi khảo sát địa hình trong thành phố, lên phương án tác chiến, xây dựng và củng cố hầm hào, công sự chặn địch
ở các ngã ba, xây dựng chiến khu Trung Mang, xúc tiến mạnh mẽ việc tập luyện quân
sự [39, tr.124-125]
Thành uỷ Đà Nẵng phân công đồng chí Lê Văn Quý phụ trách công tác dân vận mặt trận, sẵn sàng huy động lực lượng các đoàn thể cứu quốc phối hợp với Ty Liên kiểm Việt - Pháp kịp thời đấu tranh với những hành vi vi phạm thô bạo, ngang ngược của quân Pháp Bên cạnh Ty Liên kiểm Việt - Pháp còn có công an, Dân báo đoàn, Đại
Trang 26đội cảnh vệ cùng hoạt động Tình hình trật tự trị an ở Đà Nẵng được duy trì, ta bảo toàn được lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến
Thông qua sinh hoạt của các đoàn thể cứu quốc, ta giác ngộ cho hội, đoàn viên nhận rõ âm mưu của giặc Pháp, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tranh thủ thời gian hoà hoãn tích cực chuẩn bị lực lượng, giữ vững trật tự trị an, thực hiện khẩu hiệu:
“Bình tĩnh, kỹ luật, tránh khiêu khích” Tuy vậy do sẵn căm thù giặc Pháp, nhiều đồng
bào có thái độ bất hợp tác, gây căng thẳng với chúng; ta phải thường xuyên giải quyết những vụ việc xảy ra
Khi quân Pháp vào, bộ máy chính quyền thành phố đã được thành lập thông qua dân cử Các uỷ ban hành chính xã và của 7 khu phố, cán bộ rất trẻ đều hăng say công tác và đã có kinh nghiệm đối phó với quân đội nước ngoài đến đóng Anh chị em làm việc không biết mệt mỏi, không ai kêu ca khó khăn, vì không gì phấn khởi hơn là nước nhà đã được độc lập tự do, phải quyết tâm bảo vệ thành quả đó
Như vậy sau Hiệp định sơ bộ, ta đã nghiêm chỉnh thi hành những điều đã ký, đồng thời tranh thủ thời gian hoà hoãn nhằm chuẩn bị lực lượng sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu sẽ không tránh khỏi Khi sự khiêu khích của thực dân Pháp đã đến độ tột cùng, đã vượt qua giới hạn chịu đựng của nhân dân ta, nhân dân ta phải lựa chọn con đường đứng dậy cầm súng để bảo vệ độc lập dân tộc Cuộc kháng chiến trên toàn quốc bùng nổ
Trang 27Quân Pháp mới đến đã có hành động khiêu khích, tìm cách móc nối số công nhân, viên chức cũ, thu thập tình báo, lập mưu phá rối ta, đồng thời chuẩn bị nhân sự hình thành bộ máy nguỵ quyền Đà Nẵng Nhưng chúng không thu được kết quả như mong muốn vì thái độ chính trị của những người có quan hệ với Pháp trước đây đã thay đổi, trừ một số tên cam tâm tiếp tay cho giặc
Các nơi đóng quân của Pháp đều được quy định, nhưng chúng cố tình vi phạm,
thực hiện thủ đoạn “Vết dầu loang”, nống ra một số vùng trọng yếu như Ngã Năm,
Viện Cổ Chăm, nhà ga,…Pháp còn cài người vào Ban chỉ đạo binh sĩ nắm tình hình đóng quân của các Tiểu đoàn 17, 18 Pháp còn lợi dụng sự non yếu của ta, cho người chui vào tổ chức dân quân, bộ phận trinh sát của công an để phá từ bên trong, hầu hết những thủ đoạn đó đều bị ta phát hiện
Chúng tổ chức ám sát, bắn bị thương đồng chí Trần Đình Nho, ám sát hụt đồng chí Đàm Quang Trung, Pháp còn dùng thủ đoạn thăm viếng cán bộ ta để gây nghi ngờ, nhằm ly gián nội bộ
Sau một thời gian đóng quân, Pháp không tự tiếp tế nổi, chúng yêu cầu ta mở cửa hàng để chúng mua thực phẩm, ăn uống, giải trí và xin ta cho công nhân bốc hàng
từ biển vào trại lính Chúng cấu kết với hãng buôn Quảng Hoà Mỹ đem hàng lậu ra tàu, hải quan ta bắt được giao cho Ty Liên kiểm giải quyết
Thực dân Pháp muốn bóp chết chính quyền cách mạng Theo Hiệp định Sơ bộ, Pháp chỉ được đóng 1000 quân ở Đà Nẵng, nhưng đến tháng 12-1946, chúng lén lút tăng lên 5000 quân đóng ở Trẹm và sân bay Cũng trong tháng 12-1946, Pháp tung quân ra khiêu khích, cho sĩ quan vào gây rối ở trụ sở Việt Minh [39, tr.129]
Giữa tháng 12 trở đi, thực dân Pháp tăng cường lực lực lượng, chuẩn bị đánh chiếm nước ta lần nữa Ngày 12-12-1946, tên đại tá La Roque và cơ quan chỉ huy hành quân từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, các tàu tuần dương Duguesue Suffren cập bến Đà Nẵng, đưa lên bờ nhiều xe bọc thép và đại bác
Ngày 17-12-1946, quân Pháp gây hấn ở Hà Nội, đánh chiếm Bộ Tài chính, Bộ Giao thông
Ngày 18-12-1946, quân Pháp trắng trợn gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí của quân đội, tự vệ, công an, và đòi chiếm sở công an Hà Nội
Với dã tâm trở lạin xâm lược, lén lút chuẩn bị mọi điều kiện để gây chiến, quân Pháp vừa khiêu khích vừa ngăn cản các hoạt động chuẩn bị kháng chiến của ta
Trang 282.2 Thực dân Pháp bội ước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến
Mặc dù đã kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946, thực dân Pháp vẫn đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa
Ngay sau ngày 6-3-1946, Pháp mở các cuộc tiến công ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ
Ở Bắc Bộ, hạ tuần tháng 11-1946, quân Pháp khiêu khích, tiến công ta ở Hải Phòng và Lạng Sơn
Ở Hà Nội, quân Pháp bắn súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi Chúng đốt Nhà Thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm đóng cơ quan Bộ Tài chính, gây ra vụ tàn sát đẫm máu ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh Ngày 18-12-1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho quân Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội Nếu yêu cầu đó không được chấp nhận, thì chậm nhất là sáng 20-12-1946, chúng sẽ hành động
Tình thế khẩn cấp đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải có quyết kịp thời Ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị Toàn dân kháng chiến Chỉ thị nêu rõ mục đích, tính chất, chương trình kháng chiến Những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến đã được nêu cô đọng trong bản văn kiện lịch sử này Tuy chưa hoàn chỉnh, nhưng những nội dung đó là những vấn đề thiết yếu cơ bản nhất để lãnh đạo, dẫn dắt toàn dân, toàn quân ta trong quá trình kháng chiến
Đáp lại tối hậu thư của Pháp, trong hai ngày 18 và 19-12-1946, Hội nghị bất thường Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương mở rộng, họp tại Vạn Phúc (Hà Đông), đã quyết định phát động cả nước kháng chiến Phân tích hành động khiêu khích, xâm lược của thực dân Pháp trong những tháng cuối năm 1946, nhất
là từ giữa tháng 12, Hội nghị nhận định: âm mưu của Pháp là mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược, chuyển cuộc chiến tranh sang một bước mới; thời kì hoà hoãn đã qua, khả năng hoà bình không còn nữa Trên cơ sở đó, Hội nghị quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước và vạch ra những vấn đề rất cơ bản về đường lối kháng chiến Đây là một quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng ta, đáp ứng được yêu cầu của cách mạng và nguyện vọng của toàn dân
Khoảng 20 giờ ngày 19-12-1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội) phá máy, cả thành phố mất điện là tín hiệu tiến công, cuộc kháng chiến toàn quốc
Trang 29chống thực dân Pháp bùng nổ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi khắp cả nước
Trước khi phát động cuộc kháng chiến trong cả nước, Đảng ta đã có những văn kiện quan trọng để kịp thời chỉ đạo toàn dân tích cực chuẩn bị kháng chiến Những vấn
đề được nêu lên trong bản Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc (25-11-1945), Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (19-10-1946) và một số văn kiện quan trọng Những việc khẩn cấp bây giờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết kinh nghiệm của hơn một năm đánh Pháp, đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng ta
Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng (ngày 18 đến ngày 19 1946) tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng giữa địch và ta, xác định chính xác ý đồ chiến lược của thực dân Pháp, cùng với quyết định phát động kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước, cũng nêu lên một số vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến [34, tr.234-235]
-12-Đáp lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay trong đêm 19-12-1946, trong phạm vi cả nước, nhiều thành phố, thị xã nhân dân đã nổ súng tiến công quân địch
Ở Đà Nẵng, 20 giờ ngày 19-12-1946, Ban chỉ huy mặt trận nhận được chỉ thị của cấp trên và quyết định giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 19, đúng 2 giờ sáng ngày 20-12-
1946 nổ súng đánh địch tại sân bay Đà Nẵng làm hiệu lệnh tiến công địch trên phạm vi thành phố Đà Nẵng: phá sập cầu Thuỷ Tú, Cẩm Lệ, Phong Lệ, nhà máy đèn, chặt cây cản đường, ra lệnh cho đồng bào tản cư; quyết định chuyển các cơ quan lãnh đạo của
Đà Nẵng ra khỏi thành phố, lên đóng ở Tuý Loan (Hoà Vang), giời Trung đoàn bộ Trung đoàn 96 lên Khánh Sơn, rút phái đoàn ta ra khỏi Uỷ ban Liêm kiểm Việt Pháp Trung đoàn 93 chuẩn bị đưa một bộ phận vào Đà Nẵng chiến đấu
Tại sở chỉ huy Mặt trân Quảng Nam - Đà Nẵng đóng tại ngã tư Yên Khê, các đồng chí Trương Quang Giao - bí thư Liên tỉnh uỷ, Vũ Khương Ninh - Bí thư Thành
uỷ, Đàm Quang Trung, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Bá Phát và các đồng chí trong Ban chỉ huy theo dõi chỉ đạo tình hình
Gần đến giờ nổ súng, mọi người nóng lòng hướng về sân bay chờ lệnh Tuy nhiên, điều bất ngờ đã xảy ra, hiệu lệnh nổ súng ở sân bay đã không được thực hiện Khuyết điểm này do đồng chí Trần Thuỳ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 không
Trang 30triển khai mệnh lệnh của Ban chỉ huy Mặt trận đến Tiểu đoàn 19 Tiếng súng đánh địch ở sân bay không được thực hiện làm mất yếu tố chủ động đánh địch ngay từ đầu, những đơn vị lót sát vị trí địch phải rút lui ra Ban chỉ huy Mặt trận cách chức đồng chí Trần Thuỳ và bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Bá Phát, Chỉ huy phó Mặt trận, giữ chức Chỉ huy trưởng Trung đoàn 96
Theo mệnh lệnh mới, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 18 nổ súng đánh địch tại Cầu Vồng, tự vệ nhà máy đèn nổ mìn phá nhà máy, Trung đoàn 93 đánh sập cầu Cẩm Lệ, Phong Lệ, lực lượng công binh dùng địa lôi phá cầu Thuỷ Tú Đến 8 giờ sáng ngày 20-12-1946, tiếng súng đánh địch nổ vang khắp thành phố
2.3 Cuộc chiến đấu của quân dân Đà Nẵng
2.3.1 Đà Nẵng trước các cuộc tấn công của Pháp
2.3.1.1 Từ ngày 20-12-1946 đến ngày 22-12-1946
Trong ngày đầu giặc Pháp tiến công ta theo hai hướng: hướng phía Nam, chiếm
Toà thị chính, bưu điện rồi chia làm nhiều mũi rồi tiến theo ba đường phố chính dọc theo sông Hàn lên Viện Cổ Chàm, một cánh khác tiến về Ngã Năm, mục tiêu của hướng này là giải vây sân bay; hướng phía Tây, có hai Tiểu đoàn Pháp đánh chiếm nhà
ga, ngã ba Cai Lang rồi tiến về ngã tư Thanh Khê
Ở hướng Nam, một cánh quân xuất phát từ các vị trí chiếm đóng ở cảng Đà Nẵng
tiến theo các con đường (ngày nay mang tên: Bạch Đằng, Trần Phú, Yên Bái, Phan Chu Trinh) Mục tiêu của chúng là đánh trụ sở uỷ Ban kháng chiến Hành chính thành phố, Nhà Bưu Điện, Nhà Thuế Quan, nhà thông tin tuyên truyền, hiệu sách Thái Thị Bôi, rồi tiến lên chiếm Cổ Viện Chàm, Ngã Năm, Chợ Mới; biến những địa điểm này thành bàn đạp tiến công giải toả cho quân Pháp đang bị ta bao vây tại sân bay
Ở hướng Tây, một cánh quân (2 Tiểu đoàn) chia làm nhiều mũi tiến theo các
đường thống nhất (đường Lê Duẩn ngày nay), đường Nguyễn Hoàng (nay là đường Hải Phòng, Đống Đa) Mục tiêu của chúng là chiếm Cầu Vòng, ngã ba Cai Lang, tiến lên ngã tư Yên Khê, bắt liên lạc với quân ở sân bay, sau đó mở đường tiến lên đèo Hải Vân, rồi ra chi viện cho quân Pháp ở Huế đang kêu cứu
Tuy kế hoạch nổ súng tiến công địch không thực hiện được, nhưng các đơn vì bộ đội và tự vệ chốt giữ trên các đường phố vẫn giữ vị trí chiến đấu Địch tiến công đến đâu cũng đều bị chặn đánh Một trung đội quân ta trấn giữ khu vực Uỷ ban Thành, Nhà Bưu Điện đến cơ quan thông tin tuyên truyền, hiệu sách Thái Thị Bôi đã trụ đánh