1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 ở tam kỳ quảng nam

88 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong cuộc đụng đầu lịch sử này, dân tộc ta đã trảiqua cuộc chiến tranh cách mạng 21 năm, đã mở hàng chục chiến dịch lớn, mà đỉnhcao là cuộc Tổng tiến công và

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN

1975 Ở TAM KỲ - QUẢNG NAM

Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ BÍCH HẠNH

Chuyên ngành : Sư phạm Lịch sử

Người hướng dẫn : Th.S NGUYỄN MẠNH HỒNG

ĐÀ NẴNG – 5/2015

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI

CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN

1975 Ở TAM KỲ - QUẢNG NAM

Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ BÍCH HẠNH

Chuyên ngành : Sư phạm Lịch sử

Giáo viên hướng dẫn : Th.S NGUYỄN MẠNH HỒNG

ĐÀ NẴNG – 5/2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích nghiên cứu 3

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Bố cục của đề tài 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM 5

1.1 Đặc điểm tự nhiên 5

1.1.1 Địa hình 5

1.1.2 Khí hậu 6

1.1.3 Sông ngòi, thổ nhưỡng 6

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 7

1.2.1 Đặc điểm dân cư 7

1.2.2 Văn hóa, truyền thống 9

1.2.3 Kinh tế - xã hội 12

1.3 Sự thay đổi địa giới hành chính của Tam Kỳ qua các giai đoạn lịch sử 15

Chương 2: TAM KỲ TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 19

2.1 Tình hình của địch và ta sau Hiệp định Pari 1973 19

2.1.1 Tình hình của địch sau Hiệp định Pari 1973 19

2.1.2 Tình hình của ta sau Hiệp định Pari 1973 23

2.2 Chủ trương giải phóng miền Nam của Đảng ta – Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 25

Trang 4

2.2.1 Chủ trương của Đảng ta 25

2.2.2 Chiến dịch Tây Nguyên 29

2.2.3 Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và cuộc tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ 33

2.2.3.1 Chủ trương của Khu ủy khu V, và của Tỉnh ủy Quảng Nam 33

2.2.3.2 Tam Kỳ tích cực chuẩn bị lực lượng giải phóng quê hương 36

2.2.3.3 Quân dân Tam Kỳ phối hợp với bộ đội chủ lực nổi dậy giải phóng quê hương 48

2.2.3.4 Kết quả và ý nghĩa của cuộc tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ năm 1975 55

2.2.3.5 Một số bài học lịch sử 60

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 70

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước là thiên anh hùng bất hủcủa dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Thắng lợi đó đã kếtthúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc từsau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa

đế quốc phương Tây kéo dài 117 năm, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân trong cả nước Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiếnchống Mĩ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong nhữngtrang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anhhùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công

vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đạisâu sắc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong cuộc đụng đầu lịch sử này, dân tộc ta đã trảiqua cuộc chiến tranh cách mạng 21 năm, đã mở hàng chục chiến dịch lớn, mà đỉnhcao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với trận mở màn Buôn

Ma Thuột, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, tiếp theo là giải phóng Huế - Đà Nẵng vàquét sạch địch ở ven biển miền Trung, và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch

sử Với đại thắng mùa Xuân năm 1975 đất nước ta bước vào kỉ nguyên mới – kỉnguyên độc lập, thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Chúng ta đã thực hiện

trọn vẹn lời tiên đoán, mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua nhiều gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa song nhất định phải thắng lợi… Tổ quốc ta nhất định phải thống nhất, Bắc – Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”.

Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, trận then chốt thứ hai của cuộc Tổng tiến công và nổidậy mùa Xuân 1975 giành toàn thắng Thắng lợi đó là thắng lợi của đường lối chínhtrị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ và đúng đắn của Đảng ta Đảng đã nắm đúngthời cơ, hạ quyết tâm chiến lược chính xác, không cho địch co cụm giữ các tỉnh duyênhải miền Trung Để làm nên thắng lợi của chiến dịch này, có sự đóng góp hết sức tolớn của chiến dịch giải phóng thị xã Tam Kỳ - Quảng Nam

Trang 6

Quy mô của cuộc tiến công và giải phóng Tam Kỳ không lớn, địa bàn tấn công khôngrộng, nhưng ý nghĩa của chiến dịch này thì đặc biệt quan trọng Bởi vì nó đã chặnđứng, cô lập thành phố Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Tạo điều kiệngiải phóng thành phố Đà Nẵng vào ngày 29-3-1975, góp phần quan trọng để Trungương quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam,thống nhất đất nước.

Là người con Tam Kỳ, với mong muốn hiểu sâu sắc một vấn đề lớn về lịch sửđấu tranh cách mạng của quê hương, thực hiện nhiệm vụ của một người sinh viên,biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, học đi đôi với hành, bước đầu làm

quen với nghiên cứu khoa học nên chúng tôi chọn đề tài: “Cuộc Tổng tiến công và

nổi dậy Xuân 1975 ở Tam Kỳ – Quảng Nam” làm đề tài khóa luận của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến chiến dịch giải phóng thị xã Tam Kỳ (nay là Thành phố TamKỳ) ngày 24-3-1975 đã có một số công trình nghiên cứu:

Trong cuốn “Khu V – 30 năm chiến tranh giải phóng, (Tập 2), Cuộc kháng

chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1968)” của Thường vụ Quân khu uỷ V – Tư lệnh

Quân khu V do Nxb Đà Nẵng ấn hành năm 1989 có đề cập đến chiến thắng ở thị xãTam Kỳ Tác phẩm này trình bày hết sức vắn tắt về trận đánh giải phóng thị xã Tam

Kỳ năm 1975

Trong tác phẩm “Tổng kết chiến thuật của lực lượng vũ trang quân khu V

trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ (1954 - 1975)” của

Bộ Tư lệnh Quân khu V – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân,Xuất bản năm 2002 Cuốn sách có đề cập tới một số trận đánh tiêu biểu điển hình trênchiến trường quân khu V trong đó có trận đánh giải phóng thị xã Tam Kỳ

Trong cuốn “Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mĩ ở Việt

Nam” Xuất bản năm 1991 của Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam,

Nxb Hà Nội đã trình bày âm mưu của Mĩ trong chiến lược “Việt Nam hoá chiếntranh” và chính sách bình định của Mĩ ở miền Nam, đồng thời tác phẩm đã trình bàynhững chủ trương, chỉ thị của Đảng, Khu uỷ trong việc quyết định giải phóng toàn bộthị xã Tam Kỳ tạo điều kiện tiến tới giải phóng Đà Nẵng và cùng cả nước giải phónghoàn toàn miền Nam

Trang 7

Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930 - 1975)” Xuất

bản năm 2006 của Tỉnh uỷ Quảng Nam – Thành uỷ Đà Nẵng, đã trình bày cuộc đấutranh chống kế hoạch bình định, giành dân của Mĩ – Ngụy, tạo thế và lực mới chocách mạng nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng, cuốn sách này có đề cập đến chiến dịchgiải phóng thị xã Tam Kỳ năm 1975

Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ Thành phố Tam Kỳ 1954 – 1975” Xuất bản

năm 2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Tam Kỳ đã trình bày về những âmmưu của Mỹ ở chiến trường miền Nam, những chủ trương, chỉ thị của Đảng, Khu uỷ,

Bộ Tư lệnh quân khu V và cuộc đấu tranh của nhân dân thị xã Tam Kỳ tiến tới giảiphóng toàn bộ thị xã Tam Kỳ

Trong cuốn “Lịch sử trung đoàn tăng thiết giáp 574 (1973 - 2003), của Bộ Tư

lệnh quân khu V, Xuất bản năm 2003, Nxb Quân đội nhân dân đã trình bày diễn biếncủa trận đánh, cũng như những đóng góp của trung đoàn tăng thiết giáp trong việcgiải phóng thị xã Tam Kỳ năm 1975

Liên quan đến đề tài còn có các cuốn lịch sử địa phương như: Lịch sử đấutranh cách mạng của huyện Núi Thành; huyện Phú Ninh; huyện Tiên Phước; phườngPhước Hoà (thuộc Thành phố Tam Kỳ ngày nay)… một số hồi kí của các chiến sĩtừng tham gia chiến đấu tại chiến trường thị xã Tam Kỳ

Những tác phẩm trên là nguồn tư liệu quý, giúp chúng tôi trong quá trình thựchiện khóa luận

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác chuẩn bị cũng như mọi hoạt độngliên quan đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 ở thị xã Tam Kỳ – tỉnhQuảng Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là từ sau Hiệp định Paris được kí kết đến ngàythị xã Tam Kỳ được giải phóng 24-3-1975

4 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi chọn đề tài “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 ở Tam Kỳ

– Quảng Nam” để nghiên cứu nhằm góp phần làm rõ chiến thắng lịch sử này, bước

đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm từ chiến dich giải phóng thị xã Tam Kỳ

Việc nghiên cứu trận đánh ở thị xã Tam Kỳ, cũng như những kết quả mà trậnđánh đạt được còn tăng thêm lòng tự hào, tự tôn dân tộc, niềm tin vào sự lãnh đạo

Trang 8

đúng đắn của Đảng, tin vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộcxây dựng quê hương hiện nay.

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã khai thác từ nhiều nguồn

tư liệu khác nhau:

Tư liệu thành văn: Đây là nguồn tư liệu quan trọng, cung cấp hệ thống kiếnthức cơ bản làm cơ sở nền tảng cho đề tài Bao gồm sách, báo, tạp chí, công trìnhnghiên cứu, các khóa luận tốt nghiệp đang được lưu trữ tại Phòng học liệu Khoa Lịch

sử Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Thư viện trường Đại học Sư phạm, Thư việnTổng hợp Đà Nẵng, thư viện Quân khu V, Hồi kí của các đồng chí lão thành cáchmạng Các nguồn tài liệu lưu trữ tại Thành uỷ Tam Kỳ

Chúng tôi cũng phỏng vấn một số nhân chứng đã từng tham gia chiến đấu tạimặt trận Tam Kỳ Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, tôi còn sưu tầm các nguồn tưliệu, thông tin, tranh ảnh trên internet

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đứng trên lập trường của Đảng, quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào phương pháp duyvật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và nghiên cứu sự vật hiên tượng

Sau khi thu thập tư liệu, chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh từ đórút ra kết luận cần thiết

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục thì nội dung đề tài bao gồm hai chương:

Chương 1: Tổng quan về thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Chương 2: Tam Kỳ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Trang 9

NỘI DUNG Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

1.1 Đặc điểm tự nhiên

1.1.1 Địa hình

Tam Kỳ là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, một tỉnh ven biển thuộc vùngphát triển kinh tế trọng điểm miền Trung Phía Đông Bắc giáp huyện Thăng Bình;phía Đông giáp biển Đông; phía Nam giáp huyện Núi Thành; phía Tây – Tây Bắcgiáp huyện Phú Ninh Thành phố Tam Kỳ, về Phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 70km; về phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà khoảng 30 km và cách khu côngnghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km, gắn với quốc lộ 1A, quốc lộ

40 (đường Nam Quảng Nam) và kết nối với hệ thống giao thông quốc gia gồm đườngsắt, đường bộ, hàng không, đặc biệt Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối các huyện miền biển,trung du, đồng bằng và duyên hải, gắn kết với các tỉnh Tây Nguyên, Lào và khu vực.Diện tích tự nhiên là 9,3 km2

Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, là vùngchuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thềm bồicủa các con sông trước khi đổ ra biển Đông Địa hình có dạng đồi thấp, và đồng bằngđược hình thành do bồi tích sông, biển và quá trình rửa trôi Hướng dốc chung củađịa hình từ Tây sang Đông, địa hình toàn khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suốithuộc lưu vực của sông Trường Giang

Nằm ở đồng bằng ven biển, Tam Kỳ hình thành ba vùng rõ rệt: vùng ven biểngồm các xã dọc sông Trường Giang và phía Đông; vùng đồng bằng gồm các xã nằmdọc quốc lộ 1A, đường sắt; vùng giáp ranh miền núi (bán sơn địa) gồm các xã TamSơn, Tam Trà, Tam Lãnh, Tam Thạnh, Tam Mỹ Tây và các thôn phía Tây xã TamDân

Tam Kỳ tiếp giáp dãy núi Ngan, nối từ dãy Trường Sơn trùng điệp, ăn ra hướngbiển Đông, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi

“Trong đó có hai ngọn núi cao nhất là núi Hố Giàn cao 707m và núi Chúa cao 600m Ngoài ra còn nhiều núi thấp xen kẽ với đồng ruộng và khu dân cư như: núi đất Quảng Phú, An Hà (Tam Phú); Bàn Than (Tam Hải); Phú Xuân (Tam Quang); Trà Quân

Trang 10

(Tam Xuân 1); Chà Vu(Tam Lộc); Chóp Chài (Tam Đại); Chà Vó(Tam Vinh); núi Quánh (Tam Ngọc); Hố Giang (Tam Hiệp); núi Miếu (Tam Anh Bắc); núi Dàng(Tam Dân); Cà Tý(Tam Thành)” [26, tr.16].

1.1.2 Khí hậu

Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,mưa nhiều và mưa theo mùa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26 độ C, lượng mưatrung bình hàng năm khoảng 249 mm, giờ nắng trung bình trong ngày 5 – 9 giờ, độ

ẩm trung bình trong năm là 84% Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa chủ yếu tập trung nhiều vào các tháng 9 đến tháng 12, lượng mưachiếm 70 - 75% cả năm Lượng mưa tháng trong thời kỳ này đạt 400mm, tháng

10 lớn nhất: 434mm

- Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm 25 - 30% cả năm Lượngmưa tháng trong thời kỳ này chỉ đạt 25mm, tháng 3 có lượng mưa nhỏ nhất trongnăm: 12mm

Do thời tiết phức tạp và địa hình thấp nên Tam Kỳ là vùng đất thường xuyên xảy

ra bão lụt, hạn hán, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của địa phương

1.1.3 Sông ngòi, thổ nhưỡng

Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi trong tỉnh khá pháttriển Hệ thống sông Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn của Việt Namvới tổng diện tích lưu vực khoảng 9.000 km2 Sông Tam Kỳ với diện tích lưu vực

800 km2là sông lớn thứ hai

“Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm, lưu lượng dòng chảy sông Vu Gia 400m 3 /s, Thu Bồn 200m 3 /s có giá trị thủy điện, giao thông và thủy nông lớn Hiện tại trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 1 và 2, Sông A Vương, Sông Bung đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước” [4, tr.14].

Tam Kỳ có bờ biển dài 47km, với hai cửa biển: An Hòa ( còn gọi là cửa Đại Áphay cửa Hiệp Hòa) và cửa Lở Bờ biển Tam Kỳ phía Bắc thẳng và bằng, phía Nam

có mũi Bàn Than nhô ra, có nhiều đá ghềnh Bên ngoài là thềm lục địa nông, rất thuậnlợi để nuôi trồng và khai thác hải sản Có nhiều sông, suối và đầm Các sông Tam

Kỳ, sông Bà Bầu, sông Bến Ván (An Tân) đều bắt nguồn từ mạn thấp triền núi Ngạn

Trang 11

của dãy Trường Sơn Tuy nhiên các sông, suối ở đây đều không có đầu nguồn xa, lại

có độ dốc cao nên mùa nắng hạn mau cạn, thường bị thủy triều xâm nhập, mùa mưathì bị ngập lụt gây ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất, sinh hoạt và đi lại của nhân dân.Ngoài ra còn có sông Ông Bộ, sông Bàn Thạch nối liền vùng đầm An Hà vớisông Ba Kỳ, sông Cây Trâm nối liền sông Tam Kỳ với sông Ông Bộ, sông Trạm nốiliền sông Ông Bộ với sông Bến Ván Sông Trường Giang nối hai cửa biển An Hòa

và cửa Đại (Hội An), chảy dọc theo bờ biển Trước đây còn có nhiều suối như: La Gà(Tam Vinh), Suối Đá (Tam Dân), Hóc Mơ (Tam Mỹ Tây)… Các vùng đầm: đầm An

Hà (nay thuộc địa phận hai xã Tam Phú, Tam Thăng), Vũng Lấm (Tam Anh), VũngChang (Tam Hòa) Nói chung các sông ở Tam Kỳ không có đầu nguồn xa, lại có độdốc cao, mùa nắng mau cạn và bị nước triều từ biển dâng vào sâu

1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

1.2.1 Đặc điểm dân cư

“Theo niên giám thống kê của thành phố Tam Kỳ năm 2011, dân số của thành phố là 190.000 người, bố trí tại 9 phường và 13 xã Dân số thành thị là 82.587 người chiếm 75,5% tổng dân số thành phố Dân số nông thôn là 26.735 người chiếm 24,5% tổng dân số thành phố” [26, tr.11].

Phân bố dân cư theo đơn vị hành chính không đều Dân cư chủ yếu tập trung haibên đường phố chính, đặc biệt là đường Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu và một sốkhu dân cư được xây dựng từ khi tái lập tỉnh (từ năm 1997) đến nay còn các khu vựckhác dân cư rất thưa thớt

Dân số thành thị tăng nhanh theo quá trình đô thị hoá và ngày càng chiếm tỷtrọng cao trong tổng dân số thành phố, năm 2005 chiếm 71,95% và đến năm 2010chiếm gần 75,6% dân số Mật độ dân số của thành phố năm 2010 là 571 người/km2,mật độ dân số thấp nhất được phân bố ở xã Tam Thăng là 332 người/km2và xã TamPhú 484 người/km2

Dân cư Tam Kỳ có nguồn gốc từ các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ di cư đến từthời nhà Hồ nhưng còn thưa thớt Sau khi vua Lê Thánh Tông xuống chiếu cho mởmang bờ cõi Đại Việt về phía Nam, cùng với các đợt di dân Bắc địa tùng vương (haycòn gọi là Tòng chinh lập nghiệp, cuộc di dân đại quy mô nhất diễn ra cuối thế kỷ

XV, thời Vua Lê Thánh Tông), một bộ phận dân cư đến từ Thanh Hóa, Nghệ An,Quảng Bình, Hải Dương…quyết định tọa cư tại mảnh đất này Trong suốt thời gian

Trang 12

dài kể từ ngày bạt núi phá rừng, tạo dựng nên giang sơn gấm vóc để quần cư sinh tụ,các thế hệ nhân dân Tam Kỳ đã vượt qua biết bao gian nan thử thách, chống chọi vớithiên nhiên khắc nghiệt, với áp bức, bất công của quan lại phong kiến để xây dựngcuộc sống Ngay từ buổi đầu dựng nghiệp, lòng yêu nước, chí quật cường luôn thểhiện trong các thế hệ nhân dân Tam Kỳ Hưởng ứng phong trào nông dân Tây Sơn,giúp đại binh Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh xâm lược, giữ yên bờ cõi Đại Việt.Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, nhân dân Tam Kỳ luôn có mặt trong cácphong trào đấu tranh yêu nước chống lại ách thống trị của ngoại bang Từ hưởng ứngchiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, đánh chiếm thành La Qua (Vĩnh Điện); gópcông tiêu diệt 150 tên kính Pháp ở đồn Suối Đá, Đá Rồng (Tam Dân); hưởng ứngphong trào Duy Tân, phong trào chống sưu thuế của các tỉnh Trung Kì 1904 – 1908,khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục hội do Trần Cao Vân và Thái Phiên lãnh đạo(1916) Tên tuổi các bậc tiền nhân của đất Tam Kỳ như Trần Văn Dư, Phan ChâuTrinh, Trần Thuyết, các đội dân binh, thổ hầu, có tới hàng trăm người ở Ngọc Mỹ,

Ki, Đới, Quý Thượng, Khánh Thọ, Long Sơn luôn sẵn sàng xung trận, mãi mãi làniềm tự hào của quê hương Tam Kỳ

“Vùng đất Tam Kỳ sớm có người sinh sống Các di chỉ Bàu Dũ, Bàu Nê (phía Đông Nam sông Tam Kỳ), khu mộ chum Tam Mỹ (Tam Xuân 1), Bàu Trám (Tam Anh Bắc)…gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng” [26, tr.20] Trải qua hàng nghìn

năm lao động và chiến đấu, xây dựng và phát triển, các thế hệ người dân Tam Kỳ đãsáng tạo, vun đắp, lưu truyền một nền văn hóa phong phú và đa dạng, vừa thể hiệnđặc điểm văn hóa của cả nước, của cả vùng, vừa thể hiện đặc trưng của địa phương.Đặc sắc là nét văn hóa Chămpa và sự kết hợp văn hóa Việt – Chăm Vượt qua sự tànphá của chiến tranh, của thời gian, của thiên nhiên, trên đất Tam Kỳ vẫn còn lưu giữnhiều di tích văn hóa nổi tiếng như: đình Chiên Đàn (xã Tam Đàn), đình Phương Hòa,phế tích An Mỹ, Tháp Khương Mỹ (Tam Xuân 1)…

Là địa phương có phong trào sáng tác văn thơ khá phong phú, cùng các hoạt độngsinh hoạt văn hóa, Tam Kỳ vừa mang nét đặc trưng văn hóa Trung Bộ vừa mang sắcthái riêng của một vùng quê giàu truyền thống đấu tranh cách mạng

Trang 13

1.2.2 Văn hóa, truyền thống

Xuất phát từ điều kiện tự nhiên cùng với quá trình đấu tranh yêu nước, xây dựng

và phát triển kinh tế - xã hội, đã thắt chặt mối quan hệ gắn bó con người trong từngthôn xóm với nhau Đây là điều kiện quan trọng, bảo đảm duy trì và phát triển đờisống cộng đồng; tình yêu đồng bào, yêu quê hương đất nước cũng nảy sinh từ đây,chính những tố chất ấy đã góp phần hình thành và phát triển chủ nghĩa yêu nước, tinhthần đoàn kết, truyền thống đấu tranh bền bỉ, quật cường, bất khuất và năng động,sáng tạo, cần cù, nhân hậu của người dân Tam Kỳ

Ngay sau khi mở đất, nhân dân Hà Đông dưới sự lãnh đạo của Thổ quan Đại trichâu Hà Đông Đặng Tất cùng lúc vừa chống lại quân lấn chiếm Chiêm Thành vừatham gia nghĩa quân, đóng góp lương thực, tiến ra Nghệ An tham gia cuộc khởi nghĩacủa Trần Ngỗi chống quân Minh xâm lược thế kỉ XV) Những năm cuối thế kỉ XVII,đầu thế kỉ XVIII nhân dân Hà Đông đã liên tục chống lại ách thống trị hà khắc củatập đoàn phong kiến nhà Nguyễn Cuối thế kỉ XVIII, cùng với các địa phương khác

ở miền Trung, nhân dân Hà Đông đã hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, gianhập nghĩa quân, mở đường xuyên núi và tiếp tế lương thực khi nghĩa quân tiến raPhú Xuân (Huế) và kinh thành Thăng Long để tiêu diệt quân Thanh

Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và tay sai, nhân dân Tam Kỳ đãliên tục nổi dậy đấu tranh Những năm 1885 – 1887 nhân dân đã tham gia cuộc khởinghĩa Cần Vương do các sĩ phu yêu nước Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan BáPhiến đề xướng và lãnh đạo Những năm 1906 – 1908, nhân dân Tam Kỳ lại hưởngứng phong trào Duy Tân do các sĩ phu yêu nước và tiến bộ Phan Châu Trinh, HuỳnhThúc Kháng, Trần Quý Cáp…đề xướng, nhằm vận động cải cách văn hóa, xã hội,gắn liền với động viên lòng yêu nước, căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát áchngoại xâm Những năm đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp ra sức khai thác thuộc địa.Chúng mở đường Tam Kỳ đi Bồng Miêu để khai thác mỏ vàng Bồng Miêu đượcthuận lợi Nhân dân lao động Tam Kỳ bị bắt đi làm đường nơi rừng sâu nước độc, bịđói khát, bệnh tật, lại bị đánh đập hành hạ đủ điều, uất hận chất chồng, phong tràochống đi phu, chống thuế bắt đầu bùng nổ ở Quảng Nam, trung tâm cuộc vận độngDuy Tân và do ảnh hưởng trực tiếp của cuộc vận động

Trang 14

Kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bền bỉ chống giặc ngoại xâm,sau khi Chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá vào Việt Nam Ở Tam Kỳ một sốthanh niên nhanh chóng tiếp thu thông qua tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanhniên Tháng 7-1927, đồng chí Khưu Thúc Cự cùng các đồng chí Hồ Đắc Thàn, PhanKỉnh (Phản), Phạm Cự Hải thành lập nhóm hoạt động cách mạng theo tôn chỉ, mục

đích của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, thông qua tủ sách “Chiêu anh thư

quán”, truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản vào lớp thanh niên và nhân dân yêu

nước trong vùng Sự hoạt động của các nhóm thanh niên yêu nước tại Tam Kỳ ở trongnhững năm 1927 – 1929 đã tạo ra bước chuyển biến về tư tưởng, chuẩn bị cho sự rađời của tổ chức Đảng Cộng sản đầu tiên trên đất Tam Kỳ

Ngày 28–3–1930 Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam ra đời.Đây là sự kiện đánh dấu mốc lịch sử của nhân dân Quảng Nam bước vào thời kỳ mới– thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Sau khi Đảng bộ tỉnh Quảng Nam ra đời, đến tháng 5–1930, tại Chùa Ông,phường Phước Hòa, Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Tam Kỳ được thànhlập, gồm 3 đồng chí: Hồ Bằng (Quang), Phan Kỉnh và Tư Định, do đồng chí Tư Địnhlàm Bí thư Vừa mới ra đời hoạt động chủ yếu của Chi bộ là học tập và tuyên truyềnchủ nghĩa Cộng sản trong thanh niên tiến bộ và những người tích cực tham gia trongphong trào yêu nước trước đây, tổ chức rãi truyền đơn ở mỏ vàng Bồng Miêu tuyêntruyền sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

“Được sự giúp đỡ của Tỉnh ủy Quảng Ngãi, từ Tổ Cứu tế đỏ, ngày 02–12–1932, tại rừng dừa Đồng Dân, thôn Thuận An, An Hòa (nay là thôn 1, Tam Hải, huyện Phú Thành), Chi bộ Đảng được thành lập lấy tên là Chi bộ “Quang Ánh Minh” gồm 3 Đảng viên: Võ Minh, Trần Học Giới, Lương Hợp Phố, do đồng chí Võ Minh làm Bí thư Chi bộ An Hòa ra đời đã góp phần tạo sự phát triển thực lực cách mạng ở Tam

Kỳ và toàn tỉnh Quảng Nam” [19, tr.21].

Sau khi đã thành lập được tổ chức cơ sở Đảng ở một số xã, Tỉnh ủy lâm thờiQuảng Nam quyết định thành lập Phủ ủy Tam Kỳ Ngày 15–8–1933 tại khu rừngĐịnh Phước (nay thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành), Phủ ủy Tam Kỳ được hìnhthành, gồm các đồng chí Phan Truy, Nguyễn Phùng, Đào Thuần Thăng, do đồng chí

Trang 15

Phan Truy làm Bí thư Nhiệm vụ chủ yếu của Phủ ủy là tập trung đẩy mạnh công táctuyên truyền, phát triển tổ chức Đảng và quần chúng trong toàn phủ, đồng thời tổchức học tập nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa Cộng sản vànhiệm vụ của Đảng bộ Kể từ khi Đảng bộ ra đời đến năm 1936 – 1939 là thời kỳ sôiđộng nhất của phong trào cách mạng ở địa phương, tổ chức Đảng và tổ chức quầnchúng phát triển mạnh và đều khắp, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dânTam Kỳ chuyển từ tự phát sang tự giác, các tổ chức chặt chẽ lãnh đạo đúng đắn.Nhân dân Tam Kỳ có truyền thống hiếu học Ngay từ đầu thế kỉ XIX (năm 1824),Tam Kỳ đã lập trường huấn học đặt tại làng Chiên Đàn (Tam Đàn), sau dời về làngTam Kỳ, có nhiều nhà nho yêu nước như: Phan Châu Trinh, Trần Văn Dư, Phan BáPhiến…Đặc biệt Chiên Đàn là làng nổi tiếng có nhiều nhà nho học giỏi, đổ đạt cao,làm chức lớn như cụ Nguyễn Dục, Trần Văn Dư…

Sống trong điều kiện thiên nhiên ít thuận lợi, lại bị áp bức, bóc lột nặng nề dướichế độ thống trị của thực dân và phong kiến, các tầng lớp nhân dân Tam Kỳ đã đoànkết đấu tranh kiên cường, bất khuất, liên tục có mặt trong các phong trào yêu nước,hun đúc nên truyền thống tốt đẹp, có sức sống mãnh liệt, góp phần xứng đáng vàotrang sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam anh hùng Nhữngcuộc đấu tranh quyết liệt từ các thời kỳ Cần Vương, Duy Tân, Việt Nam Quang PhụcHội, làm cho quân thù phải khiếp sợ, tuy không đi đến thắng lợi, song vẫn không làmnhân dân Tam Kỳ nản lòng thoái chí

Lòng yêu nước nồng nàn, truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, chống

áp bức, bóc lột là một trong những nhân tố cơ bản, vô cùng quan trọng, làm nền tảngcho sự tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, dẫn đến sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộngsản Đông Dương phủ Tam Kỳ sau này

Cùng với bản chất lao động cần cù, sáng tạo, các thế hệ nông dân Tam Kỳ đãbiến những vùng cát trắng khô cằn, bạc màu, chua mặn, biến các triền đồi, hóc núi,bãi bồi thành ruộng đất canh tác, mở rộng diện tích sản xuất Thu nhập từng bước cótăng lên Từ sau ngày giải phóng đến nay, nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thâmcanh tăng vụ, nên năng suất sản lượng nông nghiệp và đánh bắt chế biến sản chonhiều tiến bộ

Trang 16

Về tôn giáo, trong số những người theo đạo thì phần đông theo đạo Phật, nênngày xưa bên cạnh ngôi đình thường có ngôi chùa; về sau mới có một bộ phận nhândân theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài….Hiện nay hoạt động tín ngưỡng củangười dân Tam Kỳ rất phong phú.

1.2.3 Kinh tế - xã hội

Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, song diện tích đất sản xuất bìnhquân đầu người thấp (mỗi khẩu không quá 1000m2), phần lớn đất đai bạc màu, cằncỗi, lại không chủ động thủy lợi nên năng suất thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn Cùng với sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế còn kết hợp giữa ngư nghiệp vàthủ công nghiệp Vùng biển Tam Thanh có nhiều thủy, hải sản, nghề đánh cá, chếbiến mắn, làm muối đã có từ lâu, nhưng dưới chế độ thực dân phong kiến, trình độ tổchức đánh bắt cá còn lạc hậu, nên sản lượng thấp và bấp bênh Từ sau ngày giải phóngđến nay những nghề này được phát triển nhanh Vùng đồng bằng nhỏ hẹp (bình quânnhân khẩu không quá 2 sào Trung Bộ), phần lớn là khô cằn, kể từ ngày mở đất, ngườinông dân Tam Kì, trải qua nhiều thế hệ, bằng chính sức lao động của mình, cần cù vàsáng tạo, đã biến những vùng cát trắng khô cằn, bạc màu, chua mặn, triền dốc, hốcnúi, bãi sông thành ruộng đất canh tác, từng bước cải tạo và mở rộng diện tích gieotrồng Trước đây, phần lớn diện tích là lúa gieo, sản lượng rất thấp và bấp bênh Từsau ngày giải phóng đến nay, sản xuất nông nghiệp ở Tam Kì có nhiều tiến bộ đáng

kể Sản xuất nông nghiệp đã phá vỡ được chế độ độc canh cây lúa và sự lệ thuộc vàothiên nhiên Năm 1977, công trình Đị thủy nông Phú Ninh được khởi công xây dựng,đến năm 1986 hoàn thành và đưa vào sử dụng giải quyết nước tưới cho 23.000 hađồng ruộng thuộc 5 huyện phía Nam của tỉnh, riêng Tam Kỳ được 7.184 ha, nhờ vậynăng suất lúa ngày càng tăng cao

“Nghề thủ công ở Tam Kỳ đã có từ lâu, nhất là nghề khai quặng, nấu sắt, rèn nông cụ và vũ khí ở Cà Chớ, Xuân Trung (Tam Thái), Hồng Lư (phường Hòa Hương); nghề trồng bông dệt vải ở Bãi Dương, Cây Duối (Tam Phú), nghề ươm tơ, dệt lụa ở xóm Hàng (Hòa Hương), nghề làm nước mắn ở An Hòa (Tam Hải), Tam Ấp (Tam Tiến), nghề là muối ở Diêm Trường (Tam Giang), Diêm Điền (Tam Tiến), xóm Nại (Tam Hòa), nghề trồng lát, dệt chiếu ở Thạch Tân (Tam Thăng), nghề khai thác đá ong ở Phú Xuân (Tam Quang), Đức Bố (Tam Anh Bắc), thợ mộc ở Vân Hà (Tam

Trang 17

Thành), đan lát mây tre ở Thạch Đức (Tam Vinh)…Ngoài ra còn có nghề đãi vàng xuất hiện từ thế kỷ XV dưới thời thuộc Minh và duy trì suốt thời Lê – Mạc, sang nhà Nguyễn cho đến ngày thực dân Pháp tập trung khai thác tại Bồng Miêu (1895)” [19,

tr.14-15]

Do chính sách độc quyền về kinh tế của thực dân Pháp, một số nghề truyền thống

bị mai một, nhất là nghề trồng bông dệt vải và khai quặng, nấu sắt Những năm dướichế độ thực dân mới, ngành tiểu thủ công thương nghiệp địa phương bắt đầu pháttriển, nhưng chủ yếu là dịch vụ Từ sau ngày giải phóng đến nay, tiểu thủ công nghiệpmới thực sự trở thành ngành sản xuất chính, tập trung ở thị xã Tam Kỳ và thị trấn NúiThành

Ngành thương nghiệp dịch vụ, trước đây chủ yếu là buôn bán nhỏ, chỉ có ít nhàtrung thương của Hoa kiều tập trung ở chợ Vạn, Tam Kỳ và An Tân Chợ Vạn là đầumối thương mại lớn của Quảng Nam, chỉ đứng sau Hội An

Tam Kì cũng là nơi có tài nguyên, sản vật tương đối phong phú Ngoài lúa, sắn,khoai, ngô, còn có thuốc lá, tôm, rau câu….Ở vùng núi có các loại cây dược liệu,trầm hương, gỗ quý “Một số sản phẩm có giá trị xuất khẩu nhưng số lượng chưa

nhiều: “Thơm Chiên Đàn, chè Đức Phú, mức Chợ Chùa, nước mắn An Hòa và thuốc

lá Trường Xuân” đã nổi tiếng một thời trên thị trường khu vực miền Trung Trong

lòng đất Tam Kỳ có nhiều khoáng sản như: vàng, đồng, chì, sắt…nhất là vàng nằmrải rác ở nhiều nơi Các cụm công nghiệp như Trường Xuân, khu kinh tế mở Chu Lai,cảng biển Kỳ Hà….được đầu tư xây dựng, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngànlao động, tạo được sự chuyển biến lớn cho bộ mặt nền kinh tế - xã hội của địa phương.Ngày nay, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIX nhiệm

kỳ 2010 - 2015, tuy gặp nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới và suy giảm kinh tế trong nước nhưng được sự quan tâmchỉ đạo kịp thời của Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh, sự phối hợp, hỗ trợ của các Sở, ban, ngànhcủa tỉnh, Đảng bộ và nhân dân thành phố Tam Kỳ đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhữngkhó khăn, thách thức và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Kinh tế có tốc độ tăngtrưởng khá; chuyển dịch cơ cấu theo đúng định hướng, hoạt động xúc tiến đầu tư cónhiều chuyển biến tích cực; công tác quản lý điều hành ngân sách chủ động và hiệuquả

Trang 18

“Tổng giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ (giá so sánh năm 2010) đạt trên 43.794 tỷ đồng, tăng bình quân 13,88%/năm Trong đó lĩnh vực thương mại- dịch vụ kinh doanh đạt trên 18.950 tỷ đồng, tăng bình quân hằng năm 18,44%” [45, tr.2].

Thị trường nội địa phát triển, kết cấu hạ tầng thương mại được tập trung đầu tư,góp phần tăng thêm năng lực mạng lưới bán buôn và bán lẻ hàng hóa trên địa bàn.Một số công trình trọng điểm được nâng cấp, xây dựng mới đã phát huy hiệu quảnhư: chợ Trung tâm Tam Kỳ, chợ An Sơn, nhiều tuyến phố phát triển nhanh vềthương mại dịch vụ Mạng lưới kinh doanh được mở rộng, trên địa bàn hiện có 07chợ, 03 siêu thị Nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ được hình thành và phát triển,nhất là dịch vụ tài chính ngân hàng, thông tin truyền thông, giao thông vận tải, y tế,giáo dục…

Ngành du lịch đã có những chuyển biến bước đầu Công tác quy hoạch, phát triển

hạ tầng du lịch được quan tâm, các loại hình dịch vụ lưu trú ngày càng phát triển Một

số công trình được triển khai đầu tư xây dựng như: Khu sinh thái và bãi tắm TamThanh, Khu dịch vụ khách sạn Mường Thanh, một số hạng mục thiết yếu của Địa đạo

Kỳ Anh, Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, Quảng trường 24/3 Các hoạt độngquảng bá, kêu gọi xúc tiến đầu tư dịch vụ du lịch được quan tâm thực hiện; đặc biệt,hàng năm thành phố tổ chức Tuần du lịch biển Tam Thanh, thu hút số lượng lớn nhândân đến tham gia, góp phần quảng bá du lịch thành phố đến du khách trong và ngoàitỉnh

“Tổng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng đạt trên 15.139 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), tăng bình quân 16,32%/năm Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao 98,2% Một số nhóm ngành chủ lực như: công nghiệp may và sản xuất trang phục chiếm 38,78% , công nghiệp da và sản phẩm từ da chiếm 20,19%”

[45, tr.3]

Hạ tầng các khu, cụm công nghiệp được quan tâm đầu tư như: đường trục chính

và vệt công nghiệp dọc 2 bên đường Khu Công nghiệp Thuận Yên, bước đầu thu hútđược 12 doanh nghiệp vào hoạt động; Cụm công nghiệp Trường Xuân có 18 doanhnghiệp hoạt động và đang xúc tiến sắp xếp lại một số doanh nghiệp và mở rộng cụmcông nghiệp Trường Xuân 2; thành phố đã tích cực phối hợp với các ngành của tỉnh

Trang 19

xúc tiến đầu tư dự án Khu Công nghiệp Tam Thăng; cơ sở hạ tầng một số làng nghềtruyền thống được quan tâm đầu tư.

Lĩnh vực nông nghiệp được chuyển dịch theo hướng nông nghiệp - đô thị và đãđạt được kết quả bước đầu, hạ tầng sản xuất nông nghiệp được quan tâm đầu tư nângcấp và xây mới Công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật, xây dựng các môhình mới áp dụng vào sản xuất trong nông nghiệp đạt được kết quả bước đầu, năngsuất, chất lượng, hiệu quả kinh tế được tăng lên Lĩnh vực thủy sản được quan tâmđầu tư và phát triển, tăng bình quân hằng năm 9,23%, hiệu quả kinh tế biển ngày đượcnâng lên

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn thành phố giai đoạn 2010-2015 đạt trên7.000 tỷ đồng Đặc biệt đã huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư pháttriển từ ngân sách nhà nước, các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh, vốnODA

1.3 Sự thay đổi địa giới hành chính của Tam Kỳ qua các giai đoạn lịch sử

Tên gọi “Tam Kỳ” cũng được định vị theo hình sông thế núi của vùng đất này,

nơi có ba gò đất cao cùng ngã ba sông Nhìn từ ngoài biển vào sẽ thấy 3 gò đất caonhô lên thành hình tam giác: núi An Hà, Quảng Phú và Trà Cai Khi định vị từ 3 ngọnnúi, thuyền sẽ vào cửa sông và gặp bến đò, nơi có ba ngả rẽ: sông Tam Kỳ, sôngTrường Giang và sông Bàn Thạch Nằm ở đồng bằng ven biển, Tam Kỳ hình thành

02 vùng rõ rệt: vùng ven biển gồm các xã Tam Thanh, Tam Thăng, Tam Phú; vùngđồng bằng gồm các xã, phường nằm dọc đường quốc lộ 1A, đường sắt Tam Kỳ cónhiều núi thấp xen kẽ với đồng ruộng và khu dân cư như: núi đất Quảng Phú, An Hà(Tam Phú), núi Quánh (Tam Ngọc) Nhìn chung các tuyến giao thông đường biển,đường bộ, đường sắt đã tạo điều kiện cho Tam Kì mở rộng việc tiếp xúc, giao lưu,phát triển kinh tế và văn hóa giữa các vùng, các xã trong huyện cũng như giữa cáchuyện trong và ngoài tỉnh

Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, cùng với sự thay đổi của tổ chứchành chính đất nước, Tam Kỳ cũng có những thay đổi về địa giới và tên gọi Trướcthế kỷ XV, đây vốn là vùng đất Chiêm Động của vương quốc cổ Chămpa Thế rồitrong quá trình mở nước vào phương Nam của dân tộc, vùng đất này từng bước đượcsáp nhập vào lãnh thổ của Đại Việt dưới nhiều tên gọi khác nhau: Là vùng đất thuộc

Trang 20

Châu Hoa dưới thời nhà Hồ (1400 - 1406); đến năm 1471, Vua Lê Thánh Tông lậpthành huyện Hà Đông, cùng với sự ra đời của Thừa tuyên Quảng Nam; năm 1841,đời vua Thiệu Trị, huyện Hà Đông trực thuộc Phủ Thăng Hoa (sau đó đổi thành PhủThăng Bình); năm 1906, đời vua Thành Thái thứ 18, huyện Hà Đông tách khỏi PhủThăng Bình, đổi thành Phủ Tam Kỳ;

Năm 1920, thực dân Pháp và Nam triều tách phần đất phía Tây thành lập huyệnTiên Phước, phủ Tam Kỳ còn lại bảy tổng, riêng phần huyện Phú Ninh có ba tổng.Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, theo chủ trương chung của Trung ương, cácđơn vị hành chính trước đây là phủ được đổi thành huyện Cấp tổng thuộc phủ chuyểnthành cấp xã thuộc huyện Huyện Tam Kỳ gồm 15 xã: Tam Nghĩa, Tam Hải, TamHiệp, Tam Anh, Tam Sơn, Tam Xuân, Tam Tiến (nay thuộc huyện Núi Thành), TamThăng, Tam Thanh, Tam Chánh (thành phố Tam Kỳ), Tam Thái, Tam Lãnh, TamDân, Tam Phước, Tam An (huyện Phú Ninh)

“Ngày 30-01-1951, Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ đã ra Nghị định số 241-MNS thành lập thị xã Tam Kỳ tách khỏi huyện Tam Kỳ Ngày 01– 11-1951 thành lập xã đặc biệt Tam Kỳ thuộc Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam, ranh giới như thị xã Tam Kỳ thành xã Tam Kỳ trực thuộc huyện Tam

Kỳ và duy trì cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược”

[19, tr.11]

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1958, ngụy quyền Sài Gònđổi tên thành quận Tam Kỳ, quận lỵ đặt tại xã Tam Kỳ gồm các xã: Tam Kỳ, KỳSanh, Kỳ Hà, Kỳ Liên, Kỳ Thạnh, Kỳ Khương, Kỳ Chánh, Kỳ An, Kỳ Thịnh, Kỳ Lý,

Kỳ Mỹ, Kỳ Bình, Kỳ Trung, Kỳ Hưng, Kỳ Bích, Kỳ Anh, Kỳ Phú, Kỳ Hương, KỳLong, Kỳ Quế, Kỳ Sơn, Kỳ Nghĩa, Kỳ Trà, Kỳ Yên Ngày 31–7–1962 ngụy quyềnSài Gòn ra Sắc lệnh số 162–NV chia tỉnh Quảng Nam thành hai đơn vị hành chính làtỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín Các đơn vị dưới tỉnh gọi là quận, Tam Kỳ là tỉnh

lỵ tỉnh Quảng Tín Ngày 19–7–1963, địch thành lập quận Lý Tín tại phần đất phíanam quận Tam Kỳ, quận lỵ đặt tại Vân Trai, xã Kỳ Khương (nay là xã Tam Hiệp,huyện Núi Thành)

Về phía chính quyền cách mạng, chấp hành Nghị quyết của Khu ủy Khu V, tháng11–1962 Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng quyết định chia Quảng Nam – Đà Nẵng thànhhai tỉnh mới là tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà (địa giới Quảng Nam từ huyện Quế

Trang 21

Sơn trở vào, Quảng Đà từ huyện Duy Xuyên trở ra) Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam.Đến tháng 4–1963 Tam Kỳ chia thành 3 đơn vị hành chính gồm: huyện Bắc Tam Kỳ,huyện Nam Tam Kỳ và thị xã Tam Kỳ để tiện việc chỉ đạo hoạt động trong thời chiến

và duy trì cho đến cuối năm 1975

“Sau ngày thống nhất đất nước, vào tháng 11–1975, 3 đơn vị hành chính này được sát nhập thành huyện Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, có 21 xã và thị xã Tam Kỳ Ngày 03–12–1983, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 144/QĐ- HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) chia huyện Tam Kỳ thành 02 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành, thị xã Tam Kỳ có 7 phường: Hòa Phương, An Sơn, Phước Hòa, An Xuân, An Mỹ, Tân Thạnh, Trường Xuân và 10 xã: Tam Phú, Tam Thanh, Tam Thăng, Tam An, Tam Dân, Tam Thành, Tam Phước, Tam Ngọc, Tam Thái, Tam Lãnh Ngày 12-4-1985, chia xã Tam Phước thành 2 xã: Tam Phước và Tam Lộc; chia xã Tam Dân thành 2 xã: Tam Dân và Tam Vinh Ngày 28-9-1994, thành lập xã Tam Đàn” [19, tr.12].

Tháng 12–1996, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 đưa ra Nghị quyết chia tỉnhQuảng Nam – Đà Nẵng thành 2 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là thànhphố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, thị xã Tam Kỳ trở thành đơn vị hành chính củatỉnh Quảng Nam Năm 1997, khi tỉnh Quảng Nam được tái lập, Tam Kỳ trở lại là tỉnh

lỵ của tỉnh Quảng Nam, gồm 7 phường: Trường Xuân, An Sơn, Tân Thạnh, An Mỹ,

An Xuân, Hòa Hương, Phước Hòa và 13 xã: Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, TamNgọc, Tam Lãnh, Tam Thái, Tam Dân, Tam Đàn, Tam An, Tam Lộc, Tam Vinh,Tam Thành, Tam Phước Ngày 21-3-2002, chia xã Tam Phú thành xã Tam Phú vàphường An Phú

“Ngày 05-01-2005, theo Nghị định số 01/2005-NĐ-CP của Chính Phủ, Tam Kỳ được chia tách thành 02 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Phú Ninh, chia xã Tam Thái thành 2 xã Tam Thái và Tam Đại, sáp nhập 2 thôn Đông Yên, Tây Yên của xã Tam Đàn vào phường Hòa Thuận thuộc thành phố Tam Kỳ” [8, tr.17].

“Ngày 26-10-2005, thị xã Tam Kỳ được công nhận là đô thị loại 3 Ngày

29-9-2006, theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP, Tam Kỳ đã trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam với diện tích tự nhiên là 9.263.56 ha và 123.662 nhân khẩu, có 13 đơn vị hành chính trong đó gồm 9 phường: Tân Thạnh, Hòa Thuận, Hòa Hương, An

Trang 22

Mỹ, An Xuân, An Sơn, An Phú, Trường Xuân, Phước Hòa và 04 xã: Tam Thanh, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Ngọc” [19, tr.13].

“Ngày 21–12–2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 62/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã Tam Vinh thành hai đơn vị hành chính là thị trấn Phú Thịnh và xã Tam Vinh Năm 2011, huyện có 10 xã và 1 thị trấn: thị trấn Phú Thịnh

và các xã Tam An, Tam Thành, Tam Phước, Tam Lộc, Tam Đàn, Tam Dân, Tam Lãnh, Tam Thái, Tam Vinh, Tam Đại” [8, tr.17].

Trang 23

Chương 2:

TAM KỲ TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 2.1 Tình hình của địch và ta sau Hiệp định Pari 1973

2.1.1 Tình hình của địch sau Hiệp định Pari 1973

Vì thất bại trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương cũng như những khókhăn chồng chất trong nội tình nước Mĩ, những người cầm đầu Nhà Trắng buộc phảichấp nhận chấm dứt sự tham chiến trực tiếp chiến tranh Việt Nam (27-1-1973), rồi kíHiệp định Viên Chăn về Lào (28-2-1973), ngừng ném bom Cam-pu-chia (15-8-1973).Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết,ngày 29-3-1973 Mĩ làm lễ cuốn cờ tại sân bay Đà Nẵng, rút quân khỏi miền Nam

Việt Nam với bài học sâu sắc nhất là “không để xảy ra một Việt Nam thứ hai” Mĩ có

sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại, tạm thời hoà hoãn với các lực lượng xã hội chủ

nghĩa, rêu rao về một “kỉ nguyên hoà bình”, “kỉ nguyên thương lượng” Song, chúng

không từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam, tiếp tục viện trợ, tạo điều kiện cho chínhquyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Paris

Mặc dù đã chấp nhận kí Hiệp định Paris (27-1-1973) và 2 tháng sau đó 1973), Mĩ phải rút hết quân đội về nước, nhưng Mĩ vẫn cố bám giữ Việt Nam vàĐông Dương Tiếp tục nuôi dưỡng chính quyền tay sai Sài Gòn làm công cụ thựchiện chính sách thực dân mới của chúng ở miền Nam Việt Nam Đối với Mĩ, việc rútquân không có nghĩa là từ bỏ tham vọng thống trị miền Nam Việt Nam nước ta Mĩ

(29-3-mở chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, âm mưu xoá “thế da báo” Ngày 3-4-1973, tại

San Clemente diễn ra cuộc hội đàm Níchxơn – Nguyễn Văn Thiệu, đưa đến sự ra đời

Thông cáo chung, trong đó Níchxơn cam kết tiếp tục viện trợ cho Thiệu và sẽ “trả

đũa không thương tiếc với mọi hành vi vi phạm lệnh ngừng bắn”.

Mĩ vẫn tiếp tục dính líu về quân sự, tìm mọi cách duy trì chế độ thực dân kiểumới mà vẫn tránh được việc trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh xâm lược lớn ởViệt Nam và Đông Dương Để thực hiện mục tiêu chiến lược này: Mĩ tiếp tục duy trìchính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu, phá hoại Hiệp định Paris một cách có hệthống, dùng bạo lực phản cách mạng để củng cố ách thống trị của chúng, phối hợphoạt động quân sự, chiến tranh tâm lý, gián điệp, vơ vét bóc lột kinh tế, đầu độc vănhóa hòng làm suy yếu chính quyền cách mạng và phong trào cách mạng của nhân dân

Trang 24

ta Chúng thực hiện chiến lược đó theo công thức: “quân ngụy, viện trợ Mĩ và cái

gậy chỉ huy của Mĩ” Mĩ duy trì sức mạnh ở một mức độ nhất định trên địa bàn xung

quanh Việt Nam, thực hiện chiến lược “ngăn đe thực tế” ở Đông Nam Châu Á, bao

vây bóp nghẹt cách mạng Miền Nam, kiềm chế phong trào cách mạng ở Đông Dương

và Đông Nam Á Mĩ thực hiện “chính sách cân bằng lực lượng” giữa các nước lớn,

lợi dụng xu thế hòa hoãn trên thế giới Với âm mưu, biện pháp chiến lược trên, Mĩ Ngụy dự đoán rất chủ quan, cho rằng trong những năm 1978 - 1980 chiến tranh sẽtàn lụi Chúng hy vọng sẽ dồn lực lượng vũ trang ta ở miền Nam về 15 căn cứ sátbiên giới và chỉ còn hoạt động quy mô cấp đại đội

-Thực hiện âm mưu này, khi rút quân về nước, Mĩ vẫn để lại hai vạn cố vấnquân sự đội lốt dân sự, lập Bộ Chỉ huy quân sự trá hình, tiếp tục viện trợ quân sự,kinh tế cho quân ngụy Chính quyền Níchxơn sau đó là chính quyền Pho (Ford), đã

ra sức giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đôn quân, bắt lính và gia tăng viện trợquân sự, kinh tế, đưa thêm nhiều vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh vào Việt

Nam Mĩ ra sức xây dựng quân đội ngụy Sài Gòn thành một đội quân tay sai “mạnh

nhất ở Đông Nam Á”, với số quân trên 1 triệu 10 vạn tên, được tổ chức thành 4 quân

đoàn gồm 13 sư đoàn và nhiều lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, với 1.850 máy bay cácloại, 1.588 khẩu pháo, 2.074 xe tăng, 1.611 tàu chiến; với hàng triệu tấn vật tư chiếntranh được đưa vào miền Nam trước và sau khi ký Hiệp định Paris Ngoài ra còn cólực lượng bảo an, dân vệ được trang bị đầy đủ Chúng liên tiếp đưa ra nhiều kế hoạchchiến tranh với mục tiêu trong 3 năm (từ 1973-1975), chiếm hết tất cả các vùng giải

phóng và đặt toàn bộ miền Nam dưới quyền kiểm soát của chúng “Từ tháng 2-1973

đến giữa năm 1974 quân đội Sài Gòn đã tổ chức 34 266 cuộc tiến công quy mô lớn nhằm lấn chiếm vùng giải phóng và 216 000 cuộc hành quân bình định trong vùng

họ kiểm soát Nguyễn Văn Thiệu ngang nhiên tuyên bố bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba” [9, tr.247].

Cuối năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu tăng cường các trận đánh trên không vàtrên bộ vào các căn cứ đối phương, đồng thời mở hàng loạt chiến dịch chiếm lãnh thổtrên vùng đất mà Chính phủ Cách mạng lâm thời chiếm giữ dọc bờ biển phía Đông,trong vùng tam giác sắt và ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong vùng tạm chiếm,

chính quyền Sài Gòn ráo riết “bình định”, “thanh lọc”, đôn quân bắt lính, giết hại

những người yêu nước, bắt bớ, kết án tù những người chống đối Để hỗ trợ cho

Trang 25

chương trình bình định, chúng đã lập 2170 phân chi khu, tổ chức 44 liên đoàn lưu

động địa phương và điều chỉnh bố trí lại lực lượng cho thích ứng với “chương trình

an ninh lãnh thổ” trên hai lĩnh vực “an ninh địa phương và nội an” Mĩ – Thiệu cho

rằng việc ký Hiệp định Pari là “khởi đầu cho giai đoạn cuối cùng của chiến lược Việt

Nam hóa chiến tranh” Chúng coi lấn chiếm giành dân là “keo cuối cùng, thắng là đây mà thua cũng là đây” Thiệu tuyên bố: “Địa bàn của cuộc chiến tranh là dân chúng ở các ấp, xã, nếu giải quyết được cuộc chiến tranh ở ấp, xã là giải quyết được

75 % của cuộc chiến tranh”.

Tháng 10-1973, chúng đề ra kế hoạch nguyên tắc chỉ đạo hoạt động quân sựnhư sau: Chủ động giành dân, giành đất bằng các cuộc hành quân; phân chia khu vựctrách nhiệm, tổ chức lực lượng phù hợp với nhiệm vụ quân sự, sắp xếp lại cơ cấu chỉhuy liên lạc, sẵn sàng phản kích, đàn áp các cuộc nổi dậy của quần chúng và cơ sở

của ta Với kế hoạch “cộng đồng tái thiết và cộng đồng phát triển địa phương”, địch

chủ trương không để sót một ấp nào Ngay từ đầu đã gây khó khăn cho việc triển khai

và hoạt động của các cơ quan Liên hiệp quân sự như trụ sở không đặt ở Sài Gòn mà

để ở Tân Sơn Nhất, hạn chế đi lại, tiếp xúc, thậm chí hành hung, khiêu khích các sĩquan của Quân giải phóng và Quân đội nhân dân Mục tiêu của Thiệu là tiêu diệt càngnhiều càng tốt cơ sở du kích của Quân giải phóng và đẩy lùi các đơn vị chủ lực củamiền Bắc ra biên giới Như vậy chính quyền Thiệu sẽ làm chủ toàn bộ miền Nam Đi

đối với cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm, chúng thực hiện “Cách mạng hành

chính”, đồng thời tổ chức những chiến dịch “Phượng Hoàng” nhằm đẩy mạnh hoạt

động tình báo gián điệp, biệt kích phá hoại cơ sở của ta Từ khi Hiệp định Paris cóhiệu lực cho đến giữa năm 1973, địch đẩy mạnh bình định lấn chiếm và thu được một

số kết quả Chúng đã lấn chiếm phần lớn vùng giáp ranh và căn cư lõm ở Khu V, một

số vùng sâu ở Khu 8 như Mỹ Tho, Bến Tre…

Trên chiến trường, mùa xuân 1973 theo Mĩ thì pháo binh của Thiệu bắn trung

bình 10.000 viên/ ngày vào vùng giải phóng gọi là để “quấy rối và ngăn chặn”.

Không quân cũng liên tiếp ném bom vùng giải phóng Đặc biệt Thiệu tập trung lựclượng và phương tiện chiến tranh đánh chiếm các khu giải phóng ở đồng bằng Cửu

Long và ven biên giới Campuchia “Theo Thiệu thì đến tháng 3-1974 đã kiểm soát

thêm được 15% đất vùng giải phóng và 5% số dân Mĩ cho rằng đạt được kết quả đó

là vì Cộng sản tự kiềm chế để đòi thi hành Hiệp định (như thời kỳ 1954 - 1958 đòi thi

Trang 26

hành hiệp định Giơ-ne-vơ)” [24, tr.285] Tuy nhiên nét nổi bật là phần lớn các cuộc

hành quân bình định trong thời kì này mang tính chất đối phó với hoạt động của tanhiều hơn là bình định lấn chiếm

“Để có lực lượng thay thế quân Mĩ và để đủ sức đương đầu với ta trong giai đoạn mới, Mĩ - Ngụy có kế hoạch dài hạn xây dựng quân ngụy với những phương châm “tự túc, tự lực để tự vệ”, “mạnh cả về số lượng và chất lượng”, “tinh nhuệ hóa”, “trẻ trung hóa” và “có hiệu lực”, đặc biệt hiện đại hóa không quân và xây dựng lực lượng địa phương” [9, tr.259].

Tuy nhiên, lúc này nước Mĩ gặp nhiều khó khăn, nhất là “sự khủng hoảng lòng

tin”, nền kinh tế Mĩ bị suy thoái, nội bộ chính quyền và các đảng phái bị chia rẻ sâu

sắc Cùng với tình hình ấy là vụ bê bối Watergate đã buộc Níchxơn phải rút khỏi NhàTrắng Quốc hội Mĩ còn hạn chế sự dính dáng của Mĩ vào miền Nam Việt Nam bằngcách cắt giảm viện trợ quân sự và kinh tế (7-5-1974) từ 1614 triệu đô la cho tài khóa

1972 - 1973 xuống 1026 triệu đô la cho tài khóa 1974 - 1974, chỉ còn 701 triệu đô lacho tài khóa 1974 - 1975 (bằng 25% tài khóa 1971 - 1972)

Việc đánh thẳng vào tiềm năng tiếp tục chiến tranh của chính quyền Sài Gòn

đã làm suy yếu nhanh chóng tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần của quân

đội Sài Gòn “Quốc hội đã duyệt viện trợ kinh tế và quân sự cho năn 1974 là 1,29 tỉ

đô la Đại sứ Martin đề nghị 1,45 tỉ cho năm 1975, Quốc hội dự định duyệt 1 tỉ, nhưng đến tháng 8-1974, Quốc hội cắt giảm còn 700 triệu Thiếu tướng E.Murray, tùy viên quân sự ở Sài Gòn nói nếu viện trợ dưới 700 triệu thì coi như xóa sổ Việt Nam Cộng hòa, là một sự đầu tư tồi và là một sự bội ước” [24, tr.286-287] Sự thảo luận về viện

trợ cho Thiệu rất gây go khiến Kissinger phải nói: “Chúng ta không thể bỏ bạn ở nơi

này mà không ảnh hưởng an ninh bạn của nơi khác”.

Chính quyền Sài Gòn càng lao vào hoạt động quân sự thì càng gặp khó khăn

về mặt kinh tế, chính trị, xã hội không thể khắc phục được Cuộc khủng hoảng kinh

tế bắt đầu ngay sau khi Mĩ rút hết quân và giảm viện trợ Năm 1966 có 160.000 ngườilàm cho Mĩ, không kể những người làm các loại dịch vụ phục vụ quân đội Mĩ vànhững người làm nghề bất hợp pháp, đến năm 1973 chỉ còn 17.000 người làm cho

Mĩ Lạm phát 1973 là 65%, theo điều tra của Mĩ, đến giữa năm 1974 thì 90% quânnhân không đủ tiền nuôi gia đình nên không còn tinh thần chiến đấu Lạm phát lạicàng trầm trọng thêm bởi cuộc khủng hoảng dầu ở Trung Đông, đồng thời nạn tham

Trang 27

nhũng đã phổ biến một cách trầm trọng “Theo Nguyễn Ngọc Huy (nguyên thành viên

cao cấp phái đoàn Sài Gòn tại Hội nghị Paris) có nên lên trong một bài báo: Quân đội được tổ chức tham những lớn đến mức yêu cầu yểm trợ pháo binh cũng phải trả tiền; nếu Thiệu tiếp tục cai trị bằng tham nhũng, không có năng lực và bác bỏ mọi cuộc thảo luận với các thành phần không Cộng sản thì Chính quyền Sài Gòn sẽ khó thắng được cuộc đấu tranh chống Cộng sản về quân sự hoặc chính trị” [24, tr.289].

Pháo từ 17.000 viên/ngày (1972) chỉ còn 7.000 viên/ngày (1974), xe tăng vànhiên liệu thiếu, sức cơ động giảm 50%, khả năng vận chuyển của hải quân chỉ còn

1/3 so với trước ngày ngừng bắn, 283.000 tấn (1974) so với 828.000 tấn” (1972) buộc Thiệu phải kêu gọi quân ngụy chuyển sang tác chiến theo “kiểu con nhà nghèo”.

Cùng với những khó khăn của Nhà Trắng đang gặp phải, chính quyền Sài Gòn cũngđang đứng trước vực thẳm Quân ngụy vừa bị Quân giải phóng giáng đòn chí tử trongnăm 1972, vùng kiểm soát của chúng bị thu hẹp Việc Mĩ rút quân tạo ra sự suy sụptinh thần chiến đấu trong hàng ngũ sĩ quan và binh lính Sài Gòn

Nhìn chung, từ tháng 6-1974 trở đi, trước sự tiến công liên tục của ta, chươngtrình hiện đại hóa quân ngụy được xây dựng trên đô la của Mĩ đã bị phá sản, ảnhhưởng rất lớn đến tinh thần và khả năng chiến đấu của quân ngụy mà sự tồn tại củachúng thường gắn liền với viện trợ của Mĩ

2.1.2 Tình hình của ta sau Hiệp định Pari 1973

Được biết đến như là cuộc đàm phán ngoại giao kéo dài nhất trong lịch sửngoại giao thế giới Hội nghị Paris và sự kiện ký kết Hiệp định về chấm dứt chiếntranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris về Việt Nam) ngày 27-01-1973 trở thành một bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứunước vĩ đại của nhân dân Việt Nam Với Hiệp định Paris, ta đã thực hiện được mục

tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tiến đến mục tiêu “đánh cho Ngụy

nhào”; là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào

mùa xuân năm 1975

Sáng ngày 28-1-1973, Hiệp định Paris có hiệu lực, hàng trăm lá cờ Mặt trậndân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên khắp các vùng giải phóng, vùng

ta làm chủ; khí thế cách mạng và niềm tin tất thắng của quân và nhân dân ta nhân lêngấp bội Cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu ngăn chặn quân thù, xả thân vì lý tưởngcách mạng, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Đến cuối năm 1973, các cuộc hành quân

Trang 28

lấn chiếm của Ngụy bị quân ta đẩy lùi, quân số địch ngày càng giảm dần, cùng với

đó là tình hình kinh tế khó khăn và viện trợ của Mĩ dành cho chính quyền Sài Gòngiảm dần, những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Ngụy ngày càng tăng cao.Những điều đó làm cho ngụy quân, ngụy quyền bị suy yếu cả về chính trị lẫn quânsự

Sau Hiệp định Paris, ở miền Nam Việt Nam có chính quyền cách mạng từTrung ương đến hầu hết các làng xã, có lực lượng vũ trang ba thứ quân hùng mạnh,

có vùng giải phóng rộng lớn, chiếm 3/4 đất đai và 1/3 dân số, đồng thời ở miền Nam

đã hình thành hai vùng kiểm soát, hai quân đội, hai chính quyền Lực lượng vũ trangcách mạng đang đứng vững trên các địa bàn chiến lược quan trọng Uy tín của Mặttrận Dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam ViệtNam được nâng cao trên trường quốc tế Hội nghị cấp cao của gần 80 nước Khôngliên kết họp tại Angiê, tháng 9-1973 đã công nhận Cộng hoà miền Nam Việt Nam làthành viên chính thức của Phong trào Không liên kết, công nhận Chính phủ Cáchmạng lâm thời là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam ViệtNam Về phía địch, sau khi rút khỏi miền Nam, đế quốc Mĩ đã lún sâu vào một cuộckhủng hoảng trầm trọng

Sau Hiệp định, ở miền Bắc hòa bình được lập lại, có thêm điều kiện thuận lợi

để tiếp tục công cuộc lao động xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăngthêm nguồn sức mạnh và tiềm lực của căn cứ địa cách mạng và hậu phương lớn

Trong cuộc đấu tranh chống địch “bình định – lấn chiếm”, chống âm mưu “tràn ngập

lãnh thổ” của chúng, những tháng đầu sau khi kí Hiệp định, quân dân ta đạt được một

số kết quả nhất định Nhưng do không đánh giá hết âm mưu phá hoại Hiệp định củađịch, do quá nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp dân tộc…nên trên một số địa bàn quantrọng ta bị mất đất, mất dân

Trên cơ sở phân tích tình hình trên, tháng 7-1973 Ban chấp hành Trung ươngĐảng họp Hội nghị lần thứ 21, Hội nghị đã đặt ra nhiều vấn đề quan trọng đối vớicách mạng miền Nam trong giai đoạn trước mắt Thực hiện Nghị quyết 21 và hưởngứng Lời Tuyên bố của Chính phủ lâm thời Cộng hòa cách mạng miền Nam Việt Nam,

quân dân miền Nam chẳng những đã đánh trả những cuộc hành quân “bình định –

lấn chiếm” của địch mà còn chủ động đánh địch ở những căn cứ xuất phát các cuộc

hành quân của chúng Kết quả, cuối năm 1973 quân và dân miền Nam không chỉ bảo

Trang 29

vệ được vùng giải phóng và các căn cứ còn lại của ta trong vùng địch kiểm soát, lấylại nhiều vùng địch lấn chiếm sau Hiệp định Paris mà còn mở rộng thêm vùng giảiphóng và hành lang chiến lược, thu hẹp vùng kiểm soát của địch.

Trên đà thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng, trong 6 tháng đầu năm

1974, từ tháng 7-1974, quân và dân miền Nam tiếp tục giành thắng lợi, sau khi tiêudiệt nhiều cụm cứ điểm, căn cứ quân sự, nhiều chi khu, quận lị của địch, quân ta pháttriển thế tấn công địch trên khắp chiến trường Thực tế thắng lợi của ta trên chiếntrường và phản ứng của Mỹ - Ngụy sau thất bại trên chiến trường miền Nam và kíHiệp định Paris đã chứng tỏ thêm nhận định của Đảng về sự lớn mạnh và khả năngchiến thắng lớn của quân ta; sự suy yếu và bất lực của quân ngụy; về khả năng canthiệp trở lại bằng quân sự hạn chế của Mỹ

Cùng với tiến công Quân giải phóng trên các chiến trường, ở đô thị, phongtrào đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi Lực lượng chính trị bán công khai và công

khai không ngừng được bổ sung Tại Sài Gòn “Mặt trận nhân dân đòi thi hành Hiệp

định Paris” ra đời Tại các vùng giải phóng, đi đôi với cuộc chiến đấu bảo vệ quê

hương, nhân dân ra sức khôi phục và đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống và tăngnguồn dự trữ cho cuộc tổng tiến công chiến lược, đây là những nguồn cung cấp, bổsung tại chỗ rất quan trọng, cùng với sự chi viện to lớn ở miền Bắc, tăng cường nhanhchóng lực lượng cách mạng ở miền Nam, thiết thực chuẩn bị cho cuộc Tổng tiếncông

Những thắng lợi to lớn, liên tiếp của quân và dân ta giành được trên ba mặttrận quân sự, chính trị, ngoại giao trong hai năm 1973 - 1974, đã làm thay đổi cụcdiện của cuộc chiến tranh có lợi cho ta và mở ra triển vọng để nhân dân ta tiến lêngiành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nước

2.2 Chủ trương giải phóng miền Nam của Đảng ta – Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

2.2.1 Chủ trương của Đảng ta

Sau khi Hiệp định Paris về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở

Việt Nam” được ký kết (27-1-1973), so sánh lực lượng địch - ta trên chiến trường

miền Nam có sự thay đổi căn bản, theo hướng có lợi cho ta và không có lợi cho địch

Trang 30

Tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xácđịnh nhiệm vụ cách mạng miền Nam sau khi Hiệp định Paris được ký kết Hội nghị

đã đặt ra nhiều vấn đề quan trọng đối với cách mạng miền Nam trong giai đoạn trước

mắt là: “Tiếp tục nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân,

tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Kẻ thù chính của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là Mĩ và tập đoàn thống trị tay sai của Mĩ; Con đường của cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng Bất kỳ tình huống nào

ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tấn công, chỉ đạo linh hoạt, đưa cách mạng miền Nam tiến lên Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao một cách chủ động, linh hoạt, tuỳ theo từng lúc, từng nơi mà kết hợp ba mặt đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari về Việt Nam, đồng thời chuẩn bị khả năng tiến lên phản công để giành thắng lợi hoàn toàn” [42, tr.324] Nghị quyết nhấn mạnh: bất kể trong tình huống

nào con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng là con đường bạo lực,

do đó phải nắm vững chiến lược tiến công

Cho đến cuối năm 1974, tình hình đã có những chuyển biến căn bản, một hiệntượng mới đã xuất hiện trên chiến trường miền Nam Quân ta đã giải phóng và giữhàng chục chi khu và quận lị, ngụy quyền Sài Gòn chịu mất mà không có khả nănglấy lại Đây là hiện tượng chưa hề có trước đó Hiện tượng này cho thấy so sánh thế

và lực giữa ta và địch trên chiến trường đã thay đổi căn bản, chủ lực của ta đã mạnhhơn hẳn chủ lực của địch

Những điều kiện cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam đang chín muồi Lựclượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân đã lớn mạnh không ngừng về số lượng vàchất lượng Những binh đoàn cơ động gồm nhiều binh chủng hợp thành ra đời, đã tạonên những quả đấm mạnh và những mũi nhọn sắt trên các địa bàn chiến lược quantrọng Các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam đang giữ quyền chủ động tiến công

địch trên chiến trường, không những có thể đánh bại được kế hoạch “bình định, lấn

chiếm” mà còn có sức mở ra những chiến dịch lớn, tiêu diệt những binh đoàn lớn của

địch, giải phóng được nhiều vùng đất rộng, đông dân, cả ở vùng đồng bằng và thànhphố Những mạng đường vận tải chiến lược và chiến dịch dài hơn 2 vạn ki lô mét,

Trang 31

chạy dọc dải Trường Sơn đến tận vùng Đông Nam Bộ và các chiến trường, nhữngkhối lượng rất lớn lương thực, vũ khí, xăng dầu, trang bị được vận chuyển vào chiếntrường bảo đảm nhiệm vụ hậu cần cho cuộc chiến tranh giải phóng cuối cùng Thànhtích khôi phục kinh tế trong 2 năm 1973 - 1974 tạo cho nhân dân miền Bắc khả năngchi viện cao về người và của Phong trào đấu tranh chính trị ở các vùng đô thị miềnNam đòi đánh đổ chế độ phát xít hiếu chiến độc tài Nguyễn Văn Thiệu, đòi hoà bình,độc lập, dân chủ, dân sinh phát triển mạnh.

Ngày 21-7-1974, tại Đồ Sơn (Hải Phòng), Bí thư thứ nhất Lê Duẩn với một số

Uỷ viên Thường trực Quân ủy Trung ương đã họp để đánh giá tình hình và bàn việcchuẩn bị kế hoạch tác chiến giải phóng miền Nam Sau đó, ngày 26-8-1974, Cục Tácchiến Bộ Tổng Tham mưu hoàn thành xong bản Đề cương kế hoạch giành thắng lợi

ở miền Nam

Ngày 30-9-1974, Bộ Chính trị cùng với Quân uỷ Trung ương họp Hội nghịbàn về chủ trương giải phóng miền Nam Bộ Chính trị nhất trí duyệt kế hoạch chiếnlược do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị, với quyết tâm hoàn thành sự nghiệp giải phóngmiền Nam trong hai năm 1975 - 1976 Tiếp theo, từ ngày 18-12-1974 đến 8-1-1975,

Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng, nhằm thảo luận để đi đến quyết tâm chiến lượclần cuối cùng, đánh giá đúng tình hình, nắm vững thời cơ chiến lược và hạ quyết tâm:

“Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 2 năm 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta Tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị tạo điều kiện chín muồi tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam Việt Nam Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975” [32, tr.169].

Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng đang tiến hành thì nhận được tin chiến thắng ởPhước Long (6-1-1975) Chiến thắng Phước Long và tình hình chiến sự sau PhướcLong giúp Bộ Chính trị củng cố thêm quyết tâm chiến lược, bổ sung và hoàn chỉnh

kế hoạch 2 năm (1975-1976) hoàn thành giải phóng miền Nam, được đề ra từ Hội

nghị Bộ Chính trị (30-9-1974) Hội nghị nhất trí nhận định: “Chúng ta đang đứng

Trang 32

trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có thể có điều kiện đầy đủ về quân sự

và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay, để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, để tiến tới hòa bình thống nhất

Tổ Quốc” [9, tr.279].

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, thời cơ chiến lược đó, kịp thời phát

hiện những nhân tố thắng lợi mới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm: “Động viên nổ lực lớn

nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975 - 1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khuẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam” [9, tr.279].

Quyết tâm trên đây được thể hiện cụ thể trong kế hoạch chiến lược hai năm1975-1976: Năm 1975, tranh thủ thời cơ, bất ngờ tiến công địch trên quy mô lớn,rộng khắp, tạo điều kiện đến năm 1976 tiến hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa,giải phóng hoàn toàn miền Nam

Ngoài kế hoạch chiến lược hai năm, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án

mới và một phương hướng hành động quan trọng trong hai năm là: “Nếu thời cơ đến

vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975 Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ thực hiện tổng công kích – tổng khởi nghĩa, đánh thắng nhanh nhất để đỡ thiệt hại người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt những công trình kinh tế, văn hóa…giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh” [9, tr.280].

Hội nghị cũng chỉ rõ nhiệm vụ từng chiến trường trong năm 1975 Chiếntrường Nam Bộ có ba nhiệm vụ quan trọng: Đánh quân chủ lực ngụy; vây ép mạnh

Mỹ Tho và Sài Gòn Chiến trường Khu V, Tây Nguyên đánh trận mở đầu chiếm Buôn

Ma Thuột, thọc thẳng xuống Tuy Hòa, cắt Khu V ra làm đôi, tạo thêm một hướngnữa vây ép Sài Gòn Chiến trường Trị - Thiên đánh chiếm đồng bằng, chia cắt Huế

và Đà Nẵng “Kế hoạch tiếp theo cho năm 1976 sẽ do kết quả thực hiên kế hoạch

năm 1975 quyết định Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975 Điều đó là một khả năng hiện thực” [9, tr.280].

Trang 33

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của chiến trường, ngay trong cuộc họp ngày25-3-1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 241-NQ/TW về việc thành lập Hộiđồng chi viện miền Nam, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, Ủy viên BộChính trị Lê Thanh Nghị làm Phó Chủ tịch Nhiệm vụ của hội đồng là: quyết địnhnhững chủ trương, kế hoạch, biện pháp chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc việc động viên, vậnchuyển sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho chiến trường;giải quyết các vấn đề về tiếp quản vùng mới giải phóng; chỉ đạo phối hợp các ngành,các địa phương thực hiện kế hoạch chi viện cho miền Nam một cách tích cực và hiệuquả nhất.

Cũng tại cuộc họp này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mởchiến dịch giải phóng Đà Nẵng (mặt trận Quảng – Đà) với mật danh Mặt trận 475,nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch co cụm tại đây, tạo thuận lợi cho quân và dân tađánh đòn quyết định cuối cùng giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam

Hội nghị Bộ Chính trị của Đảng cuối năm 1974, đầu năm 1975 có ý nghĩa lịch

sử trọng đại Hội nghị đã phân tích, đánh giá chính xác sự phát triển của tình hình, đề

ra phương hướng hành động đúng đắn, thể hiện quyết tâm chiến lược cao giải phóngmiền Nam khi thời cơ lớn đến Đó thực sự là ngọn đuốc soi đường dẫn đến đại thắngcủa cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

2.2.2 Chiến dịch Tây Nguyên

Tây Nguyên có vị trí chiến lược rất quan trọng Đó là vùng cao nguyên nhưnglại có độ cao chênh lệch không đáng kể, thuận lợi cho làm đường chiến dịch, các binhkhí kĩ thuật của ta cơ động thuận tiện và phát huy được sức mạnh, có nhiều khả năng

để quân ta phát triển xuống phía Nam và phía Đông, thực hiện chia cắt lực lượngđịch Lợi dụng điều kiện đó Mĩ - Ngụy đã biến nơi đây thành một căn cứ chiến lượclớn, hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương, ngăn chặn sựchi viện của ta từ miền Bắc vào và từ rừng núi xuống đồng bằng Khu V

“Lực lượng địch ở Tây Nguyên có Sư đoàn bộ binh 23, bảy tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn, 230 khẩu pháo, 150 máy bay thuộc Quân đoàn 2 - Quân khu 2, Quân đoàn 3 - Quân khu 3, Quân đoàn 4 - Quân khu 4 Nhìn chung, địch bố trí lực lượng mạnh ở khu vực phía bắc Tây Nguyên, còn khu vực phía nam được coi như hậu phương, nên chúng bố trí lực lượng mỏng hơn” [13, tr.342].

Trang 34

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị về giải phóng miền Nam trong năm

1975, tháng 1-1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp quán triệt và quyết định

mở Chiến dịch Tây Nguyên (mang mật danh A275), nhằm tiêu diệt một bộ phận quantrọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh nam Tây Nguyên (Đắc Lắc, Phú Bổn, QuảngĐức), thực hiện chia cắt chiến lược và tạo thế chiến lược mới trên chiến trường toànmiền Nam Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến lược mở đầu cho chiến cuộc

Buôn Ma Thuột không phải là một vị trí quân sự mạnh như Plây-cu, khôngphải là đầu não quân sự ở Tây Nguyên, nhưng Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị,văn hóa của Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng; nó yếu hơn Plây-cu, nhưnglại rất hiểm Mà một nguyên tắc quân sự trong chọn mục tiêu tiến công là yếu vàhiểm Ta có thể nhanh chóng đánh chiếm và khi đã giải phóng được Buôn Ma Thuộtthì sẽ làm rung động cả Tây Nguyên, ảnh hưởng trực tiếp đến cả vùng đồng bằng venbiển Nam Trung Bộ và cả phía Bắc, Tây Bắc Sài Gòn

Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, ta phán đoán, dự kiến một số tình huống và

có kế hoạch xử lý Bởi muốn giành được chủ động thì không thể chủ quan, sơ sài.Phải bày tất cả các tình tiết, mâu thuẫn của màn diễn lên bàn, lên bản đồ, phải gạn lọctình huống, hạn chế, loại trừ mâu thuẫn để đi đến khả năng thực hiện Về mặt chiếnlược, ta có thể hạn chế và loại trừ tình huống địch đưa quân cấp sư đoàn tăng cườngcho Tây Nguyên Để làm được việc đó khi ta định giải phóng Tây Nguyên, phải kìmđịch ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn là hai đầu Nam Bắc chiến tuyến để bảo đảm choTây Nguyên hoạt động thắng lợi

“14 giờ ngày 28-2-1975, trận đánh nghi binh lừa địch mở màn Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975 bắt đầu Bộ tư lệnh chiến dịch do Trung tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy Lực lượng tham gia chiến dịch có

5 sư đoàn bộ binh (10, 320, 316, 3 và 968), 4 trung đoàn pháo binh độc lập (25, 95B,

271, 95), Trung đoàn 198 và 2 tiểu đoàn đặc công (14, 27), 2 trung đoàn pháo binh (40, 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), Trung đoàn Tăng-Thiết giáp

273, hai trung đoàn công binh (7, 575), Trung đoàn thông tin 29 và lực lượng vũ trang các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Đức” [17, tr.89].

Thực hiện nhiệm vụ nghi binh, tạo thế chiến dịch, đầu tháng 3-1975, Bộ Tưlệnh sử dụng Sư đoàn 968 hoạt động nghi binh ở khu vực bắc Tây Nguyên khiến Sư

Trang 35

đoàn 23 địch phải chuyển một bộ phận lực lượng từ Buôn Ma Thuột lên Kon Tum,Plây-cu đối phó Theo kế hoạch, ngày 4-3, bộ đội ta chính thức nổ súng mở Chiếndịch Tây Nguyên Từ ngày 4 đến 9-3, quân ta đánh cắt giao thông trên các đường số

19, 21, cô lập Tây Nguyên với vùng duyên hải miền Trung, chia cắt đường số 14 để

cô lập hai khu vực bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên; tiến công lần lượt đánhchiếm quận lỵ Thuần Mẫn (8-3), Đức Lập (9-3), cô lập triệt để Buôn Ma Thuột Thừathắng, trong 2 ngày 10 và 11-3, quân ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, đánh thắngtrận then chốt số 1 của chiến dịch Tiếp đó, từ ngày 14 đến 18-3, ta đập tan cuộc phảnkích của Sư đoàn 23 trong trận Nông Trại - Chư Cúc con đường quan trọng thứ hainối đồng bằng với Tây Nguyên

Đêm ngày 4 rạng sáng ngày 5-3-1975, Trung đoàn 25 phục kích trên đường

21, tiêu diệt 8 xe trong đoàn xe 15 chiếc của Trung đoàn 45 ngụy từ Plây-cu về Buôn

Ma Thuột 7 xe còn lại quay đầu chạy về Plây-cu, trong đó có tên đại tá Vũ Thế Quang

sư đoàn phó Sư đoàn 24 của địch Ta đã làm chủ đoạn đường ở phía đông Chư Cúc.Tập đoàn địch phòng ngự ở Tây Nguyên bị cắt rời khỏi đồng bằng Khu V Trên đường

14, Sư đoàn 320 của ta đưa Trung đoàn 9 ra phục kích ở đoạn nam cầu Ea Hleo Đây

là lần đầu tiên trong một chiến dịch, quân đội ta sử dụng tới 2 sư đoàn, 2 trung đoàn

bộ binh làm nhiệm vụ đánh cắt giao thông Sau 2 ngày 4 và 5-3-1975, ta đã cắt đứt 3đường bộ chủ yếu (đường số 14, 19 và 21) và nghi binh căng kéo địch có hiệu quả;chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng Trung Bộ, Nam và Bắc Tây Nguyên; bao vây và

cô lập thị xã Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện cho các đơn vị hoàn thành công tác chuẩn

bị, nổ súng đúng kế hoạch… thực hiện thắng lợi trận then chốt thứ 2

Trước khi đi chuẩn bị chiến dịch, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã dặn Tư

lệnh Mặt trận: “Nếu ta đánh mạnh, thắng lớn ở Tây Nguyên thì địch có thể co về giữ

đồng bằng” [13, tr.345] Tâm đắc điều này, Quân ủy Trung ương thấy rằng phán đoán

của Tổng Tư lệnh thể hiện một nhãn quan chiến lược thật tài tình Và thế là Sư đoàn

320 được tăng cường Trung đoàn 95B, một tiểu đoàn thiết giáp và một bộ phận pháobinh nhanh chóng chặn địch rút chạy trên đường 14 khu vực gần tiếp giáp với đường

7 Khi nhận được lệnh, đại bộ phận sư đoàn đang đứng chân ở khu vực Cẩm Ga trênđường số 14 cách Cheo Reo khoảng 50 km đã đưa Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 nhanh

chóng vượt lên trước bằng “đôi chân vạn dặm” để chặn địch.

Trang 36

Đúng như dự định của Quân ủy Trung ương, từ chỗ chủ quan lúc đầu, sau khi

bị những đòn bất ngờ, địch đã hoảng loạn và từ đó nảy sinh những sai lầm về chiếnlược Sáng ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu đến Cam Ranh, ra lệnh cho PhạmVăn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy, rút khỏi Plâycu – KomTum và toàn bộ TâyNguyên về giữ vùng duyên hải Nam Trung Bộ

Ngày 16-3-1975, bộ đội chủ lực của ta được lệnh nhanh chóng cơ động lựclượng truy kích quân địch rút chạy trên Đường số 7, sau đó phối hợp với bộ đội địaphương, chặn đánh tiêu diệt chúng ở Phú Bổn và Củng Sơn Chiều ngày 17-3, Tiểuđoàn 9 đã ra đến đường 7, đông Cheo Reo 4 km, xây dựng một điểm chốt cắt ngangđội hình địch Một khối lượng lớn quân địch buộc phải cụm lại ở Cheo Reo, PhúThiện Chủ lực ta ở phía sau có pháo binh và thiết giáp hỗ trợ nhanh chóng bám sátđịch, triển khai đội hình tiến công, đập tan cụm quân này vào các ngày 18-3 và 19-3.Đồng thời Bộ tư lệnh Mặt trận điện cho Quân khu V cho lực lượng địa phương PhúYên ra chặn địch rút chạy từ Plây-cu về Tuy Hòa Trong khi Sư đoàn 5 của Quân khu

V phối hợp đánh địch ở đèo An Khê và sau đó Trung đoàn 95A đánh Sư đoàn 22 địch

ở Phú Phong, thì trung đoàn địa phương của Bình Định lợi dụng thời cơ vào giảiphóng thị xã Quy Nhơn

Ở phía tây Plây-cu, sở chỉ huy sư đoàn với mật danh là “Bộ Tư lệnh B3” tăng

các phiên liên lạc bằng vô tuyến điện và tăng thời lượng các bức điện chỉ đạo tácchiến cho "Sư đoàn 10" và "Sư đoàn 320" Các máy bay của địch liên tục quần thảo

ở tây Plây-cu để định vị các đài vô tuyến điện và xác định vị trí sở chỉ huy của ta.Máy bay B57 đánh bom tọa độ vào các khu vực nghi có lực lượng ta Có lần, chúng

đã đánh trúng sở chỉ huy sư đoàn ở khu vực Đức Cơ Cùng với hệ thống thông tin vôtuyến điện của 2 sư đoàn để lại nguyên như cũ với tần suất liên lạc của mạng thôngtin vô tuyến điện của Sư đoàn 968 tăng lên, địch càng tin chắc mục tiêu của quân

ta Xuân 1975 là Bắc Tây Nguyên Sau này tướng Mỹ Tim-mét, cố vấn của Nguyễn

Văn Thiệu phải thú nhận: “Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt Cộng

đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của Quân khu 2 ở Kon Tum và Plây-cu” [13, tr.348].

Đến ngày 24-3-1975, toàn bộ quân địch rút khỏi Tây Nguyên Chiến dịch TâyNguyên kết thúc thắng lợi Lực lượng Quân đoàn 2 ngụy trấn giữ trên vùng này hoàn

Trang 37

toàn bị tiêu diệt Ta giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược hết sứcquan trọng.

Chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân

1975 thắng lợi vang dội có ý nghĩa to lớn cả về chính trị và quân sự Chiến dịch này

đã tạo nên một lỗ hổng rất lớn trong tuyến phòng thủ quân sự của Quân lực Việt NamCộng hòa tại địa bàn Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Quân lực Việt Nam Cộng hòa Chiếndịch này mở đầu cho những thất bại quân sự khó có thể cứu vãn nổi, cùng với nhữngsai lầm có tính chiến lược trong phương án và cách thức điều quân, phối trí lại lựclượng của các cấp chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hoà mà đứng đầu là tổng thốngNguyễn Văn Thiệu, chiến dịch này đã tạo nên những đột biến lớn trên chiến trường

mở đầu cho sự thất bại và tan rã toàn diện của Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam ViệtNam chỉ trong 55 ngày mùa xuân năm 1975, dẫn đến sự chấm dứt Chiến tranh ViệtNam (1954 - 1975) và tái thống nhất Việt Nam sau 21 năm bị chia cắt Cuộc chiến

tranh cách mạng của nhân dân ta từ đây chuyển sang một giai đoạn mới, từ tiến công

chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền

Nam

2.2.3 Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và cuộc tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ

2.2.3.1 Chủ trương của Khu ủy khu V, và của Tỉnh ủy Quảng Nam

Tháng 5-1973, Hội nghị Bộ Chính trị đã nhận định xu hướng Mĩ - Ngụy chốngphá Hiệp định Paris ngày càng tăng; ta có khuyết điểm và sơ hở trong chủ trương kịpthời với hành động của địch phá hoại hiệp định, nên chúng đã lấn chiếm và bình địnhđược một số vùng, gây cho ta những khó khăn nhất định Tháng 7-1973, Hội nghị lần

thứ 21 ban chấp hành Trung ương Đảng phê phán những biểu hiện “lừng chừng”,

“Hữu khuynh trong việc đối phó của địch” Không đánh giá hết âm mưu phá hoại

Hiệp định của địch, do quá nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp dân tộc… nên trên một

số địa bàn quan trọng ta bị mất đất, mất dân Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bảncủa cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là tiếp tục thực hiện chiến lược cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong bất cứ tình hình nào cũng phải tiếp tục conđường cách mạng bạo lực phải nắm vững chiến lược tấn công Nhiệm vụ trước mắt

là giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, kiên quyết phản công và tiến

Trang 38

công địch Kết hợp chặt chẽ trên cả 3 mặt trận đấu tranh; quân sự, chính trị và ngoạigiao để đưa cách mạng miền Nam tiến lên.

Nghị quyết 21 mở ra con đường đưa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miềnNam tiến sang giai đoạn cuối cùng cuộc chiến tranh, cách mạng giải phóng hoàn toànmiền Nam Mùa xuân năm 1975, trên chiến trường miền Nam, thế và lực của quân

và dân ta lớn mạnh hơn bao giờ hết Tuy vẫn còn nhiều khó khăn, gian khổ, song conđường giải phóng toàn miền Nam, thống nhất đất nước đang mở rộng Thực hiệnNghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 10-1974 và nhiệm vụ quân sự năm 1975 của Khu

ủy Khu V Tỉnh Quảng Nam và Tam Kỳ đã kịp thời chuẩn bị mọi mặt để bước vàotrận chiến đấu mới

Sau khi có nghị quyết 21 của Trung ương Đảng; Tháng 8-1973, đồng chí VõChí Công – Bí thư Khu ủy khu V đã triệu tập Ban Thường vụ Đặc khu ủy Quảng Đà

để truyền đạt tinh thần Hội nghị Trung ương 21 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ đểđưa phong trào đấu tranh ở Quảng Nam và Đà Nẵng phát triển kịp với tình hình mới

Bộ máy tổ chức cán bộ, các lực lượng quân đội, biệt động, tự vệ được phục hồi và

củng cố vị trí như trước khi ký Hiệp định Paris Khu ủy V đã họp và xác định: “địch

đánh phá, lấn chiếm vùng ta thì ta kiên quyết phản công và tiến công lại” Hội nghị

xác định nhiệm vụ trung tâm là: “Ra sức đánh bại kế hoạch lấn chiếm bình định của

địch, dành dân giữ dân mở rộng quyền làm chủ phát triển thực lực của ta Khu ủy chỉ

rõ hướng tấn công chủ yếu là nhằm vào vùng tranh chấp và vùng địch tạm chiếm Ngay sau đó, các đơn vị tập trung của huyện, thị, tỉnh Quảng Nam và Quân khu V được lệnh trở lại đồng bằng cài vào vùng ven và thọc sâu vào lòng địch, hỗ trợ cho”

[27, tr.600] Thường vụ Khu ủy xác định các phương án giải phóng Đà Nẵng, đồng

thời chỉ thị cho Đặc khu Quảng Đà tích cực chuẩn bị mọi mặt cho giải phóng ĐàNẵng với quyết tâm: dù phương án nào cũng phải làm cho địch tan rã tại chỗ; không

để địch co cụm về Sài Gòn; không để địch ép dân đi vào phía Nam; bảo vệ thành phốnguyên vẹn, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân Chủ trương nêu trên thể hiệntính chủ động, nhạy bén của Khu ủy, Quân khu ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu V là cơ sởquan trọng để chiến dịch giải phóng Đà Nẵng giành thắng lợi cao nhất trong thời gianngắn nhất

Đầu tháng 2-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định lấy thị xãBuôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu cho trận then chốt mở màn chiến dịch tổng tiến

Trang 39

công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 Quân khu V đảm nhận ở chiến dịch Tiên Tam Kỳ nhằm phối hợp với hoạt động tiến công của chủ lực Bộ Tư lệnh ở TâyNguyên.

Phước-Tỉnh ủy Quảng Nam chủ trương huy động lực lượng của tỉnh cùng với lực lượng địaphương Thăng Bình, Tam Kỳ tiêu diệt địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóngcác xã vùng Đông Thăng Bình, Bắc Tam Kỳ, tạo thế bao vây uy hiếp phía Đông tỉnh

lỵ Quảng Tín Phối hợp với chiến trường Quảng Nam, các lực lượng Quảng Đà đẩymạnh đánh phá cắt đứt các trục giao thông, giải phóng trung Duy Xuyên, đông GòNổi, vùng A, B Điện Bàn, tạo thế bao vây uy hiếp địch ở thị trấn Vĩnh Điện, đẩymạnh các hoạt động trong vùng địch và thành phố Đà Nẵng

Đầu tháng 2-1975, Tỉnh ủy Quảng Nam họp tại thôn 1 Phước Sơn (Tiên Phước) raNghị quyết: Động viên sự nổ lực lớn nhất của Đảng bộ, của lực lượng vũ trang, củanhân dân các dân tộc trong tỉnh với quân chủ lực quân khu, thực hiện mục tiêu tiêudiệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giảiphóng quận lỵ Tiên Phước – Phước Lâm và các xã vùng đông và tây Tam kỳ, bắcTam Kỳ tạo thế bao vây tỉnh lỵ Quảng Tín

Trên hướng Quảng Nam - Quảng Ngãi, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu Vquyết định chọn hướng tiến công vào Tiên Phước, Phước Lâm, tây Quảng Nam, sau

đó dòn lực lượng mở cuộc tấn công giải phóng thị xã Tam Kỳ Đây là hướng địch bốphòng tương đối mạnh, nhưng rất hiểm yếu Vì khi thị xã Tam Kỳ và căn cứ Chu Lai

bị đánh chiếm, đoạn Đường 1 dài mấy chục ki-lô-mét bị ta chốt giữ, Đà Nẵng hoàntoàn bị cô lập, buộc Sư đoàn 2 địch phải hành quân ra đối phó Chiến thắng PhướcLâm đã tạo ra thời cơ mới, từ đây ta tập trung lực lượng chủ yếu tiến công đánh chiếmthị xã Tam Kỳ, uy hiếp thành phố Đà Nẵng từ hướng nam Thực tiễn diễn biến chiếndịch đã chứng minh phương án trên là hoàn toàn đúng, sáng tạo, táo bạo, có tầm nhìnchiến lược, một kế hay

“Ngày 20-3-1975 trước tình thế ngày càng có lợi cho cách mạng, khi toàn bộcác cơ quan đầu não của địch ở Quảng Tín đều bị tiêu diệt, Bộ Tư lệnh tiền phươngQuân khu V quyết định giải phóng thị xã Tam Kỳ trong ngày 24-3-1975” [27, tr.613].Nhân dân Tam Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, thực hiện chủ trương của Khu ủykhu V, chủ trương của tỉnh ủy Quảng Nam đã làm nên lịch sử Thị xã Tam Kỳ hoàn

Trang 40

toàn được giải phóng, tạo điều kiện cho quân ta tiến tới giải phóng thành phố ĐàNẵng Góp phần tạo điều kiện giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

2.2.3.2 Tam Kỳ tích cực chuẩn bị lực lượng giải phóng quê hương

Địch đánh ta, ta phải đánh lại Đó là đạo lý thông thường Nếu làm khác đimới là sai, mới có tội với lịch sử, sai quy luật Tiếp thu tinh thần này Thị ủy Tam kỳtập trung sức lãnh đạo khắc phục những khó khăn, phải xác định nhiệm vụ trọng tâmhàng đầu là đánh địch lấn chiếm; đẩy mạnh hơn nữa công tác vùng địch; vùng đô thị ;tất cả các lực lượng vũ trang người huấn luyện, sản xuất quay trở lại làm nhiệm vụchiến đấu; các đội công tác, du kích xã, phường quay lại bám cơ sở, bám dân, nắm

và tiêu diệt một số tên có nhiều nợ máu với nhân dân, truy lùng bọn bình định nôngthôn; khai thông hành lang cửa khẩu, mở rộng giao lưu hàng hóa…

Ngay sau khi trở lại địa bàn chống lấn chiếm, các lực lượng vũ trang ta nhanhchóng nắm quyền chủ động đánh địch, địch đã phải rút bỏ các chốt điểm nằm sâutrong vùng ta kiểm soát hoặc co cụm lại để chi viện cho nhau Phong trào du kíchchiến tranh dần dần được khôi phục, thế cài răng lược từng bước được phục hồi Cácđội công tác, du kích bám vào dân, xây dựng phát triển cơ sở cách mạng ngay trongvùng địch đang kiểm soát, củng cố xây dựng lại phong trào, từng bước ổn định thếtrận chiến tranh du kích, từng bước thu hẹp vùng bị địch chiếm đóng trái phép

Tại khu vực nội ô Tam Kỳ, ta đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận Tập hợp,phát động các tầng lớp nhân dân tổ chức các hình thức đấu tranh đa dạng như mít tinhmừng hòa bình rồi nâng lên đấu tranh bảo vệ hòa bình, nâng cao khí thế chính trị củaquần chúng, đòi địch triệt để thực hiện việc ngừng bắn, thực hiện các quyền tự do dânchủ đã ghi trong Hiệp định Gây quan hệ bình thường, đi lại giữa vùng ta và vùngđịch, đòi cải thiện đời sống cho công nhân lao động, gia đình binh lính

Để tăng cường hơn nữa phong trào đấu tranh của đồng bào đô thị Tam Kỳ,Ban thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam điều đồng chí Nguyễn Xuân Lanh (Trường Sơn)

về bổ sung vào Ban chấp hành Thị ủy Tam Kỳ Hầu hết các ngành then chốt ở thị xãTam Kỳ như điện, vận tải, lò gạch, thợ nề đều có tổ chức công vận Dù địch đánh phá

ác liệt, các tổ chức này vẫn đảm bảo bí mật, liên tục xây dựng lực lượng, lập quỹ nuôiquân, tuyên truyền thắng lợi của ta, thất bại của địch, gây hoang mang trong hàng ngũcủa địch Tiêu biểu như cuộc đấu tranh chống bắt người do nghiệp đoàn vận tải về

Ngày đăng: 19/05/2021, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w