Lịch sử vấn đề Liên quan đến nội dung của đề tài đã có các công trình nghiên cứu sau: Cuốn “Quảng Nam - Đà Nẵng 30 năm chiến đấu và chiến thắng” – Tập 1, 2 xuất bản năm 1985, 1988 đã tr
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
: Mặt trận Quảng Nam - Nẵng trong chiến cuộc ông Xuân 1953-1954 và chiến dịch ện Biên Phủ 1954
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hương Thủy Chuyên ngành : Sư phạm Lịch sử
Ngườ hư ng n : ThS Nguyễn Mạnh Hồng
Đà Nẵng tháng 5 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích 3
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 3
7 Bố cục của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT – CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUÂN DÂN QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 4
1.1 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.1 Địa lí hành chính 4
1.1.2 Địa lí tự nhiên 5
1.2 Đời sống của cư dân Quảng Nam - Đà Nẵng 8
1.2.1 Đời sống kinh tế 8
1.2.2 Đời sống văn hóa 11
1.3 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng 14
1.3.1 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng trước năm 1945 14
1.3.2 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng sau năm 1945 21
Chương 2: MẶT TRẬN QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954 26
2.1 Đặc điểm, tình hình mặt trận trong nước trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 26
2.1.1 Đặc điểm, tình hình trong nước 26
2.1.2 Đặc điểm, tình hình tại mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng 28
2.2 Mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 32
2.2.1.Xây dựng lực lượng vũ trang chính quy 32
2.2.2 Đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng hậu phương vững chắc 34
Trang 32.2.3 Đẩy mạnh tiến công, phối hợp với chiến trường toàn quốc trong chiến cuộc
Đông Xuân 1953-1954 41
2.2.3.1 Chủ động tấn công chiến lược tiêu diệt địch trên toàn địa bàn 41
2.2.3.2 Phát huy sức mạnh tấn công và phối hợp với toàn quốc trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 45
2.2.3.3 Kết quả, ý nghĩa của chiến lược 49
2.3 Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 51
2.3.1 Công tác phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ trên mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng năm 1954 51
2.3.2 Kết hợp giữa chiến tranh du kích và đấu tranh cách mạng, liên tiếp bùng nổ những trận tấn công lớn, phối hợi với cả nước thực hiện chiến dịch Điện Biên Phủ trên đất Quảng Nam - Đà Nẵng 54
2.3.3 Chiến thắng Bồ Bồ - một chiến dịch Điện Biên Phủ trên đất Quảng Nam - Đà Nẵng 58
2.4 Những đóng góp của mặt trận Quảng Đà trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 62
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng không chỉ là nơi có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ của miền Trung Việt Nam mà còn là cửa ngõ của cả Đông Dương Chính vì địa thế quan trọng mà hết thực dân Pháp đến đế quốc Mĩ đều chọn mảnh đất Quảng Nam - Đà Nẵng làm nơi nổ súng xâm lược đầu tiên
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc bằng Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, thắng lợi
đó là kết quả cuộc chiến đấu trường kỳ của quân dân cả nước trong đó mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵngđã có những đóng góp quan trọng
Tháng 5 năm 1953, Nava sang Việt Nam làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp đã đưa
ra kế hoạch mang chính tên mình – kế hoạch Nava với hi vọng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính đã mất, dựa vào sự hỗ trợ về trang thiết bị vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mĩ, Nava đã dốc toàn lực cho một trận đánh chiến lược quyết định nhằm tiêu diệt cách mạng, nhanh chóng kết thúc chiến tranh tại Việt Nam và Đông Dương Để đối phó với âm mưa của thực dân Pháp và bọn can thiệp Mĩ, đồng thời phá tan cố gắng cuối cùng trong kế hoạch Nava,Bộ chính trị và Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương và phương án tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954
Thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng và Quân ủy Trung ương ta đã mở các cuộc tấn công ở nhiều địa điểm khác nhau nhằm phân tán lực lượng địch và phá tan kế hoạch Nava Trong các cuộc tấn công đó, mặt trậnQuảng Nam - Đà Nẵng có vai trò cực
kì quan trọng,tiêu hao, tiêu diệt, kìm chân địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực
cơ động ta đánh những đòn quyết định trên từng hướng chiến dịch, góp phần làm thay đổi cục diện chuyển hướng có lợi cho ta
Là người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương anh hùng giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, với mong muốn tìm hiểu về lịch sử, về quá khứ hào hùng của
quê hương mình, chúng tôi chọn đề tài “Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng trong chiến
cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954”
Trang 52 Lịch sử vấn đề
Liên quan đến nội dung của đề tài đã có các công trình nghiên cứu sau:
Cuốn “Quảng Nam - Đà Nẵng 30 năm chiến đấu và chiến thắng” – Tập 1, 2 xuất
bản năm 1985, 1988 đã trình bày được những nét cơ bản về đất nước, con người và truyền thống yêu nước đấu tranh của quân và dân Quảng - Đà, về kháng chiến giành chính quyền, giới thiệu chiến tranh nhân dân vô cùng phong phú và sinh động trong kháng chiến chống Pháp trên địa bàn tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh và sự chỉ đạo của Liên khu ủy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh quân khu V
Cuốn“Khu V – 30 năm chiến tranh giải phóng” gồm 3 tập, của Bộ tư lệnh Quân
khu V, xuất bản năm 1986 và 1989 viết về cuộc chiến tranh nhân dân, toàn diện trên địa bàn Quân khu V Tác phẩm đã nêu bật quá trình phát sinh và phát triển chiến tranh cách mạng của quân và dân Miền Trung trong đó có mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng dưới sự lãnh đạo của Đảng Làm rõ đường lối cách mạng, tiến trình lịch sử tại các địa phương trong quá trình tác chiến cũng như đấu tranh quần chúng ở vùng sau lưng địch, các sự kiện lịch sử, những trận đánh của quân và nhân dân các tỉnh thành
Hồi kí: “Những năm tháng đời tôi” của trung tướng Phan Hoan, xuất bản năm
2004, đã mô tả một phần lịch sử chiến đấu của quân và dân miền Trung Hồi kí đã nêu bật ý chí, nghị lực chiến đấu cao trong những năm tháng còn trong quân ngũ trên nhiều chiến trường miền Trung, đặc biệt là trên quê hương Quảng Nam của ông Kể về những trận đánh ác liệt, những giờ phút quyết liệt căng thẳng, sống mái với quân thù được tái hiện một cách sinh động qua trí nhớ của Trung tướng, đồng thời nói lên sự gắn bó kéo sơn của cán bộ quân sự và nhân dân tại mảnh đất miền Trung
Cuốn “Lịch sử tiểu đoàn 29 Quảng Nam - Đà Nẵng” của Đảng ủy – Bộ chỉ huy
quân sự tỉnh Quảng Nam, xuất bản năm 1999 Tác phẩm đã tái hiện lại một cách sinh động không khí chiến trường, tinh thần chiến đấu gan dạ “vì nước quen thân, vì dân phục vụ” của nhiều tập thể, cán bộ chiến sĩ trong tiểu đoàn cũng như nhiều các tiểu đoàn khác Chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng đã được miêu tả và tái hiện lại trong suốt quá trình tiểu đoàn thành lập và hoạt động
Các công trình trên đây đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc chiến đấu của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng trong giai đoạn 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 Đây là nguồn tư liệu quý giá giúp tôi thực hiện và hoàn thành đề tài mà mình
đã chọn
3 Đố tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động của lực lượng vũ trang và nhân dân tại mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Trang 63.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quân sự và các trận đánh tiêu biểu của quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng, sự đóng góp của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biện Phủ 1954
4 Mục đích
Sưu tầm, tập hợp các công trình đã có nhằm làm rõ các hoạt động của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng và đóng góp của họ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1953 và chiến địch Điện Biên Phủ 1954
Góp phần giáo dục lịch sử quê hương mình cho các thế hệ sau này
5 Nguồn tư l ệu và phương pháp ngh ên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nguồn tư liệu trong sách chuyên khảo, các văn kiện Đảng, các tài liệu sách báo có liên quan, các tạp chí nghiên cứu lịch
sử, tạp chí cộng sản và các tài liệu tham khảo khác
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nghiên cứu lịch sử Ngoài ra chúng tôicòn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để xem xét, trình bài vấn đề một cách chi tiết và cụ thể Dùng phương pháp lôgic
và điều tra để nhìn nhận một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề theo trình tự thời gian
6 Đóng góp của đề tài
Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu, mong muốn của chúng tôi là góp phần làm sáng tỏ lịch sử địa phương trong cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Thông qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp cho bản thân hiểu sâu sắc hơn về nội dung của lịch sửđịa phương quê mình đang sinh sống Mong muốn của chúng tôi là kết quả của
đề tàilà tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạysau này và là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
7 Bố cục của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung có 2 chương
Chương 1: Tổng quan về vùng đất - con người và truyền thống đấu tranh cách mạng của quân dân Quảng Nam - Đà Nẵng
Chương 2: Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Trang 7NỘI DUNG Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT – CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA QUÂN DÂN QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG
1.1 Điều kiện tự nhiên
1307, Châu Ô và Châu Lý được đổi thành Châu Thuận và Châu Hòa từ đó mảnh đất Quảng Nam – Đà Nẵng xưa chính là Châu Thuận và Châu Hòa” [13; tr.11] năm 1471, vua nhà Lê (Lê Thánh Tông) trực tiếp chỉ huy hai sáu vạn quân đi trừng phạt quân Chiêm, thu phục vùng đất từ phía Bắc Quảng Nam đến đèo Cả (ranh giới giữa tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay) và ra Thừa Tuyên Đạo – Quảng Nam (Đạo thứ mười ba của Đại Việt)
Năm 1520 vua Lê đổi Quảng Nam Thừa Tuyên thành trấn Quảng Nam Đến năm
1602, Nguyễn Hoàng đổi trấn Quảng Nam thành dinh Quảng Nam và sở lị dinh Quảng Nam đựng tại lành Thanh Chiêm (nay là xã Điện Phương huyện Điện Bàn), năm 1806 Gia Long đổi tên là “Trực lộ Quảng Nam dinh” Năm 1833 vua Minh Mạng đổi tên thành
“tỉnh Quảng Nam” và di dời thành tỉnh từ làng Thanh Chiêm ra làng La Qua (nay là thị trấn Vĩnh Điện - Điện Bàn)
Như vậy, từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XV Quảng Nam – Đà Nẵng là miền “biên viễn phiên dậu” phía nam của đất Việt Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX là pháo đài trấn thủ phía nam kinh thành Huế, là yết hầu miền Thuận – Quảng
Trong thời kì thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất từ tháng 9 năm 1858 đến tháng 8 năm 1945, do việc kí kết các bản hòa ước của triều đình nhà Nguyễn với Pháp, chấp nhận sự thống trị của thực dân trên đất nước ta, vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng tạm thời bị tách ra “19/09/1905 toàn quyền Đông Dương kí nghị định tách Đà Nẵng
Trang 8ra khỏi Quảng Nam” tước đoạt mảnh đất này và đặt tên là “Tua-ran” (Touran)[10, tr.11].Phần đất còn lại của tỉnh Quảng Nam, thực dân Pháp vẫn duy trì bộ máy phong kiến Nam triều, đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước bảo hộ do một viên công sứ đứng đầu
Đến sau cách mạng tháng Tám năm 1945 chủ quyền đất nước thuộc về nhân dân ta
“Tua-ran” không còn là nhượng địa của Pháp mà trở về với tên cũ là Đà Nẵng lấy tên là Thành Thái Phiên thuộc Quảng Nam – Đà Nẵng, nhưng cũng có lúc tách ra thuộc Khu
Ủy khu V Trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước Quảng Nam – Đà Nẵng vẫn là một tỉnh, nhưng đến 1962, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, Khu Ủy Khu V lại quyết định chia Quảng Nam – Đà Nẵng thành hai tỉnh Tỉnh Quảng Nam từ Quế Sơn trở vào giáp với tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Đà từ Duy Xuyên trở ra giáp với Thừa Thiên Huế Đến 1965 thì Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Đà và trực thuộc khu ủy khu V Tháng 7 năm 1967 để chuẩn bị cho tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 Khu
ủy khu V quyết định xác nhập tỉnh Quảng Đà vào thành phố Đà Nẵng thành đặc khu Quảng Đà
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn thống nhất, Đà Nẵng được giải phóng tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà lại được xác nhập thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng
Đến năm 1997 thì Quốc hội khóa XIX quyết địnhtách Đà Nẵng ra khỏi Quảng Nam - Đà Nẵng thành đơn vị hành chính trực thuộc trưng ương gồm một huyện và một huyện đảo Như vậy, qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử có những lúc do yêu cầu khách quan của phong trào kháng chiến và cách mạng mà tỉnh Quảng Nam đã nhiều lần tách nhập – nhập tách, nhưng nhìn chung mảnh đất Quảng Nam – Đà Nẵng vẫn là chiến trường chung,là trọng điểm của cả khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước Đặc biệt là vùng kháng chiến và hậu phương của Liên khu V
1.1.2 ịa lí tự nhiên
Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng nằm đoạn giữa của chiều dài đất nước Việt Nam vào khoảng vĩ độ 15 độ 13 phút – 16 độ 12 phút bắc, kinh độ là 107 độ 13 phút – 108 độ 44 phút Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía tây chung dãy Trường Sơn hùng vĩ với nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, phía nam là giáp với hai tỉnh Quảng Ngãi và Kom Tum, phía Đông là bờ biển trải dài trên một trăm năm mươi ki lô mét với vùng thềm lục địa bao la, trên đó có nhiều đảo có ý nghĩa rất quan trọng về kinh tế và quốc phòng Quảng Nam – Đà Nẵng rộng hơn mười hai ngàn ki lô mét vuông nhưng phần lớn
là núi rừng, đồng bằng chỉ chiếm hơn mười hai phần trăm diện tích tự nhiên Là một dãi đất hẹp, trải dài theo ven biển và khá màu mỡ Từ xưa người dân trên quê hương Quảng
Trang 9Nam – Đà Nẵng đã rất tự hào về mảnh đất quê mình, cho dù đi đâu, mỗi con người đều nhớ về quê hương, đã là dân Quảng Nam – Đà Nẵng thì luôn luôn nhớ hai câu thơ “Đất Quảng Nam chưa mưa mà đã thấm- Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say”
Quảng Nam – Đà Nẵng là một vùng đồng bằng nhỏ hẹp với diện tích đất chiếm hơn ba phần tư là núi rừng Đây là một trong những lợi thế về việc tạo dựng nên những căn cứ kháng chiến trong thời kì cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, đồng thời đây cũng là một kho lâm sản với rừng vàng biển bạc của đất nước trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng Quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng trên dãy đất miền Trung đầy nắng
và gió này là quê hương của hơn năm mươi dân tộc đồng bào ít người,từ đó đã tạo nên một bản sắc về sự đa dạng trong văn hóa tộc người của những cư dân nơi này Rừng núi chính là một thế mạnh cả về kinh tế lẫn quốc phòng của tỉnh Nơi đây, trong kháng chiến
đã không ít lần tạo nên những trận đánh vang dội của núi rừng Quảng Nam – Đà Nẵng, tạo nên thế trận “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
Vùng đồng bằng nhỏ hẹp, chạy dài theo ven biển được bồi đắp bởi những con sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn Với những ruộng đất phì nhiêu cùng sức lao động cần cù, lam lũ nhưng sáng tạo cư dân nơi đây đã tạo ra những nguồn lương thực để nuôi sống bản thân, đồng thời cũng là hậu phương sau lưng địch trong những ngày tháng kháng chiến trường kì Phần lớn sông ngòi tại đây đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn – một dãy núi huyền thoại trong lòng dân tộc, đổ xuống đồng bằng rồi chạy ra biển, lớn nhất là con sông Thu Bồn – dòng sông mang tên một nhà thơ của quê hương
Với mạng lưới giao thông đường thủy thuận lợi từ miền xuôi có thể ngược lên miền ngược hoặc từ vùng rừng núi có thể theo các dòng sông xuôi về đồng bằng Sự thuận lợi trong giao lưu có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế cũng như về mặt quân sự Các sản phẩm, hàng hóa, lâm thổ sản quý giá có thể xuôi theo các dòng sông mà ra các cửu biển để buôn bán như Cửa Đại (Hội An) hay ra cảng Đà Nẵng Đồng thời, từ đây mọi nguyên liệu cần thiết, hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng và sinh sống hàng ngày của người dân cũng sẽ được vận chuyển ngược lên theo các dòng sông Trong kháng chiến, các dòng sông chính là con đường để bộ đội và dân quân ta vận chuyển, tiếp tế, cũng như thực hiện các trận đánh lớn phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng
Quảng Nam – Đà Nẵng còn có quần đảo Hoàng Sa cách Đà Nẵng khoảng 230 kilômét và Cù Lao Chàm cách thị xã Hội An 15 ki lô mét về phía Đông Đây chính là vùng trung tâm của nghề đánh bắt thủy hải sản của vùng (đặc biệt là Cù Lao Chàm), là vị trí chiến lược quan trọng để làm chủ vùng biển nước nhà và giữ gìn từng tất đất, bờ cõi của núi sông Việt Nam ta
Trang 10Quảng Nam – Đà Nẵng với địa thế chiến lược của cả ba miền, vùng đất này từ lâu
đã hội tụ đủ cả ba vùng chiến lược mà nhiều vùng khác không thể có Đó là: rừng núi, đồng bằng ven biển và đô thị tiếp giáp liên hoàn Ở phía tây, núi rừng trùng điệp với nhiều ngọn núi cao lớn hơn 2.000mét, trong đó nhiều nhánh thuộc dãy Trường Sơn vươn
ra tận vùng đồng bằng tạo nên những thung lũng hoặc đâm ra sát biển như dãy Bạch Mã Phía đông do địa hình núi ăn lan ra sát biển tạo nên những vùng đồng bằng bị chia cắt bởi sông ngòi và đồi núi xen kẻ Sự chia cắt này đã tạo nên những điểm cao khống chế thuận lợi cho vị trí quốc phòng chiến lược cho cả ta và địch Nơi đây, đồng bằng trù phú, dân
cư đông đúc, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược
đã trở thành nơi của những phong trào chiến tranh du kích phát triển rất mạnh và là các gọng kìm tiêu diệt và giữ chân địch Về phía nam từ Quế Sơn trở vào là những thung lũng cùng với các cánh đồng rộng lớn xen kẻ với núi đồi trải dài dưới chân dãy Trường Sơn Nơi đây chính là địa bàn hoạt động của những binh đoàn chủ lực, nơi diễn ra những trận đánh hào hùng tiêu diệt địch trong kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân ta, đặc biệt là trong kháng chiến chống Mĩ - ngụy
Do địa hình bị chi phối bởi các dãy núi ăn lan ra sát biển, phía bắc có đèo Hải Vân che chắn nên thời tiết vùng Quảng Nam – Đà Nẵng không khắc nghiệt như các tỉnh khác Mùa lạnh nhiệt độ ít khi xuống thấp, các đợt ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc cũng ít Mùa nóng nhiệt độ không quá cao do không ảnh hưởng của các đợt gió tây khô nóng hay chịu ảnh hưởng của phơn Tây Nam (do được dãy Trường Sơn che chắn)
Quảng Nam – Đà Nẵng có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy rất thuận lợi Tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy dọc qua tỉnh, cùng với tuyến đường quốc lộ
ra bắc vào nam, ngoài ra còn nhiều tuyến đường lên Tây Nguyên, sang Hạ Lào và đồng bằng Cam-pu-chia đã tạo nên rất nhiều thuận lợi cho việc đi lại và lưu thông giữ các vùng miền Ngoài ra, Quảng Nam – Đà Nẵng còn có một thành phố lớn của cả khu vực miền Trung là Đà Nẵng Đây là trung tâm đầu nối giao thông thủy, bộ có sân bay lớn cùng cảng Đà Nẵng với vịnh sâu mọi tàu thuyền lớn bé đều có thể dễ dàng nêu đậu, lại có bán đảo Sơn Trà với những dãy núi cao gần 700 mét che chắn Chính vì có địa thế tự nhiên thuận lợi và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng mà trong hơn 100 năm qua hết quân đội Pháp đến đế quốc Mĩ đều chọn Đà Nẵng làm điểm đánh chiếm và tấn công đầu tiên, mở đầu cho âm mưu xâm lược Việt Nam nói chung và toàn Đông dương nói riêng
Nhìn chung về vị trí địa lí tự nhiên, Quảng Nam – Đà Nẵng là một tỉnh giàu có và
đa dạng về địa hình Thiên nhiên với nhiều vùng rừng núi hùng vĩ, hiểm trở và phứt tạp nên nó có tầm quan trọng cả nước về quốc phòng lẫn kinh tế Đây là trung tâm của cả khu vực miền Trung là một vùng đất với vị trí đía lí then chốt của Tổ quốc
Trang 111.2 Đời sống của cư ân Quảng Nam - Đà Nẵng
1.2.1 ời sống kinh tế
Nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng mang trong mình những truyền thống quý báu của cả dân tộc Việt Nam, những truyền thống quý báo đó ngày càng được nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng hun đúc trong điều kiện phải thường xuyên đối mặc với sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng như sự áp bức, bóc lột của các thế lực phong kiến và thực dân xâm lược Với bản chất cần cù, chăm chỉ trong lao động, chất phát nhưng cương trực, khẳng khái trong quan hệ ứng xử, quyết đoán trong hành động, sống thủy chung, có nghĩa
có tình Trong quá trình đấu tranh và phát triển của mình, nhân dân nơi đây đã tạo được cho mình những bức tranh riêng về phong tục, nếp sống văn hóa và lối sống đậm chất người Quảng Nam – Đà Nẵng trên dãy đất miền Trung đầy nắng và gió
Trong quá trình hình thành, phát triển và hội tụ nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng
đã vận dụng các yếu tố tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng và an ninh, quyết tâm thi đua xây dựng một cuộc sống đem lại sự giàu có cho địa phương và dân tộc Xuất phát từ đặc điểm lịch sử của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng hầu hết là người từ các tỉnh phía bắc di cư vào sinh sống, sinh cư lập nghiệp từ khi mảnh đất này thuộc về chủ quyền lãnh thổ của nước ta Do vậy, trong quá trình xây dựng, phát triển nhân dân từ các vùng miền nông thôn đã đi vào làm ăn, sinh sống, tạo lập nên
cơ cấu làng xã phù hợp với đặc điểm của tình hình mới Lúc đầu, khi nhà nước Đại Việt đưa dân vào vùng này, mỗi làng chỉ có vài chục người Trong quá trình tồn tại và an cư, đặc biệt là vào thế kỉ XVII – XVIII khi mà thương cảng Hội An bắt đầu xuất hiện với vai trò là một thương cảng sầm uất, khi Đại Việt có cảng biển, ngành nghề sản xuất thì dân
số đã tăng lên, mỗi làng có đến hàng trăm, hàng ngàn người cùng sinh sống và đoàn kết với nhau Theo số liệu điều tra dân số của Pháp năm 1932 số dân Quảng Nam có 779.000 người Năm 1945 có khoảng 1 triệu người Như vậy, có thể thấy trong quá trình phát triển Quảng Nam – Đà Nẵng là một tỉnh đông dân của miền Trung và cả nước Đến năm 1982, theo số liệu điều tra dân số Quảng Nam – Đà Nẵng có 1.530.054 người, trong đó có 56.766 đồng bào thuộc gần mười dân tộc ít người vùng miền núi: Cà tu, Cà dong, Ve, Co [17, tr.14] Tất cả những nét chung trên đã tạo nên một cộng đồng dân cư đậm chất Quảng Nam – Đà Nẵng
Nhìn lại từ thở khai thiên lập địa của vùng đất miền Trung này từ thế kỉ thứ XIV khi mà nhà Hồ chiêu mộ dân vào nam đến thời các chúa Nguyễn xây dựng, lập dân, lập làng thì những người dân nghèo khổ, những người tội phạm, tù binh – họ là những con người không một tấc đất cấm dùi đã tạo nên được một vùng đất trù phú và phát triển như hôm nay bằng chính trên đôi tay và đôi chân kiên cường của mình Những con người ấy
đã vượt qua bao nhiêu khổ ải, khắc nghiệt của vùng hoang dã phong vu, họ đã cố kết lại
để đấu tranh sinh tồn và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ lớp này đến lớp
Trang 12khác Đến nay, dãy đất Quảng Nam – Đà Nẵng của miền Trung này đã mang trong mình một nét mới, một sức sống mới đang ngày càng phát triển trên mảnh đất mà xưa kia được xem như là “rừng hoang, nước độc” Vùng Thuận Quảng hoang dã ngày nào đã nhanh chóng biến thành một vùng kinh tế trù phú với những hải cảng sẩm uất như: Hội An thế
kỉ XVI – XVII, thương cảng Đà Nẵng ở thế kỉ XX- XXI Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên quá trình tồn tại và phát triển nhất là trong giai đoạn thực dân và đế quốc xâm lược, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã anh dũng kiên cường đi đầu trận tuyến và vô cùng đảm đang để phát triển sản xuất tạo nguồn sống và là hậu phương vững chắc cho chiến trường Năm 1888, thực dân Pháp ép triều đình Huế dâng Đà Nẵng làm nhượng địa cho chúng Tại đây chúng đã tập trung xây dựng các cơ sở kinh tế nhầm khai thác, vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động Chính những sự đầu tư xây dựng của thực dân Pháp này đã làm nguồn sống kinh tế cho cả vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng Sự đầu tư mở rộng các đường quốc lộ, đường sắt, giao thông qua lại giữ các vùng, các thôn xóm đã được thuận lợi Theo đó, lần lượt các sân bay, bến cảng, nhà ga, xưởng sửa chữa đầu máy, toa xe, tàu biển, các xưởng cơ khí sửa chữa ô tô, các nhà máy, đồn điền trồng cây công nghiệp, nhà máy sản xuất bia rượu, thuốc lá, nhà máy chế biến thủy – hải sản dần dần mọc lên như nấm, tạo nên một Đà Nẵng của miền Trung sầm uất, một thành phố mới lạ trong lòng của mỗi người dân nơi đây Mặc dù, quy mô và các cơ sở vẫn còn thấp và chưa bộc lộ được tiềm năng kinh tế lớn của mình Tuy nhiên, đây là những bước chuyển mình đáng kể của một vùng đất hứa mang tên mình với nhiều tiềm năng nhưng cũng không kém phần gian nan
Lúc đầu những cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mà thực dân Pháp xây dựng ở Đà Nẵng còn rất ít, không cân đối, các máy móc còn lạc hậu, sự đầu tư
kĩ thuật công nghiệp còn hạn chế và cầm chừng vì vậy mà sự vận hành công nghiệp vẫn không có chút gì là khởi sắc, vận hành thủ công vẫn là chủ yếu do đó mà phát triển rất chậm chạp Tuy là vậy, nhưng trong quá trình phát triển đó tại đây cũng đã hình thành nên một cơ cấu thành phần xã hội mới, trước hết là đội ngũ giai cấp mới-giai cấp công nhân “Chỉ riêng tại Đà Nẵng trước cách mạng tháng Tám năm 1945, có khoảng 2.000 công nhân còn hầu hết là nông dân, trí thức, thợ thủ công” [5, tr.15]
Sự thuận lợi về các yếu tố tự nhiên của khí hậu cùng với vị trí đồng bằng ven biển chiếm diện tích lớn, đặc biệt là khu vực đồng bằng vùng Điện Bàn – Đà Nẵng địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều vùng đất đai màu mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nên luôn đạt năng suất cao Chính những sự thuận lợi đó đã cho phép những dân cư vùng này phát triển với nghề làm ăn chính là nghề nông trồng lúa nước theo kinh nghiệm dân gian cổ truyền Nhân dân mỗi thôn, mỗi xã, mỗi huyện suốt cuộc đời đều “bám mặt cho đất, bám lưng cho trời” cùng nhau lam lũ làm ruộng, vật lộn với thiên nhiên đất đai tạo nên nguồn sống cho bản thân và cho thế hệ mai sau Với nghề làm ruộng theo kinh
Trang 13nghiệm dân gian mà mỗi năm người dân nơi đây hai mùa lúa được thu hoạch vào tháng 3
và tháng 8 âm lịch Tùy theo khí hậu hay lịch công tác nông nghiệp của mỗi xã mà thời
vụ thu hoạch chênh lệch từ một đến hai tuần Trong hai mùa lúa thì mùa lúa nước thu hoạch vào tháng tám là quan trọng nhất vì đây là vụ mùa đem lại năng suất cao nhất Tuy nhiên, để có được mùa lúa vụ này thì đòi hỏi phải có nhiều công sức và thời gian Dưới ánh nắng chói chang của đầu hè, người nông dân nơi đây đã dùng sức lao động của chính mình để cuốc từng mãng đất bệ, từng tảng đất này đến tảng đất khác cứ nối tiếp nhau được nhào nặng bởi bàn tay người nông dân để có thể làm ra hạt thóc, hạt lúa nuôi sống bản thân, gia đình và cho cả nghĩa vụ hậu phương, nuôi dấu bộ đội Lúa từ khi mới cấy cho đến ngày lúa trổ bông cũng là những ngày cơ cực mà người dân nơi đây đã phải gồng mình trải qua Trên cánh đồng bao la đầy thóc là cả mồ hôi và nước mắt mà cư dân trong các thôn xóm lao động cần cù, không biết mệt mỏi đãcần mẫn làm nên Dù ăn uống không phải sung túc nhưng họ thường khỏe mạnh, rắn chắc, làm việc không ngại gian khó, mệt mỏi, chịu thương chịu khó, giỏi gian nắng dầm mưa, một nắng hai sương để có thể tạo ra sự sống cho quê hương cho đất nước và mong mỏi cho một ngày mới với những điều tốt hơn, tương lai sáng hơn trong mai đây
Ngoài việc trồng lúa thì cư dân nơi đây còn có các vụ hoa màu Đó là trồng các loại cây như sắn, khoai lang, lạc (đậu phộng), thuốc lá Đậu phộng và thuốc lá mang lại thu nhập đáng kể cho người dân nhưng đòi hỏi nhiều phân bón và công chăm sóc lẫn thu hoạch Một trong những loại thuốc lá mang lại thu nhập cao cho người nông dân phải kể đến đó là thuốc lá Cẩm Lệ Loại thuốc được trồng nhiều ở vùng Đại Lộc, Điện Bàn và Hòa Vang Ngoài ra, sắn cũng là một nguồn thu nhập mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
cư dân nơi đây Không chỉ lao động giỏi, bền bỉ nhiều người dân ở đây còn rất hiểu biết
về công việc đồng áng, hiểu rõ chất đất của từng cánh đồng hiểu rõ công việc phải kịp thời vụ Nhìn con trâu là họ cũng đã có thể biết được con nào cày bừa tốt Chính vì vậy nơi đây không hổ danh là vùng đất của truyền thống đấu tranh và sản xuất Cùng với đó, len lõi trong các cánh đồng, thôn bản là nhiều ngành nghề thủ công khác nhau của từng
hộ gia đình Mỗi hộ đều ngày đêm mệt mài với các nghề có thể gọi là gia truyền của mình, nào là nghề rèn, nghề đan cót, đan sào, nghề chằm nón, dệt vải khổ hẹp, đan nong, đóng cày… Tất cả đều là từ đôi bàn tay tài hoa của người dân nơi này tạo ra Từ chính đôi bàn tay và khối óc, họ những người con của quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng không ngại khó khăn, gian khổ để có thể thực hiện được tất cả những gì trong trí sáng tạo làm ra từng sản phẩm phục vụ cho nhu cầu mua sắm của nhau Nhờ đó, nhiều làng nghề cũng từ đó mà sinh sôi, nảy nở và phát triển thành những làng nghề thủ công truyền thống Trên quê hương của sự lao động cần cù và hăng say trong kháng chiến đã tạo nên cho mình được những làng nghề tên tuổi nổi tiếng khắp cả vùng và thậm chí là cả nước như: làng nghề làm chiếu ở Cẩm Nê (Hòa Vang-Đà Nẵng), làng gốm Thanh Hà (Hội
Trang 14An), làng rau Trà Quế (Hội An), làng đúc đồng Phước Kiều (Điện Phương-Điện Bàn), làng dệt Mã Châu (Nam Phước-Duy Xuyên)… Nhìn chung tất cả đã làm nên một bức tranh về sự phong phú kinh tế trên mảnh đất của dãy miền Trung ruột thịt Việt Nam Những người thợ thủ công nghiệp dư và cả chuyên nghiệp là những người có đóng góp rất quan trọng trong các làng xã cho việc đi lên của nền kinh tế nông thôn quê mình Tuy cuộc sống của họ chỉ vừa đủ ăn, đạm bạc, không dư dật, không cách xa với đời sống bà con nhân dân là bao, ngược lại họ lại càng gắng chặt hơn vào nhau để cùng hỗ trợ cho nhau cùng phấn đấu đi lên tạo nên những nét làng nghề riêng biệt cho quê hương mình
Là mảnh đất có các dòng sông lớn, nhỏ chạy khắp các vùng trong đó quan trọng nhất là sông Vu Gia và sông Thu Bồn, nhưng hầu như nghề sông nước nơi đây lại ít phát triển, có rất ít người làm nghề ngư dân Cứ vào mỗi mùa nước lên một số nhà có ghe hoặc thúng rái để đi lại trên các cánh đồng nước khi lũ về thì lúc này mới có thêm nghề bắt cá Tuy nhiên, đối với dân cư nơi đây, đây chỉ là một công việc phụ, làm thêm vừa có cá để
ăn lại vừa có niềm vui của đồng nước trong những ngày thanh nhàn của mùa lũ về Là vùng đất của nông nghiệp là chính, công thương nghiệp chỉ phát triển ở những vùng thành thị, nơi có điều kiện cho trao đổi và mua bán Trong các làng xã là những chợ cóc, chợ ngồi cho đến các chợ lớn Nổi tiếng cho đến nay có các chợ như chợ Bà Rén ở Duy Xuyên, chợ Hội An ở Hội An, Chợ Ái Nghĩa tại Ái Nghĩa, chợ Túy Loan tại Hòa Vang…
Do điều kiện xuất phát từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp nên chợ trở thành điểm tụ tập quan trọng nhất của thương nghiệp và bà con nông dân Có chợ họp cả ngày nhưng cũng có chợ chỉ họp một buổi sáng hay chiều nhất định Mỗi lần đi chợ là mỗi lần mà các
bà các chị, các cô bác đều tranh thủ bán chút ít nông sản do mình tự tay làm và mua chút
ít thức ăn hay vải vóc phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày trong mỗi gia đình Trong các thôn xóm thì rải rác vẫn có những cửa hàng, tạp hóa nhỏ và lẻ để phục vụ cho nhu cầu mua bán các mặt hàng thiết yếu cần thiết trong cuộc sống của bà con nông dân Khi có nhu cầu mua hay bán với số lượng nhiều thì chợ huyện và các chợ lớn chính là sự lựa chọn cần thiết và tốt nhất cho tất cả bà con
Bức tranh kinh tế trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng cũng là một phần của toàn bộ bức tranh đời sống kinh tế chung cho cả nước Đời sống văn hóa xã hội nơi đây
đã tự tạo nên cho mình một nét nổi bật riêng biệt trong từng nét văn hóa của mỗi cư dân trên nhiều vùng miền thân yêu của Tổ quốc
1.2.2 ời sống văn hóa
Là một vùng đất nông nghiệp là chính, quanh năm suốt tháng gắng bó với đồng ruộng và các làng quê nghèo, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã mang trong mình những truyền thống quý báu của dân tộc từ ngàn đời xưa Những truyền thống đó ngày càng được nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng hun đúc trong các điều kiện và tình hình mới
Trang 15của lịch sử Từ những thách thức phải đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng như sự áp bức bóc lột của các thế lực phong kiến tay sai và bọn ngoại bang xâm lăng, cho đến ngày hòa bình, nhân dân an vui thi đua sản xuất và xây dựng quê hương giàu đẹp Họ
là những người dân cần cù chăm chỉ lao động, chất phác nhưng cương trực, khẳng khái trong quan hệ ứng xử, giao tiếp, quyết đoán trong hành động, sống thủy chung có nghĩa,
có tình Trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm, áp bức những đức tính của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã được thể hiện một cách khá rõ nét, tạo nên một phong cách văn hóa riêng, bản sắc riêng của từng vùng, từng miền như câu “Quảng Nam hay cãi” Nét văn hóa riêng của mỗi vùng miền đó đã gọp thành văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa miền Trung nói riêng “Chính những tạo hóa thiên nhiên và hoàn cảnh lịch sử ấy đã tạo cho người dân đất Quảng tinh thần thượng võ, bản chất cần cù, sáng tạo trong lao động và sản xuất, giản dị trong lối sống, thẳng thắng, bộc trực hết lòng thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong quan hệ xóm làng và kiên cường đấu tranh cho những bất công xã hội Với giai cấp thống trị, họ là những người dân “Quảng Nam hay cãi”, rất bướng và luôn luôn chống đối giai cấp bóc lột quyết liệt.”[17, tr.15]
Truyền thống lại nối tiếp truyền thống, sự kiên cường lại nối tiếp sự kiên cường, bất khuất, dù huy sinh gian khổ đến mấy cũng quyết đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng, không bao giờ chịu lùi bước trước kẻ thù đã làm nên một tố chất trong mỗi con người nơi đây Trải qua những gian khổ từ thời lập làng, lập xã cho đến thời kì đấu tranh cách mạng phát triển, đánh đuổi giặc ngoại xâm đã tạo điều kiện nhen nhóm và hình thành nên sắc thái phong cách riêng của vùng đất đầy anh dũng nhưng cũng lắm gian khổ này Chính từ hoàn cảnh lịch sử đó, trong quá trình đấu tranh và phát triển lâu dài, người dân đất Quảng Nam – Đà Nẵng đã xây dựng được một sắc màu phong cách riêng cho mình đó là “phong cách Quảng Nam – Đà Nẵng phong cách chống cường quyền và áp bức đến cùng” [17, tr.15] Các dân tộc sinh sống trên địa bàn, mỗi dân tộc đều có mỗi nét văn hóa và ửng xử riêng, tuy nhiên để tạo thành một phong cách chung của vùng Quảng Nam – Đà Nẵng thì vai trò quan trọng của các dân tộc thiểu số nơi đây như Cơ-tu, Co, Triêng… lại đóng một vai trò rất lớn Vốn là những người dân bản địa lại sinh sống lâu đời trên đất Quảng, trải qua biết bao thời kì lịch sử đồng bào các dân tộc nơi đây đã tạo nên bản sắc riêng cho tộc người của mình sau đó cùng hòa quyện với thế hệ người dân khai phá tạo nên một bản sắc văn hóa riêng cho vùng đất Nhiều vùng họ vẫn sống và tồn tại mạnh mẽ, cùng nhau tạo nên tình đoàn kết, giữ cho nhau những tiếng nói chung ngọt ngào thấm đượm nghĩa tình trước sau
Cái tình, cái nghĩa ấy với tính cách khẳng khái đã làm cho thế hệ mai sau phải suy nghĩ và cũng chính điều này đã giải thích vì sao trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm mặc dù, sống trong những điều kiện vô cùng cực khổ và ác liệt từ kháng chiến
Trang 16chống Pháp đến kháng chiến chống Mĩ người dân đất Quảng vẫn kiên định, kiên cường vững vàng cùng vượt gian khổ, cố kết lại với nhau lớp này ngã xuống lớp kia lại đứng lên quyết giành cho được độc lập, tự do, lập nên những thành tích và chiến công xuất sắc cho quê hương mình, xứng đáng với danh hiệu “Quảng Nam anh dũng, kiên cường đi đầu diệt Mĩ” Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã cùng nhân dân cả nước giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp giải phóng Tổ quốc thân yêu
Con người trên vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng vốn là những người dân giàu lòng yêu nước Mỗi ngườicon là một đại diện cho dân tộc Việt Nam với tấm lòng yêu nước son sắc, trong từng hạt đất nhỏ nơi đây đều là những tấm lòng đại diện cho tình yêu quê hương đất nước trong tim mỗi cư dân Điều này thể hiện rất rõ qua các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca dân gian tại vùng này Những lời thơ, lời ca được cất lên là những lời mang âm hưởng tha thiết của dãy miền Trung đầy nắng và gió luôn luôn mặn mà và sâu lắng của những người con trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng Mỗi lời ca là một lời của nỗi lòng, một ý thức sâu sắc về tinh thần yêu nước, yêu quê hương, tấm lòng về sự thống nhất trọn vẹn lãnh thổ, về tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong gian khổ của lịch sử, của cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập, tự do
“ Quảng Nam là đất quê mình Núi, đồng, sông, biển rành rành từ lâu Thương yêu đùm bọc trước sau Cùng trong Đại Việt chung nhau cơ đồ”
Vốn là vùng đất khai phá từ sau thế kỉ XIV, nhưng những truyền thống hiếu học lại luôn luôn được giữ gìn và phát huy, các thế hệ con người nơi đây vốn có lòng hiếu học và học giỏi đã góp phần làm nên những truyền thống sáng ngời của quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng đã từng nổi tiếng với những “Tứ kiệt”, “Tứ hổ” và “Ngũ phụng tề phi” [17, tr.17] Đó là danh hiệu mà xưa kia những người học giỏi, đỗ đạt cao trong những khoa thi ngày trước được xứng danh Cũng giống như những người dân vùng khác, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng từ thành thị cho đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ các thôn bản cho đến cộng đồng… qua các giai đoạn lịch sử kế tiếp đã cùng nhau cố kết lao động, cần cù, sáng tạo, không ngại gian khổ để cùng nhau xây dựng
và đấu tranh anh dũng bảo vệ đất nước, bảo vệ quê hương Cùng với thiên nhiên xã hội, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã xây đắp cho mình rất nhiều truyền thống quý báu lưu truyền cho thế hệ con cháu mai sau Văn hóa trên vùng đất này vừa mang tính kế thừa văn hóa dân tộc, vừa mang những nét bản sắc địa phương Bằng chứng là nơi đây còn lưu giữ nhiều yếu tố giao lưu giữ văn hóa Chăm-pa và Đại Việt Các loại hình sinh hoạt cộng
Trang 17đồng của cư dân nông nghiệp khá phát triển Các loại hình văn nghệ dân gian cũng đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung, đậm chất hữu tình, cái duyên của con người miền Trung đã làm nên một vùng văn hóa Quảng Nam – Đà Nẵng hội tụ đầy đủ những nét phong tục lẫn chất duyên của mình Nhiều lễ hội cho đến nay là một nguồn di sản truyền thống quý báu như: lễ hội Bà chúa Thu Bồn, lễ hội trước ngư ông tại Nam Ô, lễ hội xuống đồng của các dân tộc thiểu số (Cơ-tu, Co) Các loại hình dân ca thì có bài chòi, hát đối, hát lí… Sự hội tụ đầy đủ cái duyên, cái tình, sự mặn mà của dãy đất miền Trung do đó đã sản sinh nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng trong cả nước tiêu biểu như: Nam Trân (Nguyễn Học Sĩ), Phan Chu Trinh, Đỗ Đăng Tuyễn, Thu Bồn… Trong tất cả truyền thống thì nổi bật nhất của nhân dân các dân tộc trong tỉnh từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bào dân tộc thiểu số đến cộng đồng người kinh, từ nông thôn ra thành thị… đó là tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh bất khuất với kẻ thù được nối tiếp
từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống đó ngày càng được các thế hệ con cháu hiện nay và mai sau vẫn đang tiếp tục phát huy giữ gìn hơn nữa Tinh thần ấy đã làm nên
“phong cách Quảng Nam – Đà Nẵng” đậm chất của dãy miền Trung yêu quý nơi đây
1.3 Truyền thống yêu nư c và đấu tranh cách mạng
1.3.1 Truy n thống yêu nước v đấu tranh cách mạng rước năm 1945
Mang trong mình những truyền thống quý báu của quê hương nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng luôn luôn ý thức được trách nhiệm cũng như sự kế thừa của nhiều thế hệ đi trước cho tương lai mai sau của non sông Những truyền thống đó ngày càng được nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng hun đúc trong những điều kiện mới phù hợp với thực tế và hoàn cảnh lịch sử Trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực áp bức, xâm lược những truyền thống và đức tính con người nơi đây lại được bùng cháy và thể hiện khá rõ nét “chỉ tính từ thế kỉ XIX trở lại đây, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã hai lần đi đầu trong kháng chiến Thứ nhất là đánh những đội quân xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp khi mới đặt chân lên đất nước ta Thứ hai là kháng chiến chống Đế quốc Mĩ xâm lược nước ta.” [17, tr.17] Năm 1858 thực dân Pháp
nổ tiếng súng đầu tiên mở màng cho công cuộc xâm lược Việt Nam tại cảng Đà Nẵng Với âm mưa là nhanh chóng chiếm Đà Nẵng rồi làm bàn đạp tấn công ra Huế nhanh chóng kết thúc chiến tranh Thế nhưng, mọi ước tính của Pháp đâu phải dễ dàng thực hiện được Ngay từ đầu chúng đã vấp phải sự phản kháng của quân và dân Quảng Nam –
Đà Nẵng đầy lòng yêu nước và anh dũng Chính Ri-gôn đờ Giơ nui-y phải báo cáo về Pháp: “Người ta (tức cha cố hoạt động gián điệp chuẩn bị cho quân Pháp xâm lược) trình bày rằng việc viễn chinh chỉ là một việc dễ dàng thôi, nho nhỏ thôi; thực ra nó không dễ, cũng không nhỏ… Người ta lại báo tin cho chính phủ rằng dân chúng sẽ nổi lên hưởng ứng; thực ra thì lòng dân không phải thế, lại còn trái hẳn với sự dự đoán đó… Người ta
Trang 18đã báo cáo rằng quân đội đối phương không có gì; sự thật thì quân đội chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người không đau ốm và không bệnh tật…” [17, tr.18] Tinh thần truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã động viên mọi lực lượng, tinh thần, vật chất, của cải để sát cánh cùng với những vị tướng tài của triều đình nhà Nguyễn: Nguyễn Tri Phương, Lê Đình Lý, Ông Ích Kiêm… đánh đuổi giặc Pháp “dùng tre, phênh đất, đã xây dựng thành lũy, dùng xích sắt ngăn cửa sông, dùng thuyền nhỏ, phân đội nhỏ và vũ khí tự tạo vay đồn, phục kích diệt giặc” [21, tr.16] Với tinh thần kháng chiến quật khởi đó, nhiều trận ác chiến đã diễn ra tại cửa biển Đà Nẵng Sau 19 tháng bị sa lầy và tổn thất nặng nề cùng với những khó khăn gặp phải không ít, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng với tinh thần yêu nước đã buộc Pháp phải chuyển hướng vào tấn công Sài Gòn-Gia Định và các tỉnh Nam Bộ (22/3/1860) Như vậy, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp đã bước đầu thất bại trước sức mạnh của tinh thần yêu nước Việt Nam nói chung và Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng Các cuộc kháng chiến từ đầu năm 1858-1860 của quân dân Đà Nẵng đã tạo nên những trận đánh kiên cường, trong đó phải kể đến trận Mù U nổi tiếng do Ông Ích Khiêm chỉ huy Tuy phong trào kháng chiến mạnh mẽ nhưng các hàng ước lần lượt được kí kết bởi sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn Với hai hàng ước 1883 và 1884, nhà Nguyễn đầu hàng chấp nhận sự thống trị của thực dân trên đất nước ta, từ đó nhân dân ta một cổ nhưng mang hai tròng Tháng 7 năm 1885 kinh thành Huế thất thủ, Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, khắp nơi nhân dân hô hào đứng lên phò vua giúp nước Tại riêng Quảng Nam – Đà Nẵng hàng loạt những người con của quê hương này đã tự nguyện tham gia chiến đấu dưới cờ của những sĩ phu yêu nước tiên tiến Tại Quảng Nam các cuộc nổi dậy từ năm 1885-1887 đã lập được chiến khu “Tân tỉnh” (ở Quế Sơn) do các thủ lĩnh như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Tiểu La-Nguyễn Thành, Phan Bá Phiến lãnh đạo Ngoài ra, tại Quảng Nam thì tiến sĩ Trần Văn Dư cũng đã thành lập nghĩa hội Cần Vương và ra thông điệp kêu gọi sĩ phu yêu nước đứng lên vận động toàn dân kháng chiến [10, tr.20] Phong trào sôi nổi, quyết liệt và thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, cả sĩ phu, nhân sĩ, cả những người kinh và người Thượng, người Chăm cùng tham gia Trước
sự đàn áp, chém giết dã man của thực dân Pháp nhằm vào nhân dân và đồng bào ta, những người đứng đầu lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa cùng nhân dân đã hiên ngang, khẳng khái lên án giặc Pháp, nêu cao ý chí quật cường của dân tộc Phát triển theo đó là tinh thần của toàn dân trong cả nước, ở Quảng Nam – Đà Nẵng nhiều tên tuổi là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau noi theo như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Duy Hiệu, Ông Ích Khiêm, Đỗ Đăng Tuyển… Trên địa bàn hoạt động của Quảng Nam – Đà Nẵng nhiều chiến khu đã được thành lập Đặc biệt là những Nguyễn Duy Hiệu “Ông lập chính quyền
và vũ trang đánh Pháp suốt 3 năm (1885-1888) Phần lớn vùng nông thôn Quảng Nam đều thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Giặc Pháp phải đóng tới 36 đồn bốt để đối
Trang 19phó với nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu” [17; tr.20] Bên cạnh địa bàn chính là Tân tỉnh thì trên các địa bàn các huyện khác tại Quảng Nam – Đà Nẵng đã mọc lên nhiều tuyến phòng ngự của nhiều nghĩa quân khác như Cấm Muồng, Ô Gia và Gia Cốc trong
đó còn có cả sơn phòng Dương Xá (Trà Mi) nhầm hỗ trợ và bảo vệ cho nhau mỗi khi địch tiến hành càng quét Dưới sự lãnh đạo của nghĩa hội Cần Vương chống Pháp, nhiều trận đánh suất xắc, giành thắng lợi lớn đã được quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng thực hiện anh dũng như: trận Trà Kiệu (9/1885), trận Suối Đá (1/1886), Nam Chơn (2/1886), Bài Chài, Gò Muồng (3/1886), Non Nước (3/1886), Phú Thượng (10/1886)… đã gây cho Pháp và tay sai nhiều tổn thất và kiếp sợ trước những cách đánh mưu trí, sáng tạo của quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng và tinh thần Việt Nam kiên cường, bất khuất
Sau những thất bại nặng nề, thực dân Pháp và tay sai lại càng tập trung lực lượng phản kích chiếm lại những địa bàn quan trọng đã mất thời gian này Phong trào kháng chiến tại Quảng Nam – Đà Nẵng bị thiệt hại nặng nề, nhiều lãnh tụ của nghĩa quân đã bị bắt giết hoặc tự vẫn, phong trào đấu tranh có phần giảm sút nhưng đó chỉ là sự tạm lắng nhất thời trong thời gian khó khăn và chờ đợi thời cơ thích hợp để bùng nổ Trước sức mạnh vũ khí của thực dân Pháp nhân dân ta không những không sợ mà còn nuôi ý chí câm thù giặc sâu sắc Chính những kẻ thù xâm lược lại là những kẻ kiếp sợ trước một dân tộc Việt Nam kiên cường “Bay-dơ, một tên thực dân cáo già nguyên là khâm sứ Trung Kì của Pháp lúc bấy giờ, đã viết về Nguyễn Duy Hiệu: “Người này còn trẻ có nghị lực phi thường và nổi tiếng như một anh hùng kì dị…” Y thú nhận “đó là một cuộc khởi nghĩa rộng lớn và đáng kính” [17, tr.20] Phong trào Nghĩa hội Cần Vương bị dập tắt cũng chấm dứt phong trào võ trang cứu nước hưởng ứng theo chiếu cần vương của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng Sự kết thúc này lại mở ra một cái mới, phong trào đấu tranh của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng chuyển sang trang mới và theo một tinh thần mới của lịch sử
Bước sang đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, đi vào cũng cố nền thống trị ở Việt Nam Phong trào yêu nước chống Pháp đô hộ lại tiếp tục bùng nổ sôi nổi các phong trào khởi nghĩa diễn ra khắp nơi Ở Đà Nẵng nhân dân hăng hái tham gia phong trào yêu nước do Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng phát động Phong trào kháng thuế (1906-1908) và phong trào khởi nghĩa Duy Tân do Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân và Thái Phiên lãnh đạo Điều này nói lên được sự trưởng thành trong ý thức đấu tranh của nhân dân cả nước và của cả nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng trước hoàn cảnh lịch sử Phong trào đấu tranh ngày càng nhiều, càng đa dạng về hình thức và cách thức Tháng 5 năm 1904, Phan Bội Châu cùng một số
sĩ phu yêu nước như Tiểu La – Nguyễn Thành, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân… thành lập tại Quảng Nam “Duy tân Hội” tập hợp những người trung nghĩa chiến đấu cho công
Trang 20cuộc khôi phục nước Việt Nam Hội chủ trương xây dựng lực lượng, quyên góp tài chính, vận động thanh niên xuất dương “Đông Du” cầu viện Nhật Bản
Thực dân Pháp vừa dập tắt xong các cuộc khởi nghĩa theo phong trào Cần Vương thì phong trào Đông Du và nhất là phong trào Duy Tân do Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu khởi xướng lãnh đạo lại bùng lên sôi nổi tại quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng Tiếp đó, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng cổ súy phong trào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” làm dấy lên các hoạt động chấn hương thực nghiệp, lập nên các hội: hội nông, hội học, hội thương… mở trường dạy quốc ngữ, lập trường kiểu mẫu nghĩa thục ở Quảng Nam, Trường Dục Thanh ở Bình Thuận Vận động trong dân chống bài phong, bài tục, chống cường hào, vua quan thối nát, bỏ khăn đen, áo dài, cắt tóc ngắn… Phong trào Đông Du và Duy Tân được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, tạo tiền đề cho các cao trào “chống xâu, chống thuế” bùng nổ ngay sau đó Do ảnh hưởng của cuộc vận động Duy Tân năm 1908, nhân dân tỉnh đã đứng lên chống thuế quyết liệt Hàng vạn quần chúng đã nổi dậy để đấu tranh Tháng 3 năm 1908 hàng ngàn nông dân ăn mặc rách rưới huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam kéo đến tòa sứ Pháp tại Hội
An để đấu tranh giảm xâu giảm thuế “Họ thay nhau hết đoàn này đến đoàn khác, ăn ngủ tại chổ, liên tục vây quanh tòa sứ hàng tháng trời đấu tranh đòi giảm xâu, giảm thuế” [17, tr.21] Đi đôi với phong trào chống xâu thuế là phong trào đấu tranh đòi trừng trị những tên tay sai gian ác của thực dân Pháp, phong trào làm náo động cả tỉnh suốt hàng tháng trời như: ở Tam Kì, quần chúng bắt tên đề sự - một tên tay sai gian ác của thực dân Pháp
ra xử tội Tại Gia Cốc – Đại Lộc quần chúng biểu tình đèn đuốc sáng trưng vây quanh nhà tên Chánh tổng khét tiếng gian ác Trần Quát” [17, tr.21] Tại Hòa Vang thì diễn ra những cuộc biểu tình vây bắt bọn tay sai gian ác của thực dân Pháp, nhất là vụ thực dân Pháp bắt và chém Ông Ích Đường tại làng Túy Loan
Sự thất bại của phong trào Nghĩa hội thì không lâu sau trên đất Quảng Nam – Đà Nẵng lại xuất hiện các phong trào đấu tranh theo ý thức hệ dân chủ tư sản tiêu biểu cho
cả nước lúc bấy giờ Điều này không chỉ nói lên mảnh đất quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng là nơi thấm đượm nghĩa tình mà nơi đây còn là nơi của truyền thống yêu nước bất khuất của nhân dân, là nơi đi đầu trong các phong trào phản kháng chống ngoại xâm, bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam yêu thương Phong trào chống sưu cao, thuế nặng bắt đầu từ Đại Lộc rồi lan rộng ra cả tỉnh Quảng Nam sau đó là các tỉnh Trung Kì, tạo thành một cao trào đấu tranh rộng lớn chống lại chính sách áp bức, bóc lột của bọn thực dân và phong kiến Sức mạnh đấu tranh và truyền thống quật cường của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung như đã được tôi luyện và hun đúc theo từng bước chân của lịch sử Sự tàn bạo của giặc, những cuộc đàn áp dã mang không những không khuất phục và xóa tan đi mỗi câm hờn trong nhân dân mà ngày càng làm cho lòng câm
Trang 21thù giặc ngày một cao hơn trong mỗi người con trên quê hương nơi đây Vì thế, chẳng bao lâu sau phong trào chống sưu, chống thuế thì nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng lại tham gia và cùng nhau lập nên nhiều phong trào đấu tranh cũng như các tổ chức yêu nước chống ngoại xâm theo một con đường mới
Phong trào chống thuế năm 1908 lắng xuống thì năm 1909 cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo dưới danh nghĩa của vua Duy Tân lại nổi lên Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa này khắp nơi tại Quảng Nam – Đà Nẵng nhân dân tích cực lập các đội nghĩa binh, tổ chức lạc quyên, rèn vũ khí, dệt vải, cung cấp cho nghĩa quân làm quân trang… Tuy nhiên, do kế hoạch bị bại lộ cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp và phong kiến tay sai đàn áp dã man, những người lãnh tụ của hội: Thái Phiên, Trần Cao Vân bị hành quyết Trước tình hình đó, phong trào không vì thế mà kết thúc, các hiệu lệnh của phong trào cũng không được ban ra ở các nơi nhưng tại Tam Kì và các nơi khác, nhân dân với lòng câm thù giặc sâu sắc đã tự đứng lên thực hiện phong trào và bao vây Công tòa đại lí, bắn chết viên đại lí người Pháp, tiến hành vay phủ đường Tam Kì bắt tên tuần phủ tại Thúc Xuyên trị tội Tại đây đã đánh dấu một sự kiện
là lần đầu tiên lá cờ Pháp đã bị hạ xuống, lá cờ của nghĩa quân với nền đỏ sao trắng đã được kéo lên [17, tr.25]
Như vậy, trong vòng 30 năm kể từ khi thực dân Pháp kết thúc việc xâm lược Việt Nam bằng hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) đến cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội (1916) thì nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng với tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm đã liên tục đứng lên chống sự đô hộ của thực dân Pháp Từ lớp này đến lớp khác, từ cuộc khởi nghĩa này đến khởi nghĩa khác đã nổ ra liên tiếp mặc dù tất cả đều có chung một kết thúc là thật bại Tất cả đã chứng minh được cho một tinh thần Quảng Nam – Đà Nẵng kiên trung, bất khuất trong đấu tranh, một Việt Nam luôn luôn ý thức về sự toàn vẹn của lãnh thổ dân tộc và yêu hòa bình tự do Có thể nói sự thất bại của các phong trào đấu tranh yêu nước cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX trong cả nước nói chung là một điều không tránh khỏi Các cuộc đấu tranh mang tính chất vũ trang đó là một sự cần thiết nhất là khi kẻ thù dùng bạo lực để đe dọa và chống lại nhân dân ta Vì các yếu tố vũ trang trong phong trào chưa đủ mạnh để chống lại sức mạnh quân sự của kẻ thù, đồng thời các con đường và phương hướng cứu nước tại thời điểm đó đã không còn phù hợp, thiếu một sự đổi mới đó là thiếu một chính đảng tiên tiến lãnh đạo Điều này xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử dân tộc, khi mà các trào lưu tư tưởng văn hóa – nghệ thuật
xã hội cùng với những tiến bộ của thời đại chỉ mới bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam, nhưng còn khá mờ nhạt và chưa có ảnh hưởng sâu rộng Nhận thức rõ điều đó từ sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc (1914-1918), trước những làn sóng mạnh mẽ của các tư tưởng canh tân, đổi mới trên thế giới, sự xâm nhập về mọi mặt của các thể loại
Trang 22sáng tác, bài viết cổ súy cho tinh thần mới dội vào Việt Nam, cùng với đó sự ra dời của nhiều giai cấp mới trong xã hội nước ta thời bấy giờ, nhất là khi Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần hai (1919-1929) Xã hội thay đổi điều này đã tác động mạnh
mẽ đến tình hình trong nước cả về vật chất lẫn ý thức Sự ra đời của giai cấp công nhân báo hiệu một xu thế mới của lịch sử nước nhà khi mà đội ngũ tiên phong cho phong trào kháng chiến yêu nước thuộc quyền lãnh đạo của giai cấp này Trong thời gian đầu, số lượng còn ít nhưng giai cấp này đã hội tụ đầy đủ tính chất của một giai cấp vô sản hiện đại Việt Nam Ngay sau khi ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh yêu nước và đòi quyền lợi cho nhân dân và giai cấp mình Hưởng ưởng theo phong trào, tại Quảng Nam – Đà Nẵng từ năm 1918 đến năm 1930 nơi đây đã nổ ra hàng chục cuộc đấu tranh đình công, đòi tăng lương, giảm giờ làm… của nhiều công dân
và kéo theo đó là các trí thức, tầng lớp nông dân Nổi tiếng có các phong trào như: phong trào chống đánh đập chị em công nhân ở mỏ vàng Bông Miêu, phong trào của các công nhân bốc vác cảng Đà Nẵng, thợ quế Trà Mi, đặc biệt là phong trào đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Chu Trinh và thả Phan Bội Châu Năm 1925 Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên, từ đây sự truyền bá của chủ nghĩa Mác – Lênin trong cả nước đã được xúc tiến Đây là bước ngoặc lớn cho cả dân tộc và cho cả quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, nhân dân đã tiếp thu cho mình được đường lối cứu nước mới, những tư tưởng tiến bộ thời đại – đó là tư tưởng và đường lối cứu nước theo ý thức hệ vô sản
Thông qua các tổ chức cách mạng thời bấy giờ: Tân Việt cách mạng Đảng, Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên, chủ nghĩa Mác – Lê nin đã dần thâm nhập sâu vào quần chúng nhân dân làm cách mạng tại Quảng Nam – Đà Nẵng Bằng lòng yêu nước và khát khao tự do, hòa bình những người con nơi đây đã đứng lên làm cách mạng, nhiều gương mặt Đảng bộ đã nổi lên trong thời gian này như Nguyện Soạn, Lê Cao Phong (Đại Lộc), Phan Văn Định, Nguyễn Thành, Nguyễn Tụy… Từ những năm 1929 trở đi, phong trào cách mạng theo khuynh hướng của học thuyết Mác – Lê nin và tư tưởng của Nguyễn
Ái Quốc đã và đang dần phát triển tích cực tại Quảng Nam – Đà Nẵng Các chi bộ cộng sản đầu tiên đã được thành lập và hoạt động bí mật cùng với vai trò tiên phong của các chi bộ Đảng Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chiếm ưu thế trong phong trào yêu nước, chủ nghĩa cải lương tư sản đã bị đánh bại, quan điểm dân tộc tư sản và tiểu tư sản bị đẩy lùi Trước những yêu cầu của lịch sử đó Đảng cộng sản Việt Nam đã ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam và cách mạng của mỗi vùng miền Tổ quốc Sự ra đời của tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam trong hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, các tổ chức cộng sản đã dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới của lịch sử đất nước Điều này đã làm cho cách mạng nước ta từ đây
Trang 23chấm dứt tình trạng khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo cũng như mục tiêu và đường lối tiến lên của cách mạng nước nhà Dưới sự lãnh đạo của Đảng cả về tư tưởng, tổ chức trong thời gian ngắn, các chi bộ Đảng cộng sản đã lần lượt ra đời Tại Quảng Nam – Đà Nẵng chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Điện Bàn đã chuyển thành chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam chính thức ra đời tại Hương Cảng, Tỉnh bộ Đông Dương cộng sản Đảng Quảng Nam nhất trí chuyển thành Tỉnh bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Tỉnh Quảng Nam Ngày 28/3/1930, Đảng bộ cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam đã được thành lập và do Phan Văn Định làm bí thư Tháng 4/1930 chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng phủ Điện Bàn chuyển thành chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam phủ Điện Bàn gồm: Nguyễn Thành, Nguyễn Tụy, Đỗ Thanh, đồng chí Nguyễn Thành làm bí thư Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân khắp dãy đất miền Trung ngày một dâng cao, tại Quảng Nam – Đà Nẵng thì trong thời kì mới này một số địa phương đã phát triển được số hội viên công hội đỏ, nông dân hội trong các tổ chức hội Đảng tại thôn xóm Khắp nơi nhân dân bàn tán về cộng sản
và những khẩu hiệu đấu tranh do Đảng đề ra Cuối năm 1930, cũng như phong trào cách mạng trong cả nước, phong trào cách mạng Quảng Nam – Đà Nẵng bị đàn áp và gặp nhiều tổn thất, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống Qua các cuộc đấu tranh, quần chúng đã thêm tôi luyện các cơ sở ngày càng tin tưởng ở sức mạnh vĩ đại của mình
Sau thời gian tạm lắng để cũng cố lực lượng và khôi phục phong trào đấu tranh cách mạng lại tiếp tục được diễn ra sôi nổi, khắp nơi nổi lên cao trào ủng hộ dân chủ trong cả nước, trong đó sôi nổi nhất vẫn là Quảng Nam – Đà Nẵng Hàng trăm cuộc mít tinh, biểu tình đòi tự do dân chủ cải thiện dân sinh liên tiếp diễn ra Suốt từ đèo Hải Vân đến Bình Thuận cùng với cả nước, nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã tích cực tham gia tất cả những phong trào nói trên trong các năm từ 1936-1939 Các tổ chức chi bộ Đảng lãnh đạo các phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã phát triển dưới mọi hình thức như tổ chức tham gia việc đón Phái bộ Gô-đa sang điều tra tình hình Đông Dương, vận động tiến cử Phan Thanh vào Viện dân biểu Tam Kì, phát triển rộng rải các tổ chức thanh niên dân chủ Ngày 28/2/1937, phái bộ Gô-đa đến Đà Nẵng “Trước nay chưa lần nào ở
Đà Nẵng có một cuộc tập họp quần chúng để biểu dương lực lượng chính trị lớn như vậy Quần chúng xếp hàng theo từng giới, mỗi giới có huy hiệu riêng… Tất cả đứng chật trên
bờ sông từ Ga chợ đến Tòa Đốc lí” [13, tr.43]
Đấu tranh công khai hợp pháp và đấu tranh bất hợp pháp với nhiều hình thức phong phú đã làm cho cao trào cách mạng từ năm 1936 đến 1939 đã nâng cao thêm lòng yêu nước, vạch rõ bản chất của kẻ thù, quần chúng nhân dân ngày càng tin tưởng làm cách mạng
Trang 24Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp bại trận quân Nhật tràn vào Đông Dương, nhân dân ta lại thêm “một cổ mà hai tròng” đấu tranh cách mạng từ đây lạichuyển sang một bước phát triển mới Câm hờn trước thực dân và bọn Phát-xít, phong trào cách mạng ở các tỉnh Nam Trung Bộ phát triển khá mạnh ở các vùng nông thôn và
cả đô thị Đến giữa năm 1943, phong trào cách mạng tại Đà Nẵng nói riêng và Quảng Nam nói chung đã phát triển hơn trước rất nhiều, các cơ sở chính trị, giáo dục đã đi sâu vào trong quần chúng, các tỉnh Đảng còn dùng nhiều hình thức tuyên truyền công khai rộng: treo cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, rải truyền đơn ở những nơi đông người, đưa cán bộ lồng vào các tổ chức công khai như hội hướng đạo, hội truyền bá quốc ngữ, hội bóng đá… để tuyên truyền, phát triển cơ sở xây dựng cốt cán Việt Minh, hướng hoạt động theo chủ trương cứu nước của Đảng Trong thời gian này thì nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu đã diễn ra trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng: nhân dân huyện Thăng Bình đấu tranh không nộp thóc cho Pháp-Nhật hay cuộc nổi dậy của đồng bào dân tộc ít người ở huyện Phước Sơn
Có thể nói từ năm 1930 đến 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng ở Quảng Nam – Đà Nẵng luôn luôn phát triển và bắt nhịp cùng với phong trào cách mạng cả nước diễn ra sôi nổi Mỗi lần bị đàn áp là mỗi lần phong trào tạm thời lắng xuống, mỗi lần như vậy thì các đảng viên, cơ sở cách mạng, quần chúng nhân dân yêu nước lại càng tôi luyện ý chí đấu tranh và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm chiến đấu để chuẩn bị cho những cao trào đấu tranh tiếp theo Đây là tiền đề cho phong trào cách mạng bước sang thời kì mới - thời kì trực tiếp giành chính quyền về tay nhân dân Thể hiện rõ nét nhất là sự ra đời của lực lượng vũ trang nhân dân kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, xây dựng căn cứ hậu phương vững mạnh trong toàn tỉnh
1.3.2 Truy n thống yêu nước v đấu tranh cách mạng sau năm 1945
Đầu năm 1945 tình hình thế giới có nhiều biến động quan trọng Ở mặt trận Thái Bình Dương, phát-xít Nhật liên tiếp bị đánh bại, ở Đông Dương mâu thuẫn giữa Pháp và Nhật ngày càng tăng cao gay gắt Ngày 9/3/1945 Nhật tiến hành cuộc đảo chính Pháp và thành lập chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim đứng đầu Lúc này tình hình trong nước ta nói chung và tại Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng có nhiều biến chuyển thuận lợi cho phong trào cách mạng Ngày 14/8/1945 Nhật đầu hàng Đồng Minh, trước tình hình
đó Ban chấp hành Trung ương Đảng triệu tập hội nghị toàn quốc của Đảng từ ngày 15/8/1945 ở Tân Trào đề ra chủ trương phát động toàn dân tổng khởi nghĩa
13-Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đất nước ta được độc lập, người dân được tự do thoát khỏi cảnh làm trâu ngựa cho ngoại bang, nhân dân vô cùng phấn khởi náo nức tham gia các phong trào
Trang 25cách mạng ra sức bảo vệ và xây dựng chính quyền trong cả nước Các quyền tự do dân chủ đã được thực hiện, nhà nước xóa bỏ các loại thuế (thuế thân, thuế chợ), xóa nợ nần
và giảm hai lăm phần trăm thuế điền thổ, tịch thu ruộng đất bọn Việt gian chia cho dân nghèo và thực hiện tổng tuyển cử Quốc hội trong cả nước vào ngày 6/1/1946 Trong lúc chính quyền nhân dân vừa mới thành lập, còn thiếu thốn mọi thứ và gặp khó khăn chồng chất đất nước ta lại đứng trước tình hình “ngàn cân treo sợ tóc” khi giáp với bốn mặt đều
là kẻ thù, trong nước thì khó khăn chồng chất khó khăn Ngày 23/9/1945 Pháp được sự giúp đỡ của Anh đã nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước
ta lần hai Kiên quyết bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ chủ quyền dân tộc cùng với Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước quân và dân khắp nơi trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng đã nổi dậy liên tục làm cách mạng và đấu tranh vũ trang để bảo vệ độc lập tự chủ Tại nơi này, mọi công việc chuẩn bị cho kháng chiến đã được tiến hành ráo riết, được chính quyền và mặt trận Việt Minh hướng dẫn tổ chức các tầng lớp nhân dân trong tỉnh sôi nổi thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân của Đảng Mọi người ai cũng hăm hở sắm tìm vũ khí, toàn dân vũ trang, cả tỉnh thành lập bãi tập tinh thần thượng võ của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng lại được khơi dậy với một chất lượng mới, một khí thế mới Tất
cả đã thổi bùng lên trong lòng mỗi người con đất Quảng tinh thần kiên cường, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc trong bất cứ hoàn cảnh nào
Việc phát triển nhanh chóng lực lượng dân quân tự vệ theo chỉ thị của Trung ương Đảng đến đầu tháng 9/1945 chi bộ giải phóng quân Quảng Nam đã được thành lập “quân
số có 1.500 người lực lượng nòng cốt các cán bộ chiến sĩ các đội tự vệ, du kích đã tham gia giành chính quyền ở khắp các nơi trong tỉnh” Tại Đà Nẵng thì thành ủy Đà Nẵng đã xây dựng được một đại đội gồm 500 quân, lấy tên là đại đội Phan Thanh” [17, tr.56] Ngoài ra, nhiều nơi trên địa bàn tỉnh cũng thành lập các phân đội nữ giải phóng quân Từ khi giành được độc lập, chỉ sau một thời gian ngắn trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng
từ một đội du kích nhỏ bé đã trở thành một trung đoàn Vệ quốc quân gần 2.000 con em của mình và được trang bị vũ khí tuy còn thô sơ nhưng chỉnh tề Đoàn quân đi đến đâu đều được đoàn thể địa phương và bà con tổ chức đón tiếp niềm nở, tự hào Chính những tình cảm chân thành và sâu đậm ấy là nguồn động lực cho các phong trào tại mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng diễn ra sôi nổi Khắp trong tỉnh từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng cất vang lời ca của niềm tự hào, sự hy sinh không ngại khó khăn và gian khổ cho độc lập, tự do của nước nhà Bước vào kháng chiến lực lượng vũ trang địa phương Quảng Nam – Đà Nẵng còn non yếu nhưng đã có sự tổ chức khá chặt chẽ cùng với khí thế cách mạng ngày càng dân cao Công tác sản xuất vũ khí cũng ngày càng được xúc tiến, xưởng chế tạo vũ khí Phan Đăng Lưu là một trong các xưởng chế tạo vũ khí lớn nhất
Trang 26Khu V thời bấy giờ, số lượng công nhân có khoản từ 60 đến 70 người sau thời gian phát triển đến tháng 6 năm 1946 xưởng đã được mở rộng thêm nhiều nơi, tháng 8 năm 1946 toàn xưởng có 374 công nhân
Để loại bớt kẻ thù và giành thời gian chuẩn bị kháng chiến Chính phủ ta đã kí với Pháp hai bản hiệp định là hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1945 và bản Tạm Ước 4/9/1945 Tuy nhiên, do âm mưa và quyết tâm xâm lược nước ta lần nữa nên thực dân Pháp đã ngang nhiên xóa bỏ các nội dung đã cam kết và gây hấn nghiêm trọng Mọi cố gắng của ta đều
vô ích, ngày 19/12/1946 Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh chiến đấu: “Tổ quốc lâm nguy giờ chiến đấu đã đến” Ngày 20/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Cùng với cả nước cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng đã thực sự bắt đầu Tháng 1 năm 1947 Liên tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng đã họp ở rộng tại Ái Nghĩa Hội nghị đã nhận định tình hình kháng chiến
và động viên sự đoàn kết nhất trí cùng những nổ lực cao nhất của quân và dân trong tỉnh, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để chiến đấu đến cùng Trong toàn tỉnh lực lượng dân quân du kích đã được cũng cố và phát triển thêm Mỗi xã đều xây dựng cho mình một trung đội thoát ly Các tổ chức cứu thương và tải thương cũng được chú ý quan tâm và tổ chức Đầu tháng 3 năm 1947 tại Quảng Nam – Đà Nẵng cuộc tấn công của giặc Pháp bắt đầu, chúng tiến quân theo hai hướng, một hướng từ cánh Tây Bắc Hòa Vang tiến dọc theo sát chân núi Bà Nà, cánh hai tiến vào Non Nước rồi tiến dọc bờ biển đánh vào Hội
An Do lực lượng ta còn yếu nên khi địch tấn công các đơn vị vừa chiến đấu ngăn chặn vừa rút lui về tuyến sau để bảo toàn lực lượng và tạo điều kiện cho nhân dân di tản thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng ý chí quyết tâm cho kháng chiến của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng là rất lớn và không hề nhụt chí Bước sang năm 1948, diễn biến tình hình giữ ta và địch trên khắp các chiến trường vẫn giằng co quyết liệt Quân Pháp bị thật bại nặng nề trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh Pháp chuyển sang chiến lược đánh lâu dài với tiêu chí “lấy người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” trước diễn biến tình hình đó chủ trương của quân
và nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng là sát cánh cùng với Trung đoàn 96 sẵn sàng đánh địch Trong những giờ phút lịch sử của cuộc đấu tranh chống Pháp, quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng đã cùng đồng bào cả nước siết chặt đội ngũ xung quanh Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cách mạng Cả tỉnh đều bừng bừng khí thế giết giặc, từ nông thôn đến thành thị đã chiến đấu với tinh thần “thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Trong khói lửa của chiến tranh nhiều học sinh, thanh niên không kịp từ biệt gia đình tình nguyện gia nhập các đơn vị bộ đội, tự vệ và chiến đấu rất dũng cảm Cả tỉnh ai ai cũng tự nguyện làm hết sức mình, hy sinh tất cả để góp phần thi đua giết giặc Mỗi ngày trên quê hương là mỗi ngày mà hàng vạn nhân dân tại các huyện Hòa Vang,
Trang 27Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Đà Nẵng cùng nhau ngày đêm đào hầm giao thông, dựng vật cản, đắp ụ súng, xây dựng phòng tuyến, lập các vành đai diệt Pháp Cùng với thủ đô Hà Nội và các thành phố Nam Định, Huế, Sài Gòn, cuộc đấu tranh của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã chủ động vây đánh địch trong các thành phố làm nên thế vây hãm và làm tiêu hao quân địch, tạo điều kiện cho quân ta chuyển vào vùng kháng chiến làm thất bại âm mưu của địch là bình định và tiêu diệt các lực lượng vũ trang ta trong thành phố lớn Phong trào cách mạng dân cao, các cuộc chiến đấu của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã có tác dụng cổ vũ lớn lao cho tinh thần quyết chiến, quyết thắng của nhân dân toàn miền Trung, trong cả Liên khu và lan rộng ra cả nước Ngày 13/4/1948 phát huy thắng lợi ta liên tiếp tấn công đẩy quân địch ngày càng lún sâu vào thế phòng thủ, bị động, phá âm mưu xua quân ra càng quét của địch ta đã tổ chức một trận phục kích tại Hội An (Quế Sơn) Chiến thắng Hội An gây niềm phấn khởi, tin tưởng trong nhân dân nhất là đồng bào vùng tự do, làm thất bại âm mưu càng quét lấn chiến của địch Ba tháng sau, quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng lại tập trung bốn tiểu đoàn chủ lực của Quân khu V: 39, 19, 79 và 41 phối hợp với quân dân du kích đánh một trận lớn hơn tại Hội An lần thứ hai, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề Từ đây, địch không còn tiến quân ra càng quét vùng tự do nữa mà cố thủ ở cứ điểm Bà Rén cho đến ngày kết thúc chiến tranh kháng chiến chống Pháp Cuối năm 1948 Trung ương ra lệnh tổng phá tề và đập tan chính quyền địch ở cơ sở Có lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân của các vùng bị tạm chiến nổi dậy quét sạch tề trên nhiều vùng và lập ra chính quyền cách mạng Thực hiện chủ trương tổng phá tề và trừ gian, đại đội độc lập Điện Bàn phối hợp với biệt động, công an xung phong, vũ trang tuyên truyền cùng đoàn quân du kích Điện Bàn đột nhập vào một khu tề phản động điển hình của địch, tiêu diêt nhiều tên đầu sỏ, phát động quần chúng phát thế kìm kẹp của địch Không dừng lại đây với sức mạnh chính nghĩa và khối đại đoàn kết toàn dân, lấy lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt, quân và dân trên các chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng đã từng bước ngăn chặn và đánh bại những cuộc tấn công của địch và chặn đứng được quân Pháp trên tuyến nam sông Thu Bồn
Từ những đơn vị vũ trang nhỏ bé phân tán ở địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là các cấp Ủy tỉnh, những người cộng sản, những người cách mạng đã kiên cường trụ bám, vận động và tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân địa phương thành những đơn vị xuất sắc đi đầu trong công tác chống giặc và phòng tuyến hậu phương, đồng thời làm sức chiến đấu của ta ngày được tăng cường Các hoạt động vũ trang sau lưng địch và sâu trong lòng hậu phương địch phát triển mạnh đã làm thất bại một bước
âm mưa “chiêu an, bình định và lập tề của địch”
Vào khoảng cuối những năm 1948 -1950 những cuộc tấn công ồ ạt của quân Pháp trên chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng đã bị quân trong tỉnh đánh bại và chặn đứng
Trang 28trên tuyến Nam-Bắc sông Thu Bồn Từ đấy, vùng tự do đã được hình thành ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Sự hình thành vùng tự do hậu phương kháng chiến ở Quảng Nam – Đà Nẵng là một thực tế khách quan trong thời kì kháng Pháp Tương quan lực lượng giữa ta
và địch lúc bấy giờ đã có sự thay đổi lớn, các thành tựu của một quá trình chiến đấu đầy
hy sinh, gian khổ của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng trong những ngày đầu kháng chiến đã được ghi nhận Kháng chiến chống Pháp vô cùng khó khăn và gian khổ nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã đứng lên đấu tranh với tất cả lòng yêu nước của mình Trải qua những năm tháng chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng ngày càng phát huy và trưởng thành hơn nữa cùng nhân dân cả nước giữ vững quyền tự do, đẩy mạnh sản xuất và xây dựng hậu phương làm cho quê hương của kháng chiến không ngừng được củng cố và phát triển Kháng chiến cứu nước đến thắng lợi cuối cùng là tất cả tinh thần, của cải và ý chí quật cường của người dân Quảng Nam –
Đà Nẵng đối với quê hương với dân tộc và với nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình
Trang 29bị địch bao vây, phong tỏa và nguy cơ bị chúng tấn công lần hai Vùng Trung du và đồng bằng nơi tập trung đông dân, nhiều của vẫn bị chiếm đóng Chính trong tình hình đó, để tạo những bước chuyển biến mạnh mẽ cho kháng chiến từ tháng 6/1950 Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch để giành quyền chủ động trên chiến trường
và mở đường liên lạc giữa ta với quốc tế bên ngoài
Cuối năm 1950, quân ta thắng lớn trong chiến dịch biên giới, “tiêu diệt và bắt sống hơn 8.000 quân địch, trong đó đa số là lính Âu Phi tinh nhuệ, tiêu diệt 10 tiểu đoàn, trong
đó có 8 tiểu đoàn bị diệt gọn, chiếm tỷ lệ 41% lực lượng cơ động chiếm lược toàn Đông Dương của Pháp Một dãy biên giới dài 750 km với 35 vạn dân được giải phóng” [7, tr.169] Phối hợp với chiến dịch Biên Giới, các chiến trường toàn quốc đều đánh mạnh và chiến thắng don dã Tính chung cả nước, ta đã tiêu diệt 12.000 tên địch, giải phóng 5 thị
xã, 13 thị trấn và nhiều vùng đất đai rộng lớn Chiến thắng Biên Giới đã làm thay đổi cục diện chiến tranh giữa ta với Pháp, mở ra bước ngoặc của cuộc kháng chiến, đưa kháng chiến của ta từ chiến tranh du kích là chủ yếu tiến lên kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy Quân và dân ta đã giành được quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ Do thất bại trước những đòn tấn công liên tiếp của quân và dân ta, nhất là
Trang 30ở chiến trường Bắc Bộ, giới cầm quyền Pháp đã cầu cứu đế quốc Mĩ “viện trợ” để đẩy mạnh mưu đồ thực dân của chúng Từ đây, nhân dân ta lại có thêm một kẻ thù mới với sức mạnh được ví vào hàng mạnh nhất thế giới đó chính là đế quốc Mĩ Khó khăn có phần tăng nhưng thuận lợi mà chúng ta gặp hái được không phải là ít Chính phủ các nước Trung Quốc, Liên Xô và các nước theo hệ thống Xã hội chủ nghĩa, các nước Dân chủ nhân dân công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta Tinh thần động viên chiến đấu của nhân dân ta ngày một tăng cao, quyết tâm kháng chiến cứu nước của các tầng lớp dân chúng ngày càng sôi sục trong các làng bảng Trong không khí phấn khởi, động viên nhau của các tầng lớp nhân dân, từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 19 tháng 2 năm
1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp Đây là sự kiện vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị của dân tộc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo chính trị nêu rõ nhiệm vụ chính của cách mạng lúc này là đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Đại hội quyết định đưa Đảng ra công khai và lấy tên Đảng Lao Động Việt Nam Từ thực tiễn đó, cả nước đã tập trung tinh thần và ý thức giác ngộ giai cấp, nâng cao lập trường chính trị và khẳng định tư tưởng cho việc rèn luyện theo tinh thần của cách mạng xã hội chủ nghĩa với con đường giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Trong cả nước, cùng với sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh, phong trào đấu tranh vì hòa bình và dân chủ ngày càng lan rộng khắp các tỉnh thành Bên cạnh mặt trận thì vai trò của hậu phương cũng vô cùng to lớn Hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên có tính chất quyết định cho thắng lợi của cuộc chiến tranh Để có hậu phương vững chắc về mọi mặt, trong
cả nước khối đại đoàn kết dân tộc đã được cũng cố và mở rộng, vấn đề kinh tế nhất là ruộng đất cùng vai trò của lương thực đã được Đảng và Chính phủ giải quyết Đồng thời với đó là bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân không ngừng được củng cố và kiện toàn Các phong trào phục vụ dân sinh đã được thực hiện và từng bước gặt hái những thành quả đầu tiên như: Nha bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, phong trào văn nghệ trong quần chúng nhằm khai thác các vốn văn hóa và văn nghệ dân tộc đã được thực hiện nhiều nơi Ngoài ra công tác chăm lo, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân đã được chú ý, hệ thống bệnh viện, bệnh xá, phòng y tế, trạm cứu thương đã được xây dựng ở khắp nơi… Những thành tựu đạt được trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục đã làm tăng thêm sức mạnh của hậu phương kháng chiến Đây là nhân tố cơ bản, có tính quyết định cho thắng lợi của quân đội ta trên mặt trận quân sự
Sau chiến dịch Biên Giới Thu – Đông 1950, quân ta tiếp tục giữ vững quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính, liên tục mở các chiến dịch tiến công và phản công lớn Phương hướng chiến dịch nhằm vào Trung du và đồng bằng, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã thực hiện chủ trương đi từ các chiến dịch này đến các chiến dịch
Trang 31khác Từ chiến dịch Trung du mang mật danh là chiến dịch Trần Hưng Đạo, chiến dịch Đường số 18 mang mật danh là chiến dịch Hoàng Hoa Thám,…đến chiến dịch Hòa Bình
và hoàn thiện các chiến dịch là kế hoạch tác chiến Thu – Đông vào năm 1952 với hướng tiến công chủ yếu là chiến trường vùng miền núi Tây Bắc Sau nhiều chiến thắng cùng hòa lẫn với những thất bại, việc giành thắng lợi tại Tây Bắc đã tạo nên không khí chiến thắng cho tất cả chiến trường trong nước, cổ vũ cho tinh thần hăng say chống giặc trong toàn dân Thừa thắng, trong những ngày cuối tháng 1 năm 1953, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tư, nhận định tình hình chung và đề ra nhiệm vụ chính cho toàn chiến trường trong năm 1953 và 1954 Như vậy, trải qua suốt thời kì chiến đấu sôi động từ năm 1950-1954, nhân dân ta đã hoàn thành xuất sắc ba nhiệm vụ chiến lược: tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến, phá kế hoạch bình định của địch, tạo những tiền đề cho bước phát triển nhảy vọt của cuộc kháng chiến Quán triệt
tư tưởng chiến lược tấn công, nêu cao ý chí kiên quyết thắng, quân và dân ta từng bước phát triển thế tiến công với quy mô ngày càng lớn bằng việc thực hiện cả chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, giành ưu thế về quân sự, giữ vững và phát huy ưu thế giành quyền chủ động chiến lược trên tất cả các mặt trận Các chiến dịch tiến công, phản công của ta trong thời kì này đều phát triển quy mô ngày càng lớn, trên những địa bàn khá rộng và thời gian dài Bộ đội ta tiến bộ rõ rệt về trình độ đánh tiến công và đáng vận động Tất cả đã tạo thành một thế trận liên hoàn và hậu phương kháng chiến không ngừng
mở rộng, thúc đẩy cuộc kháng chiến của nước ta và của cả ba nước Đông Dương ngày một phát triển mạnh mẽ
2.1.2 ặc đ ểm, tình hình tại mặt trận Quảng Nam – Nẵng
Cuối năm 1950, cuộc kháng chiến của quân và dân ta trong cả nước giành được nhiều thắng lợi to lớn, đặc biệt là chiến thắng biên giới Thu – Đông 1950 tạo ra thế và lực mới để nhân dân ta chuyển sang giai đoạn tấn công và tấn công dồn dập Cả nước, các lực lượng vũ trang chiến đấu đã trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ đã lần lượt ra đời Trước tình hình trên đã làm cho thực dân Pháp lo sợ, cùng với bọn can thiệp Mĩ, Pháp đã cho tăng cường viện trợ và đẩy mạnh chiến tranh xâm lược hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường đã mất Tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, nhằm hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh toàn liên khu phát triển hơn nữa, phối hợp với các chiến trường chính tại Bắc Bộ và Bình – Trị - Thiên, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V đã cùng cả nước phối hợp mở đợt tấn công Đông – Xuân tại Quảng Nam – Đà Nẵng Tại đây, hướng Quảng Nam là hướng chiến trường chính, có nhiệm vụ là tiêu diệt bộ phận sinh lực địch Sau 5 năm chiến đấu kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, cuộc kháng chiến của quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã có nhiều bước chuyển mình và
Trang 32giànhnhững thắng lợi quan trọng Tuy nhiên, mỗi thời kì chiến tranh đều có những vấn đề mới và lớn được đặt ra, những yêu cầu mới đòi hỏi cần phải nhanh chóng khắc phục và hoàn thành để tiến lên kịp với sự phát triển của tình hình Trong tình thế đó, yêu cầu cấp bách hơn nữa là chất lượng và hiệu suất chiến đấu, cần phát động một cao trào chiến tranh du kích và liên tục tấn công địch trên khắp các vùng bị địch tạm chiến Thực dân Pháp được Mĩ viện trợ nên đã có những cố gắng mới trong chiến tranh, tướng Rever đã được cử sang Đông Dương một kế hoạch quân sự mới đã được thực hiện tại nước ta Thực hiện kế hoạch Rever, chiến trường Liên khu V trở thành nơi bình định và lấn chiếm của các cuộc càn quét, nhất là đối với vùng tự do và vùng tạm chiến Trước những khó khăn và thử thách nghiêm trọng này, nhân dân miền Trung nói chung và Quảng Nam –
Đà Nẵng nói riêng đã tỏ rõ ý chí kiên cường bất khuất, gan góc kiên trì chịu đựng, quyết tìm mọi cách chống đối, và khôi phục sản xuất để đánh giặc với tinh thần “lá lành đùm lách rách”, sướng khổ có nhau, no đói cùng nhau Tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, quân Pháp đã tăng thêm lực lượng và phương tiện, tăng cường hệ thống các đồn phòng thủ theo dọc các bên sông Thu Bồn và sông Cẩm Lệ cùng với các quốc lộ như 1A, 14B,… nhiều lô cốt, boong ke và các tháp canh đã mọc lên như nấm Trước tình hình đó,
để hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh, chiến dịch Đông Xuân ở Quảng Nam – Đà Nẵng mang tên chiến dịch Võ Nguyên Giáp đã được thực hiện Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Trung đoàn chủ lực 210 của Liên khu và hai tiểu đoàn của trung đoàn 108 Quảng Nam cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích toàn tỉnh Sau thắng lợi của chiến dịch Võ Nguyên Giáp là liên tiếp các chiến thắng của quân và dân ta ở vùng sau lưng địch Tại hai huyện Điện Bàn và Hòa Vang thì phong trào sau lưng địch ngày càng phát triển mạnh mẽ Phát huy thắng lợi trên khắp các chiến trường tại Quảng Nam – Đà Nẵng, thực hiện chủ trương của Ban chấp hành Trung ương và chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh các đại đoàn đã được thành lập lần lượt tại đây như: đại đoàn 308, 304, 312, 316,
320 và 325 nhất là đại đoàn công pháo 351, không những thế các tiểu đoàn, đại đội địa phương cũng được kiện toàn và phát triển Với lực lượng hùng hậu cùng ý chí sắt thép đã cho phép và tạo điều kiện cho quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng làm nên nhiều trận chiến với thắng lợi vang dội góp phần làm lung lay bước chân kẻ thù Sau hàng loạt các thất bại của mình, thực dân Pháp và bọn can thiệp Mĩ ngày càng luống sâu hơn vào chiến tranh Đông Dương và Việt Nam Được sự giúp sức cả về tài chính lẫn phương tiện chiến tranh, Pháp càng mạnh mẽ thực hiện các cuộc bình định và lấn chiếm của mình với khẩu hiệu
“bình định gấp rút, phản công quyết liệt” hòng đè bẹp lực lượng ta và nhanh chóng kết thúc chiến tranh Với âm mưa này hàng loạt các kế hoạch quân sự của cả Pháp và Mĩ đã được đưa ra, tất cả đều thể hiện sự liều lĩnh với nổ lực rất lớn của bọn thực dân, cùng với
đó là sự nham hiểm dưới mọi thủ đoạn chiến tranh tàn khốc và xảo quyệt của địch Để thực hiện các kế hoạch đã vạch ra, tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, địch đã liên
Trang 33tiếp mở các cuộc càng quét lớn, “tập trung quân ứng chiến từ 400 tên đến 800 tên cộng với các quân cứ điểm càn đi xát lại nhiều vùng ở các khu trung, khu tây Điện Bàn, Hòa Vang, tiến công vào các vùng giáp ranh, vùng tự do tây Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn” [17, tr.163] Đến đâu tội ác của giặc Pháp đều để lại, chúng đốt nhà cửa, phá nát xóm làng, giết người, cướp của và vây bắt thanh niên đi lính… Không những vậy, địch còn xây dựng nhiều tháp canh, cứ điểm hòng quan sát và khống chế tình hình khu vực càn quét, củng cố phòng tuyến dọc sông Cẩm Lệ và sông Thu Bồn Tại thành phố Đà Nẵng, sau khi bài trò “trao trả độc lập” cho Bảo Đại chúng lại bắt tay vào việc thiết lập nên chính phủ mới tay sai dưới sự kiểm soát và điều khiển của thực dân Chúng thực hiện nhiều cuộc truy lùng, đánh phá vào các cơ sở, phục bắt các cán bộ, đàn áp nhân dân và thẳng tay trừng trị những ai bị chúng nghi là cộng sản và tham gia kháng chiến, ngoài ra việc dụ dỗ, tăng lương, viện trợ cho các gia đình để hòng mua chuộc quần chúng nhân dân và các công chức ngụy quyền cũng được chúng thực hiện mãnh mẽ Với âm mưa mở rộng thôn tính Đông Dương, tại Quảng Nam – Đà Nẵng nhiều bến bãi, kho hàng, sân bay
đã được thực dân xây dựng và mở rộng, các trận đại pháo cũng được khẩn trương xây dựng, vị trí phỏng thủ trong thành phố và cả nội thành cũng được tăng cường Đà Nẵng trở thành căn cứ liên hiệp lớn nhất của thực dân Pháp ở miền Trung Đông Dương, là căn
cứ hậu cần chiến lược, nơi tiếp nhận những viện trợ cũng như chi viện quân sự cho cả chiến trường Trung bộ và vùng Hạ, Trung Lào Thành phố là đầu mối cho các căn cứ và chi viện của địch thì tại các vùng nông thôn, đồng bằng, và vùng miền núi địch lại thực hiện việc bình định và lấn chiếm dưới chiêu bài là “chiêu an”, các “ủy ban chiêu an đã được thành lập tại nhiều nơi, điển hình nhất cho vùng “chiêu an” của địch là xã Điện Phong nơi có 17 thôn thuộc vùng Gò Nổi nằm ở phía tây-nam của huyện Điện Bàn Tiếp theo cho các đợt càn quét, “chiêu an” của địch là các vùng của xã Điện Quang, Điện Hồng, tây - bắc Hòa Vang… số lượng càng quét và đánh phá ngày càng tăng và dã man hơn Ở các vùng tự do, máy bay là phương tiện mà bọn thực dân dùng để đánh phá cả ngày lẫn đêm, chúng ném bon vào các trường học, bệnh viện, chợ búa,… tất cả những gì trên đường đi chúng không bỏ sót bất cứ một dấu vết nhỏ nào Các chiêu bài tung tin thất thiệt đến dò la, gián điệp đều được chúng sử dụng không bỏ sót nhằm chia rẽ nội bộ, gây chiến tranh tâm lí trong nhân dân Trên địa bàn tỉnh, chưa bao giờ địch lại càng quét và đánh phá ác liệt như thời điểm này Với những thủ đoạn tàn bạo và xảo quyệt của mình địch đã có những thành công bước đầu trong kế hoạch của mình, tuy nhiên đó chỉ là sự tạm thời trong thời gian ngắn khi mà sự gắng gượng cuối cùng cho việc gượng dậy của chúng sau những thất bại nặng nề trên chiến trường của cả nước được thực hiện trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng
Trang 34Trước những hành động ngang trái và bất dung của địch, tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng đã có những chỉ đạo và biện pháp khắc phục nhanh chóng tình hình trên Trên toàn miền Nam Trung Bộ, Liên khu ủy Khu V đã có những biện pháp phối hợp đồng bộ giữa quân sự, chính trị và binh vận Tại vùng Quảng Nam – Đà Nẵng, để khắc phục những nhược điểm và yếu kém về các mặt quân sự, binh vận thấy được những nguyên nhân khách quan, chủ quan của tỉnh, tỉnh ủy đã quyết định coi việc chống “bình định” và
“chiêu an” là công tác trọng tâm của toàn quân và dân trên địa bàn tỉnh Phía bắc Quảng Nam – Đà Nẵng chính là chiến trường chính cho trọng điểm “chiêu an” của địch, chiến dịch Thu Đông mang tên Hoàng Diệu đã được Liên Khu V thông qua và chia ra làm hai đợt với những nhiệm vụ và mục tiêu khác nhau Song song với các hoạt động quân sự của các lực lượng vũ trang tỉnh thì trên mặt trận chính trị hoạt động của các quần chúng nhân dân cũng phát triển sôi nổi Quần chúng đã cùng nhau phát động rầm rộ những đợt đấu tranh chống chiêu bài “chiêu an” tại nhiều vùng trong tỉnh, từ vùng bình định, lấn chiến, vùng tạm chiến đến cả vùng tự do trọng tâm nhất vẫn là các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Đại Lộc Nhờ sự phối hợp đồng bộ giữa vũ trang chính trị và binh vận, giữa các lực lượng vũ trang địa phương với nhau đã làm cho các bước phản công của địch gặp nhiều khó khăn, một số lực lượng của địch hoặc bị kìm kẹp hoặc bị tiêu diệt, hàng ngũ địch bị giao động Quần chúng nhân dân tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, tin tưởng vào cách mạng đã tự đứng lên phá lỏng được thế kìm kẹp của địch ở phần lớn các điểm
“chiêu an” dồn dân, dồn làng của địch Vùng du kích của ta đã được mở rộng đến sát bờ nam sông Cẩm Lệ, ngoại ô Hội An và thành phố Đà Nẵng Ngoài tiền tuyến nở rộ các chiến công thì tại hậu phương các chiến sĩ và nhân dân cũng hăng say luyện tập và sản xuất để chờ đón nhiệm vụ phía trước được giao Một trong những trận đánh vang dội và đáng nhớ nhất là trận đánh tại Đồn Trường Giảng với thể nghiệm lối đánh đặc công Quảng Nam – Đà Nẵng “Đồn Trường Giảng nằm trên trục đường giao thông số 100 Vĩnh Điện đi Ái Nghĩa, đoạn giữa hai xã Điện Tiến và Điện Hồng của huyện Điện Bàn
do một đại đội lính ngụy nắm giữ” [17, tr.195] Trận tiến công Đồn Trường Giảng là trận đánh thắng lợi vẻ vang đầu tiên mở đầu cho cách đánh đặc công trên chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng Trận đánh đã mang lại niềm tin tưởng lớn cho lực lượng vũ trang về cách đánh mới – cách đánh nhanh, gọn, ít thương vong cho ta nhưng diệt nhiều tên địch
Trên chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, các chiến dịch liên tiếp các chiến dịch
đã được quân và dân ta thực hiện với thắng lợi ngày càng thắng lợi đã tạo niềm tin vững chắc trong dân về cách mạng, về sự thắng lợi nhất định của nước ta trước giặc thực dân trong một tương lai không xa Từ chiến dịch Hè – Thu năm 1952 đến chiến dịch Đông Xuân năm 1953 đã làm cho vùng tự do của ta được mở rộng, vùng tạm chiến của địch ngày càng bị thu hẹp, tiềm lực kháng chiến của ta tăng lên trong khi tinh thần đánh chiếm
Trang 35của địch ngày càng sa sút Thế và lực của Việt Nam ngày càng được khẳng định tạo cơ
sở vững chắc cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mĩ trên toàn quốc nói chung và tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng ngày càng tiến lên và tiếp tục tiến lên giặt hái những thành công mới
2.2 Mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954
2.2.1.Xây dựng lực lượng vũ rang chính quy
Khí thế cách mạng ngày càng dân cao, công cuộc đấu tranh chống thực dân và bọn can thiệp Mĩ ngày càng diễn ra quyết liệt tại nhiều tỉnh thành trong cả nước Việc ra đời các đội tự vệ vũ trang ở các tổng, làng đánh dấu lực lượng vũ trang tại các huyện, xã trong cả nước đã được ra đời và xây dựng phát triển Sự trưởng thành nhanh chóng của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường cả nước đã làm cho sức mạnh về mặt quân
sự của nhân dân ta ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp và bọn can thiệp Mĩ ngày càng lo ngại Để đạt được những thành quả lớn lao này đó là cả một quá trình chuẩn bị, xây dựng
và trưởng thành của lực lượng vũ trang ta về mọi mặt Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng: “Phải đặc biệt phát triển vũ trang tuyên truyền, tiến sâu vào sau lưng địch chinh phục dân và hội tề, gây cơ sở ngay ở hậu phương địch để dọn đường cho các đại đội độc lập vào phát triển du kích chiến tranh” và “Giúp dân quân du kích trở nên những bộ đội địa phương, lập nhiều làng chiến đấu ở đồng bằng, khu chiến đấu ở miền núi, gây cơ sở du kích, phát triển rộng khắp chiến tranh du kích” [9, tr.15] Thực hiện chủ trương đó, tại Quảng Nam – Đà Nẵng Bộ tư lệnh Liên khu V chủ trương rút các trung đoàn Vệ quốc quân phụ trách các tỉnh về xây dựng các trung đoàn chủ lực của Liên khu, còn nhiệm vụ quân sự địa phương thì giao cho lực lượng vũ trang địa phương đảm nhận Đến cuối tháng 4 năm 1950 Ban thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng đã họp và ra quyết định xây dựng tiểu đoàn bộ đội địa phương tập trung cơ động của tỉnh, đồng thời nhanh chóng xây dựng các đại đội bộ đội địa phương mới bổ sung cho các huyện, thị xã được điều về tỉnh Đây là mốc đánh dấu cho sự ra đời của lực lượng vũ trang của tỉnh, các tiểu đoàn tập trung cơ động đầu tiên của tỉnh đã được ra đời và xây dựng phát triển Với hành trang thô sơ cho buổi đầu thành lập những người chiến sĩ đã được trang bị cho mình một hành trang đầy giản dị, đâu phải chỉ có vậy, trong mỗi hành trang của người lính là những tấm lòng son sắc đối với quê hương đất nước, thương dân và lòng tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng vào thắng lợi của ta trước kẻ thù Từng bước, từng bước một các lực lượng vũ trang trong tỉnh đã được ra đời xây dựng và phát triển, các tiểu đoàn, trung đoàn đến các đại đoàn đã thay nhau thực hiện nhiệm vụ trận tuyến của mình trong suốt thời kì khói lửa của chiến tranh Sau khi tiểu đoàn 29 Quảng Nam – Đà Nẵng ra đời thì theo sau là các trung đoàn chủ lực: trung đoàn 803, trung đoàn 210 sau đổi thành 108, cùng với tiểu đoàn thì các đại đội cũng được thành lập như: đại đội 24, 23, 26 Nhờ vậy
Trang 36các lực lượng vũ trang tập trung ngày càng tăng về số lượng và chất lượng là một yêu cầu tất yếu, là nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng trong chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam Do yêu cầu đó nên đã có sự điều chỉnh và tinh giảm biên chế để đảm bảo hoàn thành các yêu cầu đặt ra Sau thời gian kiện toàn và tổ chức các đơn vị mới cùng việc giảm biên chế các lực lượng vũ trang không những lớn mạnh mà ngày càng đáp ứng được các yêu cầu và hoàn thành tốt các nhiệm vụ Trong quá trình chiến đấu, xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng và các cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang đã không quản hy sinh, gian khổ, sẵn sàng xả thân cho độc lập, tự do của Tổ quốc cho quê hương Nhiều thắng lợi to lớn của quân và dân ta tại các chiến trường chính đã đẩy mạnh cho việc tiến công trong khắp các chiến trường của Tổ quốc, điều này đã làm cho các lực lượng vũ trang được thành lập tại nhiều nơi với nhiều hình thức khác nhau, nhiều đại đoàn, trung đoàn, đại đội như: đại đoàn 308, 304, 316, 320… Từ cuối năm 1952, ở Quảng Nam – Đà Nẵng, các chiến thắng Xuân Đài, Vân Ly, Túy Loan, Lệ Sơn… đã tạo điều kiện cho thế trận nhân dân ngày càng phát triển sâu rộng Nhiều vùng du kích đã mở rộng, các công tác chuẩn bị hậu phương, tuyên truyền, phát triển cơ sở đã được đẩy mạnh tại nhiều nơi, nhất là trong các thành phố và thị xã Hệ thống đồn bót, cứ điểm của địch luôn bị các lực lượng vũ trang địa phương ta tiến hành bao vây đánh phá, uy hiếp Kết hợp với các hoạt động của lực lượng vũ trang, nhân dân tại các thôn xã đã tổ chức các đợt phá đường giao thông, cắt đứt và làm tê liệt nhiều đoạn đường vận chuyển, tiếp tế bằng
cơ giới của địch Trước những lớn mạnh của phong trào chiến tranh du kích của quân dân Quảng Nam – Đà Nẵng, thực dân Pháp đã điều sáu tiểu đoàn cơ động ứng chiến tại chỗ liên tiếp tiến hành đánh phá lùng sục và bắt bớ Các hoạt động bình định và lấn chiếm liên tục diễn ra liên miên tại nhiều vùng trong tỉnh Trong các căn cứ du kích thì tiếng súng càng quét của địch lại càng diễn ra ác chiến và quyết liệt hơn Hơn ba tháng đánh phá liên tục, địch đã chiếm đóng hầu hết các vùng du kích đông – tây Điện Bàn, tạo thành các hệ thống công sự boong-ke Đi đôi với càn quét là bắt lính và cướp của, giết người, phá làng xóm… sự chiếm đóng dày đặc của địch trên các địa bàn cả xung yếu và không xung yếu là cản trở và khó khăn lớn nhất đối với quân dân ta Cùng với tình hình chung trong cả nước, việc ta và địch giành nhau từng mét đất, địch đánh chiến, ta chiếm lại, địch lại đánh chiếm ta lại đánh chiếm lại, cứ như vậy, khi mà lực lượng vũ trang của ta chưa thật sự mạnh hơn địch thì sự giằng co này là tình hình chung cho cả nước và diễn ra khắp các vùng, chỉ khi thế và lực giữa ta và địch có sự thay đổi về tương quan thì mới thật sự chấm dứt tình trạng này Trong trào du kích phát triển, cách đánh vận động chiến cùng với cách đánh đặc công, sự phát triển không ngừng về số lượng đã dần làm cho thế và lực của ta ngày càng mạnh Sự yếu thế và liên tiếp thất bại đã làm cho địch rơi vào thế bị động, thế và lực của địch lúc này đã giảm đi rất nhiều điều này đã làm tương quan lực lượng giữa ta và địch đã có sự chệnh lệch và phần ưu thế đang thuộc về phe ta “Trong
Trang 37vòng ba thắng đầu năm 1953, du kích và bộ đội địa phương các huyện đã đánh 208 trận, diệt 195 tên, bắt sống 14 tên Trong đó nhiều trận đánh khá tốt” [17, tr.202] Chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng chính là đầu cầu cho các chiến lượt then chốt ở phía bắc của khu vực Nam Trung Bộ và Liên khu V Do vậy, nơi đây từ sau chiến thắng Hè Thu năm 1952, phong trào kháng chiến vùng sau lưng địch và vùng tự do đã phát triển khá mạnh về mọi mặt Để tạo điều kiện làm hậu thuẫn cho công cuộc phát động quần chúng thực hiện giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất, nhiều biện pháp tích cực đã được đề ra tại Quảng Nam – Đà Nẵng “Liên khu ủy đề ra nhiều biện pháp tích cực để thực hiện 10 điểm về chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự của Hồ Chí Minh” [17, tr.205] Để củng cố tinh thần kháng chiến và năng cao tầm ý nghĩa của công tác mặt trận tư tưởng, giữa tháng 3 năm 1953 Đại hội chiến sĩ thi đua Liên khu V lần hai đã được tổ chức tại Quảng Ngãi, có rất nhiều chiến sĩ và bà mẹ Việt Nam của quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng đã được vinh danh tại đây Không dừng lại ở đây, thời gian này, được sự ủng hộ và lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy chiến dịch Hè 1953 ở Quảng Nam đã được thực hiện
“Trong chiến dịch Hè 1953, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.500 tên địch, bắt sống 242 tên, thu trên 300 súng các loại” [17, tr.210] Nhưng quan trọng nhất là ta đã phá thế bao vây của địch và hỗ trợ cho các phong trào đấu tranh du kích phát triển, giữ vững thế chủ động trên chiến trường Phong trào du kích vùng sau lưng địch phát triển, đội ngũ dân quân du kích cũng từ đó mà trưởng thành nhất là ở các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Hòa Vang Công tác binh địch vận cũng có nhiều bước tiến bộ Kết hợp với các chiến thắng quân sự thì phong trào chống bắt lính, chống địch ở tại thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội
An, thị trấn Vĩnh Điện cũng phát triển rất mạnh Dân quân du kích có điều kiện bám sát đồn bót, bao vây uy hiếp địch Công tác vũ trang hậu phương cũng được đánh giá cao, các hoạt động đào tạo và dạy học cho các bộ phận vũ trang cũng được tiến hành Đầu năm 1954, tiểu đoàn 17 chủ lực của tỉnh được thành lập gồm các đại đội 230, 240, 260 và được tiến hành huấn luyện quân sự Riêng kỹ thuật, chiến thuật đặc công được huấn luyện phổ biến trong các đơn vị chủ lực tập trung của tỉnh Ngoài ra việc chuẩn bị vũ khí, thi đua sáng tạo trong yêu nước, sản xuất vật chất cũng đã được tiến hành Lực lượng vũ trang tập trung và các cơ sở của tỉnh từ vùng tự do đến vùng sau lưng địch đều phát triển rộng khắp và vững chắc Tình hình đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân trong tỉnh bước vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với một khí thế mới, mạnh mẽ cùng quân và nhân dân cả nước giành thắng lợi quyết định Mọi sự chuẩn bị đã sẵn sàng cho một cuộc đánh chiến lớn giữa ta và địch
2.2.2 ẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng hậu phương vững chắc
Trang 38Trong những ngày đầu của năm 1948, quán triệt của chủ trương của Đảng và Chính phủ về phương hướng chiến đấu nhất là “biến hậu phương địch thành tiền phương ta” vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để hướng về vùng địch tạm chiếm, phối hợp với các đại đội ra sức thi đua và thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh tiến lên đều khắp, trên
cơ sở đó sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu cao của cuộc kháng chiến Hưởng ứng mục tiêu chiến lược là phát triển mạnh mẽ chiến tranh nhân dân trên khắp các chiến trường, biến hậu phương địch thành tiền phương ta Từ đó, quân và nhân dân cả nước nói chung và Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng ra sức thi đua và phát triển lực lượng du kích ngay vùng địch hậu, qua đó, ta đã mạnh lên và địch ngày càng rơi vào thế suy yếu dần Phát triển chiến tranh du kích tại khắp các vùng miền đã làm cho việc so sánh lực lượng ngày càng
có lợi cho ta, từ chỗ ngăn chặn đến chỗ ta đã đẩy lùi và thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch Đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của kháng chiến hưởng ứng chỉ thị của Trung ương
về phát động phong trào thi đua ái quốc và lời kêu gọi của Hồ Chí Minh:
“Người người thi đua Ngành ngành thi đua Ngày ngày thi đua
Ta nhất định thắng Địch nhất định thua”
Bước vào giai đoạn 1950 trở đi, tại chiến trường Nam Trung Bộ địch đã phân thành hai vùng rõ rệt là vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm, trong đó chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng có cả hai vùng trên, vùng tạm chiếm quan trọng trong chiến lược của địch tại đây là Đà Nẵng và Hội An Từ vị trí chiến lược của chiến trường quê hương
và tình hình lịch sử quân và nhân dân nơi đây đã cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ lớn mà Trung ương và Liên khu V đã chỉ thị Đó là đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiến, đánh bại kế hoạch “bình định” của địch, biến hậu phương địch thành tiền phương ta Xây dựng và cũng cố vùng tự do thành căn cứ địa vững chắc, phát triển hậu phương kháng chiến thành hậu phương trực tiếp của chiến trường Đồng thời kết hợp với các thế trận chiến tranh du kích và vận động chiến tạo thành thế trận đánh địch trong khắp cả nước hợp thành chiến tranh nhân dân Với những nhiệm vụ vô cùng nặng nề và to lớn đó, nhưng nhìn chung nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng đã cố gắng vượt mọi khó khăn, gian khổ trong tình hình đất nước gặp rất nhiều trở ngại và phức tạp
để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao lẫn với các nhiệm vụ đề ra Từ khi thất bại, tại các mặt trận phía bắc nhất là việc Pháp thua trong chiến dịch Việt Bắc, thực dân Pháp đã
Trang 39tăng cường càng quét và mở rộng bình định lấn chiếm hơn nữa Chỉ trong vòng hai năm 1950-1952 mà nhân dân ta đã phải liên tục chiến đấu với quân thù trên khắp các mặt trận
từ miền xuôi đến miền ngược Bước vào kháng chiến toàn quốc cùng với các chỉ thị Trung ương,đối mặt với các chiến dịch thì quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng
và Nam Trung Bộ nói chung có chăng chỉ là sự nghèo đói, một kho tàng trống rỗng vật chất, lương thực không đủ ăn, số dự trữ lại càng không có, ngân sách là con số không… khó khăn chồng chất khó khăn Kháng chiến của quân và dân tại quê hương thân yêu này không những làm vơ diệu và giảm bớt đi nỗi đau mất nước trong lòng mỗi người con mà ngày càng có chiều hướng tăng lên, đây chính là động lực cũng là nguyên nhân cho các cao trào đấu tranh trong toàn dân trong thời kì cao trào của chiến cuộc Thử thách chồng thử thách, gian khổ chồng gian khổ, chiến trường chia cắt, hậu phương chiến lược không thể chi viện, quân thù bao vây… là những gì mà nhân dân ta và nhân dân Quảng Nam –
Đà Nẵng đã phải cùng nhau cố gắng vượt qua trong thời kì lịch sử này Tuy là vậy, nhưng lòng tin tưởng vững chắc ở truyền thống yêu nước, đoàn kết chiến đấu của Đảng bộ và nhân dân ta là vô cùng lớn Nhận định tình hình tại chiến trường Tỉnh ủy Quảng Nam –
Đà Nẵng đã chủ trương đề ra nhiều biện pháp và chủ trương nhầm: “ổn định tình hình tư tưởng, cũng cố tổ chức cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh quyết tâm kháng chiến; xây dựng cơ sở chính trị, vũ trang, cũng
cố các đoàn thể quần chúng trong vùng địch tạm chiến kể cả Đà Nẵng, Hội An; xây dựng lực lượng địa phương, xây dựng làn chiến đấu, đẩy mạnh đánh du kích, triệt phá giao thông; đưa du kích vùng tự do ra tham chiến nhằm hỗ trợ cho phong trào du kích vùng địch, vừa rèn luyện trong thực tế chiến đấu” [7, tr.129] Thực hiện chủ trương xây dựng
và củng cố các lực lượng vũ trang cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới này các trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội tại tỉnh có nhiệm vụ dìu dắt dân quân du kích, phối hợp cùng dân quân du kích gây cơ sở, phát động chiến tranh du kích trong dân, tác chiến tiêu hao tiêu diệt địch trên một địa bàn nhất định Tại các vùng miền núi, dân tộc ít người việc đẩy mạnh phát triển dân quân du kích và nhanh chóng kiện toàn các cơ quan chỉ đạo và chỉ huy dân quân du kích để hoàn thiện và tiếp túc mở rộng chiến tranh
du kích ra các vùng hiểm yếu của địa bàn là một trong những nhiệm vụ và công tác đi
Trang 40đầu cho việc đảm bảo thắng lợi trong chiến cuộc Sự phối hợp chặt chẽ giữa vệ quốc đoàn
và dân quân tự vệ trong luyện quân lập công, xây dựng làng chiến đấu và sản xuất vũ khí
là những hoạt động ý nghĩa mà quân và dân nơi đây đã ra sức hoàn thành thật tốt Tình thương yêu, đùm bọc của nhân dân là nguồn cổ vũ, động viên mạnh mẽ quyết tâm học tập của cán bộ và chiến sĩ Mỗi người dân quê hương nơi đây đều tự giác rèn luyện, mỗi góc sân, mỗi mảnh vườn đều trở thành bãi tập cho chiến trận và cũng là nơi trở thành mồ chôn giặc Pháp Đường cái, đồng ruộng, đồi núi tấp nập các đơn vị bộ đội cùng với dân quân bắn súng, ném lựu đạn và sẵn sàng xung kích khi có hiệu lệnh từ cấp trên Các huyện phía bắc: Hòa Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc đã tiến hành củng cố cấp ủy chi bộ ở cơ sở thôn, đưa cán bộ du kích trở lại bám địa bàn hoạt động, vận động quần chúng năng cao hơn nữa tinh thần cách mạng, phát huy lòng yêu nước, căm thù giặc Trong quần chúng nhân dân, các chiến sĩ cách mạng đã tuyên truyền và xây dựng nhận thức về sự quan trọng của hoạt động chiến tranh du kích trong các đoàn thể cứu quốc và trong toàn dân, làm cho mọi người đều tham gia vào hàng ngũ dân quân du kích, đánh giặc giữ làng, giữ nước “Trong quá trình vận động đó, ở vùng tạm chiến đã có hơn 800 người vào hội nông dân kháng địch và 1.400 thanh niên kháng địch” [17, tr.105] Trên cơ
sở đó, phong trào chiến tranh nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, mưu trí: cụ Nguyễn Đệ ở Điện Tiến - Điện Bàn, cụ Tam, bạch đầu quân ở Điện Quang Cùng với toàn dân, đội quân tóc dài cũng là một lực lượng lớn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương Trong tỉnh đã có rất nhiều chị em phụ nữ tham gia đội ngũ nữ dân quân du kích Tại đây, những người mẹ, người vợ, những người con gái đã trở thành những phụ nữ dân quân đã được học tập, rèn luyện và đào tạo như những chiến sĩ thật sự để nâng cao ý thức giác ngộ cách mạng như câu tục ngữ “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Ngoài ra, các chị em dân quân còn là lực lượng hậu cần quan trọng trong các hoạt động cứu thương, tiếp tế, tải đạn, công tác binh vận và tăng gia sản xuất Có biết bao tấm lòng người con gái trên đất Quảng Nam – Đà Nẵng son sắc, anh hùng, dũng cảm hy sinh vì lòng yêu nước như câu ca dao xưa đã miêu tả:
“Em là con gái Thu Bồn