Tài liệu Câu hỏi và hướng dẫn ôn tập môn lịch sử triết học - phần phương Tây dành cho thí sinh thi tuyển cao học, NCS chuyên ngành Triết học ôn tập, với các câu hỏi phần triết học phương Tây như: trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của chủ nghĩa duy duy vật; trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử của phép biện chứng;...Chúc bạn học tốt.
Trang 1CÂU HỎI VÀ HƯỚNG DẪN ƠN TẬP MƠN LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC – PHẦN PHƯƠNG TÂY
( dành cho thí sinh thi tuyển cao học, NCS chuyên ngành Triết học)
1 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của
chủ nghĩa duy duy vật
Trong quá trình phát sinh và phát triển của mình chủ nghĩa duy vật trải
qua các hình thức cơ bản sau:
1 Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ (øCNDV tự phát, xét theo cơ sở,
quá trình hình thành lẫn trình độ của nó) tại các nước phương Đông(Ấn Độ,Trung Quốc…) và Hy Lạp, La Mã cổ đại là hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duyvật Các nhà triết học bước đầu vượt qua thế giới quan huyền thoại, màthần
thoại là hạt nhân của nó, giải thích nguyên nhân thế giới từ chính các yếu tố vật
chất sẵn có của thế giới (đất, nước, lủa, không khí…), xem xét sự hình thành của
các sự vật một cách tự thân Đạt được thành quả đĩ là nhờ chủ nghĩa duy vật ngay từ khi mới ra đời đã cĩ mối liên hệ hữu cơ với sự phát triển khoa học, nhất là
khoa học tự nhiên, dù đang cịn ở trong tình trạng tản mạn, sơ khai, chưa chuyênbiệt hĩa
Tính chất ấu trĩ (chất phác, ngây thơ) của chủ nghĩa duy vật cổ đại gắn vớitrình độ nhận thức chung của loài người thời kỳ này Phần lớn nhận định của
chủ nghĩa duy vật căn cứ vào sự quan sát trực tiếp, sự cảm nhận hay suy tưởng
của các triết gia, mà chưa được luận chứng bằng chất liệu sống động của tri
thức khoa học Cách đặt vấn đề về “bản nguyên”, hay viên gạch đầu tiên xây nêntịa lâu đài vũ trụ, xét theo quan điểm vật lý học hiện đại, cũng chưa thịa đáng .Bên cạnh đó do chịu sự quy định của điều kiện kinh tế, văn hóa của xã hội,nhiều nhà duy vật chưa chấm dứt hẳn sự ràng buộc của thế giới quan nguyênthủy (vật hoạt luận, vật linh thuyết, nhân hình hóa…) và các yếu tố huyền học(occultism)
Trong lịch sử chủ nghĩa duy vật chất phác tại Hy lạp cổ đại, nguyên tử luậnduy vật, do Lơxíp sáng lập, Đêmơcrít (và sau này, trong thời kỳ Hy Lạp hĩa cĩ
thêm Êpiquya đã thực hiện nhân bản hĩa nguyên tử luận) phát triển, chiếm vị trí
đặc biệt, là điển hình cho tư tưởng duy vật cổ đại Hơn thế nữa, thơng qua nguyên
tử luận duy vật, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ngay
từ buổi ban đầu đã trở nên gay gắt, quyết liệt Cuộc đấu tranh đĩ làm nên động lựccủa sự phát triển tư duy triết học trong hơn hai ngàn năm qua Đĩng gĩp của
nguyên tử luận vào hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là ở chỗ, thứ nhất, đã
xác lập bức tranh phi nhân hình về thế giới, căn cứ trên suy đốn về nguyên tử như
Trang 2khơng, như bể chứa các nguyên tử; thứ hai, giải thích các sự vật, hiện tượng, quá trình diễn ra trong thế giới theo tính tất yếu tự nhiên; thứ ba, vận dụng nguyên tử
luận vào việc phân tích bản chất con người và xã hội, phủ nhận quan điểm về tính
bất tử của linh hồn, ủng hộ nhiệt thành nền dân chủ; thứ tư, kích thích tư duy khoa
học thơng qua cách đặt vấn đề về nguyên tử như giới hạn của thế giới vật chất
V.I Lênin trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán đã
cơ đọng cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bằng hìnhảnh “đường lối Đêmơcrít” và “đường lối Platơn”
2 Chủ nghĩa duy vật máy móc - siêu hình (cĩ thể gọi một cách cơ đọng là
Chủ nghĩa duy vật siêu hình) ở châu Âu Phục hưng (cuối thế kỷ XIV – thế kỷXVI) và cận đại ( thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX) là hình thức lịch sử thứ haicủa chủ nghĩa duy vật Nó bắt đầu từ tư tưởng duy vật trong việc xác lập bứctranh vật lý về thế giới ở các nhà khoa học Phục hưng (Copernic, Bruno, Galilei )đến các nhà duy vật thế kỷ XVII tại Anh, Pháp, Hà Lan, Italia, đặc biệt chủnghĩa duy vật vơ thần Pháp thế kỷ XVIII với La Mettrie, Diderot, Holbach,Helvétius và kết thúc ở chủ nghĩa duy vật nhân bản Feuerbach tại Đức, trướckhi được thay thế bằng hình thức tiếp theo
Về thế giới quan, tập trung chủ yếu ở khía cạnh bản thể luận, tìm hiểu về tồn tại của giới tự nhiên, thế giới vật chất, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này phát
triển trong mối liên hệ với khoa học tự nhiên Nhờ biết dựa vào các thành tựukhoa học các nhà duy vật đã xác lập được các bức tranh mới về thế giới, bướcđầu đưa ra những nhận định hợp lý về tự nhiên, các quy luật của nó, phát triểntinh thần hoài nghi và phê phán đối với chủ nghĩa giáo điều và giả khoa học.Trong quan niệm về vật chất, chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII cĩ bước pháttriển mới so với thời cổ đại Thay vì cuộc tranh luận về bản nguyên thế giới, cácnhà duy vật đã tiếp cận thế giới vật chất từ gĩc độ bản thể luận, lý giải vấn đề này
trên cơ sở khái quát hĩa tồn bộ tính vật chất của vũ trụ, tự nhiên, đi đến tư tưởng
về tính thống nhất vật chất của thế giới Đềcác (Descartes) trong Vật lý học tuyên
bố :”Hãy cho tơi vật chất, tơi sẽ xây nên thế giới” Xpinơda (Spinoza) xem thực thể(substance) như “nguyên nhân tự nĩ” (causa sui); các nhà duy vật khác nĩi về tínhtích cực nội tại của vật chất Đặc biệt các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII như LaMếtri (La Mettrie), Điđơrơ (Diderot), Hơnbách (Holbach) … thơng qua cách hiểu
về tính quy luật tự thân và tính vĩnh viễn, khơng do ai sáng tạo của vật chất, tìmhiểu các hình thức vận động của vật chất, xem vận động như mọi sự thay đổi nĩichung, đã đến gần với hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật
Về nhận thức luận, tinh thần hồi nghi và phê phán làm nên giá trị của chủnghĩa duy vật trong cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện và tư duy phản khoahọc Bêcơn (F Bacon) phê phán những “ảo tưởng”, hay những “bĩng ma” của
Trang 3nhận thức, vạch ra thực chất nền quân chủ, tức uy quyền trong sinh hoạt khoa học,
đả phá triết học kinh viện; Hốpxơ (T.Hobbes) loại trừ Thượng đế ra khỏi đối tượngnghiên cứu, quy mọi đối tượng về “vật thể”, từ vật thể tự nhiên đến vật thể xã hội;Lốccơ (J.Locke) và các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII giương cao ngọn cờ đấutranh chống thần quyền, phê phán trật tự xã hội “phi lý”, “phi nhân tính” Phê pháncái cũ, các nhà duy vật xác lập phương pháp nhận thức khoa học giúp con ngườikhẳng định quyền lực của mình trước tự nhiên Cũng như triết học nĩi chung, trongphạm vi chủ nghĩa duy vật hình thành hai khuynh hướng cơ bản, phụ thuộc vàocách tiếp cận đối với khoa học và trình độ nhận thức của thời đại Khuynh hướngkinh nghiệm (trường phái Anh) dựa trên kết quả của khoa học tự nhiên thựcnghiệm, nhấn mạnh vai trị của cảm giác, kinh nghiệm như nguồn gốc tri thức, chútrọng nấc thang “trực quan cảm tính” của nhận thức, chủ trương phương pháp quynạp; khuynh hướng duy lý dựa trên kết quả của khoa học tự nhiên lý thuyết và tốnhọc, nhấn mạnh vai trị của “trí tuệ tự thân”, hay “trực giác trí tuệ”, chú trọng nấcthang “tư duy trừu tượng” của nhận thức, chủ trương phương pháp diễn dịch – tốnhọc
Về vấn đề nhân sinh,, xã hội, phần lớn các nhà duy vật là những nhà nhân
văn, khai sáng tiêu biểu của thời đại Bêcơn đề cao sức mạnh của khoa học, gợi mở
về một xã hội lý tưởng tơn vinh quyền lực của tri thức (tuyên bố “tri thức là quyềnlực”), Hơpxơ nhấn mạnh tính chất pháp quyền của nhà nước dưới vỏ bọc của hìnhảnh Leviathan – Đấng chúa tể hùng mạnh, Lơccơ nêu lên nguyên tắc phân quyền,đặt nền mĩng cho chủ nghĩa tự do và quan điểm khoan dung tơn giáo, các nhà duyvật Pháp thế kỷ XVIII giương cao ngọn cờ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, làm sâusắc thêm tư tưởng phân quyền, cụ thể hĩa nguyên tắc thống nhất quyền con người
và quyền cơng dân Các nhà duy vật bằng các tác phẩm của mình đã tham gia vàoquá trình thiết lập mơ hình “nhà nước hợp lý tính”, đề cao hình ảnh” con ngườilý trí” và các giá trị nhân văn chủ đạo
Bên cạnh đó điều kiện lịch sử thế kỷ XVII – XVIII tác động đến sự phổbiến tính chất máy mĩc, siêu hình, quan niệm duy tâm về lịch sử ở nhiều nhà duyvật
Về thế giới quan, sự thống trị của cơ học đã ảnh hưởng đến cách thức tư
duy của đa phần các nhà duy vật Dưới tác động của cơ học và xu thế tốn họchĩa tư duy , các nhà triết học ( nhất là các nhà triết học thế kỷ XVII ) quy các
quá trình của tự nhiên vào dạng vận động cổ điển là vận động cơ học (vận động
hiểu như sự chuyển dịch, sự thay thế vị trí các vật thể trong khơng gian), xem conngười và các thiết chế xã hội như hệ thống máy móc phức tạp (công thứùc: “con
người - cỗ máy”), đồng nhất vật chất với vật thể (Hốpxơ, Đềcáctơ…), với nguyên
tử, hay với các chất giả định mang các loại trường, Tính chất máy móc tất yếu
Trang 4gắn với tính chất siêu hình, nghĩa là trong khi nỗ lực đào sâu từng mặt, từng
thuộc tính của sự vật , khám phá bản chất sâu kín của vạn vật (siêu hình), cácnhà triết học duy vật xem xét chúng trong trạng thái tách biệt, ngưng đọng,chưa vạch ra một cách thấu đáo mối liên hệ, tác động, chuyển hóa lẫn nhaugiữa chúng, cũng như không đưa ra lời giải đáp hợp lý về nguồn gốc và động
lực của vận động và phát triển Ở gĩc độ nhận thức luận sự phân cực giữa
khuynh hướng kinh nghiệm và khuynh hướng duy lý cho thấy tính cực đoan, phiếndiện của triết học thời kỳ này nĩi chung, chủ nghĩa duy vật nĩi riêng (một khuynhhướng bám sát vào khoa học thực nghiệm, đề cao thái quá kinh nghiệm, cảm giác,trực quan sinh động, phương pháp quy nạp, khuynh hướng khác lại thiên về khoahọc tự nhiên lý thuyết và tốn học, tuyệt đối hĩa “trí tuệ tự thân”, tư duy trừutượng, phương pháp diễn dịch), khơng thấy rằng trong nghiên cứu khoa học cần cĩcách tiếp cận tồn diện, thống nhất các phương pháp để đạt được hiệu quả tốt nhất,đáng tin cậy
Trong quan điểm xã hội tính chất duy tâm thể hiện ở việc xác định động lực
cơ bản của lịch sử (xem xét động lực của tiến bộ xã hội qua lăng kính của giáo dục,hoặc sự thay thế các hình thức sinh hoạt tinh thần), cách hiểu về thực tiển, về vaitrị của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Chủ nghĩa duy vật máy mĩc – siêu hình (hay đơn giản là CNDV siêu hình)
là hình thức lịch sử thứ hai trong chủ nghĩa duy vật
3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng, ra đời vào những năm 40 của thế kỷ
XIX, đã khắc phục tính chất phiến diện của chủ nghĩa duy vật lẫn phép biện
chứng thời trước, tạo nên sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật và phép biệnchứng, sự thống nhất về thế giới quan và phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng gắn liền trước hết với tên tuổi của C Mác
và Ph Ăngghen, là hình thức hiêïn đại của chủ nghĩa duy vật, đánh dấu bước
chuyển từ tư duy” cổ điển” truyền thống, bắt đầu từ thời cổ đại sang phương
pháp tiếp cận mới đối với các vấn đề tự nhiên, xã hội và con người Sự ra đời
của chủ nghĩa duy vật biện chứng đánh dấu bước ngoặt có tính cách mạngtrong lịch sử tư tưởng triết học, làm tăng thêm vị trí và vai trò của triết học trongđời sống xã hội
Thứ nhất, CNDVBC khắc phục sự đối lập giữa hệ thống và phương pháp
trong chủ nghĩa duy vật (điển hình là Phoiơbắc) và phép biện chứng trong lịch sử(điển hình là Hêghen)
Thứ hai, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã được thể hiện
một cách sinh động và sáng tạo trong việc phân tích tiến trình lịch sử - xã hội, hình
thành quan niệm duy vật về lịch sử (chủ nghĩa duy vật lịch sử), khắc phục hạn chế
Trang 5của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII và Phoiơbắc (Feuerbach) [nhắc lại
nhận định của Mác và Ăngghen về Poiơbắc trong Hệ tư tưởng Đức], qua đĩ khẳng định CNDV do Mác và Ăngghen sáng lập là CNDV triệt để trong quan niệm về tự
nhiên, xã hội và tư duy
[ Kiến thức mở rộng: Trong tác phẩm Mác người vượt trước thời đại Đ.
Benxai đơ cho rằng cơng lao lịch sử của Mác là đã đem đến cách viết mới về lịch
sử Cách viết mới ấy xem phương thức sản xuất là nền tảng xã hội, qua đĩ rút ra
quy luật xã hội phổ biến Đĩ là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của LLSX; từ nội dung chính này Mác phân tích biện chứng CSHT – KTTT,khái quát tồn bộ nội dung ấy trong học thuyết về HTKT-XH… Cách viết mới ấy
về lịch sử đã khắc phục 3 hạn chế của các nhà nghiên cứu lịch sử trước đĩ :1 thi vịhố lịch sử (quan niệm DT về LS); 2 xem lịch sử như những lát cắt tách rời nhau(quan niệm SH và chủ nghĩa HV); 3 xem lịch sử thời sau chỉ đơn giản là sự tiếpnối các thời đại trước một cách máy mĩc, xơ cứng (CN máy mĩc)]
Thứ ba, từ hai điểm vừa nêu cĩ thể thấy rằng nguyên tắc xuyên suốt trong
triết học DVBC là thống nhất lý luận và thực tiễn, giải quyết vấn đề cơ bản củatriết học từ quan điểm thực tiễn
Thứ tư, CNDVBC, với sự thống nhất tính cách mạng và tính khoa học của
nĩ, là vũ khí lý luận của giai cấp vơ sản, hướng đến cải tạo thế giới [thí sinh cĩ thể
mở rộng thêm nội dung ]
Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, sựthay đổi nhanh chóng của thực tiễn xã hội, các luận điểm nền tảng của chủnghĩa duy vật biện chứng luôn thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh, và điêùnày hoàn toàn phù hợp với chính bản chất của nó
[Ph ần dưới đây là kiến thức mở rộng, khơng sử dụng trong chương trình
ơn tập]
+ Trong phạm vi chủ nghĩa duy vật, cùng với việc làm sáng tỏ về mặt lịchsử các hình thức cơ bản của nó, người ta còn phân biệt:
- Chủ nghĩa duy vật triệt để và chủ nghĩa duy vật không triệt để Sự so
sánh này căn cứ vào tính chế định lịch sử – xã hội đối với từng học thuyết vàđại diện của nó, do đó khó tránh khỏi một số yếu tố chủ quan trong đánh giá.Tuy nhiên căn cứ vào quy luật phát triển cái mới luôn thực hiện sự lọc bỏ biệnchứng đối với cái đã qua Xét theo nghĩa này chủ nghĩa duy vật biện chứng làchủ nghĩa duy vật triệt để, bởi các nguyên lý của nó được phổ biến vào cả tựnhiên lẫn xã hội và tư duy con người Ngược lại chủ nghĩa duy vật Feuerbachkhông triệt để, vì không dựa vào quan điểm duy vật trong việc phân tích cácvấn đề lịch sử, xã hội Một trong những ví dụ điển hình : Feuerbach xem xét
Trang 6tiến bộ xã hội qua lăng kính của sự thay thế Kytô giáo bằng “tôn giáo không cóChúa”, tức Tôn giáo của Tình yêu, nơi mà tất cả mọi người, không phân biệtđịa vị xã hội, lập trường chính trị, giới tính …đối xử với nhau như những vị chúanhân từ và hào hiệp, tức qua lăng kính của những biến đổi tinh thần, đạo đức,chứ không phải qua hoạt động nền tảng của con người Trước đó chủ nghĩa duyvật thế kỷ XVII – XVIII còn chịu ảnh hưởng nhất định của thần luận, phiếmthần – đó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa duy vật không triệt để.
- Chủ nghĩa duy vật khoa học và chủ nghĩa duy vật tầm thường.
Chủ nghĩa duy vật khoa học (trong thời đại ngày nay là chủ nghĩa duy vậtbiện chứng) trong khi khẳng định về nguyên tắc tính có trước và tính quyếtđịnh của vật chất trong quan hệ với ý thức đã xét mối quan hệ đó một cách cụthể, đồng thời thừa nhận tính độc lập tương đối của ý thức, sự tác động trở lạicủa nó đối với thế giới vật chất, cũng như các lĩnh vực hoạt động vật chất củacon người
Ngược lại chủ nghĩa duy vật tầm thường quy toàn bộ cái tinh thần, ý thứcvề cái vật chất, thậm chí đồng nhất ý thức với một dạng vật chất nhất định.Manh nha từ thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật tầm thường thể hiện qua các đạidiện tiêu biểu của mình vào thế kỷ XIX như L.Buchner (1824-1899), J
Moleschott (1822-1893), K Vogt (1817-1895)… Chủ nghĩa duy vật kinh tế* cũng có khá nhiều điểm tương đồng với chủ nghĩa duy vật tầm thường
+ Chủ nghĩa duy tâm đối lập với chủ nghĩa duy vật ở khía cạnh thế giớiquan, nhưng cũng là sản phẩm tất yếu của lịch sử, gắn liền với những vấn đề bảnthể luận, nhận thức luận và giá trị - văn hĩa Chủ nghĩa duy tâm trong nhiều trườnghợp thể hiện sự ngạc nhiên thú vị trước cái “siêu phàm”, cái “thần tính” của conngười, để phân biệt với cái “khơng thuộc về thần linh”, khơng “siêu phàm”, tức thếgiới khơng-phải-con-người Vì thế mà nhân đọc Socrates, Plato, Hegel, V.I.Lêninnhấn mạnh:”Chủ nghĩa duy tâm thơng minh gần với chủ nghĩa duy vật thơng minh
hơn chủ nghĩa duy vật ngu xuẩn” (V.I.Lênin tồn tập, t.29, Nxb Chính trị Quốc
Trang 7a) Phép biện chứng tự phát (về tính chất cĩ thể gọi là chất phác, ngây thơ)
trong triết học cổ đại, thể hiện trình độ nhận thức chung của thời đó Tại phươngĐông cổ đại tư tưởng biện chứng về thế giới hình thành tự phát trong thuyết ÂmDương, triết học Lão – Trang (Trung Quốc), một số triết học tôn giáo (Ấn Độ) Thuật ngữ “phép biện chứùng”* được nêu ra lần đầu tiên trong triết học Hy Lạp
cổ đại Tại đây trong một số học thuyết, từ Hêraclít (Heraklitos) đến Platơn (Platon) và Arixtốt (Aristoteles, Aristotle), đã có những biểu hiện khác nhau
của phép biện chứng Nhà duy vật Hêraclít nhấn mạnh tính vận động và biếnđổi thường xuyên, sự chuyển hóa của các mặt đối lập trong thế giới sự vật Một
số nội dung trong tư tưởng biện chứng về thế giới của Hêraclít: 1) tính biến đổiphổ biến của thế giới (quá trình sinh thành, phát triển, diệt vong của vạn vật, dịngthời gian, hình ảnh dịng sơng – đĩ là những ví dụ sinh động mà thí sinh cần sử
dụng); 2) quá trình chuyển hố, mối liên hệ phổ biến, sự thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập (trong đĩ Hêraclít nhấn mạnh :chiến tranh là “cha của tất cả,
ơng hồng của tất cả, hiện thân của tất cả”); 3) tính quy luật, tính tất yếu, trật tự,
chuẩn mực của tồn bộ thế giới các sự vật, nĩi khác đi, là LOGOS của vạn vật.
Khái niệm logos bao chứa tồn bộ những nội dung của tư tưởng biện chứng về thếgiới, mà Hêraclit là người xây dựng một cách sinh động đầu tiên
[Kiến thức mở rộng, dùng để làm luận văn hay tiểu luận: so sánh Hêraclít
với Phật qua “dịng sơng” – “vơ thường”, quá trình sinh thành, phát triển, diệt vong– sinh trụ dị diệt, Hêraclít với Lão tử qua Logos và Đạo]
Tư tưởng biện chứng hình thành một cách tự phát ở Hêraclít ù là biện chứng
của các sự vật, hay biện chứng khách quan Biện chứng dưới hình thức phủ định
(xem thêm trong Lịch sử phép biện chứng, t.1, sách dịch từ tiếng Nga) mà phái Êlê(Elea) chủ trương nhẳm chống Hêraclít cũng cĩ thể được xem là sự phê phán biệnchứng vì sự phát triển của tư duy biện chứng Thơng qua các luận chứng “bác bỏvận động”, thay nguyên tắc “vạn vật biến dịch” bằng nguyên tắc “vạn vật bấtbiến”, thay “vạn vật đa tạp” bằng “vạn vật đồng nhất”, các đại diện tiêu biểu củatrường phái Êlê như Pácmênhít (Parmenides), Dênơng (Zeno, Zenon) khơng chỉkhẳng định nguyên tắc đồng nhất tư duy – tồn tại, mà cịn gợi mở quan điểm vềbiện chứng của quá trình nhận thức: 1) nhận thức là một quá trình phức tạp, đầymâu thuẫn (nghịch lý), do đĩ khơng thể chấp nhận lối giải thích đơn giản, mộtchiều về sự vật (nhìn sự vật ở gĩc độ bản chất tự thân mà khơng xem xét nĩ ở khíacạnh “tồn tại”, ở trạng thái tương đối cân bằng, ổn định, tức ở trạng thái đứng im);2) địi hỏi hình thành phương pháp nghiên cứu nghiêm túc, khoa học về mối quan
hệ giữa vận động và đứng im, tồn tại và hư vơ, liên tục và gián đoạn, hữu hạn và
vơ hạn…Nĩi cách khác, các luận chứng của phái Êlê, theo Arixtốt, đã kích thích tưduy của nhiều nhà khoa học qua các thời đại Các nhà duy tâm Sokrates và
Trang 8Platon xem phép biện chứng như nghệ thuật đối thoại (dẫn dắt người đối thoại
đến với chân lý bằng tư duy lôgíc, khả năng biện luận thuyết phục, có cơ sở,
chứng cứ) Đó là biện chứng của các khái niệm, hay biện chứng chủ quan.
Chính Platơn và Arixtốt đã xây dựng lý luận nhận thức mà ở đĩ chứa đựng nhiềuyếu tố biện chứng, được kế thừa và phát triển cĩ chọn lọc ở các thời đại sau
b) Phép biện chứng duy tâm thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX phát triển
tại Đức, bắt đầu từ Kant (biện chứng của quá trình nhận thức, tính mâu thuẫn tất
yếu, hay nghịch lý của tư duy lý luận, “lý tính thuần túy” v.v ), Fichte (Biện
chứng cái Tơi và cái khơng-Tơi, ý thức và vật chất, tinh thần và tự nhiên), đạt đến
sự hoàn thiện ở Hegel Phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức gĩp phần
hình thành phong cách tư duy mới trong văn hóa tinh thần châu Aâu vào thời đó
Cơng lao lịch sử to lớn trong sự phát triển phép biện chứng thuộc về Hêghen 1)
Hêghen phát triển phép biện chứng từ trình độ tự phát thành một khoa học vềphương pháp nhận thức, từ tản mạn thành hệ thống, từ “nghệ thuật đối thoại” mangnặng tính chủ quan thành khoa học về mối liên hệ và sự phát triển, đem đến cáchhiểu mới về phép biện chứng, được Mác và Ăngghen kế thừa, cải tạo và làm sinhđộng thêm bằng biện chứng của tiến trình lịch sử và đấu tranh cách mạng; 2) trong
Khoa học lơgíc, hay Lơgíc học – bộ phận cấu thành cùa hệ thống, Hêghen đã trình
bày nội dung cơ bản của phép biện chứng với các nguyên lý, các quy luật và cáccặp phạm trù cơ bản cùa nĩ; 3) theo V.I.Lênin, lần đầu tiên, từ sự phân tích nộidung của phép biện chứng, Hêghen đã đi đến quan điểm về sự thống nhất phépbiện chứng – lý luận nhận thức và lơgíc học; 4) nhờ cĩ phép biện chứng nhưphương pháp luận triết học mà Hêghen đã tìm hiểu và phân tích sâu sắc các lĩnhvực khác của đời sống xã hội và nhận thức, từ tơn giáo, nghệ thuật đến kinh tế,chính trị, và thể hiện mình như bộ ĩc bách khoa của thời đại; 5) phép biện chứngHêghen phản ánh mặt tích cực, tiến bộ của giai cấp tư sản Đức ở đêm trước củanhững chuyển biến cách mạng
Tuy nhiên phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là phépbiện chứng Hêghen, do chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử nước Đức nửa sauthế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX nên tỏ ra hạn chế, thể hiện ở : - phép biện chứngduy tâm, hay nĩi như Mác, phép biện chứng “bị đặt lộn ngược đầu xuống đất”; -phép biện chứng khơng triệt để và đầy mâu thuẫn, trong đĩ cĩ mâu thuẫn giữaphương pháp và hệ thống, giữa tính cách mạng và tính bảo thủ, sự dung hịa giữakhát vọng chiến thắng của lý trí với cái phi lý đang thống trị trong thực tiễn là nhànước quân chủ (phân tích thêm tồn bộ ý này)
C Mác và Ph Ăngghen tiếp thu có chọn lọc giá trị của phép biệnchứng duy tâm, nhất là phép biện chứng Hegel, cũng như những thành quả củachủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII –XVIII, đặc biệt là tư tưởng duy vật của
Trang 9Feuerbach (nửa đầu thế kỷ XIX), đồng thời khắc phục những mặt phiến diện của
cả phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật thời trước, sáng tạo ra phép biện
chứng duy vật như hình thức hiện đại của phép biện chứng Quá trình này bắt
đầu từ những năm 40 của thế kỷ XIX
c) Phép biện chứng duy vật, ra đời cùng với bước ngoặt cách mạng trong
lịch sử triết học, do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện vào những năm 40 của thế
kỷ XIX Phép biện chứng duy vật đã khắc phục sự đối lập giữa phương pháp và hệthống trong phép biện chứng duy tâm C Mác và Ph Ăngghen khơng chỉ tiếp thu
“hạt nhân hợp lý” trong triết học của các bậc tiền bối, nhất là phép biện chứngHêghen, mà cịn cải tạo phép biện chứng đĩ, thống nhất với thế giới quan duy vật,đồng thời vận dụng vào quá trình thực tiễn xã hội, đưa vào nội dung của phép biệnchứng những yếu tố mới, mang tính khoa học và cách mạng Phep biện chứng duyvật là sự thay thế tất yếu và xứng đáng phép biện chứng duy tâm, là sự đáp ứngnhững địi hỏi của thời đại mới
Trong nội dung của phép biện chứng duy vật ngồi các nguyên lý, các quyluật và các cặp phạm trù cơ bản, cịn hình thành nhiều yếu tố mới, ngày càng mởrộng cùng với sự phát triển của khoa học, của nhận thức và biến đổi của thực tiễn
xã hội, những vấn đề mà hình thức trước đĩ của phép biện chứng chưa đặt ra
Phép biện chứng duy vật là phương pháp luận của tri thức khoa học và hoạtđộng thực tiễn Trong mối liên hệ (liên minh) giữa triết học và các khoa họcchuyên biệt, phép biện chứng cĩ vai trị định hướng về phương pháp luận (và cảthế giới quan) đối với các nhà khoa học, đồng thời từ phương pháp luận ấy các nhàkhoa học tiếp cận với cấp độ trừu tượng hĩa triết học, vời phương pháp triết học
(đọc thêm chuyên đề Phép biện chứng duy vật trong Giáo trình dành cho hv SĐH
khơng chuyên ngành triết học)
Phép biện chứng duy vật là phương pháp luận của đấu tranh cách mạng của
cải tạo thực tiễn Thí sinh cần tập trung làm rõ quá trình hiện thực hĩa nội dung
của phép biện chứng duy vật vào điều kiện thực tiễn của thế giới, Việt Nam, đường lối đổi mới của chúng ta là sự thể hiện sinh động, sáng tạo “biện chứng của cách mạng”(theo cach diễn đạt của Lênin Đọc thêm tài liệu vừa nêu.
1 Phân tích các đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây cổ đại (gợi ý
: tính sơ khai, tính bao trùm về mặt lý luận, tính đa dạng, muơn vẽ về chủ đề và thếgiới quan, tình biện chứng tự phát bẩm sinh, tính nhân văn)
Gợi ý phân tích:
Trình bày khái quát sự ra đời và quá trình phát triển, khủng hoảng, suy vong củatriết học Hy Lạp cổ đại Sự ra đời của triết học Hy Lạp trước hết xuất phát từ nhucầu kinh tế - xã hội, và chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế - xã hội, khi quan
hệ cơng xã thị tộc nguyên thủy tan rã, nhà nước ra đời Sự ra đời của nhà nước HyLạp dưới hình thức polis (thị quốc, hay thành bang) thể hiện trình độ phát triển mới
Trang 10về chất trong phương thức tổ chức đời sống xã hội Trong điều kiện đĩ, cùng vớibản chất giai cấp của nhà nước, việc thay thế lối tư duy hình tương – biểu tượngbằng tư duy hệ thống, tư duy mang tính khái niệm để giải đáp những vấn đề chungnhất về thế giới, đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người trở nên cần thiết Triếthọc Hy Lạp kế thừa tinh hoa Hy Lạp, tinh thần phĩng khống, tự do, ĩc khám phácủa họ, được thể hiện trong thần thoại Hy Lạp Tinh thần này cĩ cơ sở phát triểntheo hướng duy lý hĩa khi người Hy Lạp bước vào giai đoạn phát triển mới Sựphát triển của tư duy huyền thoại lên đĩnh cao (ở thời đại Homer, Hesiodes) đồngthời báo trước sự thay thế nĩ bằng tư duy triết học, do hình thức cũ khơng cịn phùhợp nữa Nền văn minh phương Đơng, vốn đi trước Hy Lạp, những giá trị khoahọc, và cả yếu tố huyến học của phương Đơng cũng là tác nhân đáng kể của quátrình hình rhành triết học Hy Lạp.
Với gần một thiên niên kỷ tồn tại, tư tưởng triết học phương Tây cổ đại, mà HyLạp và La Mã là đại diện duy nhất, đã để lại những dấu ấn đậm nét trên conđường phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, tạo nên một trong những thờiđại sôi động và bi kịch nhất, thể hiện khát vọng của con người vươn lên làmchủ tự nhiên, cải biến xã hội và chính bản thân mình
Có thể thâu tóm ba chủ đề chính của triết học phương Tây cổ đại, từ thời kỳhình thành các thị quốc đầu tiên đến khi trường phái cuối cùng bị đóng cửa vào
đầu thế kỷ VI Trước hết là tìm hiểu tự nhiên Câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu
và quay về đâu?”, “bản tính của thế giới là gì?” cho thấy nỗ lực của các triếtgia mong muốn vượt qua ảnh hưởng của thế giới quan thần thoại, đem đến lờigiải đáp hợp lý về thế giới xung quanh và về tác động của nó đến đời sống con
người Chủ đề tiếp theo là nhận thức Bắt đầu từ Ta lét (Thales) và Pitago
(Pythagoras) con người không chỉ được xem như một thành viên của vũ trụ, màcòn luôn chứng tỏ vị thế của mình trước vũ trụ ấy Bản thân thuật ngữ
“philosophia” cũng nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm và khám phá chân lý.Triết học – đó là con đường hướng tới chân lý Các nhà triết học ngay từ cổ đạiđã tập trung tranh luận về khả năng và giới hạn của nhận thức, về các phươngpháp và phương tiện nhận thức, về nguồn gốc, cơ sở và tiêu chuẩn của chân lý.Bên cạnh việc đề cao lý trí , óc khám phá sáng tạo của con người, vẫn còn mộtsố triết gia đứng trước những diễn biến phức tạp, phi tất định của của đời sốngxã hội, đã chủ trương “treo lửng phán quyết”, rơi vào chủ nghĩa hoài nghi Chủ
đề thứ ba là con người, xã hội loài người với tất cả những biểu hiện phong phú
và phức tạp của nó Từ Xôcrát (Socrates) trở đi con người trở thành một trongnhững điểm nóng của các cuộc tranh luận triết học Con người vừa là chủ thể,
Trang 11vừa là đối tượng nghiên cứu Chủ đề con người và thiết chế xã hội dành cho conngười, cùng với các chủ đề liên quan đền hoạt động sáng tạo và định hướng giátrị của con người, được phân tích trong các công trình thẩm mỹ, nghệ thuật, đạođức, pháp quyền
Triết học phương Tây cổ đại không chỉ phản ánh hiện thực của xã hội chiếmhữu nô lệ, mà còn xây dựng hàng loạt hệ chuẩn tư duy cho các thời đại sau, tạonên truyền thống cổ điển trong văn hoá tinh thần phương Tây Bằng chứng rõràng nhất của truyền thống này là quá trình phục hưng văn hoá cổ đại vào cuốithế kỷ XIV – thế kỷ XVI và sự phát triển, phổ biến văn hoá cổ điển vào thờicận đại, đạt đến đỉnh cao tại Đức
Đặc điểm trước tiên của triết học Hy Lạp ở những thế kỷ đầu tiên, là tính chất phác, sơ khai của nó, thể hiện ở mối liên hệ của nó với thần thoại và tôn
giáo nguyên thủy, đan xen với những mầm mống của tri thức khoa học, phảnánh trình độ nhận thức chung của xã hội Sự ra đời của triết học không có nghĩakỷ nguyên thần thoại đã hoàn toàn kết thúc Ở mức độ nhất định, xét theo cộinguồn, triết học ra đời như nỗ lực tái thiết lại thần thoại bằng phương tiện củalý trí Với thời gian, cùng với sự phát triển xã hội, sự phổ biến tri thức khoa học,những câu chuyện thần thoại dần dần được sử dụng vào mục đích thể hiện mộtnhân sinh quan, một triết lý sống Những khái niệm có nguồn gốc thần thọaiđều được cải biến, duy lý hóa để àm sáng tỏ thêm tư tưởng của các triết gia,những tư tưởng cần đến giá đỡ của thần thoại nhằm đáp ứng thói quen ý thứccủa con người Nietzsche cho rằng những nhà tư tưởng Hy Lạp đầu tiên lànhững con người hồn nhiên và dũng cảm nhất, chấp nhận “cô đơn trong rạng rỡhào quang”, sẵn sàng thách đố thói quen ý thức để dấn bước vào con đườngkhám phá sáng tạo Những cuộc tranh luận tư tưởng dẫu không đạt được kết quảcụ thể, song điều quan trọng là đã mimh chứng khả năng vô tận của con người
(xem Nietzsche : Triết lý Hy Lạp thời bi kịch, Bản dịch của Trần Xuân Kiêm,
Tân An, Sài Gòn, 1975, tr 19, 65, 70…) Tinh thần Hy Lạp đã đặt nền móng cho
phong cách tư duy phương Tây trong hàng ngàn năm qua
Đặc điểm thứ hai thể hiện ở tính chất bao trùm về mặt lý luận của triết học đối với tất cả lĩnh vực của nhận thức Vì ra đời trong bối cảnh trình độ nhận thức
của con người còn tương đối thấp, tri thức về mọi mặt chưa phát triển baonhiêu, nên triết học đóng vai trò là dạng nhận thức lý luận hầu như duy nhất, hyvọng lý giải những vấn đề lý luận của các khoa học cụ thể mà vào thời kỳ nàycòn đang nằm trong tình trạng tản mạn, sơ khai, mang nặng tính chất trực quan,
Trang 12thực nghiệm Triết học được xem như “khoa học của các khoa học”, còn cáctriết gia thì được tôn vinh thành nhữn nhà thông thái, đại diện cho trí tuệ xã hội.Trong mô hình lý tưởng của tổ chức đời sống xã hội các triết gia được đặt ở vịtrí cao nhất Các tư tưởng đạo đức, chính trị, thẩm mỹ, khoa học… đều quy về tưtưởng triết học, được hiểu như một phần của triết học Quan niệm này tồn tạikhá lâu trong lịch sử Song điều đó lại đưa đến chỗ đối với các nhà triết họcnhận thức lý luận là cái vượt lên trên hoạt động thực tiễn, biến thành “nhậnthức tự thân”, “nhận thức để nhận thức” Triết lý trở thành đặc quyền của mộtsố ít nhà thông thái, “nhận thức tự thân” đối lập với thực tiễn, với ý thức đờithường
Tính đa dạng, muôn vẻ, sự phân cực quyết liệt giữa các trường phái làm
nên đặc điểm thứ ba của triết học phương Tây cổ đại trong suốt 10 thế kỷ; việchình thành “đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn” của triết học chi phốicách đánh giá các hình thức tư tưởng khác Chẳng hạn cuộc tranh luận giữa
“đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn” từ khía cạnh bản thể luận, tức tranh
luận về bản nguyên thế giới, về cơ sở của tồn tại (vật chất hay ý thức, thiên nhiên
hay tinh thần, thế giới các sự vật hay thế giới “ý niệm” ?), nhận thức luận (vấn đề
khả năng nhận thức thế giới, vấn đề nguồn gốc, bản chất của quá trình nhận thức,vai trị của nhận thức lý tính) lan sang cả quan đđiểm về con người (vấn đề thốngnhất thể xác - linh hồn) và tư tưởng đạo đức, chính trị- xã hội, thể hiện sự quantâm đến con người và thái độ của họ đối với nền dân chủ chủ nô Tính chấtmuơn vẻ, đa dạng của triết học phương Tây cổ đại chịu sự chi phối của điều kiệnđịa lý đặc biệt tại các thị quốc, sự thay thế nhau các trung tâm kinh tế, văn hóa,quá trình giao lưu với văn hóa phương Đông, phong cách phóng khoáng, yêuchuộng tự do kết hợp với sự khôn ngoan và tinh tế của người Hy Lạp, La Mã…
Sự đối lập giữa “đường lối Đêmơcrít” và “đường lối Platơn” thể hiện ở khía cạnh thế giới quan- bản thể luận, nhận thức luận, quan điểm con người, chính trị - xã hội Trong bức tranh muôn vẻ của triết học phương Tây cổ đại đã chứa đựng hầunhư tất cả những hình thái và phương thức tư duy căn bản nhất, được tiếp tụchoàn thiện, cải biến và phát triển sau này Chẳng hạn cuộc tranh luận giữa chủnghĩa hiện thực (Arixtốt) và chủ nghĩa lý tưởng (Platôn), quan điểm “khế ước”và “pháp quyền tự nhiên”, các hình thức nhà nước v.v trong tư tưởng chính trị,hay vấn đề cái thiện, lương tâm, tự do ý chí, trách nhiệm, cái đẹp, cái bi, cáihài, cái cao thượng… trong đạo đức và thẩm mỹ đã là chuẩn mực cho những tìmtòi, khám phá và vận dụng vào đời sống xã hội ở các thời đại kế tiếp
Trang 13Đặc điểm thứ tư là tính biện chứng tự phát, bẩm sinh trong việc giải thích
tự nhiên Đặc điểm này được Ph Ăngghen nêu ra trong “Chống Đuyrinh” (1876 –
1878) Ph Ăngghen viết : “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà
biện chứng tự phát, bẩm, sinh” (C Mác và Ph Ăngghen: tồn tập, t.20; Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 34) Tư tưởng biện chứng về thế giới, giới tự nhiênđược khai mở bởi Hêraclít (Heraklitos), mặc dù trước đĩ trong những yếu tố tiền
triết học và trong trường phái Milê (Milet) đã xuất hiện những phác thảo sơ khởi
về thế giới như một quá trình Hêraclít khơng chỉ xem xét thế giới như một quátrình (hình ảnh dịng sơng, ở đĩ “mọi thứ đều chảy”), mà cịn đưa ra tư tưởng về
tính quy luật của thế giới đĩ Logos là một trong những khái niệm trung tâm của
triết học Hêraclít, hàm chứa yếu tố duy vật và biện chứng ở trình độ tự phát Các
nghĩa của logos: thần ngơn; lời nĩi, hay học thuyết; lý trí; tính quy luật; tính tất
yếu; trật tự, chuẩn mực; lửa Vũ trụ này là một ngọn lửa vĩnh cửu, mọi thứ từ lửa
và kết thúc bằng sự phán quyết của lửa, nhờ đĩ mà diễn ra quá trình sinh - diệt thaythế nhau liên tục Đánh giá tư tưởng biện chứng vê thế giới trong triết học Hy Lạp
cổ đại, Ph Ăngghen nhấn mạnh : “Cái thế giới quan ban đầu ngây thơ, nhưng xét
về thực chất thì đúng đĩ là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, vàlần đầu tiên đã được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và
đồng thời lại khơng tồn tại, vì mõi vật đang trơi đi, mọi vật đềukhơng ngừng thay đổi, mọi vật đều khơng ngừng phát sinh và tiêu vong” (C Mác và Ph Ăngghen:
tồn tập, t.20; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 35)
Biện chứng của quá trình nhận thức thể hiện rõ nét trong các luận chứng củatrường phái Êlê (Elea) về tính mâu thuẫn, hay nghịch lý của nhận thức, về sự cầnthiết giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hữu hạn và vơhạn, liên tục và giàn đoạn, tồn tại và hư vơ Xơcrát (Socrates), Platơn (Plato),Arixtốt (Aristoteles, Arstotle) đã xác lập một số nội dung sơ khởi về biện chứng
chủ quan, hay tư duy biện chứng, mặc dù bản thân Xơcrát và Platơn đưa ra thuật
ngữ “biện chứng” (Dialektikè) như “nghệ thuật đối thoại” làm cơ sở cho việc hìnhthành lý luận nhận thức biện chứng sau này Mối quan hệ giữa biện chứng khách
quan và biện chứng chủ quan được Ph Ăngghen nêu ra trong “Biện chứng của tự
nhiên” Ơng viết : “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong tồn bộ giới tự
nhiên, cịn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh
sự chi phối, trong tồn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thơng qua những mặt đối
lập, … thơng qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hĩa…” (C.
Mác và Ph Ăngghen: tồn tập, t.20; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.
694)
Cuối cùng, tính nhân văn cĩ thể được xem là một trong những đặc điểm
của nhiều nền triêt học, song trình độ và hình thức thể hiện của nĩ khác nhau Chủ
nghĩa nhân văn (thuật ngữ humanism ra đời vào đầu thế kỷ XIX) xem con người là
Trang 14điểm xuất phát, và giải phĩng con người là mục đích cuối cùng “Con người –thước đo của vạn vật”; lời tuyên bố này của Prôtago (Protagoras) chứng tỏ rằngdù không ngừng hướng ra vũ trụ, giải thích và khao khát chinh phục nó, người
Hy Lạp vẫn dành nhiều tâm huyết tìm hiểu những vấn đề nhân sinh, xã hội Từ
Xơcrát trở đi con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng Tìm hiểu thế giới của con
người, kết hợp “hướng ngoại” và “hướng nội” quy định vị trí và số phận của cáctriết thuyết Sự quan tâm đến con người, tìm kiếm những chuẩn mực sống lýtưởng cho con người,là nét chung trong tư tưởng của Xơcrát, Platơn, Arixtốt vànhiều triết gia khác từ thời kỳ sơ khai đến thời kỳ Hy Lạp hĩa, khủng hoảng và suytàn Thực tiễn “cĩ vấn đề” cũng là điều kiện cho sự tìm kiếm lời đáp để khắc phục
nĩ, nghĩa là hình thành các phương án vượt qua cái hiện tồn Cho nên trong cáchọc thuyết chính trị, xã hội đã hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lýtưởng, khắc họa con người và các thiết chế xã hội từ các gĩc độ khác nhau Những
tư tưởng chính trị, đạo đức, pháp quyền, thẩm mỹ do người Hy Lạp - La Mãxác lập trở thành nền tảng và điểm xuất phát của tư tưởng phương Tây
2 Trình bày khái quát và đánh giá nội dung cơ bản của triết học Trung
cổ Tây Âu qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu
Một số gợi ý:
Nền mĩng của chề độ phong kiến tại Tây Âu được xác lập sau thời kỳ sụp
đổ của Tây bộ đế quốc La Mã (476), song hình thức tri thức Trung cổ ra đời sớmhơn, gắn liền với sự ra đời của Kytơ giáo (Christianity) vào đầu Cơng nguyên
Sự ra đời của Kytơ giáo là một hiện tượng cĩ tính cách mạng trong đời sốngtinh thần của xã hội Tuy nhiên từ năm 392, khi Kytơ giáo trở thành quốc giáo, tinhthần khoan dung đã bị biến dạng
Trong quá trình hình thành chế độ phong kiến, mà sự ra đời của Kytơ giáotrong lịng chế độ chiếm hữu nơ lệ là tín hiệu tinh thần, hay tiền đề tinh thần của
nĩ, đã xuất hiện những tư tưởng mang tính chuyển tiếp, chẳng hạn chủ nghĩa khắc
kỷ La Mã, hay chủ nghĩa Platơn mới Bên cạnh đĩ sự truyền bá Kytơ giáo cần đếnnhững tín đồ cĩ học thức, những nhà trí thức thực sự, đảm nhận chức năng khơinguồn cảm hứng về hình thức tơn giáo mới giữa thế giới đa thần
Hai thời kỳ lớn trong triết học trung cổ : thời kỳ hình thành (cũng cĩ thể gọi
là thời kỳ đặt nền mĩng, thời kỳ chuẩn bị) và thời kỳ phát triển, “chuẩn hĩa”,tương ứng với triết học các giáo phụ và triết học kinh viện
Trang 15Giáo phụ là tên gọi của triết học Kytô giáo ở thời kỳ đầu tiên Các giáo
phụ là những người tiên phong trong công cuộc bảo vệ, truyền bá và phổ biếntín điều Kytô giáo trong những điều kiện khó khăn và đầy thách thức, về sauđược nhà thờ chuẩn nhận, xem như các bậc cha chú của nhà thờ, còn tư tưởngcủa họ thì được xem như những chân lý cần được lưu giữ, học tập Dù nội dung
tư tưởng các giáo phụ khơng thống nhất, song định hướng chung ở họ là đối lập tưtưởng Kytơ giáo với triết học cổ đại, qua đĩ khẳng định ưu thế của Kinh thánhKytơ giáo như cái vịm của sự uyên bác tồn thế giới Vấn đề trước tiên là mốiquan hệ giữa niềm tin và lý trí, làm nên sự khác nhau giữa tư tưởng Trung cổ và tưtưởng cổ đại Trong số các giáo phụ có những người cực đoan, theo chủ nghĩasùng tín; có những người ôn hòa, cố làm dịu những điểm bất đồng giữa lý trí và
đức tin Tertullien nghiêng về chủ nghĩa sùng tín với tuyên bố “Tôi tin, vì đó là
điều phi lý”, và phân chia xã hội thành hai phe – phe quỷ và phe thần Cách
phân chia rõ ràng đẩy con người vào tình thế hai chọn một Đối với Tertulliencon người tự do hay không tùy thuộc vào ý chí của Chúa Mọi tham vọng tự do
là biểu hiện của tội tổ tông Tự do thống nhất với tính tất yếu : Chúa tạo ra
luật, luật ấy ban cho con người quyền tự do
Các giáo phụ đem đến sự thay đổi trong cách đặt vấn đề về thế giới, còncác nhà triết học kinh viện ở thời kỳ chính thống hóa, học đường hóa tư tưởngKytô giáo thì biến những ý tưởng giản đơn thành những ý tưởng chắc chắn, cóhệ thống, đạt tới tính uyên bác thâm sâu Các nhà khắc kỷ từng đánh giá đứchạnh con người gần như là từ góc độ quan hệ của linh hồn với thượng đế, hơn làquan hệ của công dân với nhà nước Sau các nhà khắc kỷ những người Kytôgiáo tin rằng nghĩa vũ của con người trước Thiên Chúa quan trọng hơn so vớinghĩa vụ trước xã hội và nhà nước
“Phụng sự Chúa quên thân mình” – quan điểm ấy của St Augustin được
xem là kinh điển đối với tín đồ Kytô giáo Trong “Thành phố của Chúa” (hay
Trang 16Vương quốc Thiên Chúa, Đơ thành thiên quốc ) St Augustin xác lập những luận
điểm nền tảng về cái cần cĩ thao tinh thần Kytơ giáo, thay thế cho cái đang tồn
tại Thành phố của Chúa khơng phải là một nơi nào đĩ trên thiên đàng hay một
thành phố cụ thể ở cõi trần, bởi lẽ mỗi con người khi vừa được sinh ra khơng biếtmình gia nhập vào thế giới nào Chính hoạt động sống của họ quy định cái mà họ
sẽ gia nhập Vậy Thành phố của Chúa thể hiện khát vọng về mộ khơng gian xã hội
lý tưởng mà con người cần kiến tạo ngay trên thế gian này 22 cuốn sách vừa là lờicảnh báo, vừa mang đến thơng điệp về một thế giới tồt lành mà con người đạt được
bằng nỗ lực vượt qua cái ác, hướng đến cái thiện Trong quyển 1 Augustin chỉ trích
những kẻ dị giáo và những kẻ man rợ mang tai ương đến cho con người, cưỡngbức phụ nữ, cướp bĩc thành Roma, đồng thời khẳng định vai trị của Kytơ giáotrong việc ngăn chặn thờ tượng các thần và ngẫu thần, thơng qua các lời chúc lành
và chúc dữ Quyển 2 tiếp tục mổ xẻ sự bất lực và vơ trách nhiệm của các thần
(trước Chúa Jesus) Sự đánh mất nhân cách và sự sa đoạ là cái mà con người đĩn
nhận từ các vị thần ấy Trong Quyển 3, những tai hoạ từ thế giới đa thần giáo được tiếp tục làm rõ Quyển 4 mở đầu cho sự biện minh rằng chỉ cĩ Kytơ giáo, thờ một Thiên Chúa duy nhất, mới làm cho vương quốc trần thế được xác lập Các quyển 5,
6, 7, 8 tiếp tục chỉ ra sự đối lập Kytơ giáo và tinh thần dị giáo, văn hố mới và văn
hĩa Hy Lạp, ; phân tích quan hệ giữa thuyết định mệnh (tiền định của Chúa) và ýchí tự do của con người Đồng ý với cách phân chia của Varro về ba hình thức thầnhọc – thần học tự nhiên, thần học thần bí và thần học bình dân, Augustin cho rằng
cả thần học thần bí và thần học bình dân đều khơng cĩ vai trị tích cực trong cuộcsống mai sau Đặc biệt, trong quyển 8, khi bàn đến thần học tự nhiên, Augustin
bày tỏ thiện cảm của mình đối với Platon, người anh cả đáng mến của các học
thuyết triết học, vì đã đề cập đến cuộc sống sau khi chấm dứt hiện hữu trần thế,
phù hợp với giáo lý Kytơ Quyển 9 và quyển 10 được xem như tuyên ngơn về tính
duy nhất của Chúa, trong đĩ Chúa Jesus là sự giáng thế Chỉ cĩ Chúa Jesus, theoAugustin, mới cĩ quyền ban cho con người hồng phúc vĩnh cửu Sự phân biệt haivương quốc tập trung từ cuốn 11 trở đi Augustin đem đối lập thế giới của Chúavà thế giới cõi trần với những nét đặc trưng cho hai thế giới Thế giới của Chúa
Trang 17là thế giới sống theo ý chí Thiên Chúa, bao gồm những người mộ đạo, nhân từ,đề cao tình yêu lý trí và sức mạnh tinh thần, phụng sự Chúa quên thân mình,sống hôm nay kỳ vọng vào ngày mai, có sự đồng cảm giữa người cầm quyền vàquần chúng Thế giới cõi trần là thế giới sống theo chuẩn mực con người, gồmtoàn những kẻ ích kỷ, đề cao tiện nghi và lạc thú vật chất, yêu bản thân quêncả Chúa, sống hôm nay chỉ biết hôm nay, luôn tranh giành quyền lực với nhau.Xét từ góc độ chính trị – xã hội “Thành phố của Chúa” có ý nghĩa phản khángnhất định St Augustin sống trong thời đại suy tàn của chế độ nô lệ, nhìn thấytận mắy nỗi đau, sự bất ổn, sự khủng hoảng lòng tin của con người do chiếntranh gây ra Biểu tượng của thế giới cõi trần trong con mắt St Augustin làBabylon quá khứ và đế quốc La mã hiện tại Biểu tượng thế giới của Chúa làJerusalem và những nơi linh thiêng khác Theo St Augustin thế giới cõi trầncần được thay thế bằng một trật tự xã hội mới, hợp ý Chúa – “Vương quốc nướcChúa” – nhà nước của sự hợp quần toàn nhân loại Vào thời trung cổ xung độtgiữa hai thực thể nêu trên mang ý nghĩa của cuộc đấu tranh giữa nhà thờ Kytô –Thiên Chúa giáo La Mã với chính quyền thế tục, giữa Giáo hoàng với nhà vuatrong từng quốc gia riêng biệt Người chiến thắng trong những cuộc xung độtnày thường là Giáo hoàng, mà sự thể chế hóa nhà thờ phổ biến khắp Italia,Pháp, Tây Ban Nha, Anh, Đức, Ba Lan…
Tôn giáo thời trung cổ, cụ thể Kytô – Thiên Chúa giáo, trở thành hạtnhân, thước đo văn hóa và thế giới quan của xã hội phong kiến Chính trị, luậtpháp nằm trong tay tăng lữ, được xác định như lĩnh vực ứng dụng của thần học.Thế giới là tạo hóa của Chúa, là cuốn sách do Chúa viết nên và ban cho ýnghĩa đối với từng tạo vật Hoa hồng, chim bồ câu, sư tử, con bê, phượng hoàng,ngọc châu… biến thành những biểu tượng tôn giáo thiêng liêng, và quy về sựtượng trưng cho Đức Kytô trong bốn thời điểm mang tính bước ngoặt trong cuộcsống của ngài : Kytô sinh ra như một con người, chết đi như một con bê, phục
Trang 18sinh như con sư tử, bay lên trời như chim phượng hoàng Nhưng sự hy sinh củaChúa Kytơ, theo luận giải của các nhà tư tưởng Trung cổ, cịn chứa đựng cả nỗi
đau và sự trăn trở về thân phận con người, sự bỏ rơi và xa lánh, sự mặc cảm và
dửng dưng Đĩ là thế giới cần được phán xử, cũng cĩ nghĩa là cần một hành độngmang tính bước ngoặt, để đánh thức lương tri con người Sự sụp đổ của đế quốc La
Mã được mơ tả trong nhiều văn bản thần học như cái chết tất yếu của một chế độphi nhân tính, sa đoạ và sự báo trước chiến thắng của cái Thiện, xuất phát từ CaoXanh
Ngay từ thời điểm sụp đổ của đế quốc La Mã triết học dần dần biến thành
kẻ đứng sau thần học, còn từ thế kỷ XI trở đi – đứng sau thần học Thiên Chúa
giáo Thốt thai từ thần thọai đa thần giáo, tư tưởng lý luận lại rơi vào sự quản
chế của một thần thọai mới – Kytô giáo, trở thành kẻ phụng sự (nơ lệ) thần học,
chứng minh cho các tín điều của nhà thờ Giáo phụ Lactantius đòi hỏi “quàngvào cổ của lý trí một cái ách”, để buộc nó đi theo sự chỉ dẫn của đức tin Cáiách ấy của niềm tin khó có thể được tháo gỡ, nếu không có những biến đổi cáchmạng trong họat động thực tiễn của con người
Bắt đầu từ thế kỷ IX, khi thế giới trung cổ đi dần vào ổn định, xuhướng “chuẩn hóa” tri thức mang ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố trậttự chính trị – xã hội, cũng đồng thời củng cố địa vị của nhà thờ với tính cách là
nền chuyên chính tinh thần (xem C M và Ph Ă, Toàn tập, T 20, CTQG, 1994,
tr 459) Nhân danh “ổn định chính trị và tinh thần là trên hết”, nhà nước phong
kiến liên minh với nhà thờ đặt ra những “vùng cấm” đối với sáng tạo khoa họcvà văn hóa Chuẩn hóa, đạo đức hĩa toàn bộ đời sống chính trị - xã hội và hoạtđộng nhận thức là nét đặc trưng của trung cổ Kytơ giáo.Tính chất hai mặt củachuẩn hóa tư duy thể hiện ở chỗ, một mặt, nó quy mọi cái tản mát về sự thốngnhất, tạo nên môi trường tư tưởng nhất quán trong điều kiện xã hội đang chịunhiều thách thức; mặt khác, sự chuẩn hóa máy móc, chỉ biết đến “những chânlý sẵn có”, đã thu hẹp khả năng sáng tạo của con người theo tiêu chí “chỉ được
Trang 19phép trình bày nhữn gì trong giới hạn”, mà ở đây là giới hạn của các chân lýbất biến, vĩnh hằng Từ thế kỷ IX phù hợp với xu thế này đã tồn tại thứ triết họcchính thống, được giảng dạy tron các trường học, lấy kinh thánh làm chỗ dựa tưtưởng “Triết học học đường” thời trung cổ (Scholastic) được gọi theo nghĩa
rộng là chủ nghĩa kinh viện Tri thức kinh viện đạt đến tính hệ thống, tính
lôgíc, tính uyên bác, nhưng do chỗ các vấn đề được phân tích mang nặng tínhhình thức, tính sách vở, sáo mòn, nên dần dần xa rời nhu cầu thực tiễn và biếnthành tri thức thuần tuý tư biện
Vào thời cực thịnh của triết học kinh viện đã nổi lên Thomas Aquinas(1225 – 1274) nhà thần học và nhà triết học, một trong những đại diện lớn của
tư tưởng khoa học trung cổ, người sáng lập ra chủ nghĩa Thomas (Thomism) Cơsở học thuyết triết học của Thomas Aquinas là chủ nghĩa Aristoteles Thomasđược biết đến như người bảo vệ thuyết sáng tạo và sự tồn tại của Thượng đếcăn cứ vào các dữ kiện vật lý học và các quy tắc lôgíc học Aristoteles Theoông, vật lý học tìm hiểu các hiện tượng khả giác, phân loại, mô tả chúng và rút
ra quy luật từ sự biến đổi của chúng Nhưng nếu vật lý học muốn giải quyết vấnđề nguồn gốc của vạn vật thì phải cần đến thuyết sáng tạo Với lập luận nhưvậy Thomas đưa ra sáu chứng cứ về sự tồn tại và sáng tạo của Thượng đế –chứng cứ do sự chuyển động, chứng cứ theo nguyên nhân tác thành của tồn tại,chứng cứ do ngẫu nhiên, chứng cứ theo các cấp độ hoàn hảo, chứng cứ mụcđích, chứng cứ dựa vào trật tự đạo đức
Ở lĩnh vực chính trị và liên quan đến chính trị, sau Aristoteles, Thomaskhẳng định rằng nhà nước là thiết chế tự nhiên, chứ không phải là thiết chếtruyền thống, và là xã hội lý tưởng (Communitas Perfecpa) Nhà nước mangtính tự nhiên, vì con người là sinh vật xã hội Con người cần liên kết với nhauđể tồn tại, đảm bảo điều kiễn sống tốt và xác lập nền văn hóa của mình Độngvật hành động theo bản năng, còn con người dựa vào lý trí Nhà nước mang tính
Trang 20lý tưởng, vì nó có khả năng đảm bảo cho conngười đạt đến mục đích đời sốngcủa mình, bớt dần sự lệ thuộc vào ngọai giới Mọi quyền lực, theo Thomas, đềuxuất phát từ Thượng đế, gắn với quyền sống chết, đã được Thượng đế địnhtrước
Ở Thomas tri thức và đức tin được đặt trong mối quan hệ hài hòa, songxét đến cùng đức tin đóng vai trò định hướng Theo sau Aristoteles , Thomas
phân chia lý trí ra thành lý trí lý luận, vươn đến các nguyên lý, và lý trí thực
hành, thể hiện trong họat động ý chí của con người Tự do ý chí cho phép con
người lựa chọn giữa thiện và ác, giữa hành vi đạo đức, dẫn đến Thượng đế, vàhành vi phi đạo đức, xa rời Thượng đế Trong tác phẩm triết học chính trị “Vềsự điều hành của các lãnh chúa” (De regimine principium)Thomas trình sự
phân tầng các quyền từ góc độ đạo đức hóa và thần học hóa, kết hợp với những yếu tố của phái Khắc kỷ Trước tiên Thomas nhấn mạnh quyền vĩnh cửu như
tổng thể các quy tắc điều khiển thế giới của Thượng đế Biểu hiện cá biệt của
quyền vĩnh cửu là quyền tự nhiên, có nguồn gốc từ quan niệm của phái Khắc
kỷ Về mặt nguyên tắc quyền này có ở mọi sinh thể, song chỉ trong cuộc sốngcon người mới trở nên rõ ràng Chỉ con người mới ý thức được rằng bằng cáchsử dụng quyền tự nhiên một cách hợp lý, trong đó có quyền bình đẳng, họhướng đến tính vĩnh cửu của quyền Thượng đế Quyền con người là sự cụ thểhóa quyền tự nhiên; nó phân bố thành quyền nhân dân phổ biến và quyền côngdân hợp pháp, vận hành trong một quốc gia cụ thể Quyền con người khôngphải là quyền bất biến, mà luôn được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với vậnđộng xã hội
Mặc dù xuất phát từ quan điểm chính trị – xã hội của Aristoteles, nhưngThomas đã Kytô giáo hóa các luận điểm của bộ óc bách khoa này để phục vụthần học Aristoteles đặt cái tòan thể xã hội cao hơn tất cả, nhấn mạnh cuộcsống tự do và quyền công dân của thị quốc chiếm hữu nô lệ Hơn nữa, hạnh
Trang 21phúc của con người, theo Aristoteles, cần tìm kiếm ở cuộc sống trần tục, hiệnthực Ngược lại, Thomas hiểu cái tòan thể xã hội là xã hội và nhà nước phongkiến, được bổ sung nội dung tôn giáo – thần học, mang nặng tính đẳng cấp Trậttự xã hội, theo Thomas, là sự phản ánh trật tự Thượng đế như khuôn mẫu bất dibất dịch củasự hòan thiện các đẳng cấp xã hội Trong xã hội như thế đa sốthành viên làm nghề lao động chân tay, còn thiểu số lao động trí óc điều khiển
đa số đó Lao động chân tay được giải thích theo hai cách Cách thứ nhất xuấtphát từ nguyên tội tổ tông, xem lao động là sự chuộc lỗi, căn cứ vào lời phántruyền của Chúa Trời sau khi đuổi Ađam và Êva ra khỏi vườn Êđen :” “ ( ).Cách thứ hai hình thành trong lịch sử Trung cổ như sự đánh giá lại vai trò củalao động trong đời sống xã hội Cách thứ hai này được cácnhà nhân văn Phụchưng sau này đặcbiệt chú trọng, thậm chí họ cho rằng giá trị do lao động tạo ađặt con người vào vị trí danh dự, cao hơn các thiên thần (Ficino) Lao động củanhững người phục vụ Thiên Chúa giáo La Mã được trọng vọng nhất, vì xét đếncùng nó hướng đến lợi ích của cái tòan thể xã hội, cũng như của mỗi người.Nhưng mục đích tối thượng của công việc ấy là gì ? là cuộc sống bên kia, cuộcsống sau khi chết
Vấn đề nhà nước và mối quan hệ của nó với nhà thờ về cơ bản được
Thmas giải quyết theo thuyết thần là trung tâm Quá trình hinh thành từng bước
các nhà nước dân tộc vào thời kỳ này tác động đến Thomas, làm thay đổi mộtphần quan điểm chính thống Kytô giáo Theo Thomas, nhà thờ và nhà nước đềulà kết quả sáng tạo của Thượng đế Sự xác lập nhà nước là cần thiết, bởi lã bênngòai nó không thể có đời sống hiện thực cảm tính của con người Kế thừa tưtưởng tri61t học chính trị của Aristoteles, Thomas khẳng định rằng chủ quyềncủa quyền lực tối cao có tính chất tự nhiên, và rằng nó do Thượng đế đem đến,nhưng thông qua nhân dân Chủ quyền có tính tự nhiên (khách quan, tất yếu) vìnếu không có một tổ chức điều hành, đưa ra những giải pháp bắt buộc thực
Trang 22hiện, thì sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ, và mọi người có thể thủ tiêu nhau.Chủ quyền được đem đến thông qua nhân dân, phản ánh lợi ích của nhân dân,
không lệ vào hình thức cai trị Nhà nước không lệ thuộc vào nhà thờ; mục đích
và vai trò của hai thiết chế này hòan tòan khácnhau Tuy nhiên với tính cách lànhà lý luận của nhà thờ Thiên Chúa giáo Thomas không thể không tin vào mụcđích siêu nhiên của nhân lọai Trong khi thừa nhận vai trò đứng đầu của quyềnlực thế tục trong nhà nước, Thomas cho rằng sự cần thiết của quyền lực chỉmang tính phái sainh, tính công cụ, nhà thờ mới đảm nhận việc điều khiển trựctiếp thế giới của con người nhân danh Đấng sáng thế duy nhất, cái thế giớikhông chỉ ở bên này một cách ngắn ngủi, mà tồn tại ở bên kia, vĩnh viễn Theoquan điểm của chủ nghĩa Thomas nhà thờ không lệ thuộc vào nhà nước vì bấtkỳ lý do nào, dưới bất kỳ hình thức nào, trong khi nhà nước cần phải chú trọngđến quyền lợi của nhà thờ, bởi lẽ mục đích của nó cao hơn, công dân nào cũnghướng về nó Thomas so sánh mối quan hệ giữa nhà thờ và nhà nước với quanhệ giữa linh hồn và thân xác Cả linh hồn lẫn thân xác đều đóng vai trò đặcbiệt, không hòa lẫn, nhưng vai trò của linh hồn quan trọng hơn
Thomas phân biệt 5 hình thức cai trị của nhà nước Dân chủ bị ông đồng nhất với độc tài, vì phần lớn nhân dân, sau khi đàn áp những người giàu và những người có học, đã buộc họ tuân theo ý chí của mình Thomas xem quân
chủ là hình thức tự nhiên nhất của quyền lực nhà nước, sử dụng phép liên tưởng
để luận chứng cho tính hợp lý của nó Nếu Thượng đế chỉ có một trong thế giới,linh hồn chỉ có một trong cơ thể, đàn ong chỉ có một ong chúa, con tàu chỉ cómột người cầm lái chính, thì con tàu nhà nước , tương tự như vậy, cũng sẽ vậnhành tốt hơn, nếu giao cho một người cầm lái duy nhất là nhà vua Hai hình
thức còn lại – họat đầu và quý tộc – không được Thomas chú ý nhiều, vì chúng
là biến thái của các hình thức đã nêu
Trang 23Mọi dù mọi quyền lực đều có nguồn gốc thần thánh, song nguồn gốc cụthể của nó, việc sử dụng hay lạm dụng nó, có thể tạo ra tình thế buộc công dânphải vùng lên lật đổ bộ máy hiện tồn Thomas gắn vấn đề này với việc xâm hạiquyền lợi nhà thờ Các nhà cai trị thế tục chớ nên quên rằng quyền lực của họlà có giới hạn; nếu vượt qua giới hạn cũng có nghĩa là phạm vào luật củaThượng đế Do đĩ cùng với nhà thờ, nhà nước cần loại trừ những kẻ dị giáo cốtình phá vỡ tính thống nhất của tôn giáo.
Quan điểm chính trị của St Thomas đến nay vẫn chưa mất đi ý nghĩa thờisự Hàng lọat vấn đề do nhà “bác học thiên thần” này nêu ra, như vấn đề vị trívà vai trò của nhà thờ, chủ quyền nhà nước, quan hệ quyền lực, quyền công dânvà sức mạnh của luật pháp, tiếp tục được hiện đại hóa trong điều kiện mới tạimột số nước phương Tây Việc liên kết chủ nghĩa Aristoteles với Kytô giáo ở
St Thomas đãtạo nên dấu ấn quan trọng trong lịch sử tư tưởng chính trị
Thời cực thịnh của triết học kinh viện cũng báo trước sự khủng hoảng của
nĩ Trong khuơn khổ của triết học kinh viện đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa phái
duy thực (realism) và phái duy danh (nominalism) xung quanh ý nghĩa của các khái
niệm “phổ quát” và “đơn nhất” Phái thứ nhất xuất phát từ Platơn (xem Ý niệm là
cơ sở, khuơn mẫu của mọi tồn tại); phái thứ hai, nhất là duy danh ơn hồ, xuất phát
từ Arixtốt (xem tồn tại của sự vật là sự thống nhất “mơ thức” và “thể chất”, hay vậtchất, trong đĩ mơ thức là hiện thức, cịn thể chất là khả năng, từ đĩ đi tới quanđiểm về mơ thức “thuần tuý”, tuyệt đối, khơng gắn với thể chất, khơng sinh khơngdiệt, đĩng vai trị Động cơ đầu tiên, hay Thượng đế) Phái thứ nhất xem cái phổquát là tồn tãi bao trùm, chi hpối tất cả, cịn các sự vật đơn nhất, cá biệt chỉ là sựthể hiện khơng hồn thiện của cái phổ quát (Thượng đế, Cõi vĩnh hằng, Bất tử…).Ngược lại, phái duy danh, mà W.Occam là đại diện tiêu biểu, cho rằng chỉ cĩ các
sự vật đơn nhất, với tất cả sự phong phú về tính chất của nĩ, mới hiện diện trên
thực tế, cịn những khái niệm phổ quát chỉ là những tên gọi khơng thể hiện sống
động bản chất của các sự vật cụ thể Với cách tiếp cận ấy, phái duy danh đã mở
Trang 24nhân như bản thể tự chủ Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì xemchủ nghĩa duy danh như biểu hiện đặc thù của tư tưởng duy vật trung cổ
Những khám phá khoa học, sự trỗi dây của các phong trào “dị giáo” và thần
bí hĩa, sự phản biện đối với tư tưởng thần học chính thống, đã mở ra khả năng chothời đại mới, xua tan đêm trường Trung cổ (“đêm trường” nhìn từ gĩc độ khoa học
và triết học)
3 Trình bày nội dung cơ bản của triết học Phục hưng (trong nhiều nội
dung bàn đến các vấn đề tự nhiên, nhận thức, khoa học, tơn giáo, chính trị… nổi
bật tư tưởng nhân văn như trào lưu chủ đạo và xuyên suốt thời kỳ quá độ từ chế độ
phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa)
Về kinh tế, thời Phục hưng chứng kiến quá trình phát sinh và phát triểncuả phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay trong lòng chế độ phong kiến,vơí sự xuất hiện các trung tâm kinh tế lớn, nơi mà sự khởi sắc của hoạt độngsản xuất được bắt đầu bằng sự thay thế tất yếu phuờng hôị già nua và chật hẹpbằng công xưởng thủ công, cái mà theo C Mác là minh chứng rõ ràng củachuyển đổi quan hệ, phá vỡ tính chất tự nhiên khép kín tồn tại hàng ngàn năm.Các phát minh khoa học, ứng dụng kỹ thuật và phát kiến địa lý đã mở rộng tầmnhìn của con người ra thế giới, đồng thời đem đến kích thích tố quan trọng cho quàtrình tích lũy tư bản ban đầu (và cả đẩy nhanh quá trình xâm chiếm thực dân) Từgóc độ chính trị – xã hội, nó tạo nên quá trình đơn giản hóa các quan hệ giữangười với người, từng bước phá vỡ chế độ đẳng cấp và thực trạng đạo đức hóachính trị; hình thành phương thức tổ chức quyền lực mới Từ góc độ thế giới quanvà nhận thức luận, nó tạo động lực cho các nhà khoa học thực hiện quá trìnhsáng tạo, khám phá, vượt qua những cấm đoán, đem đến hiệu quả xã hội chohoạt động của con người, và điều đó cũng có nghĩa nó mở ra cuộc tuyên chiếncủa tư tưởng tích cực, “thế tục” chống triết học kinh viện và thần quyền
` Đặc điểm nổi bật của văn hóa Phục hưng nói chung, triết học nói
riêng, phân biệt nó với thời trung cổ, là tính chất thế tục hóa, phi tôn giáo , thể
hiện ở quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa kinh viện và thần quyền, chuyển sự
quan tâm từ Thượng đế sang thế giới, từ những vấn đề xa rời thực tiễn sang
những vấn đề của chính con người, giải phóng từng bước triết học ra khỏi ảnhhưởng của tôn giáo, thần học Tính chất phi tôn giáo còn thể hiện ở chỗ, chủ đềtôn giáo được lý giải không từ góc độ của Kitô giáo đã kinh viện hóa, mà từ