Thạc sĩ
Trang 2BỘ THƯƠNG MẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
• •
Mã số: 2005 - 78 - 013
Chủ nhiệm đề tài: ThS Vũ Thị Hiền
Trang 3BỘ THƯƠNG MẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Se—
ĐỀ TÀI NCKH CẤP BỘ
Cơ CHÊ, CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHAU CỦA VIỆT NAM
Trang 4Chủ nhiệm đề tài: ThS Vũ Thị Hiền
Các thành viên tham gia:
PGS.TS.Nguyễn Hữu Khải
CN Nguyễn Thị Phương Chi
Trang 5DANH M Ụ C T Ừ VIẾT T Ắ T
1 WTO World Trade Organisation Tổ chức thương mại thế giới
2 OECD Organization for Economic Corporation and Deverlopment Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
3 UNCTAD United Nation Committee for Trade
and Deverlopment
Uy ban Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển
4 ACFTA ASEAN-China Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc
5 FDI Foreign Dừect Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
6 ISO International Standards Organization Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
cầu
9 IMF International Moneytary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
12 GATT General Agreement ôn Trade and Tariff Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
13 SCM Agreement ôn Subsidies and
Countervailing Measures
Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng
14 ADP Agreement ôn Anti - Dumping
15 TBT Agreement ôn Technical barriers to
trade Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật trong thương mại
16 SPS Agreement ôn Sanitary and
Phytosanitary measures
Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch đụng thực vật
17 AoA Agreement ôn Agriculture Hiệp định nông nghiệp
18 TRIMs Trade related investment measures Hiệp định về các biện pháp đầu
tư liên quan đến thương mại
19 GATS General agreement ôn trade in services Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ
20 ACV Agreement ôn Custom Value Hiệp định về trị giá hải quan
22 wco World Custom Organisation Tổ chức hải quan thế giới
Trang 623 Ư S D O C
USTR us Trade Representative Đại diện thương mại M ỹ
24 ITC International Trade Committee Uy ban thương mại quốc tế M ỹ
25 APHIS The Animal and Plant Health
inspection Service
Cơ quan thanh tra về an toàn, sức khoe thực, động vật (Mỹ)
26 FSIS The Food Safety and Inspection Service Cơ quan thanh tra và an toàn thực phẩm (Mỹ)
27 MOFCO M Ministry of Commerce of the
People's Republic of China
Bộ Thương Mại nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc
nước
29 CNH,
Trang 7MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU • •• 1
C H Ư Ơ N G 1: C ơ S Ở KHOA H Ọ C C Ủ A c ơ CHẾ, C H Í N H S Á C H V À C Á C B I Ệ N
ĩ TỔNG QUAN VẾ c ơ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHẬP KHAU 4
1 Tổng quan về cơ chế quản lý nhập khẩu 4
1.1 Khái niệm cơ chế quản lý nhập khẩu 4
1.2 Sự cần thiết và nguyên tắc vận hành cữa cơ chế quản lý nhập khẩu 5
1.2.1 Sự cần thiết khách quan của cơ chế quản lý nhập khẩu 5
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản vận hành cơ chế quản lý nhập khẩu 7
2 Chính sách quản lý nhập khẩu 8
2.1 Khái niệm 8
2.2 Vai trò cữa chính sách quản lý nhập khẩu trong bối cảnh tự do hóa thương
mại 9
2.2.1 CRính sách quản lý nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoa, hiện đại hóa đất nước 9
2.2.2 Chính sách quản lý nhập khẩu cố tác dụng điều tiết và hướng dẫn tiêu dùng,
góp phần cải thiện và nâng cao mợc sống của nhân dân 10
2.2.3 Chính sách quản lý nhập khẩu có tác dụng tích cực đến việc mở rộng quan
hệ hợp tác với nước ngoài, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 10
3 Mối quan hệ giữa cơ chế, chính sách và các biện pháp quản lý nhập khẩu Ì ỉ
l i QUY ĐỊNH C Ủ A Tổ CHỨC T H Ư Ơ N G M Ạ I T H Ế G I Ớ I V Ế C Á C B I Ệ N P H Á P
QUẢN L Ý NHẬP K H Ẩ U 14
2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng 18
2.1.1 Cấm nhập khẩu (Import Prohibitions) 18
2.1.2 Hạn ngạch nhập khẩu 79
2.1.3 Giấy phép nhập khẩu 20
2.2.1 Xác định trị giá hải quan 23
2.2.2 Quy định giá bán tối đai tối thiểu 28
2.3 Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp 30
2.3.1 Doanh nghiệp thương mại nhà nước (State trading) 30
2.4 Các biện pháp kỹ thuật 31
2.4.1 Các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn sản phẩm 3Ị
2.4.2 Các quy định kiểm dịch động thực vật 32
2.4.3 Các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa 33
2.4.4 Các quy định liên quan đến môi trường 33
2.5 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời 34
2.5.1 Các biện pháp chống bán phá giá 34
2.5.2 Các biện pháp chống trợ cấp 3(5
Trang 82.5.3 Các biện pháp tự vệ 36
2.6 Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại 37
2.6.1 Yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa 37
2.6.2 Yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc 37
2.6.3 Yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước 38
2.7 Các biện pháp quản lý hành chính (Administrative Measures) 38
2.7.1 Thủ tục Hải quan (Customs Procedures) 38
2.7.2 Qui định về mua sắm chính phủ (government procurement) 39
HI KINH NGHIỆM QUẢN L Ý HOẠT Đ Ộ N G NHẬP KHAU C Ủ A M Ộ T s ố N Ư Ớ C
T R Ê N T H Ê G i ớ i 39
1 Cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý nhập khẩu của MỰ 39
LI Cơ chế và chính sách quản lý nhập khẩu 39
1.2 Các biện pháp quản lý nhập khẩu 41
ĩ. Chỉnh sách, cơ chế và biện pháp quản lý nhập khẩu của Trung quốc 57
2.1 Chính sách và cơ chế quản lý nhập khẩu 57
2.2 Các biện pháp quản lý nhập khẩu 60
c Biện pháp bảo hộ thương mại 67
ả Hàng rào kỹ thuật 71
3 Cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý nhập khẩu của Thái lan 76
3.1 Cơ chế, chính sách quản lý nhập khẩu 76
3.2 Các biện pháp quản lý nhập khẩu 77
b Các biện pháp quản lý định lưậng: 79
c Các biện pháp tương đương thuế quan: 80
ả Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp: 81
e Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời: 81
f Các biện pháp liên quan đến đầu tư: 82
4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 83
1 Cơ chê và chính sách quản lý nhập khẩu của Việt Nam 86
1.1 Khái quát về cơ chê và chính sách quản lý nhập khẩu của Việt Nam trước
Đổi mới (trước năm 1986) 86
1.2 Cơ chế và chính sách quản lý nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1987 đến
2.1 Qui m ô và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu 98
2.2 Cơ cấu nhập khẩu: 99
Trang 92.3 Cơ cấu thị trường nhập khẩu • 100
l i T H Ự C TRẠNG s ử DỤNG C Á C B I Ệ N P H Á P Q U Ả N L Ý NHẬP K H A U Ở V I Ệ T
N A M T H Ờ I GIAN QUA Ị loi
1 Thuế nhập khẩu l o i
1 3 Thuê suất 104
2 Các biện pháp hạn chế định lượng 109
2.1 Cấm nhập khẩu 109 2.2 Hạn ngạch nhập khẩu 112
2.3 Giấy phép nhập khẩu 113
3.1 Xác định trị giá hải quan 119
3.2 Quy định giá bán tối đa/tối thiểu 122
3.3 Phả thu ! 122
4 Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp 124
4.1 Doanh nghiệp thương mại Nhà nước 124
4.2 Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu 125
5 Các biện pháp kỹ thuật 125
5.1 Các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn sản phẩm 125
5.2 Các quy định kiểm dịch động thực vật 127
5.3 Các yêu cầu về nhãn mác hàng hóa 128
5.4 Các quy định liên quan đến môi trường 129
6 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thòi 130
7 Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại 131
7.1 Yêu cầu về nội địa hóa 131
7.2 Yêu cầu tự cân đối ngoại tệ 132
7.3 Yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước 132
7.4 Yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc 133
8 Các biện pháp quản lý hành chính 133
8.1.Thủ tảc hải quan 133 8.2 Qui định về mua sắm chính phủ 135
HI NHẬN X É T CHUNG V Ề c ơ CHẾ, C H Í N H S Á C H VA C Á C BIỆN P H Á P QUAN
1 Đường lối và mảc tiêu phát triển kinh tế xã hội 139
2 Chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế 140
4 Cam kết của Việt Nam với các tổ chức kinh tẽ quốc tế 144
4.1 Cam két của Việt Nam trong lộ trình thực hiện C E P T / A F T A 1 4 4
Trang 104.3 Nội dung cam kết trong WTO 148
l i ĐỊNH H Ư Ớ N G H O À N T H I Ệ N c ơ C H Ế V À C H Í N H S Á C H Q U Ả N L Ý NHẬP
K H Ẩ U C Ủ A V I Ệ T N A M • 153
1 Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoa nhập khẩu đối với những ngành Viợt Nam
có năng lực cạnh tranh cao, duy trì mức bảo hộ hợp lý đối vói những ngành nhạy
cảm đối với nền kỉnh tế phù hợp với các thông lợ quốc tế và các cam kết trong
2 Trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, kiên trì chính sách nhiều thành phần
kinh tê ! ' 154
3 ưu tiên nhập khẩu máy móc, thiết bị tiên tiến hiợn đại từ những thị trường còng
nghợ nguồn Nhập khẩu phải bướng vào phục vụ các ngành sản xuất hướng về xuất
khẩu ! 155
4 Tiếp tục cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại 156
5 Đa dạng hoa các biợn pháp quản lý nhập khẩu, chú trọng những biợn pháp quản
lý mới phù hợp với quy định của WTO 156
IU M Ộ T SỐ Đ Ể X U Ấ T Đ Ố I V Ớ I V I Ệ C H O À N T H I Ệ N c ơ C H Ê V À C Á C B I Ệ N
P H Á P Q U Ả N L Ý NHẬP K H Ẩ U C Ủ A V I Ệ T N A M TRONG B ố i C Ả N H H Ộ I N H Ậ P
1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiợn cơ chê quản lý nhập khẩu 157
1.1 Chuyển đổi một cách triợt để cơ chế quản lý hoạt động nhập khẩu sang cơ
chê thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa 157
1.2 Nàng cao vai trò và hiợu lực quản lý của Nhà nước trong hoạt động nhập
khẩu 7 .' 7 .' 157
1.3 Có sự nhất quán giữa cơ chế quản lý kinh tế chung, cơ chẻ quản lý nhập
khẩu và cơ chế quản lý ngành có liên quan 158
1.4 Hoàn thiợn, đổi mới quy trình xây dựng và ban hành chính sách quản lý
nhập khẩu 159 1.5 Tạo điều kiợn cho xã hội tham gia đóng góp ý kiến vào hoạch định cơ chê,
chính sách quản lý nhập khẩu 160
1.6 Tăng cường công tác thanh tra, giám sát cơ chế vận hành và thi hành 160
2 Một số kiến nghị đối vói các biợn pháp quản lý nhập khẩu 161
2.1 Đối với thuế nhập khẩu 161
ã Những yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu 161
b Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Ị 64
a Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng hàng rào phi thuế quan 173
b Các kiến nghị nhằm áp dụng các biện pháp phi thuế quan Ị 76
K Ế T L U Ậ N
TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O C H Í N H
P H Ụ L Ú C
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng Ì -1: Cơ cấu thuế nhập khẩu của Mỹ 41
Bảng 1-3: Các cơ quan có liên quan đến chính sách thương mại của Trung Quốc 58
Bảng 1-4: Cơ cấu thuế quan của Trung Quốc 60
Bảng 1-5: Cơ cấu ưu đãi thuế quan của Trung Quốc 61
Bảng 1-6: Tiêu chuẩn quốc gia của Trung Quốc 72
Bảng 1-7: Cơ cấu thuế quan của Thái Lan 78
Bảng 1-8: Thuế chống bán phá giá Thái Lan áp đụng từ ngày 31/5/2003 82
Bảng 2-1: Phạm vi quyền kinh doanh xuất nhập khẩu 97
Bảng 2-2: Cơ cấu nhập khẩu giai đoạn 2001-2005 99
Bảng 2-3: Cơ cấu thị trường nhập khẩu 2000-2004 100
Bảhg 2-4: Cơ cấu thị trường nhập khẩu năm 2005-2006 loi
Bảng 2-5: Cơ cấu thuế nhập khẩu của Việt Nam 1995-2001 106
Bảng 2-6: Cơ cấu thuế nhập khẩu của Việt Nam 2001-2003 107
Bảng 2-7: Biểu thuế nhập khẩu tuyệt đối với xe ô tô đã qua sử dụng 108
Bảng 2-8: Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu các năm 109
Bảng 2-9: Mằt số biện pháp tương đương hạn ngạch 112
Bảng 2-10: Danh mục hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép của Bằ Thương mại
thời kỳ 2001-2005.i 114
Bảng 2-11: Danh mục mặt hàng nhập khẩu phải xin giấy phép Bằ Thương mại
từ 2006 115 Bảng 2-12: Danh mục mặt hàng do các cơ quan chuyên ngành cấp phép
nhập khẩu năm 1995 116
Bảng 2-13: Danh mục hàng hóa thuằc diện quản lý chuyên ngành bằng
giấy phép sau 2006 117
Bảng 2-14: Danh mục hàng hóa nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan 119
Bảng 2-15: Danh mục các nhóm mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính
Bảng 2-16: Mằt số mặt hàng nhập khẩu chịu phụ thu 123
Bảng 3-1: Cơ cấu thuế suất CEPT/AFTA của Việt Nam 146
Bảng 3-2: Lịch trình cắt giảm thuế theo CEPT với mằt số mặt hàng chủ yếu
của Việt Nam 146 Bảng 3-3: Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính 150
Bảng 3-4: Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo mằt số nhóm mặt hàng chính 150
Bảng 3-5: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoa theo ngành 151
Bảng 3-6: Nằi dung chương trình chứng nhận W R A P 187
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1: M ố i quan hệ giữa cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý nhập khẩu 11
Hình 1-2 : M ô hình liên kết các chủ thể quản lý nhập khẩu của Việt Nam 12
Hình 1-3: Thực trạng chống bán phá giá của Trung Quốc 68
Hình 2-1: Cơ cấu Bộ Thương mại qua các thời kỳ 88 Hình 2-2: K i m ngạch nhập khẩu 2001-2006 98 Hình 3-1: Quy trình rà soát ban hành các chính sách quản lý nhập khẩu 159
PHỤ LỤC
Phụ lục Ì: Các mặt hàng chừu sự quản lý bằng hạn ngạch của M ỹ
Phụ lục 2: Một số hàng hóa loại trừ việc ghi xuất xứ của Mỹ
Phụ lục 3: Các quy đừnh đối với việc gửi đi trước các thông tin liên quan đến hàng hóa
của Mỹ
Phụ lục 4: Rào cản thương mại giữa các tỉnh của Trung Quốc
Phụ lục 5: So sánh nội dung Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 1998 và 2005
Phụ lục 6: So sánh danh mục và nguyên tắc quản lý các mặt hàng phải xin giấy phép
chuyên ngành giữa Quyết đừnh 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 và Nghừ đừnh
12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006
Trang 13LỜI NÓI ĐẦU
Ị Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những kết quả khả quan cho nền kinh tế, trong đó hoạt động nhập khẩu
đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc phức vứ có hiệu quả phát triển sản xuất và đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đời sống Trong những năm sắp tới, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa sẽ ngày càng gia tăng, đòi hỏi chúng ta phải có sự quản lý nhập khẩu chặt chẽ để không gây ảnh hưởng xấu tới cán cân thanh toán quốc tế, bảo vệ
và phát triển kinh tế trong nước một cách ổn định, vững chắc
Ngoài ra, xu thế toàn cầu hóa m à biểu hiện của nó là tự do hóa thương mại đặt ra cho hoạt động quản lý nhập khẩu những thách thức không nhỏ Nhiều công
cứ quản lý nhập khẩu truyền thống sẽ trở nên trái với các quy định quốc tế, cần phải được bãi bỏ; nhưng cũng có nhiều công cứ quản lý nhập khẩu mới, tinh vi hơn ra đời, cần được nghiên cứu áp dứng Do đó, các chính sách, cơ chế quản lý nhập khẩu cần phải được hoạch định một cách hợp lý để không trái với các cam kết quốc tế của Việt Nam
Chính vì thế, việc nghiên cứu đề tài "Cơ chế, chính sách và biện pháp quản
lý hoạt động nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" nhằm xây dựng định hướng cho việc quản lý nhập khẩu của nước ta trong giai đoạn tới, để có thể vừa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa đảm bảo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, các vấn đề về chính sách, biện pháp quản lý nhập khẩu
đã được trình bày trong rất nhiều giáo trình trong và ngoài nước, chẳng hạn như
Giáo trình "Kinh tế quốc tê" do TS Đ ỗ Đức Bình và TS Nguyễn Thường Lạng chủ biên (Đại học Kinh tế quốc dân, N X B Lao động xã hội, 2002) hay "Kinh tế
Ngoại thương" của GS.TS Bùi Xuân Lưu (Đại học Ngoại thương, N X B Giáo dức
2002) Đ ố i với cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, cho đến nay mới chỉ có Giáo trình Kinh tế Ngoại thương có đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản nhất
Trang 14Tuy nhiên, các sách này mới chỉ đưa ra các vấn đề chung về quản lý nhập khẩu m à chưa có sự đối chiếu với các quan điểm của WTO; ngoài ra một số nội dung cũng chưa cập nhật những biện pháp quản lý nhập khẩu mới xuất hiện trong quá trình toàn cầu hóa
Đ ố i với thực tiễn áp dụng các biện pháp quản lý nhập khẩu ọ Việt Nam, đã
có rất nhiều đề tài và sách, chẳng hạn như "Cơ sở khoa học của định hướng các
biện pháp phi thuế dể bảo hộ sản xuất hàng hóa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thương mại thế giã (Vụ Kế hoạch thống kê, Bộ thương mại), Bảo hộ hợp lý sản xuất và mậu dịch nông sản trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc ré'(Đại học ngoại thương, 2001), Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, những giải pháp để vượt rào cản của các doanh nghiệp Việt Nam
(Đại học thương mại) hay sách chuyên khảo "Rào cản trong thương mại quốc tê" của PGS.TS Đinh Văn Thành chủ biên (NXB Thống kê, 2005), "Hàng rào phi
thuế quan trong chính sách thương mại quốc rê" của TS Nguyễn Hữu Khải ( N X B
Lao động xã hội, 2005) Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ đề cập đèn các biện pháp quản lý hoạt động nhập khẩu m à chưa chú ý đến tính hệ thống, mối liên hệ giữa cơ chế, chính sách và các biện pháp quản lý nhập khẩu Bên cạnh đó, các nghiên cứu này chưa thực sự đánh giá được hiệu quả của các biện pháp quản
lý nhập khẩu m à chủ yếu hướng tới việc đề xuất các giải pháp vượt rào cản cho doanh nghiệp
Do đó, đề tài "Cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý hoạt động nhập
hệ thống và toàn diện về cả 3 mặt cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý nhập khẩu ọ Việt Nam trên cơ sọ đối chiếu với các quy định quốc tế trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế là một nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây
3 Múc tiêu nghiên cứu
• Hệ thống hóa các vấn đẽ lý luận về cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý nhập khẩu, trong đó đặc biệt chú ý đến quy định của các tổ chức quốc tế
về các biện pháp quản lý nhập khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
• Xác định và đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý hoạt động nhập khẩu m à Việt Nam áp dụng trong giai đoạn 2000-2005, trên cơ sọ phân tích thực trạng cơ chế, chính sách quản lý nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000-
Trang 152005 và việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về quản lý nhập khẩu, bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Thái Lan
• Xác định phương hướng cho chính sách quản lý hoạt động nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian tới và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế quản lý nhập khẩu và giải pháp cụ thữ đối với từng biện pháp quản lý nhập
khẩu
4 Đối tương và phàm vi nghiên cứu
Đ ố i tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế, chính sách và các biện pháp quản lý nhập khẩu hàng hoa hữu hình, trong đó sẽ tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các biện pháp quản lý nhập khẩu hàng hóa m à Việt Nam đang áp dụng Từ đó, đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động nhập khẩu và
đề xuất định huống trong giai đoạn tới khi Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới
Phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ giới hạn các định hướng và đề xuất được đưa ra cho giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp và điều tra xã hội học đữ nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
Nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của cơ chế, chính sách và các biện pháp quản
lý nhập khẩu
Chương 2: Thực trạng cơ chế, chính sách và các biện pháp quản lý nhập
khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp thực hiện quản lý hoạt động
nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 16C H Ư Ơ N G 1: Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA cơ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẬP KHAU
ì TỔNG QUAN VỀ cơ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHẬP KHAU
Ị Tổng quan về co chế quản lý nháp khẩu
1.1 Khái niệm cơ chê quản lý nhập khẩu
Khái niệm cơ chế được sử dụng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Nhìn chung, khái niệm cơ chế dùng để chỉ sự tương tác giữa các yếu tố kết thành hệ thống m à nhờ đó hệ thống có thể hoạt địng, chẳng hạn như cơ chế vận hành của máy móc thiết bị, cơ chế hoạt địng của mịt tổ chức,
Theo quan điểm "địng", mỗi nền kinh tế cũng được coi là mịt hệ thống gồm nhiều thành phần khác nhau (Nhà nước, người tiêu dùng, các doanh nghiệp, ) cùng tương tác và vận hành hướng đến mục tiêu của mình Do đó, ứng với mỗi nền kinh tế có mịt cơ chế kinh tế vận hành phù hợp Có thể hiểu, cơ chế
k i n h t ế là tổng thể các yếu tố có mối liên hệ tác địng qua lại lẫn nhau tạo thành địng lực dẫn dát nền k i n h tế nhằm tới mục tiêu đã định Thực chất của
cơ chế kinh tế là sự tác địng tương tác giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các chính sách công cụ vận hành theo các quy luật kinh tế Như vậy, sẽ
có 3 loại hình cơ chế kinh tế: (1) nền kinh tế chỉ huy vận hành theo cơ chế kế hoạch hoa tập trung; (2) nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường; (3) nền kinh tế hỗn hợp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
ứng với mỗi cơ chế kinh tế nhất định có mịt cơ chế quản lý kinh tế phù hợp C ơ chế quản lý k i n h tế là các phương thức m à qua đó N h à nước tác địng vào nền k i n h tế để định hướng nền k i n h tế t ự vận địng nhằm tói các mục tiêu đã định Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác địng của Nhà nước vào sự vận địng của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế, vì vậy cơ chế quản lý kinh tế cần thiết tự điều chỉnh không ngừng theo quy luật vận địng của các quy luật kinh tế
Ngoại thương (xuất nhập khẩu) là mịt lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, đảm nhận chức năng lưu thông hàng hoa, dịch vụ giữa trong nước và ngoài nước, là mịt bị phận cấu thành của nền kinh tế Hoạt địng này
Trang 17cũng cần phải được quản lý theo một cơ chế nhất định, mang tính đặc thù Đ ó là
cơ chế quản lý xuất nhập khẩu
Cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu được xây dựng và ban hành trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh
tế thị trường Ở Viểt Nam hiển nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng X H C N có sự quản lý của Nhà nước Do
đó, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu phải tuân thủ theo các quy luật của kinh tê thị trường có sự quản lý thống nhất của Nhà nước Có thể nói, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu ra đời là một đòi hỏi khách quan Viểc xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiển cơ chế quản lý xuất nhập khẩu vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghể thuật N ó đòi hỏi vừa phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan, vừa đòi hỏi tài năng, nghể thuật nắm bắt đúng các quy luật kinh tế đang hoạt động và tác động tích cực của các quy luật kinh tế đó trong những điều kiển kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế cụ thể Như vậy cơ chế quản lý xuất nhập khẩu có thể và cần thay đổi cho phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, nghĩa là các công cụ, chính sách và nội dung của cơ chế quản lý xuất nhập khẩu có thể thay đổi Nhưng những thay đổi như trên không được xa rời mục tiêu của nó
Qua phân tích, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra khái niểm về cơ chế quản lý nhập khẩu như sau: Cơ chế quản lý nhập khẩu là các phương thức mà qua đó Nhà nước tác động có định hướng theo những điều kiển nhất định vào các đôi tượng (khách thể) tham gia hoạt động nhập khẩu nhằm đảm bảo cho sự
tự vận động của hoạt động nhập khẩu hướng đến các mục tiêu kinh tê - xã hội đã định của Nhà nước
1.2 Sự cần thiết và nguyên tác vận hành của cơ chế quản lý nhập khẩu
1.2.1 Sư cần thiết khách quan của cơ chế quản lý nháp khẩu
Quản lý nền kinh tế quốc dân nói chung và quản lý hoạt động nhập khẩu nói riêng là một yêu cầu có tính khách quan Sự cần thiết của cơ chế quản lý nhập khẩu xuất phát từ những yêu cầu sau:
• Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở phạm vi quốc gia cũng như quốc tế mang tính chất trực tiếp Sự tác động đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như kinh tế toàn cầu hoạt động năng động, kích thích các nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiểu quả Tuy nhiên, sự tác động đó cũng có nhiều mật trái như: do chạy theo lợi nhuận nên xuất khẩu, nhập khẩu không tạo ra cơ cấu sản phẩm tối ưu cho xã hội; không chú
Trang 18ý đến bảo vệ môi trường, an ninh xã hội; cũng do chạy theo lợi nhuận nên các nhà sản xuất kinh doanh có thể làm bất cứ việc gì dù là buôn gian, bán lận, đầu cơ tích trữ để kiếm được nhiều lợi lộc Đ ể bảo vệ lợi ích giai cấp m à Nhà nước là người đại diện, Nhà nước phải can thiệp vào thị trường để điều chỉnh, điều tiết hướng sự tác động cốa thị trường vào phục vụ lợi ích cốa nhân dân
• Cơ chế quản lý nhập khẩu là một bộ phận trong cơ chế quản lý kinh tế cốa một quốc gia Do vậy, cần thiết xác lập một cơ chế nhập khẩu hợp lý giải phóng được lực lượng sản xuất cốa tất cả các thành phần kinh tế ở tất cả các cấp
là hoàn toàn cần thiết đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung cốa cả nước
• Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực sản xuất ngày càng mang tính quốc tế hoa, trình độ xã hội hoa sản xuất ngày càng cao Đ ể cho quá trình này diễn ra một cách chố động, vừa tranh thố được lợi ích do hội nhập mang lại, vừa không làm tổn hại đến lợi ích dân tộc, tất yếu đòi hỏi phải có sự quản lý tập trung cốa Nhà nước theo một cơ chế phù hợp, trong đó Nhà nước với vai trò cốa một "nhạc trưởng" có thể sử dụng bàn tay hữu hình cốa mình để điều tiết hoạt động kinh tế nói chung và nhập khẩu nói riêng Điều này lại càng quan trọng đối với một nền kinh tế còn non yếu và đang chuyển đổi như Việt Nam
• M ỗ i doanh nghiệp, mỗi nhà quản trị doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trong một khuôn khổ hạn hẹp, với chức năng kinh doanh
cụ thể đối với một số mặt hàng và thị trường nhất định Do đó cách xác định hiệu quả kinh tế cũng hướng tới mục tiêu kinh tế cụ thể, hay nói một cách khác các doanh nghiệp chố yếu thiên về tính ngắn hạn nhiều hơn dài hạn Do đó, các khía cạnh thường chỉ được xem xét trong thời gian ngắn và trong một không gian cũng hẹp, dẫn tới khả nâng tự tạo lập những điều kiện, môi trường kinh doanh bị hạn chế Vì vậy, doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ cốa Nhà nước để thực hiện chiến lược kinh doanh cốa mình
• Việc mua bán hàng hoa - dịch vụ trên thị trường thế giới liên quan đến rất nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, luật pháp Đ ể tránh được những bất lợi trong kinh doanh, ổn định buôn bán lâu dài và hạn chế tác động xấu cốa các cuộc khống hoảng kinh tế đòi hỏi phải có sự quản lý cốa Nhà nước Cơ chế tác động này sẽ đảm bảo cho hoạt động nhập khẩu thực hiện đúng với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cốa một quốc gia, đảm bảo được các cam kết với nước ngoài, tránh được những rối ro, diễn biến xấu cốa thị trường thế giới
Trang 19ỉ.2.2 Nguyên tắc cơ bản vân hành cơ chế quản lý nháp khẩu
Nguyên tắc vận hành cơ chế xuất nhập khẩu về cơ bản là sự nhất quán của
quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia với các nguyên tắc quản lý
kinh tế của Nhà nước nói chung và nguyên tắc quản lý xuất nhập khẩu nói riêng
Cụ thể là:
• Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu phải phù hợp với các quy luật khách quan, đặc biệt là các quy luật kinh tế, các quy luật của thị trường Hoạt động sản
xuất, lưu thông hàng hoa trong đó bao gồm hoạt động nhập khẩu đều phải tuân
theo những quy luật khách quan của sản xuất và lưu thông hàng hoa Còn hoạt
động quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu thông qua việc ban
hành một cơ chế quản lý xuất nhập khẩu lại là hoạt động do ý chí chủ quan chi
phối là chính Vì vậy, đòi hầi cơ chế quản lý xuất nhập khẩu đề ra phải phù hợp
với sự tác động của các quy luật khách quan Và chỉ có nhu vậy, hoạt động xuất
nhập khẩu mới có thể phát triển vững chắc
Đ ể thực hiện nguyên tắc này đòi hầi đội ngũ lao động trong hệ thống chủ
thể quản lý Nhà nước phải có đủ trình độ nhận biết và khả năng vận dụng các quy
luật trong việc xây dựng cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu phù hợp với các yêu
cầu của quy luật kinh tế
• Cơ chế quản lý nhập khẩu phải đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Cơ chế đó phải đảm bảo cho Nhà nước với tư cách là
người chỉ huy, phải đảm bảo mọi hoạt động nhập khẩu với nước ngoài theo đúng
định hướng của Nhà nước Đồng thời, với tư cách là người điều tiết và điều chỉnh
hoạt động thương mại với nước ngoài, Nhà nước cần tôn trọng và đảm bảo phát huy cao nhất tính năng động, tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh của các
chủ doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường và thị trường quốc tế Thực hiện nguyên tắc này đòi hầi Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản
lý Nhà nước về kinh tế, không can thiệp sâu vào sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
hội, lấy đó làm mục đích cuối cùng của hoạt động quản lý Hiệu quả kinh tế-xã
hội của hoạt động nhập khẩu cũng là thước đo kết quả của cơ chế và chính sách
nhập khẩu Thực hiện nguyên tắc này đòi hầi các nhà quản lý cũng như doanh
nghiệp phải có quan điểm đúng đắn về hiệu quả kinh tế xã hội, đồng thời phải có
Trang 20tri thức nhất định về tính toán hiệu quả và có phương pháp luận đánh giá hiệu quả kinh tế
• Cơ chế quản lý nhập khẩu phải kết hợp hài hoa giữa các lợi ích: lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế (của các đối tác, bạn hàng.) Cơ chế quản lý nhập khẩu
trước hết phải đảm bảo lợi ích của đất nước (bao gồm lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và cá nhân người lao động) Đồng thời, phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi trong quan hệ buôn bán với các đởi tác
Về lợi ích của đất nước, phải coi trọng và bảo vệ lợi ích kinh tế-xã hội, coi hiệu quả kinh tế-xã hội là mục tiêu, là tiêu chuẩn của sự tăng trưởng kinh tế Đồng thời không được coi nhẹ lợi ích của doanh nghiệp và cá nhân nguôi lao động, phải coi lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh
và nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu
2 Chính sách quản lý nháp khẩu
2.1 Khái niệm
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thì hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua hàng hóa từ nước ngoài nhằm phục vụ các nhu cầu trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu Đ ể thực hiện tởt mục tiêu và các nguyên tắc nhập khẩu, các quởc gia đều phải xây dựng cho mình một
hệ thởng chính sách nhập khẩu hợp lý Đây là một bộ phận của chính sách thương mại quởc tế của một quởc gia Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính sách quản lý nhập khẩu nhưng theo quan điểm của nhóm tác giả, chính sách nhập khẩu được định nghĩa như sau:
"Chính sách quản lý nhập k h ẩ u là hệ thông các quan điểm, nguyên tác, mục tiêu, biện pháp và công cụ m à các quởc gia sử dụng n h ằ m quản lý, điều chỉnh các hoạt động nhập k h ẩ u phù hợp với các lợi thê của quởc gia trong từng thòi kỳ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quởc gia t ừ thương mại quởc t ế "
Cần chú ý rằng, chính sách nhập khẩu luôn có tính lịch sử Ở m ỗ i giai đoạn lịch sử khác nhau mỗi quởc gia có chính sách nhập khẩu khác nhau nhằm đem lợi lợi ích cao nhất cho nước mình
Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu luôn hàm chứa các yếu tở quởc tế như giá cả, phương thức và phương tiện thanh toán, chủ thể tham gia Do vậy chính
/
Trang 21sách nhập khẩu phải phù hợp và phản ánh một phần chính sách đối ngoại của quốc gia này với các quốc gia khác
2.2 V a i trò của chính sách quản lý nhập k h ẩ u trong bối cảnh t ự do hóa thương mại
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước Nhập khẩu để bặ sung các hàng hoa m à trong nước sản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu về những hàng hoa m à trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không có lợi bằng nhập khẩu Hai mặt nhập khẩu bặ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, trong đó, cân đối trực tiếp
ba yếu tố của sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động V ớ i cách tác động đó, ngoại thương được coi như một phương pháp sản xuất gián tiếp Trong bối cảnh tự do hóa thương mại đã mang tính toàn cầu, chính sách quản lý nhập khẩu của Việt Nam cần thiết phải có sự điều chỉnh theo hướng vừa bảo vệ được thị trường nội địa, vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu về phát triển sản xuất, nhu cầu của đời sống nhân dân, và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
m ô nhỏ Đ ể trở thành một quốc gia có nền kinh tế tiến tiến hiện đại, các chính sách kinh tế - xã hội nói chung và chính sách quản lý nhập khẩu nói riêng cần thiết phải thể hiện được sự điều tiết hợp lý giữa tính chất bảo hộ với tự do trong quan hệ kinh tế đối ngoại để tranh thủ được sự chuyển giao khoa học công nghệ
từ những nước tiên tiến vào Việt Nam làm cho cơ cấu được cải tiến theo hướng
C N H H Đ H
Văn kiện Đ ạ i hội Đảng toàn quốc lần thứ I X xác định đến năm 2010 tỷ trọng nông nghiệp chiếm 16-17%; công nghiệp chiếm 4 0 - 4 1 % và dịch vụ chiếm 42-43% Đ ể thực hiện được chỉ tiêu này, chính sách nhập khẩu có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết hoạt động nhập khẩu công nghệ thiết bị mới, trang bị cho các ngành kinh tế như điện và điện tử, công nghiệp đóng tàu, chế biến dầu
Trang 22khí, chế biến nông sản từ đó sẽ hướng các ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoa, hiện đại hóa
Mặt khác chính sách nhập khẩu cần thiết kịp thời giải quyết những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo cho cơ cấu kinh tế trong nước có một tự lệ hợp lý, phát triển một nền kinh tế bền vững Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những tự lệ nhất định như: cân đối giữa Khu vực sản xuất tư liệu sản xuất và Khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng; giữa tích lũy và tiêu dùng; giữa hàng hoa và lượng tiền trong lưu thông; giữa xuất khẩu với nhập khẩu
và cán cân thanh toán quốc tế
2.2.2 Chính sách quản lý nháp khẩu có tác dung điều tiết và hướns dẩn tiêu dùng, góp phần cải thiên và nám cao mức sống của nhân dân
Chính sách quản lý nhập khẩu có vai trò điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa nhằm thoa mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng m à trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ như nhập khẩu thuốc chữa bệnh, đồ điện gia dụng, lương thực thực phẩm,
Chính sách quản lý nhập khẩu hợp lý còn có tác dụng bảo vệ những ngành sản xuất trong nước phát triển, tránh được sự cạnh tranh quá mức của những sản phẩm nước ngoài, đồng thời vẫn đảm bảo đầu vào cho sản xuất, khôi phục lại những ngành nghề cũ, mở ra những ngành nghề mới, tạo nhiều việc làm ổn định cho người lao động, từ đó tăng khả năng thanh toán
Quan trọng hơn, chính sách quản lý nhập khẩu sẽ tạo điều kiện phát triển những ngành sản xuất hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu, vừa nhằm mục đích tiết kiệm nguồn ngoại tệ dành cho nhập khẩu, vừa giải quyết được nhiều việc làm, vừa trực tiếp cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân m à không bị phụ thuộc vào nước ngoài
2.2.3 Chính sách quản lý nháp khẩu có tác dung tích cực đến việc mở rông quan
hê hợp tác với nước ngoài, thúc đẩy quá trình hôi nháp kỉnh tế quốc tế
Nhập khẩu chính là hiện tượng di chuyển hàng hóa từ thị trường thế giới vào thị trường nội địa của một nước Song để lựa chọn nhập khẩu được hàng hóa
có chất lượng cao, giá cả hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân, các quốc gia và doanh nghiệp phải mở rộng giao dịch với đối tác ở nhiều nước khác nhau Chính vì vậy, cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu chính là cơ sở vật chất quan trọng để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước
Trang 23Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xét trên bình diện kinh tế toàn cầu, tổng cung luôn lớn hơn tổng cầu Vì vậy, các quốc gia luôn tìm cách mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa do nước mình sản xuất ra, nhưng lại tìm cách bảo hộ thị trường nội địa Chính vì vậy WTO luôn đề ra nhũng định chế nhắm mục đích gạt bỏ những cản trở làm bóp méo thương mại thế giới, yêu cầu các nước thành viên phải quan hệ thương mại với nhau trên nguyên tắc T ố i huệ quốc (MFN) và Đãi ngộ quốc gia (NT) Chính sách nhập khẩu của các quốc gia là không được phân biệt đối xử giữa các nước và cũng không được phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất nội địa
Do vậy xây dựng được một chính sách quản lý nhập khẩu hợp lý vừa bảo
hộ được sản xuất phát triển vừa đáp ứng được những yêu cầu của WTO là hết sức khó nhưng lại rất cần thiết để mở rộng quan hệ đối ngoại với nước ngoài
3 M ố i quan hệ giữa cơ chế, chính sách và các biện pháp quản lý nhập k h ẩ u Qua khái niệm về cơ chế quản lý nhập khẩu được phân tích ở phần trên, có thể thấy cơ chế quản lý nhập khẩu được cấu thành từ 3 bộ phận: (1) Chủ thể quản lý; (2) Đ ố i tượng quản lý; (3) Phương thức quản lý
Hình 1-1: M ố i quan hệ giữa cơ chế, chính sách và biện pháp quản lý nhập
khẩu
Chính sách quản
lý nhập khẩu
Biện pháp quản lý: thuế quan
Biện pháp quản
lý phi thuế quan
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
Trang 24Một quốc gia sẽ thông qua bộ máy của mình là các cơ quan nhà nước để quản
lý mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Tương tự như vậy để quản lý hoạt động nhập khẩu, nhà nước thông qua Bộ thương mại, một cơ quan quản lý nhà nước có chức năng hoạch định các chính sách quản lý hoạt động thương mại Như vậy, một cơ chế quản lý hợp lý sẽ có một chủ thể là bộ máy quản lý của nhà nước gọn nhẹ nhưng tinh tế, hoạt động có hiổu quả cao, đủ sức hoạch định các chính sách nhằm định hướng và điều hành hoạt động kinh tế nói chung
và hoạt động nhập khẩu nói riêng ngày càng tốt hơn Bộ máy quản lý nhập khẩu của Viổt Nam trong suốt những năm qua (1955 đến nay) đã có nhiều thay đổi từ viổc chuyển quản lý nhập khẩu từ Bộ kinh tế sang Bộ Công Thương đến Bộ Thương nghiổp rồi Bộ Ngoại thương, Bộ Kinh tế Đ ố i ngoại, Bộ Thương mại và
Du lịch và nay là Bộ Thương mại, đã phần nào thể hiổn viổc đổi mói chủ thể trong quản lý nhập khẩu phù hợp với quá trình CNH, H Đ H và yêu cầu của HNKTQT Hình 1-2 : M ô hình liên kết các chủ thể quản lý nhập khẩu của Viổt Nam
Cơ cấu bộ máy quản lý
UBND Quận, Huyổn
Nguồn: Giáo trình Kinh tế ngoại thương 2006
Mặt khác, khi một quốc gia có một cơ chế quản lý tốt, có một bộ máy quản lý với những chính sách quản lý nhập khẩu hợp lý sẽ tạo điều kiổn, môi trường thuận lợi cho những đối tượng quản lý Các doanh nghiổp sản xuất và kinh doanh hàng nhập khẩu có chiến lược kinh doanh lâu dài, ổn định, tạo điều kiổn cho hàng nhập khẩu về kịp thời gian, đủ số lượng, đảm bảo đáp ứng đúng yêu cầu
Trang 25về chất lượng, giá cả và chủng loại Một cơ chế tốt còn có tác dụng điều tiết công tác quản lý hàng nhập khẩu, không gây cạnh tranh quá mức đối với hàng sản xuất
ở nội địa, mặt khác còn kích thích tạo điều kiện sản xuất phát triữn, chống được các hiện tượng buôn lậu, gian lận thương mại
Ngược lại, chính sách và hệ thống biện pháp quản lý hợp lý sẽ tạo điều kiện tốt đữ bộ máy của cơ chế quản lý vận hành một cách trơn chu, thực hiện tốt chức năng quản lý như:
- Chức năng định hướng cho hoạt động nhập khẩu
- Chức nâng tạo điều kiện, môi trường thuận lợi đữ điều tiết hoạt động nhập khẩu
- Phối hợp hoạt động giữa các ngành các cấp trong hoạt động nhập khẩu
- Chức năng kiữm tra, kiữm soát hoạt động nhập khẩu
Chính sách quản lý nhập khẩu phù hợp còn biữu hiện sự gắn kết thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, hay nói một cách khác, biữu hiện việc một quốc gia đang thực hiện một cơ chế quản lý nhập khẩu mở cửa, phù hợp với quy luật khách quan trong cơ chế thị trường, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, tận hưởng được những lợi thế từ thị trường thế giới về vốn, thị trường, công nghệ, đồng thòi khai thác tốt các tiềm năng trong nước Đây chính là hiện tượng một hệ thống chính sách quản lý nhập khẩu hợp lý góp phần làm cho cơ chế quản
lý ngày càng hoàn chỉnh theo hướng hiện đại hơn
Chính sách quản lý nhập khẩu được thực hiện thông qua một hệ thông các biện pháp (còn được gọi là công cụ) quản lý nhập khẩu Hệ thống các biện pháp
đó được chia thành hai nhóm:
Ì Biện pháp (hàng rào) thuế quan (Tariff)
2 Biện pháp (hàng rào) phi thuế quan (non-tariff measures)
Đ ố i với thuế quan, đây là biện pháp m à WTO cho phép sử dụng đữ bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy xu hướng ngày càng giảm đi Sự tự do hóa biữu hiện thông qua các chính sách về Qui chế tối huệ quốc (MFN), chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP), Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế như: EU, NAFTA, AFTA,
Trang 26Đ ố i với biện pháp phi thuế quan, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do trình độ phát triển kinh tế không đồng đều, các nước đều duy trì các rào cản thương mại nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan, rất nhiều hàng rào phi thuế quan mới ra đời Mức độ cần thiết và lí do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sản xuất nội địa cởa từng nước cũng khác nhau, đối tượng bảo hộ cũng khác nhau khiến cho các biện pháp phi thuế quan càng trở nên
kinh tế trong hoạt động ngoại thương dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước"
Trong giai đoạn hiện nay, hàng loạt các vấn đề thực tế phát sinh liên quan đến đặc điểm trong và ngoài nước đòi hỏi cơ chế quản lý cần có sự điều chỉnh để ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng những yêu cầu thực tế khách quan Khi đối tác quan hệ, phương thức buôn bán đã thay đổi theo sự điều chỉnh cởa các quy luật thị trường, thì yêu cầu tất yếu chúng ta phải cải tổ lại cơ chế quản lý nhập khẩu phù hợp hơn
Có thể khẳng định mối quan hệ giữa chở thể quản lý, đối tượng quản lý và các chính sách, biện pháp điều tiết nhập khẩu luôn là mối quan hệ hữu cơ mang tính tất yếu ở mỗi thời kỳ phát triển đất nước
n QUY ĐỊNH CỦA Tổ CHỨC T H Ư Ơ N G MẠI THẾ GIỚI VẾ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẬP KHAU
Ị Thuế quan
Thuế quan là công cụ đã được các nước thực hiện từ rất lâu và thường coi
là biện pháp cổ điển, nhưng có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ trong điều tiết hoạt động nhập khẩu Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau: từ quan điểm về kinh tế chính trị, từ góc độ người thu thuế, người nộp thuế, từ góc độ pháp luật Tuy nhiên, với tư cách là một công cụ quản lý nhập khẩu, chúng ta có
Trang 27thể hiểu "thuế nhập khẩu là một loại thuế gián t h u đánh vào hàng mậu dịch,
phi mậu dịch, k h i hàng hoa đi vào lãnh thố hải quan của một nước"
Một cách đơn giản hơn, dưới góc độ tài chính đơn thuần, thuế nhập khẩu được xem là một khoản tiền m à đối tượng nộp thuế phải nộp cho cơ quan hải quan của một nước khi có hàng hoa đi vào khu vực hải quan của nước đó
Các nước sử dụng thuế nhập khẩu cơ bản đều nhằm nhẫng mục đích như:
- Góp phần vào việc phát triển và bảo hộ sản xuất trong nước
- Hướng dẫn tiêu dùng trong nước
- Góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách
- Là công cụ thực hiện chính sách thị trường
- Là công cụ quan trọng trong đàm phán quốc tế, góp phần thúc đẩy tự
do hoa thương mại
Đ ể hạn chế việc quá lạm dụng thuế nhập khẩu, gây nên tình trạng bảo hộ quá mức, cản trở sự phát triển của thương mại quốc tế, Tổ chức thương mại thế giới cho phép các nước bảo hộ bằng thuế quan nhưng phải tuân thủ các quy tắc nhất định:
L I Quy tác chung về giảm thuế
WTO yêu cầu các nước thành viên giảm thuế nhưng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MEN) có nghĩa là cần có sự ưu đãi chung đối với tất các các nước
thành viên Điều Ì GATT 94 ghi : "Những lợi ích, ưu đãi, đặc quyền hoặc miễn
giảm mà các nước thành viên này áp dụng cho những sản phẩm nhập khẩu của các nước khác phải được áp dụng vô điều kiện, không chậm chẽ đối với những sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ bất kỳ nước thành viên nào hay xuất khẩu sang bất kỳ nước thành viên nào Theo nguyên tắc MFN, mọi cam kết như: miễn,
giảm thuế hoặc hoàn lại thuế phải ghi vào biểu thuế Tuy nhiên, nhiều quốc gia vẫn sử dụng biểu thuế đơn, có nghĩa là đối với mỗi loại hàng hoa chỉ thể hiện một mức thuế suất Điều này không đúng với thực tế vì các quốc gia đều thực hiện chính sách phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu đến từ các nước khác nhau
Đ ể đảm bảo tính minh bạch trong quan hệ đối ngoại, WTO yêu cầu mọi cam kết
về thuế quan phải công khai ghi vào biểu thuế để mọi thành viên đều biết
1
Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hẫu Khải, Giáo trình Kinh tế ngoại thương, 2006
Trang 28Bên cạnh đó, WTO cũng yêu cầu các nước thực hiện nguyên tắc đối xử
quốc gia (NT) Điều H I - GATT/1994 quy định "Một mặt hàng nhập khẩu sau
khi đã đi qua biên giới và đã trả các khoản thuế quan cũng như các khoản phí khác, sẽ không bị đối xử kém ưu đãi hơn so với sản phẩm nội địa tương tứ\ Mục
tiêu của nguyên tắc N T trong thuế quan là nhằm tránh sự phân biệt đối xử giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu về các mứt như đánh thuế nội địa, các luật lệ, quy định đối với việc bán hàng, vận chuyển, thanh toán , giảm mức bảo hộ đối với hàng nội địa
1.2 Sự ràng buộc về thuế quan
Đây là một nguyên tắc m à theo đó, những cam kết của các nước thành viên WTO về giảm thuế và những miễn giảm khác một khi đã được đưa ra thì các nước này không được đánh thuế cao hơn mức đã cam kết Sự cam kết đó còn gọi
là những ràng buộc thuế quan (bound tariff) Mục đích của nguyên tắc ràng buộc này là tạo ra một tiến trình ổn định về giảm thuế để đẩy mạnh tự do hoa thương mại quốc tế
Mức ràng buộc về giảm thuế có 3 loại:
• Ràng buộc mức thuế thấp hơn mức thuế đang áp dụng Các nước phát
triển thường áp dụng mức này, vì khả năng cạnh tranh hàng hoa của họ rất cao nên hầu hết các nước này đều chủ trương đề xuất thực hiện tự do hóa thương mại
• Ràng buộc mức thuế bằng mức thuế đang áp dụng
• Ràng buộc mức thuế cao hơn mức thuế đang áp dụng (gọi là ràng buộc trần) Hầu hết các nước đang phát triển cam kết dạng này vì khả năng cạnh
tranh đối với hàng hoa của họ kém, cần có thời gian nhất định để thực hiện cắt giảm thuế
K h i gia nhập WTO, mỗi nước đều phải có những cam kết ràng buộc thuế nhập khẩu của mình M ú c độ ràng buộc của mỗi nước là khác nhau, tùy thuộc vào kết quả đàm phán gia nhập WTO Theo kết quả Vòng đàm phán Urugoay, đối với các nước phát triển, số dòng thuế ràng buộc từ 2 1 % đến 7 3 % ; với các nước đang phát triển, số dòng thuế ràng buộc từ 7 8 % đến 9 9 % và với các nền kinh tế chuyển đổi, số dòng thuế ràng buộc từ 7 3 % đến 98% Tuy nhiên xu hướng hiện nay là các nước càng gia nhập sau càng phải cam kết ràng buộc nhiều hơn biểu thuế quan của mình, có nghĩa là sẽ hạn chế việc các nước thành viên có thể tăng
Trang 29mức thuế suất Chẳng hạn, Việt Nam khi đàm phán gia nhập WTO đã phải cam kết ràng buộc đến 9 9 % số dòng thuế nhập khẩu
Nếu xét theo từng nhóm hàng thì mức ràng buộc cũng có sự chênh lệch
Đ ố i với hàng nông sản mức ràng buộc thuế là 100%, đối với hàng công nghiệp: thì các nước phát triển cam kết ràng buộc 7 3 % trong khi các nước đang phát triển phải cam kết ràng buộc đến 97% Điều này muốn nói những nước chậm phát triển thì cần có sự ràng buộc cao để đảm bảo tính ặn định
Tuy nhiên, các quốc gia thành viên cũng được quyền loại trừ một số mặt hàng không phải cam kết ràng buộc thuế quan (những ngoại lệ) Đ ó là:
• Những mặt hàng liên quan đến đạo đức xã hội, bảo vệ quyền và sức khéo con người, bảo vệ động thực vật, vàng bạc, tài sản quốc gia về văn hóa nghệ thuật, lịch sử khảo cặ, tài nguyên thiên nhiên, an ninh quốc phòng
• Ngoài ra, theo kết quả đàm phán, các nước có thể chủ động không thực hiện ràng buộc thuế quan cho một số mặt hàng cụ thể
Ngoài ra cần chú ý là sau khi các nước cam kết ràng buộc thì phải công bố lịch trình cắt giảm dần mức thuế quan của nước mình theo một thời gian nhất định
1.3 Quy định về việc sửa đặi biểu thuế
Biểu thuế giữ một vai trò quan trọng, nó thể hiện mức thuế quan m à một nước đánh vào hàng xuất đi hoặc nhập về Điều này liên quan tới việc thúc đẩy hay kim hãm thương mại thế giới phát triển
Theo quy định của WTO, các nước thành viên có thể sửa đổi biểu thuế
như việc tự sửa đổi, hoặc hủy bỏ một mức thuế nào đó trong lịch trình giảm thuế, nhưng muốn vậy quốc gia đó phải đàm phán, thực hiện sự miễn giảm khác tương
1.4 Các q u y tác bảo hộ phòng ngừa bất trắc
WTO cho phép các nưốc thành viên áp dụng hành động phòng ngừa, tự vệ bằng thuế nhập khẩu cao hơn mức cam kết như áp dụng thuế chống phá giá, chống trợ cấp trong những trường hợp sau đây:
• Bảo vệ khẩn cấp nền công nghiệp non trẻ, khi bị hàng nhập khẩu với số
• Trường hợp bán phá giá
Trang 30• Nước xuất khẩu áp dụng biện pháp trợ cấp không được phép
• Cán cân thanh toán bị đe dọa
2.Các biên pháp phi thuế quan
2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng
Các biện pháp hạn chế định lượng là những quy định của các quốc gia về
số lượng hoặc giá trị hàng hoa, được xuất đi hay nhập về từ một thị trưểng nào
đó Đây là nhóm biện pháp mang tính đặc thù, chủ quan nhất tác động đến thương mại quốc tế Do vậy, trong hệ thống các biện pháp phi thuế quan thì đây
là nhóm rào cản m à WTO quy định khá chặt chẽ Theo quy định, thì ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí khác, các thành viên không được tạo ra hay duy trì những biện pháp như hạn ngạch, giấy phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ những thành viên khác, hay hạn chế số lượng xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu tới các thành viên khác N h ó m này gồm một số biện pháp cơ bản sau:
2.1.1 Cấm nháp khẩu (ỉmport Prohibitions)
Cấm nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế Nói chung, WTO không cho phép được sử dụng biện pháp này Tuy nhiên, trình độ phát triển giữa các thành viên không đồng đều (hiện nay
có khoảng 3/4 các nước thành viên là các nước đang phát triển), do vậy, các quốc gia vẫn có thể thi hành biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trưểng hợp quy định tại Điều XXI/GATT 1994 như sau:
• Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia;
• Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội;
• Cần thiết để bảo vệ con ngưểi, động vật và thực vật;
• Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc;
• Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ;
• Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Tuy nhiên, W T O quy định rằng, tất cả các biện pháp này cần thực hiện kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa liên quan tới chúng Ngoài
Trang 31ra Điểu X X GATT 1994 còn cho phép các nước thành viên WTO áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu trong trường hợp: (1) Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác; (2) Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay qui định để phân loại (classiíication), xếp hạng (grading) hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế;
2.1.2 Han ngách nháp khẩu
Đây là biện pháp dùng để hạn chế về số lượng hoởc giá trị hàng hóa nhập khẩu từ một thị trường nào đó trong một thời gian nhất định (thông thường là Ì năm) Điều li- GATT/1994 quy định các nước không được sử dụng biện pháp này, vì nó làm ảnh hưởng nhiều đến thương mại thế giới Biện pháp này được quy định nghiêm ngởt hơn thuế quan bởi hai lý do chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, các biện pháp phi thuế quan nói chung và những biện pháp hạn chế định lượng nói riêng không thể hiện tính minh bạch như thuế quan do tính pháp lý không cao bằng thuế, mật khác, thời gian quy định thông thường chỉ trong vòng một năm
- Thứ hai, hạn ngạch và các biện pháp hạn chế định lượng dễ biến tướng hơn thuế quan Nhiều khi chỉ cần thay đổi cách gọi tên biện pháp nhưng nội dung thực chất vẫn là hạn ngạch (ví dụ như các biện pháp quản lý theo kế hoạch định hướng, quản lý theo cơ quan chuyên ngành, quản lý có điều kiện, )
Tuy nhiên, WTO vẫn cho phép áp dụng hạn ngạch trong những trường hợp đởc biệt như:
• Nhằm hạn chế tạm thời ngăn ngừa, khắc phục sự khan hiếm trầm trọng
về lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác
• Nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán của nước mình khi sự thâm hụt nghiêm trọng vế dự trữ tiền tệ, hoởc có số
dự trữ quá ít, cần thiết phải nâng mức dự trữ lên một bước hợp lý
• Các nước đang phát triển có thể áp dụng hạn chế số lượng trong chương trình trợ giúp của chính phủ về đẩy mạnh phát triển kinh tế, hoởc hạn chế để bảo vệ cho một số ngành công nghiệp
Ngoài ra, hạn ngạch còn được áp dụng trong các trường hợp như bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động thực vật quý hiếm, xuất
Trang 32nhập khẩu vàng bạc, tài sản quốc gia liên quan đến văn hóa nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
K h i sử dụng hạn ngạch, WTO yêu cầu các quốc gia phải thực hiện các điều kiện kèm theo như:
• Phải kèm theo việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng nội địa
• Cam kết không làm ảnh hưởng tới lời ích của các nước thành viên khác, đồng thời phải dần dần nới lỏng biện pháp này khi kinh tế đã khôi phục, sau đó dỡ bỏ hoàn toàn nhằm thục hiện nguyên tắc chung của WTO
• Do tính pháp lý không cao và thời gian thông thường chỉ một năm trở lại, nên khi tiến hành áp dụng hạn ngạch, các quốc gia phải công bố thời gian cụ thể và những thay đổi nếu có
• Nếu hạn ngạch áp dụng cho từng nước thì phải đạt đườc thỏa thuận về phân phối hạn ngạch với các nước thành viên có liên quan đến lời ích với nước mình
2.1.3 Giấy phép nháp khẩu
Giấy phép nhập khẩu hàng hoa là một biện pháp quản lý nhập khẩu thuộc nhóm hạn chế số lường Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch nhập khẩu ở chỗ không quy định số lường, hay giá trị cụ thể m à chỉ yêu cầu khi nhập khẩu phải xuất trình chứng từ để cơ quan Hải quan và các cơ quan hữu quan khác kiểm tra hoặc cấp phép, nên đườc áp dụng rộng rãi với mục đích:
• Quản lý đườc lường hàng hóa xuất đi, nhập về phục vụ cho công tác thống kê lập kế hoạch
• Chống các hiện tường gian lận thương mại, buôn lậu
• Góp phần bảo vệ thị trường và sản xuất nội địa
• Thực hiện các cam kết với nước ngoài
Các yêu cầu của WTO về giấy phép nhập khẩu đườc quy định trong Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu ILP (Import Licensing Procedure) Hiệp định này đưa ra các quy định như sau:
> Đối vói cơ quan cấp giấy phép (điều 1.1, 2,3) :
Chế độ cấp và quản lý giấy phép không phiền toái hơn mức cần thiết, trong
đó có tính đến mục đích áp dụng
Trang 33Nội dung giấy phép và thủ tục cấp cần phải minh bạch, rõ ràng và có thể
dự đoán trước (tính khả đoán)
Bảo vệ những nhà nhập khẩu và nhà cung cấp nước ngoài khỏi bị chậm trắ không cần thiết do những quyết định độc đoán
Các thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó Các qui tắc đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập và được quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý
Cần phải công khai các thông tin liên quan tới thủ tục nộp đơn, tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh sách các sản phẩm đòi hỏi giấy phép trong thời hạn 21 ngày trước khi chúng có hiệu lực Người nộp đơn chỉ cần tiếp cận tới một cơ quan hành chính (Trường hợp đặc biệt khôn'g được quá ba cơ quan) Nhà nhập khẩu hàng hoa phải có giấy phép có thể tiếp cận ngoại tệ cần thiết trên cùng một cơ sở với hàng nhập khẩu không cần giấy phép
Cấp phép không tự động không được gây ra hạn chế hay bóp méo thương mại hơn mức các điều kiện do yêu cầu cấp phép đặt ra Các thủ tục cấp phép không tự động cần phải tương ứng về phạm vi và thời hạn với biện pháp m à chúng được sử dụng để thực hiện, và sẽ không đặt ra những gánh nặng hành chính hơn mức cẩn thiết để quản lý biện pháp đó Trong trường hợp đòi hỏi cấp phép không vì mục đích quản lý số lượng, các thành viên phải công bố đầy đủ thông tin về cơ sở để cấp phép
> Đối với các nước thành viên (Điêu 1.4 à)
Phải công bố tất cả quy định về thủ tục cấp phép nhập khẩu, để các nhà nhập khẩu, xuất khẩu và chính phủ của họ hiểu đầy đủ về:
- Công bố tư cách của những cá nhân, các công ty và các tổ chức làm đơn xin cấp phép
- Công bố cơ quan quản lý hành chính, chịu trách nhiệm cấp phép; và
- Công bố những sản phẩm cần có giấy phép
Quy định này nhằm làm minh bạch tất cả các tiêu chí khi tham gia cấp hạn ngạch, đảm bảo tự do cạnh tranh, tất cả các doanh nghiệp đều biết đối thủ kinh doanh mặt hàng đó là ai, cơ quan nào cấp phép đối với những sản phẩm nào N ă m
2004 Bộ thương mại Việt nam còn quy định tất cả hồ sơ xin cấp phép đều gửi qua
Trang 34đường bưu điện, tránh tiếp xúc trực tiếp, khắc phục tham nhũng thông qua cơ chế xin cho
> Quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu (Điều 1.5-11)
Đơn xin và những thủ tục, kể cả thủ tục đổi lại giấy phép, càng đơn giản càng tốt;
Đơn xin sẽ không bị từ chối vì những lỗi nhậ của chứng từ m à không thay đổi nội dung dữ kiện cơ bản trong đó
Việc phạt áp dụng vì những lỗi như trên, ngoại trừ chỗ có những lỗi như
cố ý gian lận hoặc cẩu thả, không nên yêu cầu quá khắt khe, m à chỉ nên cảnh cáo Hàng nhập khẩu sẽ không bị từ chối do những biến cố nhậ như sai sót về giá trị, số lượng hay trọng lượng
Tất cả các lỗi kể trên đều không làm ảnh hưởng đến nội dung so với chỉ định trong giấy phép, so với tập quán thương mại quốc tế hoặc so với khi vận chuyển xếp dỡ hàng rời Do vậy, không vì thế m à gây nên sự khó khăn đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Điều này rất hay xảy ra ở các nước đang phát triển xuất phát từ những nền sản xuất nhậ Thậm chí nhiều cơ quan, nhiều nhà chức trách còn lợi dụng những lỗi nhậ không cố ý của các nhà nhập khẩu để gây phiền hà sách nhiễu Đây chính là tình trạng tham nhũng thường xảy
ra ở các nước chậm và đang phát triển
> Thủ tục cấp giấy phép của WTO
Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự động (không điều kiện)
Theo Điểu 32 Hiệp định ILP thì giấy phép tự động là một văn bản cho phép thực hiện ngay lập tức không có điều kiện gì đối với người làm đơn xin giấy phép Theo chế độ này, cơ quan cấp giấy phép nhập khẩu thực hiện một cách tự động, không điểu kiện và người xin không bị gây khó khăn gì
Đối với giấy phép tự động, WTO quy định người nhập khẩu nộp đơn vào bất cứ ngày làm việc nào và sẽ được cấp trong vòng 10 ngày Chế độ cấp phép này chỉ mang tính chất quản lý để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu chứ không nhằm cản trở hoạt động thương mại
Thủ tục cấp giây phép nhập khẩu không tự động (có điều kiện)
Giấy phép không tự động là một văn bản cho phép được thực hiện khi người nhập khẩu đáp ứng được một số điều kiện nhất định Thực chất đây là loại
Trang 35giấy phép được sử dụng cho mục đích hạn chế nhập khẩu của các chính phủ, do vậy nó chủ yếu áp dụng cho những hàng hoa quản lý bằng hạn ngạch
Khi dùng giấy phép để quản lý hạn ngạch nhập khẩu, WTO yêu cầu cơ quan cấp phép phải công bố: (i) Số lượng hoặc giá trị hạn ngạch; (li) Ngày công
bố và ngày hết hạn cũng như tình hình phân chia cho các nườc; (iii) Thông báo cho nưóc cung cấp hàng mọi thông tin về cấp giấy phép; (iv) Thông báo cho chính phủ của nườc mình biết tin về sự quan tâm của các nườc
Thời hạn giấy phép được cấp là 30 ngày kể từ khi nhận đơn Thủ tục nơi cấp phép qui định rằng giấy phép được cấp trên cơ sở "đến trườc giải quyết trườc" Trường hợp trong vòng 60 ngày kể từ khi ngừng nhận đơn, thì giấy phép được cấp trên cơ sở xem xét đồng thời đến thời hạn hiệu lực của hạn ngạch
Bởi vì đây là một hình thức nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu nên khi cấp giấy phép không tự động, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét đến các yếu tố trong quá khứ người nhập khẩu có sử dụng hết (hay chưa hết) hạn ngạch đã phân
bổ năm trườc, có vi phạm, hoặc sai sót gì không, để phân bổ hạn ngạch sau này cho phù hợp WTO đã thành lập một ủy ban chuyên theo dõi về cấp giấy phép
2.2 Các biên pháp tương đ ư ơ n g thuế quan
Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hay giá bán trong nườc có thể có tác động trực tiếp hay gián tiếp tời giá của hàng nhập khẩu tương đương như thuế quan Các nườc sử dụng các biện pháp này vì những lý do sau đây:
s Duy trì giá của hàng sản xuất trong nườc, khi giá hàng nhập khẩu thấp
hơn giá nội địa của hàng cùng loại một mức nhất định
s Định giá trong nườc đối vời một mật hàng nào đó khi giá cả trên thị
trường trong và ngoài nườc biến động bất lợi
s Triệt tiêu những tác động bất lợi gây ra bởi hoạt động ngoại thương bất
bình đẳng
Sau đây chúng ta nghiên cứu một số trường hợp có tác động tương đương như thuế quan m à WTO quy định cho các nườc thành viên
2.2.1 Xác đinh tri giá hải quan
Điều 7, Hiệp định về trị giá hải quan của WTO (ACV) có đưa ra khái niệm
và cách xác định trị giá hải quan như sau: 'Trị giá hải quan là trị giá của hàng
hoa xuất nhập khẩu được xác định theo mục đích quản lý hải quan, là một tron 1
!,
Trang 36những cân cứ cơ bản để tính thuế hải quan và các thuế khác"
Hiệp định này được ký kết giữa các nước thành viên nhằm mục đích bảo đảm giá trị hàng hóa nhập khẩu được xác định một cách khách quan và công bằng, phát huy tác động tích cực tới các ràng buộc thuế đã đạt được trong các vòng đàm phán của GATTẠVTO
Khi thuế nhập khẩu được xác định dựa trên giá trị hàng hóa, thì việc xác định trị giá như thế nào là vô cùng quan trọng, vì nó liên quan tới tiền thuế phải đóng và chi phí này lại liên quan tới giá hàng nhập khẩu cao hay thổp Điều đó có làm cho cạnh tranh bình đẳng hay không Đây chính là mục đích của WTO nhằm làm cho thương mại thế giới phát triển mạnh mẽ, ổn định và bình đẳng
Hiệp định yêu cầu một số nước đang phát triển trước kia thực hiện cách xác địnH khác cần chuyển đổi theo cách xác định này trong vòng 5 năm (1/1/2000) WTO quy định các cách xác định trị giá hải quan như sau:
a Trị giá giao dịch (transactìon value)
Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là trị giá được xác định dựa trên cơ sở giá thực trả hoặc sẽ trả khi hàng hóa được bán từ nưóc xuổt khẩu sang nước nhập
khẩu dựa trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng (theo Hiệp định là Giá trị giao dịch)
Ngoài giá ghi trên hợp đồng, trị giá hải quan còn bao gồm cả những chi phí như phí hoa hồng và môi giới, chi phí đóng gói và container, giá trị hàng hóa hoặc dịch vụ phụ trợ, các khoản thu về sau m à người bán được hưởng phát sinh
do việc bán lại hàng, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu tiếp sau đó (tức là trị giá hải quan có thể phản ánh không trung thực (thường nhỏ) do quan hệ của người mua và người bán), phí vận tải, bảo hiểm và các loại phí liên quan khác tính đến điểm nhập khẩu, nếu nước đó xác định trị giá trên cơ sở CIF,
Cũng theo Hiệp định này, các khoản phí không được tính vào trị giá hải quan bao gồm chi phí vận tải sau khi nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của nước nhập khẩu; Chi phí xây dựng, lắp ráp, bảo trì hoặc hỗ trợ kỹ thuật phát sinh sau khi nhập khẩu; Thuế quan và các loại thuế của nước nhập khẩu,
Trong trường hợp hải quan nghi ngờ về tính trung thực của trị giá giao dịch ghi trên hóa đơn, hoặc trên hợp đồng, Hiệp định A C V đã đưa ra 5 phương pháp xác định trị giá hải quan khác, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu
b Trị giá giao dịch của hàng giống hệt (transaction value of identical goods)
Trang 37Điều 2 Hiệp định ACV quy định nếu trị giá hải quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo phương pháp trị giá giao dịch nói trên thì trị giá hải quan
sẽ là trị giá giao dịch của mặt hàng cùng loại được bán với mục đích xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang được xác định trị giá
Hàng hoa cùng loại được hiểu là: "hàng hoa giống nhau về mọi phương
diện; kể cả các đặc điểm về thực thể vật chất, chất lượng và uy tín Những khác biệt thứ yếu bề ngoài không loại trừ việc nhìn nhận hàng hoa là cùng loại mà bằng cách nào đó chúng phù hợp với đẩnh nghĩa"
Hàng được coi là hàng cùng loại là nhởng hàng hoa mà:
/ Giống nhau về các khía cạnh: Tính chất và đặc điểm về thực thể vật chất; Chất lượng hàng hoa và Danh tiếng hàng hoa
S Được sản xuất ở cùng một nước vái hàng hoa đang được xác định trị giá
s Do cùng một hãng sản xuất
Định nghĩa về hàng hoa cùng loại không bao gồm các hàng hoa nhập khẩu
do người bán cung cấp với mức giá thấp hoặc cho không để người nhập khẩu thực hiện các ý đồ thiết kế, trang trí mỹ thuật
Trường hợp hàng hoa cùng loại với hàng hoa đang được xác định trị giá không phải do người cùng hãng sản xuất thì có thể lấy trị giá của hàng hoa cùng loại do hãng khác cùng ở nước đó sản xuất Trường hợp hai hàng hoa có nhởng khác biệt nhau không đáng kể về bề ngoài thì cũng được coi là hàng cùng loại
c Trẩ giá giao dẩch của hàng tương tự (Transaction value of similar goods)
Điều 3 Hiệp định ACV quy định nếu trị giá hải quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo hai phương pháp nói trên thì trị giá hải quan sẽ là trị giá giao dịch của mặt hàng tương tự được bán với mục đích xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang được xác định trị giá
Hàng hoa tương tự được hiểu là "hàng hoa mặc dù không giống nhau về
mọi phương diện nhưng có những đặc điểm tương đương và các vật liệu cấu thành tương đương cho phép chúng có thể cùng thực hiện chức năng và có thể thay thế lẫn nhau về mặt thương phẩm Số lượng của hàng hoa, uy tín, cũng như mẫu mã
là những yếu tố được xem xét khi xác đẩnh tính tương tự của hàng hoa đó "
Trang 38Khi xem xét các vấn đề trên cần lưu ý tới chất lượng, uy tín, nhãn mác đang dùng của hàng hoa
Khi áp dụng trị giá giao dịch của hàng cùng loại hoặc tương tự, cần chú ý đến những yêu cầu sau:
• Hàng hoa phải là hàng hoa cùng loại hoặc tương tự hàng hoa nhập khẩu
• Hàng hoa đó phải được sản xuất tại cùng một nước với hàng hoa đang xác định trị giá
• Hàng hoa đó đã được xuất khẩu vào lúc hoặc khoảng cùng thời gian với hàng hoa đang xác định trị giá
• Viểc bán hàng hoa cùng loại hoặc tương tự phải xảy ra cùng số lần và cùng cấp độ thương mại với hàng hoa đang xác định trị giá
• Trường hợp xác định được nhiều trị giá giao dịch của hàng cùng loại hay tương tự thì trị giá thấp nhất sẽ được sử dụng để xác định trị giá hàng nhập khẩu
ả Trị giá khấu trừlSuy diễn (Deductive value)
Trong trường hợp không thể xác định trị giá hải quan theo các phương pháp trị giá giao dịch nói trên thì nên xác định trên cơ sở đơn giá bán trên thị trường nội địa của hàng nhập khẩu đang cần xác định trị giá hoặc hàng giống hểt hoặc hàng tương tự khấu trừ những chi phí dưới đây nếu chúng thực sự xảy ra : / Phí hoa hồng hoặc các khoản lợi nhuận và chi phí quản lý chung liên quan đến viểc bán hàng tại nước có nhập khẩu hàng cùng chủng loại hay hạng bậc
•S Cước phí vận tải, bảo hiểm và chi phí có liên quan phát sinh trong
phạm vi của nước nhập khẩu
/ Chi phí và phí tính gộp theo
s Lể phí hải quan và thuế hải quan của nước nhập khẩu
Nếu không có hàng hoa nhập khẩu và cũng không có mặt hàng nhập khẩu cùng loại hay tương tự được bán vào cùng thời điểm hoặc cùng kỳ nhập khẩu của
lô hàng thì trị giá hải quan sẽ được căn cứ vào đơn giá m à với mức giá đó hàng hoa nhập khẩu hay hàng cùng loại, hàng tương tự nhập khẩu sẽ được bán ở nước nhập khẩu với điều kiển như đã nhập khẩu vào ngày sớm nhất sau ngày nhập
Trang 39khẩu lô hàng đang xác định trị giá , nhưng không quá 90 ngày sau ngày nhập khẩu lô hàng đó
Khi áp dụng phương pháp khấu trừ, cần chú ý đến các chi tiết sau: Lựa chọn giá cả thích hợp; Thời gian và điều kiện bán hàng; Số lượng lớn nhất
Cốt lõi của phương pháp suy diữn là việc lựa chọn giá cả, theo đó hàng hoa nhập khẩu nhất định được bán cho phía người mua không có quan hệ đặc biệt ở nước nhập khẩu theo số lượng lớn nhất hoặc vào khoảng thời gian nhập khẩu hàng hoa đang được xác định trị giá Từ giá cả đó, Hiệp định A C V cho phép suy diữn những chi phí và tổn thất nhất định xảy ra trong quá trình nhập khẩu
e Trị giá tính toán (Computed value)
Khi không thể xác định trị giá theo các phương pháp trên thì Hiệp định ACV cho phép xác định trị giá hải quan dựa vào tổng chi phí sản xuất ra hàng hoa nhập khẩu Theo phương pháp này trị giá hải quan được xác định trên cơ sở giá thành của mặt hàng đang được xác định trị giá cộng với một khoản lợi nhuận
và chi phí chung được phản ánh trong nghiệp vụ bán hàng cùng loại từ nước người xuất khẩu sang nước người nhập khẩu
Như vậy với trị giá tính toán ta sẽ xem việc sản xuất những hàng hoa nhập khẩu và sẽ tính toán chi phí của hàng hoa
Trị giá tính toán bao gồm các khoản sau :
s Chi phí hoặc trị giá nguyên vật liệu và bán thành phẩm hoặc các chi phí
gia công khác đã sử dụng vào sản xuất hàng nhập khẩu
s Khoản lợi nhuận và chi phí chung tương đương với trị giá Hai khoản
này thường được phản ánh khi bán hàng cùng chủng loại hay hạng bậc với lô hàng đang được xác định trị giá Những mặt hàng đó cùng được sản xuất ở nước
đã xuất khẩu lô hàng đang cần xác định trị giá
V Chi phí hoặc trị giá của mọi chi phí cần thiết để thể hiện phương án định giá do các bên lựa chọn theo quy định
Điều 6 Hiệp định ACV cũng quy định rằng không bên nào được phép yêu cầu hay ép buộc bất kỳ người nào không cư trú trên lãnh thổ của bên đó phải xuất trình để kiểm tra, hay cho phép sử dụng bất cứ tài khoản hay hồ sơ nào để phục
vụ cho việc xác định trị giá tính toán Chính vì điều này m à việc xác định trị giá theo phương pháp này bị hạn chế và có phần phức tạp
Trang 40Như vậy, để xác định trị giá theo phương pháp tính toán đương nhiên cần phải kiểm tra mọi chi phí sản xuất của mặt hàng đang được xác định trị giá và các thông tin khác được thu thập bên ngoài nưóc nhập khẩu Trong hầu hết các trường hợp người sản xuất ra hàng hoa nhập khẩu đều nằm ngoài tầm quản lý của mọi cơ quan chức năng của nước nhập khẩu Việc sữ dụng phương pháp tính toán thường
bị hạn chế trong các trường hợp m à người mua và người bán có quan hệ đặc biệt
và việc cung cấp cho các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu những thông tin
về các tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra tiếp theo lại do người sản xuất ra hàng hoa đó chuẩn bị
Chi phí và trị giá được xác định trên cơ sở những thông tin có liên quan đến việc sản xuất mặt hàng đang được xác định trị giá Những thông tin này do người sản xuất hay đại diện người sản xuất cung cấp
Khoản lợi nhuận và chi phí chung cũng được xác định trên cơ sở những thông tin do người sản xuất hay đại diện người sản xuất cung cấp trừ khi số liệu của người sản xuất không nhất quán với số liệu được phản ánh trong các nghiệp
vụ bán hàng "cùng chủng loại hay cùng hạng bậc" như lô hàng đang xác định trị giá Những mặt hàng đó do người sản xuất làm ra tại nước xuất khẩu để xuất khẩu sang nước nhập khẩu
Trường hợp sữ dụng thông tin không phải do người sản xuất hay đại diện của họ cung cấp để xác định trị giá tính toán, cơ quan Hải quan của nước nhập khẩu sẽ báo cho người nhập khẩu biết những thông tin đã sữ dụng để xác định giá
cả nếu người nhập khẩu yêu cầu
/ Phương pháp dự phỏng (Fall-back method)
Việc định giá tính thuế hải quan tuy tiện có thể bóp méo kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoa Do đó, nếu không thể áp dụng các phương pháp trên, WTO cho phép xác định trị giá hải quan trên cơ sở kết hợp các phương pháp một cách phù hợp nhưng không được dựa trên các cách sau: dựa trên giá nhập khẩu tối thiểu; Dựa trên giá bán trong nước của hàng hoa tương tự được sản xuất tại nước
m à hàng hoa cần xác định trị giá hải quan được nhập khẩu; M ộ t hệ thống cho phép chấp nhận giá cao hơn trong hai loại giá sữ dụng để xác định trị giá tính thuế quan của hàng hoa; Dựa trên giá bán của hàng hoa tại thị trường nước xuất khẩu; Định giá trên cơ sở giả định hay tuy tiện
2.2.2 Quy đinh giá bán tối đaltối thiểu
a Quy định giá bán tối đa