1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 340,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích bài báo nhằm đề xuất nội hàm của vai trò ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSH; nội dung đánh giá vai trò và chỉ tiêu đánh giá vai trò ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng nhằm nhìn nhận đúng hơn về đường lối phát triển cũng như những điều chỉnh cần thiết, mang tính chiến lược đối với phát triển ĐTTT ở vùng này.

Trang 1

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA ĐÔ THỊ TRUNG TÂM ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Phạm Ngọc Trụ

Khoa Đầu tư, Học viện Chính sách và Phát triển

Tóm tắt Mỗi vùng, quốc gia đều có mạng lưới đô thị (tuy ở trình độ phát triển khác nhau),

trong đó thường có sự phân hóa về quy mô, vai trò giữa đô thị trung tâm (ĐTTT) và các

đô thị vệ tinh Các ĐTTT đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển vùng, quốc gia

thông qua thúc đẩy hiện đại hóa, đô thị hóa, nâng cao hiệu suất phát triển và chất lượng

cuộc sống dân cư Thực tiễn phát triển ĐTTT và phát huy vai trò của các ĐTTT đối với

phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đòi hỏi phải được phân tích bằng bộ chỉ

tiêu định lượng để thấy rõ hơn vai trò của các ĐTTT của vùng là Hà Nội, Hải Phòng, Nam

Định đóng vai trò quyết định ra sao đối với sự phát triển của toàn vùng cũng qua đó cho

phép rút ra những bài học bổ ích cho việc đánh giá sự phát triển ĐTTT tại các vùng khác

ở nước ta Đồng thời, qua phân tích còn cho thấy việc phát triển của bản thân các ĐTTT

cũng như việc phát huy vai trò của chúng đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng vẫn còn

nhiều điểm hạn chế cần khắc phục Bài báo đề xuất định hướng và giải pháp phát huy vai

trò của các ĐTTT đối với phát triển vùng ĐBSH.

Từ khóa: Đô thị trung tâm, vai trò của đô thị trung tâm, bộ chỉ tiêu, vùng Đồng bằng sông

Hồng.

1 Mở đầu

Quá trình đô thị hóa ở ĐBSH diễn ra với tốc độ rất nhanh chóng trong những năm gần đây nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội đem lại còn khá thấp Việc phát triển đô thị, nhất là ĐTTT ở ĐBSH còn nhiều điểm chưa rõ cả về lí luận và thực tiễn vì thế còn nhiều ý kiến khác nhau về phát triển

đô thị ở vùng này Trong bối cảnh ấy, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đánh giá vai trò của ĐTTT đối với vùng ĐBSH nhằm góp phần làm rõ cả mặt lí luận và thực tiễn phát triển ĐTTT ở Việt Nam

Mục đích bài báo nhằm đề xuất nội hàm của vai trò ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSH; nội dung đánh giá vai trò và chỉ tiêu đánh giá vai trò ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng nhằm nhìn nhận đúng hơn về đường lối phát triển cũng như những điều chỉnh cần thiết, mang tính chiến lược đối với phát triển ĐTTT ở vùng này

Ngày nhận bài: 15/10/2016 Ngày nhận đăng: 20/3/2017

Liên hệ: Phạm Ngọc Trụ, e-mail: phamngoctru@apd.edu

154

Trang 2

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về vai trò và bộ chỉ tiêu đánh giá vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng

Trong các nghiên cứu đã được công bố, các học giả ở cả trong và ngoài nước đều thống nhất ở nhận thức rằng các đô thị, đặc biệt là ĐTTT (hoặc đô thị hạt nhân) giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở cả cấp độ quốc gia, vùng và địa phương Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đó (của các tác giả như Keith R Ihlanfeldt, Richard Voith, Michael Spence, Trương Quang Thao ) chưa lí giải thật đầy đủ về vai trò (ví dụ: gần như chưa đề cập đến vai trò của các ĐTTT đối với hiện đại hóa vùng) của các ĐTTT trong hệ thống đô thị cũng như trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ cụ thể trong bối cảnh Việt Nam Về nội dung đánh giá vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng, các học giả tập trung nghiên cứu vào mức độ lan tỏa của ĐTTT, đặc biệt là 02 yếu tố: hàng hóa và lao động Các nội dung đánh giá vai trò trong các lĩnh vực dịch vụ còn ít được đề cập đến

Về bộ chỉ tiêu đánh giá, qua nghiên cứu tổng quan cho thấy các tác giả trong và ngoài nước đều hạn chế trong việc định lượng khi đánh giá vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng Các công trình nghiên cứu có liên quan đánh giá vai trò của các ĐTTT (như các công trình của H.C Carey, W J Reilly và Nhiễu Hội Lâm) cho thấy đến nay các nhà khoa học mới đi sâu tìm kiếm các chỉ tiêu đánh giá tác động của hai đô thị và tác động của mỗi đô thị (trong hai) đối với một địa điểm nào đó trong một vùng lãnh thổ Họ chưa đề cập chỉ tiêu định lượng phản ánh vai trò của ĐTTT tới sự phát triển của một vùng lãnh thổ xác định như chỉ tiêu phản ánh vai trò của ĐTTT đối với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, cung cấp dịch vụ cho khu vực xung quanh

và vai trò thúc đẩy của trung tâm đối với sự phát triển chung của vùng thông qua thúc đẩy sản xuất hàng hóa,

2.2 Đề xuất của tác giả về vai trò và bộ chỉ tiêu đánh giá vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng

2.2.1 Nội dung đánh giá vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội

vùng

Tác giả cho rằng ĐTTT có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng nhờ vào đặc điểm về quy mô cũng như sức lan tỏa – thu hút của nó Về bản chất, vai trò

đó được thể hiện qua sự đóng góp của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, tác giả phân tích một số vai trò tiêu biểu sau:

* Đóng góp vào việc thay đổi cơ cấu và chất lượng dân số vùng

Các ĐTTT là nơi tập trung dân số đô thị đồng thời cũng là nơi có sức thu hút dân cư và lao động ở xung quanh, vì thế đây là nơi có vai trò hết sức quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu và chất lượng dân số vùng

Trước hết là đối với cơ cấu dân số, biểu hiện rõ nét nhất vai trò của các ĐTTT đó là sự thay đổi cơ cấu dân số theo thành thị - nông thôn của vùng Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh, số lượng dân cư nông thôn di cư vào các đô thị, đặc biệt là ĐTTT khiến cho tỉ lệ dân thành thị trong vùng ngày càng được nâng cao Thậm chí, có thể nói ở nhiều vùng, các ĐTTT đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao tỉ lệ dân thành thị của toàn vùng Vai trò của các ĐTTT trong việc thay đổi cơ cấu dân số không chỉ thể hiện ở quá trình

Trang 3

chuyển dịch cơ cấu dân số thành thị - nông thôn mà kèm theo sau đó là cơ cấu về độ tuổi, về thành phần nghề nghiệp bởi đặc điểm các quá trình dân số ở đô thị có nhiều nét khác biệt so với vùng nông thôn

Cùng với việc làm thay đổi cơ cấu dân số theo thành thị - nông thôn, chất lượng dân số của vùng cũng chịu tác động mạnh của các ĐTTT Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng dân số đó là số lao động đã qua đào tạo Do đặc thù cơ cấu ngành SX cùng với vai trò của một trung tâm đào tạo – nghiên cứu khoa học nên các ĐTTT là nơi tập trung đông số lượng lao động có trình độ đồng thời liên tục được bổ sung từ các vùng nông thôn xung quanh Tuy vậy, như tác giả đã phân tích ở trên, việc thu hút quá mức số lao động có trình độ tập trung ở ĐTTT cũng gây ra những trở ngại đáng kể đối với cả ĐTTT (trong việc sắp xếp, bố trí việc làm) cũng như với lãnh thổ còn lại (thiếu lao động có trình độ, tay nghề)

* Đóng góp vào thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa cơ cấu kinh tế vùng

Vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các đô thị nói chung và ĐTTT nói riêng đã được thực tiễn kiểm nghiệm: các đô thị ngày nay đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy kinh tế toàn cầu Các ĐTTT với khả năng phát huy lợi thế kinh tế nhờ quy mô (về nguồn lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật và kết cấu hạ tầng, về số lượng và quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh ) trở thành những trung tâm kinh tế lớn, giữ tỉ trọng cao và là lãnh thổ có đóng góp quyết định trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng

Cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các ĐTTT còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng hiện đại hóa Có thể hình dung nếu chia lãnh thổ của vùng thành hai bộ phận là ĐTTT và phần còn lại thì cơ cấu kinh tế theo ngành giữa hai bộ phận này có sự khác biệt rất lớn, đặc biệt là ở những vùng thuộc các quốc gia đang phát triển Cơ cấu kinh tế theo ngành ở các ĐTTT mang dấu ấn đậm nét của các ngành dịch vụ, công nghiệp chứa hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao trong khi ở phần lãnh thổ còn lại, tỉ trọng các ngành khu vực nông nghiệp và công nghiệp gia công vẫn chiếm ưu thế Chính sự khác biệt về cơ cấu kinh tế dẫn đến trong quá trình phát triển, phần đóng góp của các ĐTTT với các ngành hiện đại vào các cơ cấu kinh tế chung toàn vùng có xu hướng không ngừng tăng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng

* Đóng góp vào giải quyết việc làm và gia tăng năng suất lao động vùng

Các ĐTTT là nơi có các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển nhanh vì thế số lượng việc làm mới tạo ra hàng năm là rất lớn Bên cạnh số lượng lớn lao động nhập cư, các ĐTTT còn là nơi thu hút lượng lao động theo thời vụ và lao động di cư trong ngày từ lãnh thổ xung quanh

Ngoài khả năng góp phần giải quyết nhu cầu việc làm, cơ cấu kinh tế với nhiều ngành hiện đại, có giá trị gia tăng lớn khiến năng suất bình quân của lao động ở các ĐTTT thường cao hơn nhiều so với mức bình quân của vùng Chính vì vậy, có thể khẳng định các ĐTTT góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động của vùng Năng suất lao động và thu nhập cao là một trong những động lực quan trọng thu hút số lượng đáng kể lao động từ lãnh thổ xung quanh đến các ĐTTT tìm kiếm việc làm thường xuyên hoặc theo mùa vụ

* Đóng góp vào thúc đẩy phát triển thương mại và độ mở kinh tế

Các ĐTTT luôn nắm giữ vai trò là trung tâm thu hút – lan tỏa các luồng hàng hóa, dịch vụ của vùng, chính vì thế chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại của vùng Tác giả nhìn nhận vai trò này dưới 2 khía cạnh nổi bật sau:

- Trong hoạt động nội thương, ĐTTT là trung tâm thu hút mạnh mẽ các luồng lương thực, thực phẩm (đặc biệt là thực phẩm tươi sống hàng ngày) đồng thời là nơi cung cấp chính các sản 156

Trang 4

Hình 1 Các dấu hiệu thể hiện vai trò của đô thị trung tâm đối với phát triển vùng (Nguồn: Tác giả đề xuất)

phẩm hàng hóa công nghiệp, công nghệ cho phần còn lại của vùng

- Trong hoạt động ngoại thương, các ĐTTT chính là những đầu mối, trung tâm xuất - nhập khẩu hàng hóa của cả vùng bởi đây là nơi tập trung cơ quan điều hành, phân phối hàng hóa của những tập đoàn lớn, đặc biệt là đối với mặt hàng nhập khẩu Bởi vậy, các ĐTTT thường đóng vai trò quyết định đối với việc thúc đẩy và gia tăng độ mở nền kinh tế của vùng

* Đóng góp vào giải quyết nhu cầu đào tạo và khám chữa bệnh

Các ĐTTT có vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp nhiều loại hình dịch vụ, đặc biệt là những dịch vụ chất lượng cao như giáo dục và y tế Trong giáo dục, các ĐTTT là nơi tập trung hầu hết các trường Đại học và cơ quan nghiên cứu quan trọng nhất của vùng, vì thế đây cũng

là trung tâm đào tạo Đại học và sau Đại học lớn nhất vùng Trong y tế, việc tập trung các bệnh viện có quy mô lớn, hiện đại giúp các ĐTTT có thể đảm nhận vai trò là trung tâm khám chữa bệnh của vùng Tuy vậy, việc tập trung quá đông các cơ sở đào tạo và bệnh viện ở một số ĐTTT cũng dẫn đến nhiều hệ lụy không mong muốn nổi bật là tình trạng quá tải ở các ĐTTT Chính phủ ở nhiều quốc gia đã cố gắng thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu mặt trái này song hiệu quả đem lại chưa được như mong muốn

2.2.2 Bộ chỉ tiêu sử dụng để đánh giá vai trò của ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội

vùng (trong điều kiện Việt Nam)

* Đóng góp vào việc thay đổi cơ cấu dân số vùng

Theo tác giả, đóng góp của các ĐTTT vào việc thay đổi cơ cấu dân số của vùng (ĐCCDS) được thể hiện qua nhiều khía cạnh song nổi bật là đóng góp vào gia tăng dân thành thị của toàn vùng Chỉ tiêu này được tính theo biểu thức:

DCCDS = △DDT T T

△DV ∗ 100(%) (1) Trong đó: △DCCDS là gia tăng dân số ở ĐTTT; △DV Gia tăng dân số thành thị của toàn

Trang 5

* Đóng góp vào gia tăng quy mô GDP vùng (DGDP)

Đóng góp của ĐTTT vào gia tăng quy mô GDP toàn vùng được tính theo biểu thức:

DGDP = △GDPDT T T

△GDPV

∗ 100(%) (2) Trong đó: △GDPDT T T là gia tăng GDP ở ĐTTT; △GDPV là gia tăng GDP của toàn vùng

* Đóng góp vào hiện đại hóa cơ cấu kinh tế vùng

Đóng góp của ĐTTT vào hiện đại hóa cơ cấu kinh tế vùng (DH D) được thể hiện qua:

- Chỉ số tương quan thay đổi tỉ trọng các ngành phi nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của ĐTTT so với toàn vùng Nó được tính bằng biểu thức sau đây:

DH D1 = △P N NDT T T

△P N NV ∗ 100(%) (3a) Trong đó: DH D1 là đóng góp của các ĐTTT vào gia tăng tỉ trọng GDP các ngành phi nông nghiệp của vùng; △P NNDT T T là gia tăng tỉ trọng GDP các ngành phi nông nghiệp của ĐTTT;

△P N NV là gia tăng tỉ trọng GDP các ngành phi nông nghiệp của toàn vùng

- Đóng góp của ĐTTT vào gia tăng GDP các ngành có công nghệ hiện đại của vùng Nó được tính bằng biểu thức:

DH D2 = △GDPH D D T T T

△GDPH D V

∗ 100(%) (3b) Trong đó: DH D2 là đóng góp của các ĐTTT vào gia tăng GDP các ngành có công nghệ hiện đại của vùng; △GDPH DDT T T: Gia tăng GDP các ngành có công nghệ hiện đại của ĐTTT;

△GDPH D V là gia tăng GDP các ngành có công nghệ hiện đại của vùng

* Đóng góp vào việc giải quyết việc làm của vùng (DV L) được tính bằng biểu thức:

DV L= △V LDT T T

△V LV ∗ 100(%) (4) Trong đó: △V LDT T T là gia tăng số việc làm mới ở ĐTTT; △V LV là gia tăng số việc làm mới của toàn vùng

* Đóng góp vào độ mở nền kinh tế vùng

Đóng góp của các ĐTTT vào độ mở nền kinh tế của vùng (DX K) được tính theo biểu thức:

DX K = X KDT T T

X KV ∗ DV(%) (5) Trong đó: XKDT T T là giá trị xuất khẩu của các ĐTTT; XKV là giá trị xuất khẩu của toàn vùng; DVV là độ mở của nền kinh tế vùng; GDPV là GDP của toàn vùng

DV = X KV GDPV ∗ 100(%) 158

Trang 6

* Đóng góp vào đào tạo nhân lực của vùng (DDT)

Đóng góp của ĐTTT vào đào tạo nguồn nhân lực của vùng được tính biểu thức:

DDT = SVN V DT T T

SVT V ∗ 100(%) (6) Trong đó: DDT là đóng góp của các ĐTTT vào đào tạo nguồn nhân lực của toàn vùng;

SVN V DT T TT là số sinh viên nội vùng học ở cơ sở đào tạo đặt tại ĐTTT; SVT V là tổng số sinh viên của toàn vùng

* Đóng góp vào việc khám chữa bệnh cho vùng

Đóng góp của ĐTTT vào việc khám chữa bệnh cho vùng (DK B) được tính theo biểu thức:

DK B = BNN V DT T T

BNT V ∗ 100(%) (7) Trong đó: DK B là đóng góp của các ĐTTT vào việc khám chữa bệnh cho vùng;

BNN V DT T T là số bệnh nhân nội vùng khám chữa bệnh ở ĐTTT; BNT V là tổng số người khám chữa bệnh toàn vùng

Về mặt lí thuyết, để đảm bảo tính đầy đủ và tính toàn diện phản ánh vai trò ĐTTT đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng thì cần sử dụng 07 chỉ tiêu trên Tuy nhiên, trong thực tế, tùy điều kiện số liệu thống kê mà quyết định số và loại chỉ tiêu được sử dụng để phân tích

2.3 Vận dụng bộ chỉ tiêu vào việc đánh giá vai trò đô thị trung tâm với phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng

2.3.1 Thay đổi cơ cấu và chất lượng dân số vùng

Năm 2015 tổng dân số của 03 ĐTTT khoảng 4,725 triệu người (trong đó đô thị Hà Nội chiếm 72,3%; đô thị Hải Phòng chiếm 22,1%, đô thị Nam Định chiếm 5,6%) Trong 15 năm (2001-2015) dân số của toàn bộ hệ thống đô thị của vùng ĐBSH tăng 3,1 triệu người thì riêng số dân của 3 ĐTTT đã chiếm khoảng 81,5% Như vậy, 03 ĐTTT quyết định tăng dân số đô thị của vùng ĐBSH

Bảng 1 Đóng góp của các đô thị trung tâm vào gia tăng dân số đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng

Khu vực Đơn vị Năm 2000 Năm 2015 đoạn 2001-2015 Tăng trong giai

Tổng dân số đô thị

Tỉ trọng ĐTTT so với

(Nguồn: Tác giả xử lí từ niên giám thống kê các tỉnh vùng ĐBSH)

Từ năm 2000 đến năm 2015, các ĐTTT đã tiếp nhận khoảng 2,34 triệu người từ khu vực nông thôn Tức là trong 15 năm qua có 2,34 triệu người nông dân trở thành thị dân qua nhập cư

và chuyển đổi địa giới hành chính, chiếm gần 93% dân số gia tăng tại các ĐTTT Gia tăng dân số tại các ĐTTT cũng chiếm tới 81,5% tổng số dân thành thị tăng thêm của toàn vùng Mặc dù ở một

Trang 7

số khu vực, việc “phình to” các ĐTTT không gắn liền với sự phát triển của dịch vụ và kết cấu hạ tầng kĩ thuật đô thị sẽ gây ra tình trạng bất lợi cho sự phát triển của bản thân các đô thị đó cũng như ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển chung của vùng ĐBSH Tuy nhiên, xét theo cấu trúc dân

số cũng cho thấy nhiều điều lí thú trong quá trình phân tích về phát triển: Dân số tăng lên của các ĐTTT mang tính tiến bộ và điều đó tác động nhiều tới phát triển kinh tế Trong 15 năm qua, chất lượng dân số của các ĐTTT tăng lên đáng kể Tỉ trọng dân số có trình độ đại học trở lên tăng lên tương đối khá, từ 12,7% lên 25,1% Chính điểm này ảnh hưởng có lợi cho thay đổi cơ cấu ngành nghề của bản thân các đô thị cũng như của cả vùng lớn

2.3.2 Đóng góp vào việc thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa cơ cấu kinh tế vùng

* Đóng góp vào việc thúc đẩy tăng trưởng

Vai trò là trung tâm kinh tế - xã hội của cả vùng của các ĐTTT được thể hiện rất rõ nét qua đóng góp của các đô thị này vào tăng trưởng kinh tế chung của cả vùng Đóng góp của ĐTTT vào tăng trưởng được thể hiện rõ nét qua đóng góp vào gia tăng quy mô GDP của vùng trong giai đoạn

2001 – 2015

Quan sát bảng 2 dưới đây cho thấy tỉ trọng của các ĐTTT trong cơ cấu GDP toàn vùng cao

và đang có xu hướng tăng khá nhanh trong giai đoạn 2000 – 2015 Trong số ba ĐTTT, vai trò của ĐTTT Hà Nội nổi bật hơn hẳn khi chiếm tỉ trọng cao và tăng nhanh, từ 29,0% lên tới 33,6% GDP của toàn vùng Tỉ trọng của ĐTTT Hải Phòng trong cơ cấu GDP toàn vùng tăng không đáng kể,

từ 8,8% lên 9,2% ĐTTT Nam Định chiếm tỉ trọng còn khiêm tốn song cũng có dấu hiệu tăng, từ 1,5% lên 1,8%

Bảng 2 Đóng góp của các đô thị trung tâm vào gia tăng quy mô GDP

vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2000 - 2015

Đô thị Năm 2000 Năm 2015 GDP gia Quy mô

tăng

% đóng góp vào gia tăng quy mô GDP của vùng giai đoạn 2001 - 2015

GDP %so với vùng GDP %so với vùng

(Nguồn: Tác giả xử lí từ niên giám thống kê các tỉnh vùng ĐBSH)

Do nắm giữ tỉ trọng cao trong cơ cấu nên tốc độ tăng trưởng của các ĐTTT có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn vùng Trong giai đoạn 2001 - 2015, nhờ tốc độ tăng trưởng cao của các ĐTTT (trung bình 15,7%/năm – giá SS 2010) nên tốc độ tăng trưởng chung của vùng ĐBSH cũng đạt mức cao, cao hơn trung bình của cả nước (10,8%/năm so với 6,3%/năm) Đóng góp của ba ĐTTT vào tăng trưởng GDP của toàn vùng chiếm tỉ trọng rất lớn: chiếm 44,9% quy mô GDP gia tăng trong giai đoạn 2001 – 2015 Như vậy, với việc đóng góp 44,9% vào gia tăng quy mô GDP của vùng, ba ĐTTT đóng góp tới gần 4,85 điểm phần trăm tăng trưởng trong

số 10,8 điểm phần trăm tăng trưởng của cả vùng ĐTTT Hà Nội vẫn là địa bàn có đóng góp quan trọng nhất vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn vùng khi chiếm tới 33,9% quy mô gia tăng GDP (đóng góp 3,66 điểm tăng trưởng); ĐTTT Hải Phòng giữ vai trò quan trọng thứ hai với đóng góp khoảng 9,3% (đóng góp 1,0 điểm tăng trưởng); ĐTTT Nam Định mới đóng góp khoảng 0,2 điểm tăng trưởng

160

Trang 8

Như vậy với việc đóng góp 42,3% gia tăng quy mô GDP của toàn vùng có thể khẳng định các ĐTTT chính là đầu tàu tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn vùng, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ

* Đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng hiện đại

Cơ cấu kinh tế của vùng ĐBSH trong những năm gần đây có những bước chuyển dịch đáng

kể, trong đó các ĐTTT có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp

Trong giai đoạn 2000 - 2015, cơ cấu kinh tế theo ngành của các ĐTTT có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của khu vực phi nông nghiệp Mức tăng – giảm theo giá trị phần trăm của các ĐTTT khá nhỏ do cơ cấu kinh tế theo khu vực nông nghiệp – phi nông nghiệp đã có sự

ổn định tương đối trong những năm gần đây Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các ĐTTT có tác động lớn đến cơ cấu kinh tế vùng ĐBSH, đặc biệt là đối với tỉ trọng của khu vực phi nông nghiệp

do các ĐTTT đóng góp phần lớn vào gia tăng của khu vực này Theo đó, cơ cấu kinh tế của vùng ĐBSH có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng của nhóm ngành SX nông nghiệp, tăng tỉ trọng nhóm ngành SX phi nông nghiệp (9,6%) Để đánh giá mức độ ảnh hưởng này, tác giả sử dụng hệ

số tương quan giữa độ chuyển dịch ở khu vực phi nông nghiệp của các ĐTTT so với của toàn vùng Kết quả xử lí cho thấy hệ số này là 1 : 6 Điều này chỉ ra rằng, trung bình trong giai đoạn 2001 –

2015, nếu độ chuyển dịch sang khu vực phi nông nghiệp của các ĐTTT đạt 1% thì kéo theo chỉ số này ở toàn vùng là 6%

Bảng 3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành ở các đô thị trung tâm

và vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2001 – 2015

Đô thị Biến động tỉ trọng khu vực phi nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2015 (%)

(Nguồn: Tác giả xử lí từ niên giám thống kê các tỉnh vùng ĐBSH)

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở vùng ĐBSH do tốc độ tăng nhanh hay chậm khác nhau của các ngành kinh tế mà trong đó, phần đóng góp vào gia tăng quy mô của các ĐTTT chiếm giữ phần hết sức quan trọng Vì thế có thể khẳng định các ĐTTT đóng vai trò là động lực quan trọng hàng đầu trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng ĐBSH

* Đóng góp vào giải quyết việc làm của vùng

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, cơ cấu ngành nghề đa dạng và có bước chuyển dịch hợp lí, các ĐTTT đã đạt hiệu quả đáng kể trong việc giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động không chỉ ở đô thị mà còn ở các khu vực xung quanh

Năm 2015, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế ở ba ĐTTT là 2286,2 nghìn người, chiếm 17,2% so với toàn vùng Trong giai đoạn 2001 - 2015, các ĐTTT đã giải quyết được 1121,4 nghìn việc làm mới, đóng góp vào việc giải quyết khoảng 23,4% (ĐVL=22,3) số việc làm mới của toàn vùng trong giai đoạn trên, trong đó khoảng 98% là việc làm trong các ngành phi nông nghiệp Tỉ trọng lao động của khu vực phi nông nghiệp ngày càng cao trong cơ cấu lao động

Trang 9

đang làm việc trong các ngành kinh tế, tăng từ 83,3% lên 93,4% do phần lớn số việc làm mới thuộc

về các ngành phi nông nghiệp Sự gia tăng cả về số lượng và tỉ trọng lao động khu vực phi nông nghiệp là biểu hiện rất tích cực trong hiện trạng sử dụng lao động ở các ĐTTT

Chuyển dịch cơ cấu lao động là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm tăng năng suất lao động của các ĐTTT bởi mặc dù cùng tăng nhưng chênh lệch giữa năng suất lao động ở nhóm ngành nông nghiệp với nhóm ngành phi nông nghiệp là rất lớn Từ năm 2000 đến năm 2015 năng suất lao động bình quân của vùng ĐBSH tăng từ 12,1 triệu đồng lên 51,1 triệu đồng trong

đó tỉ trọng đóng góp của ba ĐTTT vào năng suất lao động của vùng ĐBSH là rất lớn, chiếm tới 50,6% Nói cách khác, về cơ bản ba ĐTTT giữa vai trò tương đối quyết định năng suất lao động của vùng ĐBSH Song do năng suất lao động của các ĐTTT cũng chưa vượt trội nên năng suất lao động bình quân của vùng ĐBSH cũng chỉ bằng khoảng 1,3 - 1,4 lần mức trung bình của cả nước Ngoài việc giải quyết nhu cầu việc làm của lao động tại chỗ, khu vực trung tâm còn là nơi thu hút và giải quyết việc làm cho một số lượng lao động đáng kể từ các huyện và các tỉnh xung quanh Số lượng lao động tạm thời này tuy chưa được thống kê một cách đầy đủ và chính xác song

có thể chiếm từ 10 - 15% số lao động đang làm việc ở các huyện tiếp giáp với các quận trung tâm

và giảm dần theo khoảng cách Luồng lao động di cư một cách tự phát về khu vực trung tâm để tìm kiếm việc làm một mặt có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển song cũng đặt ra nhiều vấn đề nan giải trong đó nổi bật là giao thông, điều kiện sinh hoạt, trật tự xã hội Riêng đối với ĐTTT

Hà Nội, quyết định mở rộng phạm vi hành chính có tác động rất lớn đến các luồng lao động tạm thời từ các huyện ngoại thành lân cận Quy mô và cường độ của các luồng lao động tạm thời tăng nhanh trong khi nhu cầu việc làm và các điều kiện về hạ tầng cơ sở ở các quận trung tâm chưa đáp ứng được gây nên rất nhiều sức ép đối với ĐTTT

* Đóng góp vào việc thúc đẩy phát triển thương mại và độ mở kinh tế vùng

- Đẩy mạnh phát triển thương mại hai chiều giữa đô thị trung tâm với vùng xung quanh Các ĐTTT có vai trò to lớn trong việc cung cấp hàng hóa công nghiệp, dịch vụ và công nghệ cho các địa phương, góp phần làm tăng năng suất lao động và cải thiện đời sống người dân của các địa phương Theo xu thế chung, sản phẩm công nghệ mới của các ĐTTT chuyển tới tiêu thụ ở phần lãnh thổ còn lại ngày càng tăng, tiêu biểu như công nghệ cấy mô cây chuối ở Hưng Yên, công nghệ nuôi gà Đông Tảo ở Hải Phòng và Hưng Yên, công nghệ nuôi dế ở Hải Dương, công nghệ làm hương trầm ở Thái Bình, công nghệ nuôi gà siêu trứng, trồng rau sạch ở các huyện thuộc Hà Nội, công nghệ trồng gạo tám ở Hải Hậu Nam Định ; kéo theo việc hình thành một lực lượng chuyên chăm lo công việc dịch vụ ở khu vực nông thôn; hàng loạt doanh nghiệp, hộ gia đình kinh doanh dịch vụ phát triển Đồng thời, phát triển hình thức liên kết bốn nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp; tạo điều kiện gia tăng sản xuất

Mặt khác, các ĐTTT còn giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nông sản thực phẩm hàng hóa của các địa phương trong vùng Những năm gần đây, tại Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc xuất hiện những vùng trồng cây cảnh, hoa, rau thực phẩm và chăn nuôi gia cầm, bò sữa quy mô lớn cung cấp cho các thành phố, trong đó đặc biệt là cho Hà Nội Trong đó nổi bật là vùng trồng hoa ở Vĩnh Phúc, Gia Lộc (Hải Dương), Hưng Hà (Thái Bình), Hải Hậu (Nam Định) Vùng trồng rau thực phẩm ở Văn Giang (Hưng Yên), Trực Ninh (Nam Định), Đông Hưng, Quỳnh Phụ (Thái Bình) hoặc vùng trồng ngô, rau ở Lập Thạch (Vĩnh Phúc) hay vùng chăn nuôi bò sữa xung quanh ĐTTT Hà Nội

- Giữ vai trò trọng yếu trong đóng góp vào độ mở kinh tế vùng

Các ĐTTT có đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng các hoạt động ngoại thương của vùng: trong giai đoạn 2001 - 2015, các ĐTTT đóng góp tới 40,4% giá trị xuất khẩu, 162

Trang 10

54,2% giá trị nhập khẩu và 48,8% tổng giá trị xuất nhập khẩu gia tăng của toàn vùng trong giai đoạn 2000 - 2015 Nhờ tỉ trọng đóng góp vào giá trị xuất khẩu của vùng lớn nên các ĐTTT hiện đang giữ vai trò trọng yếu trong việc đóng góp vào độ mở kinh tế vùng Bảng 4 cho thấy đóng góp của ĐTTT vào độ mở kinh tế vùng trong giai đoạn 2000 – 2015 là hết sức quan trọng (chiếm gần 1/2 toàn vùng) và có xu hướng tăng (tăng được 9,2 điểm phần trăm) Điều đó chỉ ra rằng việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của ĐTTT có ý nghĩa thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu đồng thời làm gia tăng độ mở kinh tế của vùng

Bảng 4 Đóng góp của đô thị trung tâm vào độ mở kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng các năm 2000 và 2015

(*) Ghi chú: GDP giá thực tế quy đổi từ VNĐ sang USD năm 2000 theo tỉ giá

1 USD = 14157VNĐ, năm 2015 theo tỉ giá 1 USD = 21460 VNĐ (Nguồn: Tác giả xử lí từ niên giám thống kê các tỉnh vùng ĐBSH)

- Đóng góp vào việc giải quyết nhu cầu đào tạo và khám chữa bệnh của vùng

Các ĐTTT là nơi tập trung các điều kiện thuận lợi nhất để phát triển những ngành này (vốn đầu tư, nguồn nhân lực, ) vì thế đây cũng là những trung tâm dẫn đầu về năng lực đáp ứng nhu cầu học tập và khám chữa bệnh của toàn vùng

Giáo dục là ngành nắm giữ vị trí quyết định trong việc đào tạo ra đội ngũ trí thức – những người có vai trò cụ thể hóa vai trò và năng lực của khoa học – công nghệ ĐTTT Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định hiện là ba trung tâm giáo dục lớn nhất vùng ĐBSH, đặc biệt là giáo dục bậc đại học và sau đại học

Ba tỉnh, thành phố hiện chiếm tới 77,9% số trường, 82,9% số giảng viên và 88,4% số sinh viên Đại học, Cao đẳng của cả vùng Điều đáng chú ý là ba trung tâm giáo dục trên là nơi tập trung

số lượng lớn các trường đại học, cao đẳng trọng điểm của quốc gia, có quy mô, uy tín lớn, chất lượng đào tạo hàng đầu cả nước Các trường đại học, cao đẳng và trung tâm đào tạo sau đại học của Hà Nội và Hải Phòng không chỉ đáp ứng nhu cầu đào tạo của thành phố mà còn thu hút lượng rất lớn sinh viên, học viên ở các địa phương khác trong vùng cũng như cả nước

Các ĐTTT hiện giữ vai trò quan trọng hàng đầu đối với việc khám chữa bệnh của người dân thuộc vùng ĐBSH cũng như thuộc nhiều tỉnh phía Bắc của nước ta Theo số liệu gần đây, số người khám chữa bệnh ở các ĐTTT tới từ các tỉnh vùng ĐBSH này càng nhiều Đồng thời, số bác

sĩ tuyến bệnh viện trung ương tăng cường chuyên môn cho các địa phương càng tăng qua các năm Các bệnh viện lớn đặt tại ĐTTT có vai trò to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân vùng ĐBSH, đặc biệt là các bệnh viện tuyến Trung ương đặt tại Hà Nội Mặc

dù số lượng bệnh nhân tập trung quá đông về các bệnh viện ở ĐTTT gây ra những tác động tiêu cực như: chi phí đi lại, sự quá tải của các bệnh viện, song cần phải thừa nhận thực tế rằng có sự chênh lệch rất lớn về khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của các bệnh viện ở ĐTTT so với

Ngày đăng: 19/05/2021, 22:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w