1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây keo tai tượng (acacia mangium willd ) tại vườn ươm hạt kiểm lâm huyện lang chánh, tỉnh thanh hóa

64 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (10)
      • 1.1.1. Nghiên cứu về bệnh cây (10)
      • 1.1.2. Nghiên cứu về bệnh hại Keo (11)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (12)
      • 1.2.1. Nghiên cứu về bệnh cây (12)
      • 1.2.2. Những nghiên cứu về bệnh hại Keo (14)
      • 1.2.4. Tình hình sản xuất cây giống tại vườm ươm Hạt Kiểm lâm huyện (21)
  • Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (23)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên (23)
      • 2.1.1 Vị trí địa lý (23)
      • 2.1.2. Địa hình, địa thế (23)
      • 2.1.3. Khí hậu, thủy văn (23)
      • 2.1.4. Đất đai (25)
    • 2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội (25)
    • 2.3. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp trên đia bàn huyện (27)
  • Chương 3. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (28)
      • 3.1.1. Mục tiêu chung (28)
      • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể (28)
    • 3.2. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 3.3. Phạm vi nghiên cứu (28)
    • 3.4. Nội dung nghiên cứu (28)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu (29)
      • 3.5.1. Phương pháp kế thừa (29)
      • 3.5.2. Phương pháp điều đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu (29)
      • 3.5.3. Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu (32)
      • 3.5.4. Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo (33)
      • 3.5.5. Đề xuất biện pháp quản lý bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng (35)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (36)
    • 4.1. Đánh giá hiện trạng bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 29 4.2. Đặc điểm triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh phấn trắng trên cây (0)
    • 4.3. Thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng (39)
      • 4.3.1. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh (39)
      • 4.3.2. Phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp vật lý - cơ giới 35 4.3.3. Phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng bằng biện pháp hoá học (42)
    • 4.4. So sánh hiệu quả của các biện pháp khảo nghiệm và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu (55)
      • 4.4.1. So sánh hiệu quả của các biện pháp phòng trừ (55)
      • 4.4.2. Đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng (56)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (62)

Nội dung

Ở Việt Nam, trên địa bàn huyện Đạ Tẻh Lâm Đồng Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha đã có 118,5ha bị bệnh với tỷ lệ từ 7 đến 59% trong đó có một số diện tích bị bệnh khá

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về bệnh cây

Bệnh cây được biết đến từ khi con người biết nuôi trồng cây Tuy nhiên, khi đó họ chưa hiểu rõ về nguyên nhân của bệnh, họ cho rằng cây bị bệnh là do thần thánh (Nữ thần Robigo) Đến năm 1773, trên thế giới xuất bản cuốn sách đầu tiên về bệnh cây của nhà bác học người Đức Tallinger Cùng thời gian này, bảng phân loại đầu tiên về nấm cũng được công bố Ngày nay, nghiên cứu cây bị bệnh đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với sự phát triển toàn diện của khoa học bệnh cây Do vậy, khoa học bệnh cây không chỉ xác định vật gây bệnh mà còn dựa vào cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa vật gây bệnh và thực vật, giữa thực vật với môi trường, giữa môi trường và vật gây bệnh để đưa ra các biện pháp phòng trừ theo quan điểm quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM, Intergrated – Pest – Management)

Người đặt nền móng nghiên cứu khoa học bệnh cây rừng là Robert Hartig (1839-1901) Năm 1874 ở châu Âu, ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu Kể từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh lý cây rừng như G.H.Hapting, nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ, trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970), đã đặt nền móng cho công việc điều tra chủng loại và mức độ bị bệnh liên quan tới sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh

Năm 1953, L Roger đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới (Phytopathologie des pays chauds) Trong cuốn sách đó có một số bệnh hại lá của Thông, Keo, Mỡ

John Boyce (1961) xuất bản cuốn sách Bệnh cây rừng (Forest pathology), đã mô tả một số bệnh hại cây rừng Cuốn sách này được xuất bản ở nhiều nước như Anh, Mỹ, Canada

1.1.2 Nghiên cứu về bệnh hại Keo

Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi Keo Acacia là một chi thực vật quan trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland et al., 1984; Pedley, 1987) Theo các ghi chép của trung tâm giống cây rừng Ôxtrâylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) thì các loài Keo Acacia của Ôxtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng 1.750.000 ha vào thời điểm đó Nhiều loài trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường Các loài có tiếng về cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là Keo lá tràm (A auriculiformis), Keo lá liềm (A crassicarpa), Keo tai tượng (A mangium), Keo đa thân (A aulacocarpa) v.v còn các loài khác như A colei, A tumida lại có tiềm năng cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (Cossalter, 1987; House and Harwood, 1992)

Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) là loài cây thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae), bộ Đậu (Fabales) Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia rồi đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới Từ những năm 1980, các lô hạt giống thu hái ở vùng nguyên sản đã được gửi tới 90 nước trên thế giới, trong đó có Philippin, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam

Năm 1961 – 1968 John Buyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại cây Keo

Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây Mỡ và cây Keo G.F Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại Keo Cây Keo có hiện tượng bị khô héo, rụng lá và tàn lụi từ trên xuống dưới (chết ngược) do loài nấm hại lá Glomerlla cingulata (giai đoạn vô tính là nấm

Colletrichum gleosporioides.), đó là nguyên nhân chủ yếu của gây hại đối với loài Keo(A mangium)trong vườn giống ở Papua New Guinea và Ấn Độ (FAO, 1981) Theo nghiên cứu của Lee và Goh, năm 1989 loài nấm này còn gây hại ở các loài Keo (Acacia sp.) Trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, lá và thân cây Keocòn bị loài nấm Cylindrocladium quinqueseptatumgây hại (theo nghiên cứu của Mohaman và Shaama 1988) Nhiều nhà nghiên cứu của Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Trung Quốc cũng được công bố nhiều loại nấm bệnh gây hại các loài Keo như các công trình của Vannhin, L Rogen (1953) Spauding (1961), Peace (1962), Bakshi (1964) Tại hội nghị lần thứ III nhóm tư vấn nghiên cứu và phát triển của các loài Acacia, họp tại Đài Loan cuối tháng 6 năm 1964 nhiều đại biểu kể cả các tổ chức Quốc tế như CIFOR (Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế) cũng đã đề cập đến các vấn đề sâu bệnh hại các loài Acacia

Năm 1988 - 1990, Benerge R (Ấn Độ) nghiên cứu vùng trồng Keo lá tràm ở Kalyani nadia, đã phát hiện nấm Bào tử bột (Oidium sp.) gây hại trên cây con

Florece E.J và cộng sựthuộc viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Kerela Ấn Độ, đã phát hiện ra bệnh phấn hồng do nấm Corticium salmonicolor gây hại trên vùng trồng Keo (A auricuformis) bang Kerela, tỷ lệ cây chết 10%

Các nghiên cứu về bệnh hại trên cây Keo cũng đã được tập hợp khá đầy đủ trong cuốn sách: “Cẩm nang bệnh hại trên cây Keoở Ôxtrâylia, Đông Nam Á và Ấn Độ”, trong đó có các bệnh khá quen thuộc đã từng có ở nước ta như bệnh phấn trắng, bệnh đốm lá, bệnh phấn hồng và rỗng ruột (Ken old et al,

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về bệnh cây

Việt Nam là một quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nên rất thuận lợi cho cho nhiều vật gây bệnh trên thực vật, phát sinh và gây hại, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh Song khoa học bệnh hại thực vật nói chung và khoa học bệnh cây rừng ở nước ta được bắt đầu nghiên cứu muộn hơn so với thế giới Môn khoa học bệnh cây rừng được phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003)

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, đã đưa đến không ít những thuận lợi nhưng cùng với đó là những khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp Những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây rừng, cũng là những thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn sâu bệnh hại thực vật Nạn dịch sâu ăn lá, sâu hại thân cành, nấm gây bệnh trên thực vật,….Phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp (Vương Văn Quỳnh, 1996)

Năm 1960, Hoàng Thị My khi điều tra bệnh cây rừng ở miền Nam đã đề cập một số bệnh hại lá: bệnh phấn trắng, bệnh gỉ sắt, nấm bồ hóng Với phương thức sản xuất tập trung thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần

100 loài cây rừng; Trong đó có khoảng 600 loài nấm mục gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; trên 50 loài cây rừng bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở nắm vững quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đề xuất biện pháp phòng trừ (Trần Văn Mão, 1997)

Năm 1972, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh trên cây Hồi, Sở, Trẩu,… Tác giả đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại lá Nguyễn Kim Oanh,

Phan Văn Mạch, Nguyễn Sỹ Giao cũng cũng đã nêu và mô tả một cách tỷ mỉ về bệnh hại trên nhiều loài cây Nhiều nhà nghiên cứu về bệnh cây trên thế giới như: Hodge (1990), Zhon (1992), Sharma (1991) đã công bố báo cáo chuyên đề bệnh cây tại Hà Nội

Theo thời gian, khoa học bệnh cây rừng ngày càng phát triển bằng việc hoàn thiện cơ sở lý luận và đưa ra những phương pháp phòng trừ bệnh hữu hiệu Nhờ đó, đã làm giảm bớt những thiệt hại do sâu bệnh hại gây ra đối với tài nguyên rừng Nhưng bên cạnh đó, còn có nhiều bệnh rất nghiêm trọng mà chúng ta chưa có những biện pháp giải quyết triệt để Có bệnh có lúc, có nơi được khống chế nhưng trong điều kiện mới lại gây ra hại trở lại Cho nên, vấn đề bệnh cây rừng hôm nay vẫn phải được kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây trên những cơ sở lý luận và phương pháp phòng trừ để sáng tạo và phát triển cho việc áp dụng phòng trừ bệnh cây trồng của ngày mai

1.2.2 Những nghiên cứu về bệnh hại Keo

Keo tai tượng đã được tiến hành trồng từ những năm 1980, các loài Keo được nhập khẩu phục vụ khảo nghiệm loài, xuất xứ và được tiến hành trên nhiều vùng sinh thái Nguồn hạt giống chủ yếu do các dự án và tổ chức quốc tế tài trợ như các dự án của FAO, PAM, SIDA, SAREC, CSIRO… Keo tai tượng đã được gây trồng trên diện rộng trong cả nước và cho kết quả khả quan ở nhiều vùng sinh thái

Những năm 80, Keo lá tràm là loài cây Keo được trồng rộng rãi nhất ở các tỉnh phía Nam Hiện nay, trong Vườn thực vật của Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Nam bộ nằm trên đại phận thị trấn Trảng Bom, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai còn tồn tại hai hàng Keo lá tràm được trồng từ đầu những năm 1960, thuộc loại lớn nhất của nước ta (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992) Cây có chiều cao trên dưới 20m, đường kính 40 - 60cm Cây to nhất có đường kính đạt tới 80cm, thậm chí có cây hai thân, mỗi thân có đường kính 50cm Sau này, loài Keo này cũng đã trở nên quen thuộc trong các chương trình trồng rừng ở các tính phía Bắc

Từ đầu những năm 1980 trở lại đây, nhiều loài Keo đã được nhập về thử nghiệm ở nước ta như Keo tai tượng (A.mangum), Keo lá liềm (A crassicarpa), Keo đa thân (A aulacocarpa), Keo bụi (A cincinnata), Keo lá sim (A holosericea) và sau này là Keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ động lai tạo (Sedgley et al, 1992)

Năm 1990, Keo tai tượng và Keo lá tràm được gieo ươm tại vườn ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội đã bị bệnh phấn trắng hại lá với mức độ khác nhau Nhìn bề ngoài, lá Keo như bị rắc một lớp phấn trắng Tỷ lệ bị bệnh và mức độ bệnh được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường Nhìn chung, bệnh chưa gâyảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và khi đó cũng không có điều kiện để tìm hiểu sâu về nguồn gốc bệnh và các vấn đề liên quan (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997) Một vài năm gần đây, khi diện tích trồng Keo đã tăng lên đáng kể (gần 230.000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện bệnh ở rừng trồng Tại ĐạTẻh (Lâm Đồng), Keo tai tượng trồng thuần loài trên diện tích 400 ha đã có 118,5 ha bị bệnh với tỷ lệ từ 5 – 7%, trong đó có một số diện tích bị khá nặng (Phạm Quang Thu, 2002) Tại Bầu Bàng, Bình Dương một số dòng Keo lai đã bị bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỷ lệ và mức độ bị bệnh khá cao, gây thiệt hại cho sản xuất

Bệnh “Die-back’ hay còn gọi là bệnh chết ngược Bệnh xâm nhiễm trên Keo lá tràm, phân bố cả phía Nam và phía Bắc Bệnh xuất hiện thành từng đám trên rừng trồng, làm chết lụi từng đám nhỏ cây Keo từ 10-15% số cây (diện tích không quá 0,3ha) Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh úa vàng cao hơn các bệnh khác trên cây Keo, bệnh gây hại trên cả Keo tai tượng và Keo lá tràm, Keo lá tràm dễ bị nhiễm bệnh hơn Keo tai tượng, bệnh làm cho cây sớm rụng lá Theo Jyoti K.Sharma, bệnh có thể do virus gây ra, chứ không phải do thiếu chất dinh dưỡng

Bệnh phấn trắng Keo tai tượng có đặc điểm phát sinh và gây hại khá phức tạp Nấm gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại đây là do loài nấm Bào tử bột (Oidium sp.) gây ra, đây là loài nấm chuyên ký sinh, sự tồn tại của chúng phụ thuộc hoàn toàn vào cây chủ Phần lớn thể sợi nấm sống ký sinh trên mặt ngoài cây chủ, bộ phận còn lại hình thành vòi hút, chui vào tế bào cây chủ lấy chất dinh dưỡng, thường gây hại trên tế bào biểu bì non trên cây Nấm bệnh qua đông trên các lá cây bị bệnh Khi gặp điều kiện nhiệt độ thích hợp, nấm hình thành bào tử phân sinh rất nhanh, lây lan nhờ gió Thời kỳ ủ bệnh ngắn Vườn ươm bị che bóng, cây gieo ươm dày dễ xuất hiện bệnh phấn trắng Chế độ bón phân cũng ảnh hưởng đến quá trình phát bệnh, cây thừa nitơ, thiếu kali bệnh sẽ nặng hơn Trong điều kiện độ ẩm cao hoặc khô, thiếu ánh sáng thường có lợi cho sự phát triển của nấm phấn trắng

Nấm phấn trắng Keo không có hiện tượng chuyển cây chủ (cây chủ trung gian, bệnh lây lan từ cây này sang cây khác)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Tuấn về đặc tính sinh vật học của bào tử nấm gây bệnh phấn trắng cho biết: Nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng rất lớn đến sự nảy mầm của bào tử nấm gây bệnh Đây cũng là một trong những yếu tố chủ yếu dẫn đến sự gây hại nghiêm trọng của nấm gây bệnh Độ ẩm thích hợp nhất cho bào tử nấm phấn trắng nảy mầm là ở độ ẩm 95% Trong phạm vi nhiệt độ từ 20 0 C - 26 0 C có ảnh hưởng lớn đến bào tử nấm nảy mầm, thích hợp nhất ở nhiệt độ 23 0 C Bào tử nhạy cảm đối với nhiệt độ cao, khi nhiệt độ trên 30 0 C, tỷ lệ nảy mầm của bào tử nấm đột ngột giảm xuống, điều này phù hợp với sự phát triển của vết bệnh vào mùa hè có nhiệt độ cao, bệnh không phát triển vào mùa hè Bào tử nấm phấn trắng nảy mầm có độ pH khá rộng (ở đây nói lên khả năng thích ứng với điều kiện môi trường của nấm bệnh) Bào tử nảy mầm thích hợp nhất ở điều kiện môi trường trung tính pH=7 Như vậy, giá trị pH không ảnh hưởng nhiều đến sự nảy mầm của bào tử, có thể do bào tử nảy mầm chủ yếu dựa vào tổ chức bên trong tế bào cây chủ

Trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm không khí thấp, bào tử nấm gây bệnh có thể tồn tại đến 32 ngày Khi gặp điều kiện thích hợp, bào tử nấm có thể nảy mầm sau 4 đến 6 giờ, sau 16 đến 20 giờ có thể bảo đảm xâm nhiễm thành công Thời kỳ ủ bệnh của vết bệnh từ 3 đến 6 ngày

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Lang Chánh là huyện biên giới phía Tây của tỉnh Thanh Hoá Phía bắc giáp huyện Bá Thước và huyện Quan Sơn, phía tây giáp huyện Quan Sơn và một phần phía tây nam giáp Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía nam giáp huyện Thường Xuân, phía đông huyện Ngọc Lặc Là huyện nghèo thuộc Nghị quyết 30a, huyện có địa hình phức tạp, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng khó khăn, trình độ dân trí thấp, có 7 km đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Huyện có 11 đơn vị hành chính gồm 10 xã và 01 thị trấn, trong đó có 8 xã và 5 thôn, bản thuộc vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, 1 xã biên giới

Huyện Lang Chánh có địa hình đa dạng và phức tạp với độ cao tăng dần từ 400 - 500 ở phía đông lên tới 700 - 900 m ở phía tây Đỉnh cao nhất là núi Bù Rinh cao 1.291 m Độ dốc trung bình từ 20-30 0 , có nơi tới 40–50 0

2.1.3 Khí hậu, thủy văn a Khí hậu:

Khí hậu của Lang Chánh nhìn chung không quá nóng, mưa nhiều, lắm sương mù (bình quân mỗi năm có tới 70 - 80 ngày sương mù), mùa đông lạnh và tương đối khô, biên độ nhiệt tương đối lớn Thiên tai cần đề phòng là rét đậm, lũ, sương muối, sương giá Khí hậu có sự khác nhau giữa phía đông và phía tây Phía đông có tổng nhiệt độ năm là 7.500 - 8.000 0 C, tổng lượng mưa trung bình trong năm là 2.204mm (có nơi 2.500 mm), số ngày mưa là 152 ngày; mùa mưa kéo dài 6- 7 tháng, bắt đầu từ giữa tháng tư và kết thúc vào cuối tháng mười Hàng năm có 20 - 25 ngày có gió tây khô nóng

Bảng 2.1 Số liệu khí tƣợng cơ bản khu vực nghiên cứu

Chế độ mƣa Độ ẩm không khí

Số giờ nắng (giờ) Lƣợng mƣa

Tài nguyên nước rất phòng phú với ba con sông lớn là: Sông Cảy, sông Sạo, sông Âm Thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy có tiềm năng phát triển thuỷ điện và du lịch sinh thái, rừng cây cung cấp nước ngọt và thực phẩm cho đồng bào các dân tộc, là con đường vận chuyển lâm sản về đồng bằng ngoài ra còn có nguồn nước ngầm phong phú

Lang Chánh có hệ đất feralit với các loại sau: Đất fe ralit phát triển trên đá macma bazơ và trung tính, đất feralit phát triển trên đá macma chua, có mùn vàng đỏ trên núi, đất feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất Ngoài ra còn có đất dốc tụ và đất lầy thụt, phân bố ở vùng thấp bị ngập nước Nhờ thủy lợi hoá có thể trồng lúa Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

Có diện tích tự nhiên rộng, có tuyến đường 15A đi qua thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa

Hệ thống sông suối nhiều nhưng các lòng sông, suối đều hẹp nên mùa mưa thường gây ách tắc ảnh hưởng đến sản xuất.Mùa mưa thường gây lũ ống ở vùng cao, gây xói mòn đất đai và hoa màu Địa hình đồi núi có độ dốc lớn, giao thông một số xã đi lại khó khăn, diện tích đất canh tác nông nghiệp ít, đời sống của người dân ở nhiều thôn, bản phụ thuộc vào rừng gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Đặc điểm kinh tế xã hội

Theo số liệu của huyện năm 2017 tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện ước đạt 2.015 tỷ đồng Trong đó nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,4%; công nghiệp và xây dựng tăng 33,6%; dịch vụ tăng 23,6% Tốc độ tăng giá trị sản xuất ước đạt 17,8% đạt 100% so với kế hoạch, tăng 0,2% so với cùng kỳ Cơ cấu chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản từ 52,1% xuống 47,1%, các ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 31,8% lên 35,9%; các ngành dịch vụ tăng từ 16,1% lên 17% Thu nhập bình quân đầu người 23,1 triệu đồng/người/năm, đạt 110,4% kế hoạch, tăng 16% so với cùng kỳ (năm 2016 là 19,915 triệu đồng/người/năm)

Là huyện miền núi, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Trên địa bàn huyện chủ yếu có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Thái, Mường và Mông với tổng dân số toàn huyện là 49.565 người, số người trong độ tuổi lao động là 21.815 người (Lao động trong lĩnh vực nông lâm - ngư nghiệp 17.779 người, Công nghiệp - XDCB 1.532 người, TM-DV-DL 2.580 người) Dân cư phân bố không đồng đều, tập quán canh tác vẫn còn lạc hậu Số cư dân sống trong và ven rừng chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp như: Trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng,

Theo số liệu thống kê năm 2017,giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ước đạt 407 tỷ đồng Đánh giá chung về kinh tế xã hội

- Luôn có sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước, hỗ trợ nhân dân tiếp cận các nguồn đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập để vươn lên thoát nghèo thông qua các chương trình dự án như: Chương trình 30a, 135 và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

- Cấp ủy, Chính quyền từ huyện đến cấp xã luôn quan tâm, triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ đến nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện, của tỉnh

- Có lực lượng lao động rồi rào, giá nhân công rẻ Mặt khác để thu hút đầu tư, theo quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ thì Lang Chánh đang là địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vì thế các doanh nghiệp khi đầu tư vào Lang Chánh sẽ được hưởng những cơ chế, chính sách đặc biệt ưu đãi đầu tư, cao nhất theo quy định của Pháp luật Việt Nam

- Tập quán sản xuất, chăn nuôi của các hộ dân còn nhiều lạc hậu, chủ yếu xem chăn nuôi là để tận dụng, tăng thêm thu nhập; diện tích đất sản xuất manh mún, chăn nuôi nhỏ lẻ quảng canh nên không hình thành được vùng sản xuất quy mô hàng hóa, khó kêu gọi doanh nghiệp liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm cho nhân dân để chủ động tạo đầu ra cho sản xuất nông nghiệp

- Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được các cấp ngành quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên kế hoạch sử dụng lao động tại chỗ sau đào tạo nghề vẫn là vấn đề nan giải của nhiều địa phương

- Đời sống của một bộ phận người dân trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo đang ở mức cao 31,9%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 18%

- Giao thông đi lại ở một số thôn, bản còn gặp nhiều khó khăn, một số thôn, bản hiện nay còn chưa có điện lưới.

Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp trên đia bàn huyện

Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện 53.726,17ha, trong đó:

- Rừng sản xuất: 35.501,72 ha Gồm: Rừng tự nhiên: 15.814,93ha; Rừng trồng đã thành rừng: 14.358,09ha; Rừng trồng chưa thành rừng: 2.328,07ha; Đất trống và đất khác: 3000,63ha

- Rừng phòng hộ: 15.667,24ha Gồm: Rừng tự nhiên: 13.732,32ha; Rừng trồng đã thành rừng: 1.259,95ha; Rừng trồng chưa thành rừng: 122,76ha; Đất trống và đất khác: 552,21ha.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định nguyên nhân gây bệnh và thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng cây Keo tai tượng làm cơ sở để quản lý bệnh hại tại khu vực nghiên cứu

- Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

- Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng cây Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd)

- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm cây giống thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa (Vườn ươm giống Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh có diện tích 40 nghìn m 2 , chủ yếu gieo ươm giống cây Keo tai tượng)

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03 đến tháng 11 năm 2018

(1) Điều tra, đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

(2) Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

(3) Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

(4) Đề xuất biện pháp quản lý bệnh phấn trắng lá Keo Keo tai tượng

- Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế của khu vực nghiên cứu

- Kế thừa phương pháp điều tra bệnh hại của tác giả Nguyễn Thế Nhã và cộng sự (Giáo trình Điều tra, dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, 2001)

- Kế thừa tài liệu chuyên khảo về xác định vật gây bệnh trên thực vật:

Từ những đặc điểm về triệu chứng bệnh, cơ quan sinh sản và bào tử của vật gây bệnh, dựa vào sách chuyên khảo về nấm để định danh loài như Phân loại nấm của Thiệu Lực Bình và cộng sự (NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 1983); Nấm gây bệnh trên thực vật của Lục Gia Vân (NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 2001); Nấm học của Hình Lai Quân (NXB Giáo dục Đại học Trung Quốc, 2003); Bệnh lý thực vật của Từ Chí Cương (Tái bản lần thứ 3, NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 2003); Nấm học của Hạ Vận Xuân (NXB Lâm nghiệp Trung Quốc, 2008); Bệnh lý thực vật của Từ Chí Cương (NXB Giáo dục Đại học Trung Quốc, 2009);

- Kế thừa một số biện pháp phòng trừ bệnh hại đã được áp dụng tại khu vực nghiên cứu

3.5.2 Phương pháp điều đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp điều tra bệnh hại dựa theo giáo trình: “Điều tra, dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp'' của tác giả Nguyễn Thế Nhã

Tại mỗi luống gieo ươm, lập 03 ô dạng bản (02 ô dạng bản ở đầu luống, 01 ô dạng bản ở giữa luống) Diện tích mỗi ô dạng bản là 1m 2 Số lần điều tra được lặp lại 3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày Tổng số ô dạng bản được điều tra là 45 ô Kết quả điều tra được ghi vào mẫu bảng 3.1:

Mẫu bảng 3.1 Tỷ lệ bị bệnh phấn trắng Keo tai tƣợng (P%)

Ngày điều tra : ……… Người điều tra :…… …………

STT luống TT ÔDB Tổng số cây trong ô

Tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng Keo tai tượng (P%) được tính theo công thức:

P là tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng (%) n là số cây bị bệnh phấn trắng

N là tổng số cây điều tra Sau đó, tính tỷ lệ bị bệnh trung bình ( P % ) của toàn khu vực nghiên cứu theo phương pháp bình quân cộng để đánh giá mức độ phân bố của bệnh phấn trắng, nếu:

0 ≤ P % ≤ 5%:Bệnh phấn trắng phân bố rải rác

5 < P % ≤ 25%:Bệnh phấn trắng phân bố theo cụm

25 < P % ≤ 50%:Bệnh phấn trắng phân bố theo đám

P >50%: Bệnh phấn trắng phân bố đều Trong ô dạng bản tiến hành điều tra, đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống (cách 1 hàng điều tra 1 hàng, cách 5 cây điều tra 1 cây) Tổng số cây điều tra trong ô dạng bản tối thiểu là 30 cây Để đánh giá mức độ hại lá của bệnh phấn trắng, tiến hành phân cấp tất cả các lá bị hại của từng cây theo tiêu chuẩn sau:

Cấp hại % Diện tích lá bị hại

Kết quả điều tra được ghi vào mẫu bảng 3.2:

Mẫu bảng 3.2 Mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo (R%)

Ngày điều tra :……… Người điều tra :………

Số thứ tự ô dạng bản

Số thứ tự cây điều tra

Số lá bị hại ở các cấp Mức độ bị bệnh (R%)

Căn cứ vào số liệu của bảng 3.2, tính mức độ gây hại của bệnh phấn trắng Keo tai tượng theo công thức:

R% : Mức độ bị bệnh phấn trắng (%) ni : số lá bị bệnh phấn trắng ở cấp hại i vi : trị số cấp hại i

N : tổng số lá điều tra

V : trị số cấp hại cao nhất (V=4) Sau đó, tính mức độ bị hại trung bình ( ̅%) của toàn khu vực nghiên cứu theo phương pháp bình quân cộng để đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng, nếu:

0 < ̅%< 25%:cây bị hại nhẹ 25%≤ ̅%< 50%: cây bị hại vừa 50%≤ ̅%< 75%: cây bị hại nặng ̅%≥ 75%: cây bị hại rất nặng

3.5.3 Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

- Mô tả triệu chứng: Tiến hành quan sát trực tiếp vết bệnh bằng mắt thường và kính lúp, từ đó mô tả đặc điểm của triệu chứng bệnh như biến đổi về màu sắc, kích thước và hình dạng của vết bệnh

- Lấy mẫu lá bệnh: Mẫu lá bệnh được lấy phải đại diện cho vết bệnh

(vết bệnh rõ ràng, không bị dập nát) và được cho vào túi polyetylen có bông thấm nước, buộc kín đem về Trung tâm thực hành thí nghiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp để mô tả và xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng

- Quan sát vật gây bệnh: Lấy lam kính sạch, nhỏ một giọt nước cất, dùng que cấy nấm lấy vết bệnh có lớp bột màu trắng cho lên lam kính và đậy lamen Sau đó, tiến hành quan sát bào tử vật gây bệnh dưới kính hiển vi quang học, chụp ảnh và mô tả đặc điểm hình thái, cơ quan sinh sản của vật gây bệnh

- Xác định vật gây bệnh: Từ đặc điểm về triệu chứng, hình thái bào tử và cơ quan sinh sản của vật gây bệnh So sánh, đối chiếu với tài liệu chuyên khảo về phân loại nấm để xác định vật gây bệnh

3.5.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu a Biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Chuẩn bị: thước dây, cọc, dao, bảng biểu, giấy bút

Tiến hành lập 4 luống điều tra (diện tích mỗi luống là 19m 2 ), trong đó có 2 luống thí nghiệm và 2 luống đối chứng Điều tra 4 lần, mỗi lần cách nhau

Thử nghiệm phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp lâm sinh được tiến hành trên ô dạng bản, hỗn giao loài cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) và cây Lát hoa (Chukrasia tabularis M.Roem.) Để đánh giá hiệu quả của biện pháp này, tôi tiến hành điều tra mức độ gây hại của bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng tại ô gieo ươm hỗn giao, điều tra và so sánh với ô gieo ươm thuần loài Keo tai tượng (ô đối chứng) b Biện pháp vật lý cơ giới

Chuẩn bị: Thước dây, cọc, dao, kéo, bảng biểu, găng tay, bật lửa, giấy, bút

Tiến hành lập 4 luống điều tra (diện tích mỗi luống là19m 2 ), trong đó có 2 luống thí nghiệm và 2 luống đối chứng So sánh, đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng trên luống bị bệnh và luống gieo ươm đối chứng (luống bị bệnh phấn trắng nhưng không dùng biện pháp phòng trừ) Các luống thí nghiệm dùng biện pháp vật lý cơ giới được cắt bỏ lá bệnh,thu gom các cành lá bệnh đem đốt Điều tra 4 lần, mỗi lần cách nhau 12 - 15 ngày Sau mỗi lần điều tra lại tiếp tục thu gom cành khô lá rụng, ngắt cành, lá bệnh đem đi xử lý c Biện pháp phun thuốc hóa học

Chuẩn bị: thước dây, cọc, dao, bảng biểu, giấy bút, bình phun, thuốc hóa học (Topsin(r)M70wp, Manage r 5WP, EnColeton25WP và VIZINES 80BTN)

Mẫu Bảng 3.3 Các loại thuốc hóa học và nồng độ sử dụng

TT Tên thuốc Nồng độ sử dụng (%) Dạng thuốc

(Nồng độ 0,25% là trong một lít dung dịch có 2,5g thuốc nguyên chất hoặc trong 1 lít dung dịch có 2,5ml thuốc nguyên chất)

- Topsin (R) M70wp, dùng để trừ các bệnh khô lá, vàng lá, gỉ sắt, phấn trắng Thành phần của thuốc: Thiophanate - methyl 70%

- Manage r 5WP, dùng để trừ các bệnh như gỉ sắt, đốm lá, vàng lá, phấn trắng, thán thư, phồng lá Thành phần của thuốc: Hoạt chất Imibenconazol 5% và chất phụ gia 95%

- EnColeton 25WP, dùng để trừ các bệnh mốc xám rau, phấn trắng cây Xoài Thành phần của thuốc Triadimefon 25%vàchất phụ gia 75%

- VIZINES 80BTN, dùng để trừ các bệnh mốc sương, phấn trắng, bồ hóng Thành phần của thuốc gồm Zineb 40%, Sulfur 40% và chất phụ gia 20%

Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm cây giống thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa (Vườn ươm giống Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh có diện tích 40 nghìn m 2 , chủ yếu gieo ươm giống cây Keo tai tượng)

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03 đến tháng 11 năm 2018.

Nội dung nghiên cứu

(1) Điều tra, đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

(2) Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

(3) Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

(4) Đề xuất biện pháp quản lý bệnh phấn trắng lá Keo Keo tai tượng.

Phương pháp nghiên cứu

- Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế của khu vực nghiên cứu

- Kế thừa phương pháp điều tra bệnh hại của tác giả Nguyễn Thế Nhã và cộng sự (Giáo trình Điều tra, dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, 2001)

- Kế thừa tài liệu chuyên khảo về xác định vật gây bệnh trên thực vật:

Từ những đặc điểm về triệu chứng bệnh, cơ quan sinh sản và bào tử của vật gây bệnh, dựa vào sách chuyên khảo về nấm để định danh loài như Phân loại nấm của Thiệu Lực Bình và cộng sự (NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 1983); Nấm gây bệnh trên thực vật của Lục Gia Vân (NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 2001); Nấm học của Hình Lai Quân (NXB Giáo dục Đại học Trung Quốc, 2003); Bệnh lý thực vật của Từ Chí Cương (Tái bản lần thứ 3, NXB Nông nghiệp Trung Quốc, 2003); Nấm học của Hạ Vận Xuân (NXB Lâm nghiệp Trung Quốc, 2008); Bệnh lý thực vật của Từ Chí Cương (NXB Giáo dục Đại học Trung Quốc, 2009);

- Kế thừa một số biện pháp phòng trừ bệnh hại đã được áp dụng tại khu vực nghiên cứu

3.5.2 Phương pháp điều đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp điều tra bệnh hại dựa theo giáo trình: “Điều tra, dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp'' của tác giả Nguyễn Thế Nhã

Tại mỗi luống gieo ươm, lập 03 ô dạng bản (02 ô dạng bản ở đầu luống, 01 ô dạng bản ở giữa luống) Diện tích mỗi ô dạng bản là 1m 2 Số lần điều tra được lặp lại 3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày Tổng số ô dạng bản được điều tra là 45 ô Kết quả điều tra được ghi vào mẫu bảng 3.1:

Mẫu bảng 3.1 Tỷ lệ bị bệnh phấn trắng Keo tai tƣợng (P%)

Ngày điều tra : ……… Người điều tra :…… …………

STT luống TT ÔDB Tổng số cây trong ô

Tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng Keo tai tượng (P%) được tính theo công thức:

P là tỷ lệ cây bị bệnh phấn trắng (%) n là số cây bị bệnh phấn trắng

N là tổng số cây điều tra Sau đó, tính tỷ lệ bị bệnh trung bình ( P % ) của toàn khu vực nghiên cứu theo phương pháp bình quân cộng để đánh giá mức độ phân bố của bệnh phấn trắng, nếu:

0 ≤ P % ≤ 5%:Bệnh phấn trắng phân bố rải rác

5 < P % ≤ 25%:Bệnh phấn trắng phân bố theo cụm

25 < P % ≤ 50%:Bệnh phấn trắng phân bố theo đám

P >50%: Bệnh phấn trắng phân bố đều Trong ô dạng bản tiến hành điều tra, đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống (cách 1 hàng điều tra 1 hàng, cách 5 cây điều tra 1 cây) Tổng số cây điều tra trong ô dạng bản tối thiểu là 30 cây Để đánh giá mức độ hại lá của bệnh phấn trắng, tiến hành phân cấp tất cả các lá bị hại của từng cây theo tiêu chuẩn sau:

Cấp hại % Diện tích lá bị hại

Kết quả điều tra được ghi vào mẫu bảng 3.2:

Mẫu bảng 3.2 Mức độ gây hại của bệnh phấn trắng lá Keo (R%)

Ngày điều tra :……… Người điều tra :………

Số thứ tự ô dạng bản

Số thứ tự cây điều tra

Số lá bị hại ở các cấp Mức độ bị bệnh (R%)

Căn cứ vào số liệu của bảng 3.2, tính mức độ gây hại của bệnh phấn trắng Keo tai tượng theo công thức:

R% : Mức độ bị bệnh phấn trắng (%) ni : số lá bị bệnh phấn trắng ở cấp hại i vi : trị số cấp hại i

N : tổng số lá điều tra

V : trị số cấp hại cao nhất (V=4) Sau đó, tính mức độ bị hại trung bình ( ̅%) của toàn khu vực nghiên cứu theo phương pháp bình quân cộng để đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng, nếu:

0 < ̅%< 25%:cây bị hại nhẹ 25%≤ ̅%< 50%: cây bị hại vừa 50%≤ ̅%< 75%: cây bị hại nặng ̅%≥ 75%: cây bị hại rất nặng

3.5.3 Xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

- Mô tả triệu chứng: Tiến hành quan sát trực tiếp vết bệnh bằng mắt thường và kính lúp, từ đó mô tả đặc điểm của triệu chứng bệnh như biến đổi về màu sắc, kích thước và hình dạng của vết bệnh

- Lấy mẫu lá bệnh: Mẫu lá bệnh được lấy phải đại diện cho vết bệnh

(vết bệnh rõ ràng, không bị dập nát) và được cho vào túi polyetylen có bông thấm nước, buộc kín đem về Trung tâm thực hành thí nghiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp để mô tả và xác định nguyên nhân gây bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng

- Quan sát vật gây bệnh: Lấy lam kính sạch, nhỏ một giọt nước cất, dùng que cấy nấm lấy vết bệnh có lớp bột màu trắng cho lên lam kính và đậy lamen Sau đó, tiến hành quan sát bào tử vật gây bệnh dưới kính hiển vi quang học, chụp ảnh và mô tả đặc điểm hình thái, cơ quan sinh sản của vật gây bệnh

- Xác định vật gây bệnh: Từ đặc điểm về triệu chứng, hình thái bào tử và cơ quan sinh sản của vật gây bệnh So sánh, đối chiếu với tài liệu chuyên khảo về phân loại nấm để xác định vật gây bệnh

3.5.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu a Biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Chuẩn bị: thước dây, cọc, dao, bảng biểu, giấy bút

Tiến hành lập 4 luống điều tra (diện tích mỗi luống là 19m 2 ), trong đó có 2 luống thí nghiệm và 2 luống đối chứng Điều tra 4 lần, mỗi lần cách nhau

Thử nghiệm phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp lâm sinh được tiến hành trên ô dạng bản, hỗn giao loài cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.) và cây Lát hoa (Chukrasia tabularis M.Roem.) Để đánh giá hiệu quả của biện pháp này, tôi tiến hành điều tra mức độ gây hại của bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng tại ô gieo ươm hỗn giao, điều tra và so sánh với ô gieo ươm thuần loài Keo tai tượng (ô đối chứng) b Biện pháp vật lý cơ giới

Chuẩn bị: Thước dây, cọc, dao, kéo, bảng biểu, găng tay, bật lửa, giấy, bút

Tiến hành lập 4 luống điều tra (diện tích mỗi luống là19m 2 ), trong đó có 2 luống thí nghiệm và 2 luống đối chứng So sánh, đánh giá mức độ gây hại của bệnh phấn trắng trên luống bị bệnh và luống gieo ươm đối chứng (luống bị bệnh phấn trắng nhưng không dùng biện pháp phòng trừ) Các luống thí nghiệm dùng biện pháp vật lý cơ giới được cắt bỏ lá bệnh,thu gom các cành lá bệnh đem đốt Điều tra 4 lần, mỗi lần cách nhau 12 - 15 ngày Sau mỗi lần điều tra lại tiếp tục thu gom cành khô lá rụng, ngắt cành, lá bệnh đem đi xử lý c Biện pháp phun thuốc hóa học

Chuẩn bị: thước dây, cọc, dao, bảng biểu, giấy bút, bình phun, thuốc hóa học (Topsin(r)M70wp, Manage r 5WP, EnColeton25WP và VIZINES 80BTN)

Mẫu Bảng 3.3 Các loại thuốc hóa học và nồng độ sử dụng

TT Tên thuốc Nồng độ sử dụng (%) Dạng thuốc

(Nồng độ 0,25% là trong một lít dung dịch có 2,5g thuốc nguyên chất hoặc trong 1 lít dung dịch có 2,5ml thuốc nguyên chất)

- Topsin (R) M70wp, dùng để trừ các bệnh khô lá, vàng lá, gỉ sắt, phấn trắng Thành phần của thuốc: Thiophanate - methyl 70%

- Manage r 5WP, dùng để trừ các bệnh như gỉ sắt, đốm lá, vàng lá, phấn trắng, thán thư, phồng lá Thành phần của thuốc: Hoạt chất Imibenconazol 5% và chất phụ gia 95%

- EnColeton 25WP, dùng để trừ các bệnh mốc xám rau, phấn trắng cây Xoài Thành phần của thuốc Triadimefon 25%vàchất phụ gia 75%

- VIZINES 80BTN, dùng để trừ các bệnh mốc sương, phấn trắng, bồ hóng Thành phần của thuốc gồm Zineb 40%, Sulfur 40% và chất phụ gia 20%

Mỗi khu gieo ươm lập 8 luống thí nghiệm, diện tích mỗi luống là 19 m 2 (1,3*15m) Trên luống thí nghiệm ứng với 1 công thức là một loại thuốc hoá học, mỗi công thức nhắc lại 3 lần Cứ 12 đến 15 ngày, sau khi phun thuốc tiến hành điều tra mức độ bị bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

Trước khi phun thuốc, điều tra mức độ gây hại của bệnh phấn trắng trên tất cả các luống thí nghiệm Ứng với mỗi công thức thí nghiệm sử dụng thuốc hóa học đều có luống đối chứng

* Tính hiệu lực của các nồng độ thuốc: Để tính hiệu lực của thuốc hóa học sau mỗi lần phun, tôi áp dụng công thứcHenderson-Tilton:

HL (%): Hiệu lực của thuốc

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng

4.3.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Qua điều tra, đánh giá kết quả thử nghiệm phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp kỹ thuật lâm sinh tại khu vực nghiên cứu được trình bày trong bảng 4.2

Bảng 4.2 Đánh giá mức độ bị bệnh phấn trắng hại lá Keo khi phòng trừ bằng biện pháp lâm sinh

TT lần điều tra ODB Mức độ bị bệnh (R%) Trung bình Đánh giá mức độ hại

TB Đối chứng sau 4 lần điều tra 42,1 Hại vừa

TB Thí nghiệm sau 4 lần điều tra 31,4 Hại vừa

Hình 4.2 Bào tử nấm gây bệnh phấn trắng Keo tai tƣợng

( Oidium sp.) tại khu vực nghiên cứu

- Thí nghiệm: Là các ODB gieo ươm Keo hỗn giao với Lát hoa

- Đối chứng: Là các ODB gieo ươm Keo thuần loài

Kết quả điều tra lần 1 ở các ô thí nghiệm gieo ươm hỗn giao Keo tai tượng với Lát mức độ hại trung bình là 40,1%, bệnh hại vừa Ta thấy rằng mặc dù được tiến hành điều tra cùng thời gian nhưng mức độ hại lá của bệnh phấn trắng ở các ô đối chứng là 49,7% bệnh hại vừa, so với các ô thí nghiệm thì có sự chênh lệch đáng kể Mức độ bị hại trên cây Keo ở ô thí nghiệm thấp hơn 9,6% so vớiô đối chứng Từ đó, có thể thấy được khả năng hạn chế bệnh của gieo ươm hỗn giao đã làm giảm mức độ bị bệnh phấn trắng Theo dõi mức độ gây hại của bệnh ở lần thứ 2, cho thấy mức độ gây hại của bệnh có phần suy giảm Ở các ô đối chứng giảm xuống còn 45,7%; Ở các ô thí nghiệm mức độ bị bệnh giảm xuống còn 37,2%, sự suy giảm mức độ bị bệnh ở đây là không nhiều Nguyên nhân là do thời tiết tại thời điểm điều tra lần 2 vẫn thuận lợi cho sự phát triển của nấm phấn trắng

Tiếp tục tiến hành điều tra thấy rằng: mức độ gây hại của bệnh phấn trắng có xu hướng giảm dần giữa các lần điều tra Cụ thể là ở các ô đối chứng lần điều tra thứ 3 mức độ hại là 40,2% và ở lần điều tra thứ 4 giảm xuống còn 32,7% Ở các ô thí nghiệm, lần điều tra 3 mức độ gây hại của bệnh trên cây Keo là 29,3% và giảm xuống còn 19,1% chỉ ở mức hại nhẹ ở lần điều tra thứ 4

Bên cạnh đó, mức độ gây hại trung bình của bệnh phấn trắng trên cây Keo sau 4 lần điều tra cho thấy tại các ô đối chứng là 42,1% trong khi đó tại các ô thí nghiệm mức độ bị hại chỉ là 31,4%; Chênh lệch trung bình giữa đối chứng và thí nghiệm là 10,7% Chỉ số này cho thấy rõ khả năng hạn chế mức độ nhiễm bệnh phấn trắng lá Keo của biện pháp gieo ươm hỗn giao

Cùng với sự sinh trưởng tốt hơn của cây Keo thì khả năng phát triển của nấm bệnh cũng bị ức chế Có thể thấy rằng mức độ bị bệnh giảm trên các ô đối chứng là 2,5%, 5,4% và 5,7% ở lần điều tra thứ 4; Ở các ô thí nghiệm lần 2 là 4,4%; Lần 3 là 5,7%; Lần 4 là 10,2%

Bảng 4.3 Mức độ bệnh phấn trắng lá Keo giảm theo số lần điều tra khi dùng biện pháp lâm sinh

Mức độ bệnh giảm theo số lần điều tra (R%)

Từ những kết quả trên cho thấy rằng việc ươm xen hỗn giao giữa cây Keo tai tượng và Lát đã có hiệu quả rõ rệt trong việc hạn chế bệnh phấn trắng Đó là mức độ hại lá của bệnh trên cây Keo ở ô thí nghiệm thấp hơn đáng kể so với ô đối chứng Cụ thể ở lần điều tra thứ nhất mức độ bị bệnh ở ô thí nghiệm thấp hơn ô đối chứng 7,5%, cho đến lần thứ 4 thấp hơn 14,2% Do khả năng phát tán nhờ gió của bào tử nấm gây bệnh phấn trắng lá Keo là rất lớn Mặt khác các dạng bào tử này còn lây lan nhờ nước mưa, côn trùng, động vật khác và cả các hoạt động của con người Điều đó có thể thấy việc ươm hỗn giao giữa Keo và Lát đã hạn chế sự lây lan phát tán của bào tử nấm phấn trắng ngay từ đầu

Hình 4.3 dưới đây thể hiện rõ mức độ hại của các ô thí nghiệm thấp hơn nhiều so với đối chứng, chứng tỏ ở các ô thí nghiệm bệnh đã giảm, sự giảm bệnh này chủ yếu do khả năng hạn chế sự lây lan phát tán của bào tử nấm phấn trắng đối với cây Keo ngay từ khi gieo ươm hỗn giao cây Keo với câyLát

4.3.2 Phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp vật lý - cơ giới

Kết quả phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp vật lý cơ giới, ngắt cắt, thu gom cành lá bị bệnh đem đốt Kết quả được trình trong bảng 4.4

Bảng 4.4 Đánh giá mức độ bị bệnh phấn trắng hại lá Keo khi dùng biện pháp vật lý - cơ giới

ODB Mức độ bị bệnh (R%) Trung bình Đánh giá mức độ hại

1 Đối chứng 49,2 51,3 48,5 49,7 Hại vừa Thí nghiệm 45,3 42,2 38,4 42 Hại vừa

Hình 4.3 Mức độ bệnh phấn trắng lá Keo giảm theo số lần điều tra khi dùng biện pháp lâm sinh

3 Đối chứng 49,3 50,1 48 48,9 Hại vừa Thí nghiệm 29,3 26,1 22,3 25,9 Hại vừa

4 Đối chứng 42,3 46,8 45,3 44,8 Hại vừa Thí nghiệm 19,2 18,5 15,3 17,7 Hại nhẹ

TB Đối chứng sau 4 lần điều tra 48,1 Hại vừa

TB Thí nghiệm sau 4 lần điều tra 29,7 Hại vừa

- Thí nghiệm: Là các ODB áp dụng biện pháp vật lý: Ngắt bỏ lá bệnh, thu gom cành lá bệnh rơi rụng và đốt

- Đối chứng: Là các ODB không tác động

Từ kết quả thu được ở bảng 4.4 cho thấy mức độ bị hại ở cả các ô đối chứng và các ô thí nghiệm trong lần điều tra đầu tiên đều có mức độ bị hại gần bằng nhau Mức độ hại trung bình ở các ô đối chứng lần điều tra 1 là 49,7% vàmức độ hại trung bình ở các ô tiến hành thí nghiệm là 42%, đều được đánh giá là mức độ hại vừa Thời tiết tại thời điểm này có độ ẩm không khí cao là điều kiện thuận lợi cho nấm phấn trắng phát triển và gây bệnh

Sau khi điều tra xong và xác định mức độ gây hại của bệnh chúng tôi tiến hành thử nghiệm biện pháp phòng trừ bệnh vật lý - cơ giới tại các ô thí nghiệm bằng cách thu gom các cành lá bệnh rụng và lá bị bệnh trên cây bệnh đem đốt Ở lần điều tra thứ 2, kết quả điều tra cho thấy: Mức độ bị hại trên cây Keo đã giảm xuống ở cả các ô đối chứng và ô thí nghiệm, cụ thể là mức độ hại trung bình ở các ô đối chứng là 49,1%, còn ở các ô thí nghiệm là 33,2% Ngay từ lần điều tra này đã có sự khác biệt khá rõ rệt về mức độ suy giảm của bệnh ở các ô đối chứng so với các ô thí nghiệm Các ô đối chứng do sự ấm dần lên của thời tiết nên mức độ hại giảm 0,6% ở ô đối chứng, còn ở các ô thí nghiệm mức độ hại giảm 8,8%

Sở dĩ có sự giảm mức độ bị bệnh đáng kể này là ở các ô thí nghiệm có sự tác động của biện pháp vật lý - cơ giới, các cành lá bị bệnh nặng được lấy đi xử lý, vì vậy ở lần điều tra thứ 2 số lượng lá bị bệnh ở mức độ hại giảm đi rất nhiều Ngoài ra, sự ấm dần lên của thời tiết dẫn đến khả năng phát triển, lây nhiễm của nấm phấn trắng giảm sút cũng góp phần làm giảm mức độ gây hại của nấm bệnh trên cây Keo tai tượng

Sau khi điều tra thu thập số liệu và đánh giá mức độ hại của bệnh lần thứ 2, chúng tôi tiếp tục tiến hành các biện pháp vật lý - cơ giới tại các ô thí nghiệm và thu thập số liệu đến lần thứ 3 và thứ 4

Kết quả tổng hợp ở bảng 4.4 cho thấy mức độ hại của bệnh phấn trắng giảm dần qua các lần điều tra Ở các ô đối chứng: Lần điều tra thứ 3 mức độ hạilà 48,9% đến lần thứ 4 còn 44,8% Ở các ô thí nghiệm lần điều tra thứ 3 mức độ hại còn 25,9%, cho đến lần thứ 4 thì chỉ còn 17,7%, lần này mức độ hại chỉ còn ở mức hại nhẹ Xu hướng bệnh giảm dần qua các lần điều tra này phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến thời tiết qua các tháng Nhiệt độ tăng, ẩm độ giảm ức chế nấm phấn trắng phát triển, đồng thời cây Keo sinh trưởng mạnh, làm cho bệnh hại giảm dần đi và càng về sau mức độ suy giảm bệnh càng cao hơn

Bảng 4.5 Mức độ bị bệnh phấn trắng giảm theo số lần điều tra khi dùng biện pháp vật lý - cơ giới Ô D B

Mức độ bị bệnh theo các lần điều tra(%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ bị bệnh phấn trắng trên cây Keo ở các ô đối chứng qua các lần điều tra: lần thứ 2 giảm 0,56%; Lần thứ 3 giảm 0,13% và lần thứ 4 giảm 4,17% Ở các ô thí nghiệm, mức độ giảm bệnh là: 8,8% ở lần điều tra thứ 2, giảm 7,27% ở lần điều tra thứ 3 và đến lần điều tra thứ 4 giảm 8,23%

Quy luật giảm bệnh ở các ô thí nghiệm có sự khác biệt so với các ô đối chứng Ở các ô đối chứng bệnh giảm dần và mức độ giảm bệnh qua các lần điều tra Còn ở các ô thí nghiệm mức độ giảm bệnh ở lần điều tra thứ 2 và lần điều tra thứ 3 là không đáng kể Lần điều tra thứ 4 mức độ giảm bệnh lên đến 4,17% Có sự khác biệt này ở các ô thí nghiệm là do sự tác động của biện pháp cơ giới ngay sau lần điều tra đầu tiên đã lấy đi các cành lá bị bệnh nặng, xử lý cành khô lá rụng làm giảm nguồn sơ xâm nhiễm vì vậy hạn chế được rất nhiều sự lây lan của vật gây bệnh Số lượng lá bị bệnh nặng được lấy ra khỏi cây đã làm giảm đáng kể mức độ hại lá của cây bệnh Tác động của biện pháp này làm cho tổng chỉ số giảm bệnh ở các ô thí nghiệm qua các lần điều tra là

So sánh hiệu quả của các biện pháp khảo nghiệm và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu

4.4.1 So sánh hiệu quả của các biện pháp phòng trừ

Sau thời gian tiến hành nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây Keo tai tượng, chúng tôi thấy khả năng tác động của mỗi biện pháp đối với bệnh là khác nhau Điều đó được thể hiện qua kết quả nghiên cứu được tổng hợp tại bảng 4.13

Bảng 4.13 Tổng hợp so sánh tác động của 3 biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tƣợng

Mức độ bị bệnh giảm trung bình (%)

Gieo ươm hỗn giao theo luống 40,10 19,10 21

Qua bảng trên có thể thấy rằng mỗi biện pháp được nghiên cứu đều có tác dụng nhất định trong việc phòng trừ bệnh Cụ thể là so với mức độ bị bệnh giảm 17,09% ở ô đối chứng thì tại các ô thí nghiệm các biện pháp phòng trừ, mức độ bị bệnh giảm từ 21% cho đến 37,52%

Phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng bằng biện pháp gieo ươm hỗn giao thì mức độ bị bệnh giảm 21% Song ở biện pháp này mức độ hại của bệnh tại lần điều tra đầu tiên là thấp hơn so với ở các biện pháp còn lại Điều này có thể lý giải là do tác dụng chậm của biện pháp hỗn giao Việc gieo ươm hỗn giao Keo tai tượng với Lát phần nào làm hạn chế khả năng lây lan, xâm nhiễm của nấm phấn trắngtrên cây Keo ngay từ đầu

Biện pháp vật lý - cơ giới, mức độ bị bệnh giảm khá cao 24,3% Các tác động cơ giới như loại bỏ lá bệnh, xử lý cành khô lá rụng đã làm giảm đáng kể nguồn nấm bệnh cư trú Vì thế, biện pháp này góp phần hạn chế khả năng lây lan của nấm từ cành lá bệnh sang cành lá khoẻ hoặc từ cây bệnh sang cây khoẻ Nhưng có thể thấy rằng, tác động cơ giới lấy đi các cành lá bị bệnh hại quá nặng cũng góp phần không nhỏ vào việc làm giảm mức độ hại của bệnh

Vì vậy phương pháp này cần được tiến hành thực hiện và điều tra đánh giá liên tục trong thời gian dài để có thể xác định chính xác hiệu quả của nó

Trong tất cả các biện pháp tác động, chúng tôi thấy biện pháp phun thuốc hoá học có hiệu quả phòng trừ bệnh cao nhất, các loại thuốc đem thử nghiệm đều có chỉ số giảm bệnh từ 29,57 - 37,52%, trung bình là 33,93% Trong đó loại thuốc có hiệu lực phòng trừ bệnh cao nhất là thuốc Topsin (r) M70wp hiệu lực phòng trừ đạt tới 62,19%

4.4.2 Đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng

Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng tại các điểm nghiên cứu bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực gieo ươm đều bị bệnh ở mức độ hại vừa, hại nặng, mức độ thiệt hại của rất lớn, bệnh gây hại tương đối đều trên diện tích gieo ươm Keo Với mức độ hại này tuy chưa phát thành dịch nặng song cũng làm cho sự sinh trưởng của từng cây cũng như của cả vườn Keo bị giảm sút, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và phát triển sau này

Cũng qua những điều tra cho thấy bệnh hại tại các ô đối chứng tự giảm dần theo thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 với chiều hướng ấm dần lên của thời tiết Nguyên nhân là nấm phấn trắng chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ thích hợp từ 12 - 25 0 C với ẩm độ từ 80 - 90%, tại khu vực nghiên cứu bệnh bắt đầu xuất hiện từ tháng 10 cho đến tháng 5 năm sau, thịnh hành và gây hại nặng từ tháng 12 đến tháng 3 Từ đó có thể thấy rằng nếu không có sự tác động trong quản lý, phòng trừ bệnh đối với vườn ươm Keo tại đây thì khi điều kiện thời tiết không thích hợp cho vật gây bệnh thì bệnh có thể giảm, chẳng hạn mùa hè (Nhiệt độ không khí trên 28 0 C thì bệnh ngừng phát và ở 30 0 C thì nó qua hạ) Nhưng khi thời tiết nắng ấm thì nấm đã gây hại nặng ở cây từ trước đó Mặt khác mức độ giảm không nhiều và rất chậm Nguồn nấm gây bệnh không bị tiêu diệt, các thể sợi nấm hoặc bào tử nấm phấn trắng có khả năng qua đông qua hạ trên cây chủ hoặc trên các vật rơi rụng sẽ tiếp tục gây bệnh ở những năm tiếp theo Bên cạnh đó, thời gian phát sinh phát triển và gây bệnh của nấm phấn trắng kéo dài đến 8 tháng trong năm khiến cho sinh trưởng, phát triển của cây bị đình trệ, khả năng sinh trưởng và phát triển bị giảm thiểu Vì vậy chúng ta cần phải chủ động tiến hành các biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng thường xuyên cho cây Keo tai tượng tại khu vườn này

Trong thời gian theo dõi các biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng ở địa bàn nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số biện pháp sau:

- Biện pháp lâm sinh: Tăng cường công tác quản lý, vệ sinh vườn ươm, nhằm làm giảm nguồn bệnh tích luỹ tại vườn ươm Chú ý việc gieo ươm hỗn giao cây Keo với một số loài cây khác để hạn chế sự lây lan xâm nhiễm của nấm phấn trắng Khi gieo hỗn giao cần chọn loài cây thích hợp, có thể gieo ươm hỗn giao với cây Lát hoa nhằm hạn chế khả năng phát tán của bào tử nấm bệnh

- Chọn giống Keo đã được chọn lọc khảo nghiệm không mang mầm mống sâu bệnh để gieo ươm Đồng thời cây con cũng phải được chăm sóc đầyđủ và phải gieo ở những nơi đã xử lý triệt để nguồn bệnh

- Khi cây bị bệnh có thể dùng biện pháp vật lý - cơ giới như cắt ngắt bỏ lá bệnh, thu gom cành khô, lá bệnh rơi rụng đem đốt để tiêu diệt nguồn lây lan, xâm nhiễm

- Tăng cường các biện pháp điều tra, sớm phát hiện bệnh hại để có biện pháp khống chế kịp thời

Trong trường hợp cần thiết có thể sử dụng biện pháp hóa học để phòng trừ bệnh phấn trắng Keo tai tượng Song cần chú ý phun thuốc ở nồng độ thích hợp để đạt hiệu quả phòng trừ cao nhất đồng thời không ảnh hưởng đến sinh trưởng cây con cũng như không gây độc cho môi trường, sinh vật có ích và con người Nên sử dụng loại thuốc Topsin (r) M70wp (CT1) là có hiệu lực cao nhất trong 4 loại thuốc hoá học đem thử nghiệm hoặc thuốc Manage r 5WP cũng đạt hiệu quả phòng trừ khá cao Mặt khác 2 loại thuốc này được xếp vào nhóm có độ độc thấp nên ít ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, môi trường sinh thái cũng như sinh vật có ích

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Qua thời gian điều tra, nghiên cứu bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu, luận văn có kết luận sau:

- Tỷ lệ bị bệnh phấn trắng Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu là 43,84%, bệnh phân bố đám Mức độ gây hại 26,36%, cây bị hại vừa

- Nguyên nhân gây bệnh phấn trắng lá Keo tai tượng tại đây được xác định là do nấmBào tử bột (Oidium sp.), họ nấm Phấn trắng (Erysiphaceae), bộ nấm Phấn trắng (Erysiphales), lớp nấm Túi (Ascomycetes), ngành phụ ngành nấm Túi (Ascomycota), giới nấm (Fungi)

Thời gian trong năm ảnh hưởng đến quá trình phát sinh, phát triển của bệnh, bệnh thường xuất hiện và bị nặng vào những tháng thời tiết ẩm thấp, độ ẩm không khí cao, nhiệt độ thấp Khi mới gieo hoặc giâm hom cây con có tỷ lệ và mức độ bị bệnh cao, sau đó giảm dần; mật độ cây càng dày dễ phát sinh bệnh hại và tăng nguy cơ lây lan bệnh giữa các cây

Nhiệt độ thích hợp cho bào tử nấm nảy mầm 23 0 C, trên 30 0 và dưới

10 0 C bào tử nấm ngừng phát triển Điều kiện thích hợp cho bào tử nấm nảy mầm ở độ ẩm 95%, pH = 7 Bào tử có thể nảy mầm sau 4 đến 6 giờ Thời kỳ ủ bệnh từ 3 đến 6 ngày Tại khu vực nghiên cứu bệnh phát triển mạnh từ tháng 12 đến tháng 03 năm sau

Ngày đăng: 19/05/2021, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w