1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về khoảng cách sinh con tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ - Nguyễn Đức Vinh

11 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 480,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mấy thập kỷ qua, chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình đã được triển khai ở nước ta qua những hình thức, mức độ, mục tiêu khác nhau, tuy nhiên cho đến gần đây chương trình dân số ở Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào giải quyết vấn đề quy mô dân số. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài viết Tìm hiểu về khoảng cách sinh con tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ dưới đây.

Trang 1

Xã hội học thực

nghiệm

Xã hội học số 1 (61), 1998 35

Tìm hiểu về khoảng cách sinh con tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ

Nguyễn Đức Vinh

Trong mấy thập kỷ qua, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình đã được triển khai ở nước ta qua những hình thức, mức độ và mục tiêu chủ yếu khác nhau Tuy nhiên, cho đến gần

đây, chương trình dân số ở Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào giải quyết vấn đề quy mô dân số [3] Đối với đa số người dân, thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình là: không kết hôn sớm, mỗi cặp vợ

chồng chỉ có 1-2 con, không sinh đẻ quá dày Trong đó, đường như nhiệm vụ không sinh quá 2 con

được đặc biệt chú trọng Vì vậy, khi mức sinh ở Việt Nam đã giảm xuống đáng kể trong mấy năm gần đây, chính sách dân số của Nhà nước đang dần chuyển hướng tập trung hơn vào các lĩnh vực liên quan đến chất lượng dân số với hình thức mới như vấn đề sức khỏe sinh sản, phúc lợi gia

đình

Chúng ta biết rằng, sinh đẻ dày thường dẫn đến mức sinh cao Hơn nữa, kết quả nghiên cứu tại nhiều nước đang phát triển cũng như ở Việt nam đã cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa khoảng cách sinh và mức độ tử vong của trẻ em Theo cuộc Điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ 1994, các trường hợp sinh dưới 19 tháng kể từ lần sinh trước có khả năng tử vong cao gấp 3 lần so với nhóm trẻ có khoảng cách sinh ít nhất 5 năm [2] Ngoài ra, khoảng cách sinh con quá ngắn còn ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều vấn đề khác như: điều kiện chăm sóc nuôi dạy đứa trẻ cũng như anh chị của nó, sức khỏe bà mẹ, khả năng kinh tế gia đình,.v.v Do đó, chính sách dân số khuyến khích khoảng cách sinh con thứ hai sau con thứ nhất 5 năm và quy định khoảng cách tối thiểu 3 năm là rất hợp lý

Cũng theo cuộc Điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ 1994, khoảng cách trung vị giữa 2 lần sinh thứ nhất và thứ hai trong 5 năm trước thời điểm điều tra là 32 tháng Mặc dù đã có một số tiến bộ so với trước kia nhưng vẫn có tới 59,7% khoảng cách sinh ngắn hơn khoảng cách tối thiểu theo quy định [1] Chính vì thực trạng như vậy, mục tiêu của bài viết này là bước đầu tìm hiểu thêm về khoảng cách sinh con dưới tác động của một vài yếu tố kinh tế xã hội ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ

1 Số liệu và phương pháp phân tích:

Phân tích của chúng tôi dựa trên số liệu khảo sát Lịch đại dân số Việt Nam năm 1996 tại

10 xã thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Đây là cuộc khảo sát tương đối lớn cả về nội dung nghiên cứu cũng như số lượng mẫu Theo kế hoạch, hơn 1850 hộ gia đình và 4465 cá nhân

được chọn để phỏng vấn lặp lại mỗi năm 1 lần (từ năm1995 đến 1999) Trong đó đã ghi nhận được

4511 trường hợp sinh lần thứ hai trở lên từ năm 1954 đến 1996 của 1931 phụ nữ

Khái niệm khoảng cách sinh tương đối đa dạng trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Chúng tôi xác định khoảng cách sinh là khoảng thời gian giữa 2 lần sinh liên tiếp nhau

Trang 2

của một bà mẹ, bất kể những đứa trẻ đó có còn sống hay không Khoảng thời gian đó tính bằng số tháng Trường hợp sinh đã lâu không nhớ tháng sinh thì khoảng cách sinh được tính tròn năm Ví dụ: hai lần sinh liên tiếp vào năm 1966 và 1969 (không nhớ tháng) thì khoảng cách sinh là 36 tháng Phương pháp đo lường khoảng cách sinh thường dựa trên tỷ lệ phần trăm số trường hợp sinh nằm trong một khoảng nào đó (chẳng hạn: dưới 18 tháng, từ 18 đến 36 tháng và trên 36 tháng) Các trường hợp sinh quá dày hoặc quá thưa đều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cả bà mẹ và trẻ em cho nên không được khuyến khích Trong khi đơn vị đo lường theo tỷ lệ phần trăm có thể phân tích riêng biệt được các trường hợp đó thì ưu điểm của khoảng cách sinh trung bình là đơn giản và tổng quát hơn Vì vậy, chúng tôi sẽ sử dụng cả hai đơn vị đo lường khoảng cách sinh trong phân tích này

để có thể tận dụng được các ưu điểm kể trên

Độ dài khoảng cách giữa các lần sinh hoàn toàn không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, nhất là ở trong các xã hội có ý thức sử dụng biện pháp tránh thai cao Cũng như đối với mức sinh, khoảng cách sinh không chỉ quyết định bởi các yếu tố sinh học như sức khỏe người mẹ, khả năng thụ thai mà chịu tác động của nhiều đặc trưng nhân khẩu học xã hội khác Các biến số được giả

định là có ảnh hưởng đáng kể đến khoảng cách sinh và đưa vào phân tích trong bài viết này bao

gồm: tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp ng ười mẹ, thời điểm sinh con, khu vực cư trú, thứ tự sinh, giới tính các con đã sinh, tình trạng sống đứa trẻ sinh kề trước, sử dụng biện pháp tránh thai, thời gian cho con bú, mức thu nhập bình quân đầu người trong gia đình Mặc dù, tác động

của các biến số về nghề nghiệp và mức thu nhập chỉ có độ tin cậy cao với các trường hợp sinh gần

đây, chúng tôi vẫn đưa các biến số này vào phân tích với giả thiết sự di động không quá lớn và dù sao điều đó cũng phản ánh mối tương quan nhất định Kết quả từ một số nghiên cứu cũng cho thấy: sự nóng lòng mong có đứa con trai hoặc thay thế đứa con mới mất là những yếu tố quan trọng làm cho các cặp vợ chồng sinh con sớm hơn Do không có thông tin về nuôi con bằng sữa mẹ của tất cả các lần sinh nên chỉ báo này chỉ được đưa vào phân tích trong các trường hợp sinh từ năm 1991 đến 1996

Nghiên cứu đầy đủ về khoảng cách sinh là vấn đề tương đối phức tạp Thứ nhất, phần lớn những thông tin về đứa con và những vấn đề liên quan vào thời điểm sinh là thông tin hồi cố nên không phải bao giờ cũng đầy đủ và hoàn toàn chính xác Thứ hai là các yếu tố trung gian tác động

đến khoảng cách sinh theo nhiều cơ chế phức tạp rất khó đo lường Chẳng hạn: kéo dài thời gian nuôi con bằng sữa mẹ thường được chứng minh là làm gia tăng khoảng cách sinh Tuy nhiên, cũng

có khi người mẹ buộc phải cai sữa cho đứa trẻ vì muốn sinh con sớm hoặc đứa trẻ đó đã chết Thứ

ba là không có đầy đủ thông tin cần thiết do số liệu sử dụng để phân tích không phải chỉ dành cho nghiên cứu khoảng cách sinh Vì vậy trong khuổn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến những khía cạnh cơ bản nhất qua một số phân tích bằng bảng tương quan và hồi quy đa biến

2 Phân tích mô tả về khoảng cách sinh

Khoảng cách sinh trung bình của 4483 trường hợp là 37,24 tháng, trong đó có 58,2% trường hợp khoảng cách dưới 36 tháng Xét 2 biểu đồ về khoảng cách sinh từ năm 1954 đến 1996 (Hình 1 và Hình 2) ta có thể chia sự biến đổi thành 3 giai đoạn chính Từ năm 1955 đến cuối những năm 60 là thời kỳ hòa bình tương đối dài ở miền Bắc, đời sống nhân dân được ổn định, Nhà nước chú trọng phát triển hệ thống y tế đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, mức chết trẻ

em liên tục giảm Có lẽ vì vậy, khoảng cách sinh trung bình từ 20 tháng dần được nâng cao và ổn

định ở chừng 38 tháng vào các năm 1967 - 1969 Mặc dù thời gian đó, chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình chưa được triển khai mạnh mẽ như những năm gần đây, tỷ lệ khoảng cách sinh dưới 3 năm cũng giảm từ 84% xuống còn 47%

Giai đoạn tiếp theo là từ năm 1970 đến 1985: tỷ lệ sinh con trước 36 tháng so với lần sinh trước có xu hướng gia tăng, khoảng cách sinh trung bình lên xuống thất thường và trong đó có một

số năm liên tục giảm (1978-1981) Thời gian đó, chính sách dân số vẫn chưa thực sự ổn định và đạt hiệu quả cao Hơn nữa, đó là thời kỳ có nhiều biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở đồng bằng Bắc

Trang 3

Bộ cũng như ở Việt Nam nói chung Những năm cuối thập kỷ 60 cho đến đầu thập kỷ 70, nhiều thanh niên đồng bằng Bắc Bộ đã lên đường nhập ngũ Nghiên cứu về tuổi kết hôn lần đầu ở Việt nam của Nguyễn Hữu Minh [5] khẳng định mối liên hệ giữa tuổi kết hôn và việc phục vụ trong quân đội của người chồng Vì vậy chúng ta khó có thể bác bỏ giả thiết rằng: việc nhập ngũ cũng

ảnh hưởng đến khoảng cách sinh con của họ Sau sự kiện đất nước thống nhất năm 1975 là thời kỳ bùng nổ dân số, tiếp đến là hai cuộc triến tranh biên giới, và cuối cùng, điều kiện kinh tế khó khăn của đất nước vào đầu những năm 80 đã ảnh hưởng không ít tới đời sống người dân Phải chăng, những yếu tố tác động trái ngược kể trên đã góp phần làm cho khoảng cách sinh trong thời gian này không thay đổi theo chiều hướng tích cực

Hình 1: Biểu đồ về khoảng cách sinh trung bình từ năm 1955 đến 1996

15

20

25

30

35

40

45

50

55

60

Năm

Hình 2: Biểu đồ về tỷ lệ trường hợp sinh con với khoảng cách dưới 36 tháng (%)

30

40

50

60

70

80

90

Năm

%

Giai đoạn thứ 3 là từ năm 1986 đến nay Đó là thời kỳ bắt đầu cuộc cải cách kinh tế và

điều đó đã đem lại sự đổi thay đến hầu hết các hộ gia đình ở Việt Nam Nhà nước cũng chú trọng

đầu tư vào chương trình Dân số - Kế hoạch hòa gia đình nhiều hơn bao giờ hết Kết quả là khoảng cách sinh trung bình đã tăng từ 35 tháng năm 1985 lên đến 49,3 tháng vào năm 1995 Chúng ta

Trang 4

thấy biểu đồ biểu diễn mức sinh trung bình trong khoảng thời gian này tăng lên rất nhanh trừ hai trường hợp ngoại lệ: đó là vào năm 1993 và năm 1996 Biểu đồ 2 về tỷ lệ khoảng cách sinh dưới 36 tháng cũng phản ánh những diễn biến tương ứng Kết quả nghiên cứu ở một vùng nông thôn Thái Bình gần đây cho thấy hiện tượng mức sinh đang giảm dần đột nhiên tăng vọt vào năm 1993 [4]

Đó là năm Thái Bình (và nhiều tỉnh khác ở đồng bằng Bắc Bộ) chia lại ruộng theo đầu người Vì thế, nhiều cặp vợ chồng đã "tranh thủ" sinh thêm con để có thêm đất canh tác ở đây, chúng ta cũng có thể tạm thời cho đó là một trong những giả thiết Sự khác biệt về khoảng cách sinh trung bình của năm 1996 có lẽ là do sự cắt bỏ của số liệu vào thời điểm khảo sát (tháng 8,9 - 1996) Tuy nhiên, do thời điểm sinh con phân bố tương đối đều vào các tháng trong năm nên chúng ta vẫn chưa bác bỏ được giả thiết về hiện tượng sinh đẻ dày hơn đã sảy ra vào năm 1996

Số liệu trong bảng 1.1 và 2.1 cho thấy có sự khác biệt nhất định về khoảng cách sinh giữa nông thôn và thành thị, nhất là sau năm 1990 Trong khi khoảng cách này vào đầu những năm 80

là 39 tháng ở thành thị và 35,28 tháng ở nông thôn thì sau năm 1990 kết quả tương ứng đã là 67,8

và 42,6 tháng Mấy năm gần đây, tỷ lệ sinh đẻ cách lần sinh trước dưới 3 năm ở nông thôn vẫn còn rất cao (49,6%), gấp 3 lần so với thành thị (14.3%) Như vậy, với tốc độ giảm như hiện nay, cần phải có thêm nhiều thời gian để tỷ lệ khoảng cách sinh dưới 3 năm nông thôn đồng bằng Bắc Bộ có thể hạ xuống dưới 20% Chúng ta cũng nên lưu ý rằng, đồng bằng Bắc Bộ là khu vực có mức sinh thấp nhất và luôn dẫn đầu về thành tích thực hiện chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình trên toàn quốc

Trong tất cả các thời kỳ, khoảng cách sinh trung bình cũng như tỷ lệ sinh đúng quy định

đều tăng lên theo độ tuổi người mẹ (Bảng 1.3 và 2.3) Tuy nhiên, độ chênh lệch về khoảng cách sinh giữa các nhóm tuổi cũng khác nhau Chẳng hạn: từ năm 1976 đến 1980, nhóm phụ nữ dưới

25 tuổi sinh con với khoảng cách ngắn hơn 20 tháng so với nhóm trên 34 tuổi, và sau năm 1990, khoảng chênh lệch đó là 40 tháng Nguyên nhân có thể là do mức sinh đã giảm, phụ nữ lớn tuổi sử dụng biện pháp tránh thai nhiều hơn và sinh con ít đi Số liệu trong bảng 1.3 còn cho thấy, khoảng cách sinh con trung bình của nhóm phụ nữ trẻ tăng lên rất chậm Cách lý giải thứ nhất: nhóm phụ nữ ít tuổi thường có mức sinh cao và tâm lý muốn sớm có đủ số con mong muốn vẫn còn tồn tại dai dẳng Cách lý giải khác là phương pháp xử lý số liệu đã cắt bỏ những trường hợp mới chỉ có 1 con

và dĩ nhiên trong đó bao gồm nhiều phụ nữ trẻ có ý định sinh con thứ 2 muộn hơn Theo chúng tôi, cả hai lý do đã cùng góp phần tạo nên hiện tượng trên bởi tuổi trung bình của những đứa trẻ trong những gia đình 1 con vẫn còn thấp (20,9 tháng trong nhóm tuổi mẹ dưới 25 và 39,4 tháng nếu mẹ

từ 25 đến 29 tuổi)

Từ năm 1990 trở về trước, khoảng cách sinh con trung bình thấp nhất luôn thuộc về nhóm phụ nữ kết hôn vào độ tuổi 19 đến 21 (Bảng 1.2) Còn sau năm 1990, phụ nữ kết hôn càng muộn càng có xu hướng sinh đẻ thưa hơn Tuy nhiên phân tích đa biến lại cho kết quả không giống như vậy

Từ sau năm 1970 đến nay, khoảng cách sinh trung bình ở đồng bằng Bắc Bộ luôn tăng dần theo thứ tự sinh của đứa trẻ Trường hợp sinh con thứ 2 có sự khác biệt lớn hơn cả: khoảng cách sinh ngắn hơn 6 tháng vào năm 1981-1985 và khoảng 12 tháng sau năm 1990 so với trường hợp sinh con tiếp theo (Bảng 1.4) Tuổi người phụ nữ khi sinh và thứ tự đứa con thường có mối liên

hệ nhất định Do đó, tác động riêng biệt của từng yếu tố đến khoảng cách sinh sẽ được phân tích chính xác hơn trong mô hình hồi quy đa biến ở phần sau

Khoảng cách sinh cũng có sự khác biệt nếu phân tích qua tình trạng sống của đứa trẻ sinh trước So với trường hợp đứa trẻ trước vẫn còn sống, khoảng cách sinh khi đứa trẻ trước đã chết ngắn hơn chừng 3 đến 5 tháng vào những năm 1981-1990 và tới 11 tháng sau năm 1990 (Bảng 1.5) Tỷ lệ con chưa đến 3 tuổi đã sinh thêm cũng có thể tăng từ 47,2% lên 61,1% (sau năm 1990)

Điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến điều kiện chăm sóc đứa trẻ cũng như sức khỏe bà mẹ vốn đã không được tốt lắm trong các gia đình từng gặp chuyện rủi ro như vậy

Trang 5

Bảng 1: Khoảng cách sinh trung bình theo một số chỉ báo (đơn vị: tháng)

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Trước 1971 71—75 76—80 81—85 86—90 Sau 1990 Chung

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.1 Khu vực cư trú

Thành thị 34.43 35.12 37.54 39.07 39.74 67.81 40.63

Nông thôn 34.53 36.20 35.68 35.28 37.70 42.64 36.92

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.2 Tuổi kết hôn của mẹ

19-21 34.14 35.49 34.16 34.63 36.73 43.38 36.54

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.3 Tuổi khi sinh con

25 — 29 34.31 30.92 31.29 30.76 33.55 38.53 33.27

30 — 34 36.71 36.06 37.19 39.27 43.35 49.84 40.34

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.4 Thứ tự sinh

Thứ 2 34.62 35.21 33.14 31.17 34.18 38.96 34.68

Thứ 3 35.27 36.46 34.29 37.36 40.04 46.89 38.46

Thứ 4+ 33.96 36.55 39.17 39.13 40.26 52.02 38.93

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.5 Tình trạng sống đứa con kề trước

Còn sống 35.03 36.70 35.73 35.87 37.92 44.45 37.54

Đã chết 28.27 24.96 37.64 32.12 32.88 35.11 31.16

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.6 Giới tính con kề trước

Trai 36.15 36.72 36.39 35.38 39.48 44.43 37.93

Gái 32.81 35.65 35.41 35.98 36.22 44.08 36.59

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.7 Giới tính các con trước

Chỉ con gái 33.61 34.69 33.09 34.59 35.41 42.08 35.77

Chỉ con trai 36.40 36.62 34.32 32.48 37.58 42.03 36.56

Trai & Gái 33.85 36.80 38.24 38.58 40.33 50.10 39.04

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.8 Sử dụng biện pháp tránh thai trước khi sinh

Chưa bao giờ 34.32 36.35 34.73 33.13 34.76 35.50 34.64

Đã từng 36.53 35.59 38.70 40.63 40.92 49.08 42.44

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.9 Trình độ học vấn mẹ

< Phổ thông cơ sở 30.01 33.78 32.13 34.00 36.91 42.61 36.30

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.10 Lĩnh vực nghề nghiệp người mẹ hiện nay

Dịch vụ tư nhân 35.22 30.27 35.69 39.50 39.18 53.84 38.68 Nhà nước 30.21 32.44 35.31 34.52 38.97 56.94 39.19

Không LV, hưu 35.20 38.38 44.08 38.20 48.56 44.31 38.36

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

1.11 Mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ

Thấp 33.41 33.30 35.88 35.74 34.89 43.27 36.04

Dưới trung bình 36.28 38.22 35.34 36.03 38.10 43.91 37.92

Trung bình 33.97 34.78 35.05 32.67 37.03 39.57 35.34

Trên trung bình 35.20 36.61 34.82 35.48 37.87 46.69 37.70

Khá 35.40 37.47 36.84 38.16 44.84 55.93 40.80

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Tính chung 34.62 35.79 35.52 35.37 37.75 44.88 37.21

————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Trang 6

Bảng 2: Tỷ lệ trường hợp có khoảng cách sinh dưới 36 tháng tính từ lần sinh trước

———————————————————————————————————————————————————————————————————————— Trước 1971 71—75 76—80 81—85 86—90 Sau 1990 Chung ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.1 Khu vực sống

Thành thị 57.1% 64.7% 53.7% 65.2% 51.3% 14.3% 54.0% Nông thôn 57.6% 59.8% 61.8% 63.4% 59.9% 49.6% 58.6% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.2 Tuổi kết hôn

≤ 18 tuổi 53.7% 59.0% 50.3% 58.3% 56.3% 51.3% 54.9%

19 - 21 57.5% 61.6% 64.3% 63.9% 60.3% 48.4% 59.0% ≥ 22 tuổi 64.2% 58.8% 66.1% 66.3% 60.2% 46.4% 60.6% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.3 Tuổi khi sinh con

≤ 24 tuổi 67.2% 80.0% 81.7% 89.5% 83.3% 73.9% 77.8%

25 - 29 60.3% 76.0% 71.9% 70.3% 64.5% 47.8% 64.5%

30 - 34 51.4% 57.8% 56.3% 53.5% 45.7% 36.4% 50.0% > 34 tuổi 43.9% 40.9% 35.8% 37.0% 31.3% 22.7% 36.0% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.4 Thứ tự sinh con

Con thứ 2 60.3% 68.7% 70.9% 73.4% 69.0% 55.9% 65.6% Con thứ 3 53.0% 64.5% 69.3% 59.8% 55.0% 42.4% 56.5% Con thứ 4+ 58.3% 54.6% 47.6% 56.1% 51.4% 36.0% 52.2% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.5 Tình trạng sống con trước

Sống 55.9% 59.0% 61.1% 63.1% 59.2% 47.2% 57.5% Đã chết 78.1% 84.6% 61.1% 73.2% 68.8% 61.1% 72.9% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.6 Giới tính con trước

Trai 54.0% 57.9% 60.9% 64.8% 57.8% 46.0% 56.9% Gái 61.4% 62.4% 61.2% 62.3% 60.9% 48.7% 59.5% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.7 Giới tính các con trước

Gái 60.2% 69.4% 68.2% 64.4% 65.2% 51.5% 62.2% Trai 52.7% 62.8% 70.0% 70.2% 61.9% 51.9% 61.1% Gái và trai 58.0% 55.8% 53.1% 59.3% 53.5% 36.1% 53.5% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.8 Sử dụng biện pháp tránh thai trước khi sinh

Đã từng sử dụng 71.4% 79.3% 72.6% 67.9% 61.7% 46.5% 62.4% Chưa bao giờ 46.2% 71.4% 64.7% 57.7% 40.0% 53.2% 54.9% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.9 Trình độ học vấn

≤ Tiểu học 57.3% 56.1% 53.8% 55.7% 50.0% 41.0% 55.0% < Phổ thông cơ sở 69.4% 71.0% 68.9% 66.4% 60.3% 50.0% 61.9% ≥ Phổ thông cơ sở 33.3% 65.7% 64.6% 64.3% 64.7% 43.8% 57.1% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

2.10 Lĩnh vực nghề nghiệp

Nông nghiệp 59.4% 59.6% 62.8% 63.4% 60.3% 51.9% 59.6% Nhà nước 71.2% 81.4% 62.5% 67.8% 56.9% 27.3% 58.5% Dịch vụ tư nhân 55.6% 75.7% 60.0% 62.1% 52.9% 35.5% 58.2% Không LV 51.9% 48.1% 46.8% 53.3% 60.0% 46.9% 50.7% ———————————————————————————————————————————————————————————————————————— Chung 57.6% 60.1% 61.1% 63.5% 59.4% 47.5% 58.2% ————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Nhiều công trình nghiên cứu xác nhận sở thích thiên lệch về giới tính là có ở Việt Nam và

điều đó đã ảnh hưởng đáng kể đến mức sinh Do đó, sở thích muốn có con trai rất có thể cũng tác

động đến khoảng cách sinh Theo J.Haughton và D.Haughton [11] thì ở cùng một khoảng cách so với lần sinh trước, những gia đình chưa có con trai có khả năng sinh con lớn hơn Có nghĩa là việc chưa có con trai có thể làm giảm khoảng cách sinh con của họ Số liệu trong các bảng 1.6; 1.7; 2.6

và 2.7 cũng cho thấy nếu tất cả những đứa con sinh trước hoặc đứa trẻ sinh kề trước là con gái thì

Trang 7

khoảng cánh sinh thường ngắn hơn Tuy nhiên, sự khác biệt đó đã giảm đáng kể trong những năm

90

Các biện pháp tránh thai là phương tiện trực tiếp nhất để hạn chế mức sinh cũng như giãn khoảng cách sinh đẻ Do không có thông tin về quá trình thực hiện kế hoạch hóa gia đình trong toàn bộ thời gian thuộc độ tuổi sinh đẻ của từng phụ nữ, chúng tôi chỉ sử dụng một chỉ báo

để đánh giá mối tương quan giữa việc sử dụng biện pháp tránh thai và khoảng cách sinh con Chỉ báo đó là: thời điểm sử dụng biện pháp tránh thai lần đầu Nếu người mẹ đã từng sử dụng biện pháp tránh thai trước khi sinh thì khoảng cách sinh của đứa trẻ tăng khoảng 7,8 tháng so với trường hợp chưa từng sử dụng Xét theo dòng thời gian, sự chệnh lệch về khoản cách sinh giữa 2 trường hợp này đã tăng từ 4 tháng vào năm 1976-1980 lên 13,5 tháng sau năm 1990 Trong đó, hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tránh thai đã tạo nên sự đột biến với các trường hợp sinh sau năm 1990 (Bảng 1.8) Tỷ lệ sinh con với khoảng cách dưới 36 tháng ở nhóm đã từng sử dụng biện pháp tránh thai cũng có thể thấp hơn khoảng 10 đến 20%

Một biến số luôn được quan tâm trong nghiên cứu nhân khẩu học là trình độ học vấn của người mẹ Điều đáng chú ý là không phải những phụ nữ trình độ học vấn thấp nhất (dưới tiểu học)

là sinh đẻ dày nhất Thậm chí trong một số giai đoạn, nhóm phụ nữ đó lại có khoảng cách sinh con lớn nhất Điều đó không có gì là mâu thuẫn bởi phụ nữ trình độ học vấn dưới tiểu học thường là những người nhiều tuổi, đã từng hoặc đang áp dụng biện pháp tránh thai, hoàn cảnh kinh tế khó khăn Hơn nữa, những phụ nữ trình độ học vấn cao (trên phổ thông trung học) có khoảng cách sinh con rất thưa nhưng do số lượng ít nên không được tách riêng thành một nhóm để đưa vào phân tích

Nếu xét theo lĩnh vực nghề nghiệp hiện nay của người mẹ, khác biệt lớn nhất về khoảng cách sinh con trung bình sau năm 1990 là giữa nhóm người làm nông nghiệp (41,18 tháng) và nhóm làm việc trong các tổ chức của nhà nước (56,94 tháng) Chúng ta cũng nên để ý rằng: nếu sinh đẻ dày (dưới 5 năm) trong khi làm việc ở các cơ quan nhà nước thì bị phạt rất nặng thậm chí

có thể bị kỷ luật, nhóm làm dịch vụ tư nhân có thể mất nhiều cơ hội làm ăn thì ở những phụ nữ nông dân điều đó không đến nỗi quá quan trọng Nông dân thường chỉ bị phạt khi sinh con thứ 3 trở lên

Từ năm 1991 đến nay, những hộ gia đình có mức thu nhập cao có khoảng cách sinh con thưa nhất (55,93 tháng) Điều đáng ngạc nhiên là khoảng cách sinh đẻ dày nhất (39,57 tháng) lại thuộc về những hộ có mức thu nhập ở mức độ trung bình (Bảng 1.11) Nói chung, sự tác động của các biến số về học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập đến khoảng cách sinh con không phải là hoàn toàn độc lập mà có sự can thiệp của một số yếu tố khác Vì vậy, sự tác động đó sẽ có ít nhiều thay

đổi khi các yếu tố trung gian đã được kiểm soát trong phân tích đa biến ở phần tiếp sau

3 Kết quả phân tích đa biến:

Tất cả các biến số trên được đưa vào mô hình hồi quy để có thể kiểm soát và phân tích sự tác động của từng biến số riêng biệt đến biến phụ thuộc là khoảng cách sinh con trung bình Phân tích ở trên cho thấy, khoảng cách sinh con trung bình cũng như các đặc điểm nhân khẩu học nói chung đã có nhiều thay đổi theo thời gian Ngoài ra, chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình ở nước ta cũng có những điều chỉnh Do đó, để tiện cho việc so sánh, chúng tôi sẽ phân tích một số mô hình hồi quy trong các thời điểm khác nhau Mô hình thứ nhất phân tích sự tác động của các biến số đến khoảng cách sinh con trung bình trong toàn bộ thời gian từ năm 1954 đến 1996 Mô hình thứ hai liên quan đến giai đoạn từ 1976 đến 1990 Hai mô hình cuối tương ứng với khoảng thời gian từ sau năm 1990 Trong đó mô hình thứ tư được bổ xung biến độc lập mới là: số tháng nuôi đứa con trước bằng sữa mẹ, và biến này cùng với các biến số độc lập khác đã giải thích khoảng 36% sự biến đổi của khoảng cách sinh trung bình trong những năm 1991-1996 (Bảng 3)

Trang 8

Chúng tôi sẽ không nhắc lại những gì đã mô tả ở phần trên mà chỉ trình bày những vấn đề mới

phát hiện hoặc có sự thay đổi rút ra từ mô hình hồi quy

Nhóm phụ nữ trẻ vẫn nên là nhóm đối tượng chủ yếu trong chính sách vận động sinh đẻ

thưa bởi xét trong điều kiện tương tự nhau, tuổi người mẹ khi sinh con có tác động mạnh nhất đến

khoảng cách sinh Phụ nữ sinh con vào độ tuổi dưới 25 có khoảng cách sinh con ngắn hơn từ 25

đến 28 tháng so với phụ nữ độ tuổi 30-34

Bảng 3: Mô hình hồi quy về khoảng cách sinh trung bình

1954 - 1996 1976 - 1990 1991 - 1996 Khu vực sống

Tuổi kết hôn

Tuổi khi sinh con

Năm sinh con

Thứ tự sinh

Tình trạng sinh lần trước

Giới tính con trước

Sử dụng biện pháp tránh thai trước khi sinh

Thời gian cho con trước bú mẹ

Trình độ học vấn mẹ

Lĩnh vực nghề nghiệp mẹ hiện nay

Mức thu nhập bình quân đầu người

Trang 9

Số trường hợp sinh con thứ 2 trở lên 4511 2238 724 724

Chú thích: * Mức ý nghĩa thống kê 0.05 ** Mức ý nghĩa thống kê 0.01 Không áp dụng

Nuôi con bằng sữa mẹ là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến khoảng cách sinh con tiếp theo Thời gian cho con bú càng dài thì càng kéo dài khoảng cách sinh, ngay cả trong trường hợp không

sử dụng biện pháp tránh thai

Mô hình hồi quy chứng tỏ rằng, so với trường hợp nuôi con bằng sữa mẹ từ 13 đến 18 tháng, khoảng cách sinh tiếp theo có thể tăng 8,6 tháng nếu cho con bú trên 18 tháng và ngược lại giảm 10,5 tháng nếu chỉ cho đứa trẻ bú dưới 1 năm Ngoài ra, nuôi con bằng sữa mẹ còn là tác nhân trung gian của nhiều biến số khác Khi đưa thêm yếu tố này vào mô hình hồi quy, sự tác

động của một số biến số đã thay đổi đáng kể về lượng (khu vực sống, tuổi kết hôn, tình trạng sinh

lần trước, ) hoặc về chiều hướng (trình độ học vấn).Kết quả còn cho thấy, khoảng cách sinh tỷ lệ

nghịch với tuổi kết hôn Điều đó cũng dễ hiểu bởi chúng ta đã so sánh trong nhóm những người phụ nữ có cùng số con và cùng độ tuổi khi sinh đẻ Cũng không nên cho rằng: cần phải khuyến khích kết hôn sớm bởi phụ nữ kết hôn muộn sẽ sinh đẻ muộn hơn và do đó khoảng cách sinh sẽ tăng lên Thật vậy, xét mô hình hồi quy thứ 3, nếu người phụ nữ kết hôn năm 24 tuổi, sinh con thứ

2 năm 32 tuổi thì khoảng cách sinh vẫn lớn hơn so với trường hợp kết hôn năm 20 tuổi và sinh con thứ 2 ở tuổi 26 ( -11.109 - 23.601 > -3.835 - 38.786)

Khoảng cách sinh ở thành thị vốn thưa hơn ở nông thôn rất nhiều và khi chỉ báo về thời gian cho con bú được kiểm soát thì độ chênh lệch giữa hai khu vực đã tăng từ 8,29 lên 15,04 tháng Như vậy, do phụ nữ ở nông thôn có xu hướng cho con bú lâu hơn và do đó, sự chênh lệch về khoảng cách sinh giữa thành thị và nông thôn có phần bị che lấp khi phân tích bằng bảng tương quan

Trái với phân tích bằng bảng tương quan, các trường hợp sinh con thứ 3 và nhất là sinh con thứ 4 trở lên, thường rút ngắn khoảng cách sinh so với lần sinh con thứ hai Phương pháp phân tích bằng bảng còn khuếch đại tác động của tình trạng sống đứa trẻ sinh trước đối với khoảng cách sinh bởi vì dĩ nhiên là những đứa đã chết thường được cho bú ít hơn Thực tế là khi thời gian nuôi con bằng sữa mẹ bằng nhau thì việc đứa trẻ đó còn sống hay đã chết không ảnh hưởng đáng kể đến khoảng cách sinh đứa trẻ tiếp theo

Các mô hình hồi quy đã chứng tỏ ảnh hưởng của giới tính đứa trẻ trước đến khoảng cách sinh đứa trẻ tiếp theo đã suy giảm dần theo thời gian Tuy nhiên các phân tích lại xác nhận tình trạng con trai thường được cho bú mẹ nhiều hơn so với con gái Thật vậy, khi chỉ báo về thời gian

cho con bú được đưa vào mô hình, hệ số tương ứng với tình trạng giới tính con tr ước là trai đã giảm

từ -0.145 xuống -1.072 Điều tương tự cũng có thể thấy trong môi quan hệ giữa khoảng cách sinh con và trình độ học vấn người mẹ

Khi các nhân tố trung gian đã được kiểm soát, tác động của mức thu nhập bình quân đầu

người đối với khoảng cách sinh trở nên sáng tỏ hơn: mức độ sinh đẻ dày nhất đã thuộc về nhóm có

thu nhập thấp Trong khi đó, sự tác động của nghề nghiệp và sử dụng biện pháp tránh thai vẫn

rất lớn và không thấy có sự khác biệt đáng kể so với kết quả thu được qua phương pháp phân tích

bằng bảng tương quan Cũng cần nhắc lại rằng, mối tương quan giữa các biến số về nghề nghiệp

và mức thu nhập với khoảng cách sinh con từ năm 1990 trở về trước trong mô hình hồi quy chỉ

mang tính chất tham khảo bởi sự "bất biến" của chúng theo thời gian chỉ là giả thiết

Tiếp theo là kết quả phân tích đa biến với biến phụ thuộc là khả năng sinh con với khoảng cách dưới 36 tháng trong thời gian từ năm 1991 đến năm 1996 (Bảng 4) Trong đó mô hình B được

bổ xung thêm chỉ báo về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ Các hệ số từ mô hình giúp ta ước lượng

sự biến đổi của tỷ số giữa tỷ lệ khoảng cách sinh d ưới 36 tháng với tỷ lệ khoảng cách sinh 36 tháng

2,07 lần nếu là lần sinh con thứ tư trở lên Tương tự, nếu đứa trẻ sinh trước đó chỉ được cho bú mẹ dưới 12 tháng thì tỷ số trên có thể tăng tới 6 lần so với trường hợp cho bú trên 18 tháng

Trang 10

Bảng 4: Kết quả phân tích đa biến về khả năng sinh con với khoảng cách dưới 36 tháng

trong thời gian từ năm 1991 đến năm 1996

Khu vực sống

Tuổi kết hôn

Tuổi khi sinh con

Thứ tự sinh

Tình trạng sinh lần trước

Giới tính con trước

Sử dụng biện pháp tránh thai trước khi

sinh

Thời gian cho con trước bú mẹ

Trình độ học vấn mẹ

Lĩnh vực nghề nghiệp mẹ hiện nay

Mức thu nhập bình quân đầu người

Chú thích: * Mức ý nghĩa thống kê 0.05 ** Mức ý nghĩa thống kê 0.01 Không áp dụng

Kết quả phân tích từ bảng 4 còn cho thấy, việc sinh con khi còn ít tuổi vẫn là một trong

những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến gia tăng trường hợp khoảng cách sinh không đúng quy định

Việc phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ sinh đẻ thưa hay dày còn phụ thuộc đáng kể vào một số các yếu tố

khác như: sử dụng biện pháp tránh thai, nghề nghiệp, mức thu nhập bình quân đầu người, Điều

đáng chú ý là chưa thể khẳng định tác động độc lập của trình độ học vấn đối với khả năng sinh đẻ

dày do sự tác động đó không còn ý nghĩa thống kê khi các biến trung gian đã được kiểm soát

4 Kết luận

Ngày đăng: 19/05/2021, 21:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm