- Xây dựng cơ sở khoa học để xác định thể loại giai thoại; - Đưa ra một khái niệm giai thoại bao hàm các đặc trưng hình thức, nội dung cũng như các tiểu loại của giai thoại hiện có trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN THƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM GIAI THOẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN THƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM GIAI THOẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS HỒ QUỐC HÙNG
2 TS TRẦN MINH HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi
Các tài liệu, số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Người nghiên cứu
Nguyễn Văn Thương
Trang 4Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIAI THOẠI VÀ TƯ LIỆU GIAI THOẠI VIỆT NAM 5
1.1 Tình hình nghiên cứu giai thoại 5
1.1.1 Giai thoại - thuật ngữ và quan niệm 5
1.1.2 Đặc điểm thể loại của giai thoại 19
1.1.3 Một số khía cạnh thi pháp thể loại của giai thoại 23
1.1.4 Phân định ranh giới và vấn đề chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và các thể loại của tự sự dân gian 28
1.1.5 Phân loại giai thoại 32
1.2 Tình hình tư liệu, đánh giá và xử lý tư liệu giai thoại Việt Nam 40
1.2.1 Tình hình tư liệu giai thoại Việt Nam 40
1.2.2 Đánh giá tư liệu và vấn đề xử lý tư liệu giai thoại Việt Nam 52
Tiểu kết Chương 1 57
Chương 2 ĐỊNH VỊ THỂ LOẠI GIAI THOẠI VIỆT NAM 58
2.1 Các tiêu chí xác định giai thoại Việt Nam 58
2.1.1 Đề tài của giai thoại 59
2.1.2 Nhân vật của giai thoại 66
2.1.3 Cảm hứng của giai thoại 68
2.2 Phân loại giai thoại Việt Nam 71
2.2.1 Phân loại giai thoại Việt Nam theo tiêu chí đề tài 71
2.2.2 Phân loại giai thoại Việt Nam theo tiêu chí nhân vật 73
2.3 Đặc trưng thể loại và khái niệm giai thoại Việt Nam 76
Trang 5Tiểu kết chương 2 99
Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN ĐẶC TRƯNG THI PHÁP THỂ LOẠI CỦA GIAI THOẠI VIỆT NAM 100
3.1 Kết cấu của giai thoại 100
3.1.1 Kết cấu của giai thoại văn học 101
3.1.2 Kết cấu của giai thoại văn hóa dân gian 115
3.2 Nhân vật của giai thoại 124
3.2.1 Nhân vật của giai thoại văn học 127
3.2.2 Nhân vật của giai thoại văn hóa dân gian 135
Tiểu kết chương 3 147
Chương 4 MỐI QUAN HỆ GIỮA GIAI THOẠI VIỆT NAM VÀ CÁC THỂ LOẠI TRONG TỰ SỰ DÂN GIAN, LỊCH SỬ, VĂN HỌC 148
4.1 Mối quan hệ giữa giai thoại và các thể loại trong tự sự dân gian 149
4.1.1 Mối quan hệ giữa giai thoại và truyền thuyết 149
4.1.2 Mối quan hệ giữa giai thoại và truyện cười 162
4.1.3 Mối quan hệ giữa giai thoại và cổ tích 169
4.2 Mối quan hệ giữa giai thoại và lịch sử 172
4.2.1 Lịch sử là cội nguồn sản sinh giai thoại 173
4.2.2 Giai thoại bổ khuyết cho lịch sử 174
4.3 Mối quan hệ giữa giai thoại và văn học thành văn 180
4.3.1 Sự tương tác giữa tính dân gian và tính bác học trong giai thoại 180
4.3.2 Lý giải sự tương tác giữa tính dân gian và tính bác học trong giai thoại 184
Tiểu kết chương 4 187
KẾT LUẬN 188
TÀI LIỆU THAM KHẢO 191 PHỤ LỤC
Trang 6Trong luận án này, chúng tôi dùng quy ước viết tắt đối với một số từ ngữ dùng nhiều lần như sau:
Trang 7Bảng 1.1 So sánh truyện cười và truyện trạng của Trần Thanh Mại 28
Bảng 1.2 So sánh giai thoại lịch sử và truyền thuyết lịch sử 29
Bảng 1.3 Tình hình giới thiệu và nghiên cứu giai thoại Viêt Nam 52
Bảng 2.1 Đề tài trong giai thoại Việt Nam 59
Bảng 2.2 Kết quả thống kê các hoạt động chủ yếu trong giai thoại Việt Nam 60
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát cảm hứng trong giai thoại Việt Nam 68
Bảng 2.4 Tính chất sự việc trong giai thoại Việt Nam 75
Sơ đồ 2.5 Khuynh hướng lịch sử hóa trong sáng tạo giai thoại Việt Nam 83
Sơ đồ 2.6 Khuynh hướng địa phương hóa trong sáng tạo giai thoại Việt Nam 83
Bảng 3.1 Khung kết cấu của giai thoại Việt Nam 101
Bảng 3.2 Mô hình kết cấu của giai thoại thách đố văn chương 102
Bảng 3.3 Cấu tạo của motif thách đố văn chương 102
Bảng 3.4 Mô hình kết cấu của nhóm giai thoại ứng tác văn chương 109
Bảng 3.5 Cấu tạo của motif ứng tác văn chương 110
Bảng 3.6 Hệ thống truyện và nhân vật của giai thoại văn hóa dân gian 115
Bảng 3.7 Mô hình kết cấu của nhóm giai thoại văn nghệ dân gian 115
Bảng 3.8 Cấu tạo của motif thách đố về hò hát của nhóm giai thoại văn nghệ dân gian 116
Bảng 3.9 Thống kê các kiểu nhân vật trong giai thoại Việt Nam 125
Bảng 4.1 Công thức sinh thức sinh nở thẩn kỳ trong tự sự dân gian 153
Bảng 4.2 Nhân vật chuyển hóa từ giai thoại sang truyền thuyết 158
Bảng 4.3 So sánh giữa giai thoại và truyện cười 163
Bảng 4.4 So sánh tư duy phản ánh nhân vật trong giai thoại và sử quan phương 175
Trang 8Sơ đồ 1.1 Phân loại giai thoại Việt Nam của tác giả Kiều Thu Hoạch 33
Sơ đồ 1.2 Giai thoại Việt Nam phân loại theo tiêu chí thuộc văn học và không thuộc văn học 35
Sơ đồ 1.3 Giai thoại Việt Nam phân loại theo tiêu chí đề tài 37
Sơ đồ 2.1 Giai thoại Việt Nam phân loại theo tiêu chí đề tài (ở hai cấp độ) 72
Sơ đồ 2.2 Sự trùng lặp của giai thoại văn học khi phân loại theo tiêu chí nhân vật 72
Sơ đồ 2.3 Giai thoại văn học Việt Nam phân loại theo tiêu chí nhân vật 74
Sở đồ 2.4 Khuynh hướng dân tộc hóa trong sáng tạo giai thoại Việt Nam 82
Sơ đồ 3.1 Mô hình tình huống đối đáp liên hoàn 117
Sơ đồ 4.1 Motif sinh nở thần kỳ trong truyền thuyết anh hùng chiến trận 152
Sơ đồ 4.2 Motif sinh nở thần kỳ trong truyền thuyết anh hùng văn hóa 152
Sơ đồ 4.3 Motif sinh nở thần kỳ trong giai thoại 152
Sơ đồ 4.4 Sự chuyển hóa hình thức câu đố từ cổ tích sang giai thoại 171
Sơ đồ 4.5 Quy luật chuyển hóa thể loại từ cổ tích sang giai thoại 172
Sơ đồ 4.6 Sự tác động của sử quan phương lên giai thoại 179
Sơ đồ 4.7 Sự tác động của giai thoại lên sử quan phương 180
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu văn học dân gian dưới góc độ thể loại từ lâu là nhiệm vụ quan trọng của folklore học Điều này không chỉ có nghĩa trong việc xác định bản chất, đặc trưng của từng thể loại mà còn cung cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện trong sự đối sánh mang tính quy luật vận động với các thể loại tương cận trong cùng một loại hình,
hệ thống Khuynh hướng tiếp cận theo hướng thể loại đã giúp các nhà nghiên cứu bóc tách, chỉ ra được những cấu trúc đặc trưng cơ bản của các thể loại trong tự sự dân gian
ở Việt Nam như truyền thuyết, cổ tích, sử thi, truyện cười, ngụ ngôn, Những thành tựu nghiên cứu lý thuyết thể loại vì thế giữ một vai trò quan trọng hình thành khung tham chiếu hữu ích không chỉ gói gọn phạm vi folklore mà còn có những tác động nhất định đến những ngành nghiên cứu tương cận với nó trong mối quan hệ liên ngành Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh, ở Việt Nam, việc sưu tầm, giới thiệu và nghiên cứu về giai thoại đã trải qua hơn một thế kỷ Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một
sự thật khách quan là các công trình tuyển chọn, giới thiệu về giai thoại Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú bao nhiêu, thì lý thuyết nghiên cứu về thể loại này vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cho các nhà nghiên cứu
Và vì vậy, những nhận xét, đánh giá về thể loại này mang tính gợi mở cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về sau; chẳng hạn như: giai thoại là thể loại thuộc văn học dân gian hay văn học viết; quan hệ giữa chúng thế nào; đặc điểm và bản chất thể loại của giai thoại là gì, vẫn luôn là vấn đề đáng quan tâm Khoảng trống lý luận
đó làm nảy sinh nhiều câu hỏi lý thú về thể loại giai thoại, đòi hỏi những người nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu nhằm xác định sự hiện tồn của giai thoại trong hệ thống tự sự dân gian Việt Nam với tư cách là một thể loại Điều này mở ra những gợi ý cho quá trình nghiên cứu giai thoại ở đề tài chúng tôi thực hiện Mặt khác, việc nghiên cứu giai thoại
có thể giúp ích cho sự tham khảo, học tập cho sinh viên Đại học và Sau đại học thuộc chuyên ngành Ngữ văn Đó là ý nghĩa thực tiễn thiết thực của đề tài
Xuất phát từ những yêu cầu thiết yếu về mặt lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi
đã mạnh dạn chọn đề tài Đặc điểm giai thoại Việt Nam làm đề tài nghiên cứu của luận
án Từ góc nhìn thực tế giai thoại này có thể xem lại những tương đồng, dị biệt của các hướng tiếp cận thể loại trong và ngoài nước để hiểu sâu hơn lý thuyết thể loại Đấy là định hướng khoa học của đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
Như vậy, những vẫn đề mà luận án cần thực hiện là:
Trang 10- Xây dựng cơ sở khoa học để xác định thể loại giai thoại;
- Đưa ra một khái niệm giai thoại bao hàm các đặc trưng hình thức, nội dung cũng như các tiểu loại của giai thoại (hiện có trong kho tàng giai thoại Việt Nam);
- Định vị giai thoại trong hệ thống tự sự dân gian;
- Đi sâu nghiên cứu thêm hai kiểu nhân vật của giai thoại Việt Nam mà các nhà nghiên cứu chưa đề cập là: nhân vật nghệ nhân dân gian và nhân vật nhà nho tài tử;
- Khảo sát kết cấu của giai thoại theo hướng nghiên cứu motif, điều mà các nhà nghiên cứu đi trước thể hiện chưa rõ
3 Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích trên, có thể xác định khách thể nghiên cứu chính là hệ thống giai thoại người Việt qua các thời đại Nhưng đối tượng chính của nhiệm vụ nghiên cứu là tập trung vào đặc trưng và bản chất thể loại giai thoại
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi cố gắng đạt được những nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:
- Dựa vào thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án hướng tới phân loại giai thoại;
- Xây dựng hệ thống tiêu chí nhằm xác định thể loại giai thoại: giai thoại là một
thể loại nằm trong tự sự dân gian;
- Chỉ ra các đặc trưng thể loại của giai thoại;
- Phân tích mô hình kết cấu, các tình tiết chính tạo nên cốt truyện và hệ thống nhân vật của các tiểu loại cơ bản của giai thoại
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung vào tìm hiểu hệ thống các tác phẩm tự sự dân gian được xem là giai thoại người Việt trên cơ sở nguồn tư liệu bằng văn bản từ trước đến nay
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào 3 tiểu loại của giai thoại là: giai thoại văn học, giai thoại văn hóa dân gian và giai thoại lịch sử đã được các nhà nghiên cứu trước đây khảo cứu Theo đó, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề sau đây: Đưa ra bộ tiêu chí xác định thể loại giai thoại; đặc trưng và bản chất thể loại giai thoại; chỉ ra được đặc trưng về kết cấu và các kiểu loại nhân vật chính yếu của giai thoại Các công trình giai thoại chủ yếu mà luận án khảo sát gồm:
+ Giai thoại văn học Việt Nam [65] của nhóm Trần Thanh Mại, Hoàng Ngọc
Phách, Kiều Thu Hoạch;
Trang 11+ Giai thoại văn học Việt Nam (Tổng tập Văn học dân gian Việt Nam, Tập 11)
[67] của Kiều Thu Hoạch;
+ Kho tàng giai thoại Việt Nam (2 tập) [89] và Giai thoại folklore Việt Nam [91]
của Vũ Ngọc Khánh;
+ Giai thoại văn hoá dân gian người Việt [114] của Triều Nguyên;
+ Giai thoại làng Nho [34] của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc;
+ Giai thoại Nguyễn Công Trứ [58] của Phan Thư Hiền
6 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề có liên quan đến luận án, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp loại hình lịch sử
Nghiên cứu sự vận động của loại hình trong tiến trình của lịch sử Nó thay đổi như thế nào trong quá trình ấy Phương pháp này giúp cho việc lý giải một số đặc trưng về nội dung và hình thức có tính hỗn dung của giai thoại
6.2 Phương pháp thống kê, mô tả
Căn cứ vào số liệu thống kê để xác lập sự tồn tại của các tình tiết tiêu biểu trong
hệ thống giai thoại cũng như từng tiểu loại của nó, luận án sẽ mô tả kết cấu, đặc điểm nội dung của từng tiểu loại cũng như từng mảng, nhóm truyện tiêu biểu của giai thoại
6.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Đây là phương pháp nghiên cứu rất quan trọng, giúp luận án tiếp cận, lý giải một
số vấn đề còn nhập nhằng về ranh giới thể loại và cơ sở hình thành kiểu nhân vật giai thoại Chẳng hạn, việc hình thành các kiểu nhân vật tiêu biểu của giai thoại (nhân vật trí thức khoa bảng, nhân vật ngông, nhân vật nghệ nhân dân gian, nhân vật đạo đức,…) Theo đó, các bộ môn liên ngành mà chúng tôi vận dụng để giải quyết các vấn
đề đặt ra trong luận án là: lịch sử, văn hóa học, triết học,…
7 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài sẽ có những đóng góp cụ thể như sau:
- Xây dựng khung tiêu chí nhằm xác định thể loại giai thoại;
- Hệ thống hóa và phân loại giai thoại;
- Xác định đặc trưng và bản chất thể loại giai thoại;
- Chỉ ra mối quan hệ của giai thoại với tự sự dân gian cũng như với văn học và lịch sử
Trang 128 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu giai thoại và tư liệu giai thoại Việt Nam
Chương 2: Định vị thể loại giai thoại Việt Nam
Chương 3: Một số phương diện đặc trưng thi pháp thể loại của giai thoại
Việt Nam
Chương 4: Mối quan hệ giữa giai thoại Việt Nam với các thể loại trong tự sự dân gian, lịch sử và văn học
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIAI
THOẠI VÀ TƯ LIỆU GIAI THOẠI VIỆT NAM
Trong giới nghiên cứu folklore thế giới, giai thoại từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu Ở những nước có nền folklore phát triển như Phần Lan, Nga, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, giai thoại đều được khảo sát sâu và đạt được nhiều thành tựu đáng tham khảo Ở nước ta, giai thoại là một thể loại được thừa nhận khá muộn màng trong giới nghiên cứu folklore Mặc dù đã có nhiều công trình tuyển chọn, nghiên cứu nhưng đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao từ phía các nhà nghiên cứu ở một số đặc điểm cơ bản của thể loại Như vậy, trên thực tế, các vấn đề về lý thuyết thể loại ở phương Tây mặt nào đó có thể chưa hẳn phù hợp với thực tế giai thoại ở Việt Nam Bởi vậy, việc khảo sát lại toàn bộ vấn đề trên phải bắt đầu từ các quan niệm và đánh giá như: định nghĩa, phân loại, các bình diện thi pháp, Ở đây, chúng tôi bước đầu điểm qua một số ý kiến quan trọng từ các công trình đó Những đánh giá dưới đây của chúng tôi về mặt thể loại được xem như tiền giả định, nhằm sàng lọc đối tượng khảo sát hơn là định danh thể loại cho các tư liệu
1.1 Tình hình nghiên cứu giai thoại
1.1.1 Giai thoại - thuật ngữ và quan niệm
Trước khi đi vào vấn đề quan niệm, xin điểm qua vài nét về nguồn gốc thuật ngữ giai thoại ở châu Âu cũng như tình hình sưu tầm, giới thiệu giai thoại đã diễn ra như thế nào (qua một số quốc gia tiêu biểu) Ở phương Tây, về nguồn gốc thuật ngữ
“Anecdote”, trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng “Anekdotos”, gốc Hy Lạp và tiếng
“Anecdota” (có cách viết khác là “Anekdota”), gốc La tinh, có nghĩa gốc là không/
chưa công bố Theo tác giả Tamarchenko (người Nga) trong bài viết Giai thoại là gì?,
thuật ngữ giai thoại “có gốc gác từ cuốn “Mật sử” của Procopius Caesarensis (một tác phẩm còn đang có nhiều tranh cãi, được viết vào những năm 550)” [132]
Tác giả Lionel Gossman – nhà nghiên cứu người Mỹ (gốc Scotland) trong bài
viết Giai thoại và lịch sử (Anecdote and history) [179] nói rõ hơn thời điểm xuất hiện
của thuật ngữ giai thoại ở Châu Âu Theo đó, thuật ngữ “Anecdota” (với ý nghĩa cốt lõi là “chưa được xuất bản”) thực ra đã xuất hiện từ thời cổ đại qua các tác phẩm của Ciero, Diodorus Siculus – những sử gia người Hy Lạp Tuy xuất hiện sớm như vậy nhưng phải đến năm 1623, thuật ngữ này mới chính thức được sử dụng trong một văn
bản của bộ Suda, một bách khoa toàn thư của nhà thờ Vatican, nước Ý Trong những
năm từ 1697 đến 1713, Ludovico Mutatori – một học giả Khai sáng người Ý đã xuất
bản 2 cuốn sách có tiêu đề giai thoại Đó là Anecdota Latina (Giai thoại Latina) và
Trang 14Anecdota Graeca (Giai thoại Graeca)
Ở Pháp, thuật ngữ giai thoại được sử dụng chính thức vào năm 1650 Kèm theo
đó, các sách dưới nhan đề giai thoại (chủ yếu là giai thoại lịch sử) liên tiếp được xuất
bản Có thể dẫn ra như: Anecdotes des Républiques (Giai thoại của các nước Cộng hòa) (1771), Anecdotes Arabes et Musulmanes (Giai thoại người Ả Rập và người Hồi giáo) (1772), Anecdotes Espagnoles et Portugaises depuis l’origine de la nation jusqu’à nos jours (Giai thoại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từ thời lập quốc cho đến ngày nay) (1773), Anecdotes Américaines (Giai thoại Hoa Kỳ) (1776), Cũng theo
Gossman, ở Hoa Kỳ, trong khoảng thời gian từ 1750 đến 1830, danh mục của thư viện Firestone, Đại học Princeton liệt kê hơn 200 đầu sách được xuất bản với các tiêu đề có
liên quan đến giai thoại Ví dụ, Anecdotes Africaines (Giai thoại Châu Phi), Anecdotes Américaines (Giai thoại Hoa Kỳ),
Còn ở nước Anh, thuật ngữ này xuất hiện muộn hơn Một trong những cuốn sách
giới thiệu giai thoại đầu tiên được xuất bản là quyển Biographical and literary anecdotes of William Bowyer (Tiểu sử và giai thoại văn học của William Bowyer) [183] của John Nichols, xuất bản lần đầu vào năm 1782, cả thảy có 6 tập Đến năm
1812 trở đi, sách này được tái bản lại với các ấn bản khác nhau (7 tập, 9 tập) với tên
gọi khác là Literary anecdotes of the eighteenth century (Giai thoại văn học của thế kỷ XVIII) [184] Vào năm 1821, một quyển sách khác với tiêu đề giai thoại cũng đã được xuất bản, đó là cuốn The Percy anecdotes: Original and select (Giai thoại Percy: Nguyên bản và chọn lọc) [185] (các ấn bản tiếp theo xuất bản vào các năm 1830, 1868,
1869) Các tập sách được phát hành thành 44 phần hằng tháng, do Sholto và Reuben
Percy sưu tầm, tập hợp những giai thoại đã được đăng tải trên thờ báo The Star trong
nhiều năm
Quyển sách trên cũng được phát hành ở Mỹ với những ấn bản khác Ví dụ, The Percy anecdotes, revised edition: To which is added, a valuable collection of American anecdotes, original and select (Giai thoại Percy, ấn bản sửa đổi: Có bổ sung, một bộ sưu tập có giá trị của các giai thoại Hoa Kỳ, nguyên bản và chọn lọc) (New York: Harper & Brothers, 1838) [186]; The Percy anecdotes: To which is added
a valuable collection of American anecdotes, original and select (Giai thoại Percy: Có
bổ sung thêm một bộ sưu tập có giá trị về các giai thoại Hoa Kỳ, nguyên bản và chọn lọc) (New York: Harper & Brothers, 1845); ) [187]
Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua nguồn gốc của thuật ngữ giai thoại cũng như vấn
đề giới thiệu tác phẩm giai thoại ở một số nước châu Âu, Hoa Kỳ Đến đây, luận án sẽ
Trang 15điểm qua vài nét về quan niệm giai thoại trong một số từ điển cũng như một số nhà nghiên cứu trên thế giới Nhìn chung, hầu hết các tác giả đều ít nhiều nhấn mạnh đến ý nghĩa gốc của giai thoại – tính chất “chưa được công bố” của nó Theo Tamarchenko,
Từ điển tiếng Anh (1775) của Samuel Johnson từng giải thích: “Giai thoại là câu chuyện chưa được công bố”, có nghĩa, đó là chuyện riêng tư của nhân vật quan phương” [132] Còn Từ điển Oxford cũng định nghĩa giai thoại là: “Những câu chuyện hoặc chi tiết lịch sử bí mật, riêng tư hoặc cho đến nay chưa được công bố cũng như câu chuyện về một sự việc tách rời, hoặc về một sự kiện đơn lẻ, được xem là thú vị hoặc nổi bật” (Dẫn theo Gossman, “Giai thoại và lịch sử”, [179, tr.148])
Tác giả Nicolaisen – một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Đức trong bài
viết Giai thoại (Anecdote) ngoài việc nhấn mạnh đến nét nghĩa “chưa công bố”,
“không được nói ra”, còn chỉ ra tính chất “sự cố có tính đại diện cho cá nhân hoặc cộng đồng” của giai thoại Tác giả viết: “Giai thoại là những truyện kể tập trung vào các sự cố có tính đại diện cho cá nhân hoặc cộng đồng được nêu đích danh” Do từ nguyên của thuật ngữ này đã ám chỉ nghĩa “những chuyện chưa được công bố” (tiếng
La tinh Anecdota) và cũng có nghĩa “không được nói ra” (mượn từ khái niệm Anekdotos của Hy Lạp) nên giai thoại có mối quan hệ gần với truyền thống truyền miệng” [107] Còn tác giả Lionel Gossman trong bài viết Giai thoại và lịch sử (Anecdote and history), ở mục IV Thời điểm được sử dụng của giai thoại, đã chỉ ra hai nét nghĩa quan trọng của giai loại là: 1 Bất kỳ tác phẩm nào, thuộc thể loại nào chưa được xuất bản và 2 Giai thoại là “lịch sử bí mật” (hay mật sử) [179]
Như vậy, quan niệm về giai thoại của các nhà nghiên cứu ở Châu Âu nổi lên hai
điểm đáng chú ý: 1 Giai thoại là những câu chuyện chưa được công bố; 2 Giai thoại
là lịch sử bí mật Dù xuất hiện từ khá sớm trong văn hóa châu Âu, nhưng không phải
ngay từ lúc đầu, giai thoại đã được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Bởi lẽ, giai thoại có thực sự là một thể loại hay không vẫn còn là một câu hỏi lớn vào thời điểm xuất hiện của nó Ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, giai thoại chủ yếu được nhìn nhận ở khía cạnh văn học và lịch sử Một trong những luận án đầu tiên ở châu Âu trực
tiếp bàn về giai thoại là công trình A dissertation on Anecdotes (Luận văn về giai thoại, 1793) [172] của Isaac D’Israeli – một tác giả người Anh (gốc Do Thái) “Trong
đó, ông thể hiện sự quan tâm của mình đối với lịch sử giai thoại Ông viết về nguồn gốc và bản chất của giai thoại và cho rằng chúng không chỉ là một phần thú vị của văn học mà còn cung cấp một số sự thật nhất định về con người và thời đại của họ
“Những giai thoại – ông ấy viết – là những phần dễ hiểu nhất của lịch sử” (Dẫn lại từ
Trang 16bài giới thiệu “Isaac D’Israeli's Literary Works” (Tác phẩm văn học của Isaac D’Israeli), The Victorian Web, http://www.victorianweb.org/, [171]) Như vậy, từ cuối thế kỷ XVIII, giai thoại đã được chú ý ở góc độ văn học và lịch sử Và chính những gợi ý của tác giả trong công trình này đã có ít nhiều tác động đến hướng nghiên cứu giai thoại ở các giai đoạn về sau
Khuynh hướng thứ hai xác lập sự tồn tại của thể loại giai thoại ở châu Âu là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu folklore Ở khuynh hướng này, giai thoại được xem
là một thể loại của tự sự dân gian (hoặc là một tiểu loại của cổ tích) qua quan niệm của
các nhà nghiên cứu nổi tiếng như Aarne (The types of the folklore: A classitification and bibliography, Các loại truyện dân gian: Phân loại và thư mục, 1910) [169]; V Propp (Folklore và thực tại – 1963) [44]; Guxev (Mỹ học folkore, 1967) [51];
Khuynh hướng thứ ba trong nghiên cứu về giai thoại là khuynh hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa giai thoại và lịch sử của trường phái Chủ nghĩa Lịch sử Mới Trường phái này xuất phát từ nước Pháp, sau đó lan tỏa sang các nước châu Âu cũng như Hoa Kỳ Theo Lionel Gossman (“Giai thoại và lịch sử” [179]), ở Đức, từ giữa thế
kỷ XIX, đã có hàng loạt những công trình bàn về mối quan hệ giữa giai thoại và lịch
sử Tiêu biểu có thể kể ra là: Lý thuyết giai thoại Đức (in trong Câu chuyện ngắn, hình thức và sự phát triển của chúng, Klaus Doderer, 1953); Giai thoại – phản giai thoại:
Về sự thay đổi của một hình thức văn học hiện nay (Water Ernst Schäfer, 1977); Giai thoại: Lý thuyết, phân tích, biện chứng (Rudolf Schäfer, 1982); Giai thoại (Heinz Grothe, 1984); Giai thoại – câu chuyện khác (Volker Weber, 1993); Kể chuyện giai thoại trong thời đại Khai sáng: Về sự thay đổi cấu trúc và chức năng thể loại trong sử học, báo chí và văn học thế kỷ XVIII (Sonja Hilzinger, 1997),
Đến những năm 80 thế kỷ trước, trường phái này có những tác động đến giới nghiên cứu Hoa Kỳ, trong đó có thể kể ra một số tác giả tiêu biểu như Stephen Greenblatt, Joel Fineman, April London, Jane Gallop, Một trong những bài viết tiêu biểu và quan trọng nhất, góp phần đặt nền móng cho lý thuyết về giai thoại của Chủ
nghĩa Lịch sử Mới là bài viết The history of the Anecdote: Fiction and fiction (Lịch sử của giai thoại: Hư cấu và hư cấu, in trong The New Historicism, 1989) [176] của tác
giả Joel Fineman
Quan điểm cốt lõi của trường phái Chủ nghĩa Lịch sử Mới là các tác giả thừa nhận và tập trung sự chú ý vào yếu tố lịch sử của giai thoại (sự kiện, nhân vật, thời đại, ) Theo đó, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vào tính chất ngẫu nhiên của tình
huống: “Các giai thoại sau đó là một trong những sản phẩm chính của công nghệ đại
Trang 17diện cho một nền văn hóa, trung gian giữa sự liên tiếp không phân biệt của các khoảnh khắc địa phương và một chiến lược lớn hơn mà họ chỉ có thể thực hiện Chúng (tức các giai thoại – chúng tôi nhấn mạnh) bị cuốn theo vòng xoáy của kinh nghiệm và được tạo ra một số hình dạng, một hình dạng mà tạm thời vẫn đánh giá đó là ngẫu nhiên – nếu không, chúng tôi sẽ đặt cho chúng một cái tên lớn hơn, hay hơn của lịch
sử – nhưng cũng chỉ để chúng có thể được kể lại mà thôi” (Những điều kỳ diệu,
Stephen Greenblatt, 1991, tr.3) (Dẫn theo Paul Fleming, “The perfect story: Anecdote and exemplarity in Linnaeus and Blumenberg”, Câu chuyện hoàn hảo: Giai thoại và sự
mẫu mực ở Linnaeus và Blumenberg, [177])
Ngoài hai hướng nghiên cứu giai thoại trong mối quan hệ với văn học dân gian
và lịch sử nói trên thì cũng có hướng nghiên cứu khác Đó là đặt giai thoại trong mối quan hệ với văn học viết và văn hóa học Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu mối quan hệ
giữa giai thoại và văn học viết là tác giả Richard Coe (Úc) với bài viết The anecdote and the novel: A brief inquiry into the origins of Stendhal’s narrative technique (Giai thoại và tiểu thuyết: Một nghiên cứu ngắn gọn về nguồn gốc nghệ thuật tự sự của Stendhal, 1985) [170] Các nhà nghiên cứu phương Tây quan niệm giai thoại như là
chất liệu để các nhà văn có thể dựa vào đó mà sáng tác nên những tác phẩm văn học
như tiểu thuyết, truyện ngắn, tự truyện, Tiêu biểu cho khuynh hướng này là cuốn Lý thuyết giai thoại (Anecdotal theory, Duke University Press, 2002) [178] của Jane
Gallop Đây là một tác phẩm độc đáo, được viết theo lối tự truyện, trong đó Gallop (một nhà nghiên cứu theo trường phái nữ quyền của Hoa Kỳ) kể lại các câu chuyện của đời mình Bà soi chiếu những câu chuyện đó bằng lý thuyết phân tâm học của Freud, Lacan và từ đó khái quát nên lý thuyết về giai thoại Gần đây, cũng xuất hiện một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ, mang tính chất liên ngành về giai thoại Đó
là công trình The use of the anecdote in the critical study of aboriginal literature (2009) [182] (Vấn đề sử dụng giai thoại trong nghiên cứu phê bình văn học thổ dân)
của tác giả Robyn Moore Trong công trình này, tác giả đề xuất áp dụng một số lý thuyết như bối cảnh, văn hóa học, để có thể tiếp cận và lý giải văn học thổ dân thông qua thể loại giai thoại được lưu truyền trong cộng đồng của người bản địa
Trên đây, chúng tôi vừa điểm qua quan niệm, tư liệu và một số hướng nghiên cứu tiêu biểu về giai thoại ở một số nước trên thế giới Sau đây, luận án xin điểm qua vài nét sơ lược về quan niệm giai thoại cũng như tình hình nghiên cứu giai thoại ở một số nước phương Đông, tiêu biểu là Trung Quốc và Việt Nam Ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại thường được hiểu theo nghĩa chiết tự Giai có nghĩa là đẹp, thoại là câu
Trang 18chuyện Như vậy, giai thoại hiểu theo nghĩa chung nhất là những câu chuyện đẹp, thú
vị Thuật ngữ giai thoại đã được sử dụng khá lâu Theo tư liệu của PGS Vũ Ngọc Khánh, từ thời Đường – Tống, thuật ngữ này đã được sử dụng để đặt tên cho những quyển sách tập hợp những câu chuyện xoay quanh các văn nhân, thi sĩ dưới các tiêu đề văn thoại, thi thoại, nhưng chưa thấy nêu vấn đề lý thuyết thể loại Ở Việt Nam, từ thời phong kiến, thuật ngữ giai thoại mặc dù chưa được sử dụng một cách chính thức nhưng nếu căn cứ vào tính chất bên lề, phi chính thống, tính chất chuyện vặt của nó,
thì có thể xem một số truyện trong các sách như: Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề), Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh), Tang thương ngẫu lục (Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ), cũng đã mang dáng dấp của những câu chuyện giai thoại Các sách Truyện đời xưa (1866), Chuyện khôi hài (1882) của học giả Trương Vĩnh Ký đã ghi một số văn bản kể có tính chất giai thoại (văn học) như: Răng cắn lưỡi, Học trò sửa liễn cửa ngõ phủ ông hoàng, Câu đối có chí khí,
Theo tư liệu của PGS Vũ Ngọc Khánh (nêu trong phần Tiểu luận Kho tàng giai thoại Việt Nam và Giai thoại folklore Việt Nam), thì trong 45 năm đầu của thế kỷ
trước, tình hình sưu tầm, giới thiệu giai thoại chỉ phát triển khi chữ quốc ngữ thịnh
hành, vào thập niên ba mươi trở đi Tác giả viết: “Rải rác trên những cuốn hợp tuyển
văn học, đặc biệt là cuốn Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên, in và tái bản những
năm đầu của thập niên ba mươi, ghi chép được nhiều chuyện thú vị trong đối đáp văn chương nhưng cũng không dùng tiêu đề giai thoại ( ) Vào khoảng từ 1940 trở đi,
chính thức được mang tên là giai thoại là cuốn Việt sử giai thoại, gồm những tiểu
luận (có cả phần tường thuật và khảo cứu) và một số hiện tượng (hay sự kiện) lịch sử đặc biệt của nước nhà hồi đầu thế kỷ XIX Cùng lúc đó, có những cuốn sách thuật lại những mẩu chuyện cũ, có tính cách giai thoại như tập san viết riêng để tưởng nhớ Tản
Đà, hoặc như tập Người xưa (Việt Thường), song vẫn không thấy quyển nào mang tên
là giai thoại” [91, tr.13 – 14]
Qua ý kiến trên của PGS Vũ Ngọc Khánh, có thể thấy các vấn đề sau: 1 Thuật ngữ giai thoại được dùng rất hạn chế ở nửa đầu thế kỷ trước, mặc dù, về tính chất, những quyển sách giới thiệu có thể đã tập hợp những mẩu chuyện là giai thoại; 2 Chỉ
có công trình Việt sử giai thoại của Đào Trinh Nhất là sử dụng giai thoại với tư cách
một thuật ngữ chính thức Tuy nhiên, trong phần tựa quyển sách này, tác giả Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (người giới thiệu quyển sách) cũng không bàn về thể loại mà chỉ nêu
một cách vắn tắt ý nghĩa của thuật ngữ giai thoại như sau: “Người ta gọi giai thoại là việc tốt, chuyện hay thường truyền tụng ở dân gian Sách làm ngày xưa cũng có một
Trang 19quyển đề là “Tùy Đường thi thoại”, chép những chuyện hay trong đời Tùy Đường Theo nghĩa chữ Pháp thì giai thoại (anecdotes) là chuyện vặt, chuyện dật sử, có cái không đáng tin” (Lời giới thiệu Việt sử giai thoại)
Còn về sách giới thiệu giai thoại như một thể loại độc lập, từ thập niên 60 thế kỷ trước, ở nước ta có hai công trình chính thức dùng thuật ngữ giai thoại để định danh
đối tượng Đó là công trình Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách, Kiều
Thu Hoạch (với lời giới thiệu của Trần Thanh Mại, hoàn thành năm 1963, xuất bản
năm 1965) và công trình Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc (xuất bản
lần đầu vào năm 1963, với lời tựa của Đoàn Thêm) Trên lĩnh vực báo chí, thuật ngữ giai thoại được chính thức sử dụng với hình thức ghi thành tiểu mục hoặc thành lời chú thích dưới các đề tài trên các báo Quốc ngữ thì phải đến giai đoạn 1865 – 1965 như:
Khuyến học, Nước Nam, Tiếng dân, Tri Tân,…
Ở các phần trên, chúng tôi chủ yếu xem quan điểm của các nhà nghiên cứu giai thoại trong và ngoài nước như một tiền giả định khoa học mà chưa đi sâu khảo sát nội hàm khái niệm thể loại để định vị nó trong hệ thống tự sự dân gian Sau đây, xin đi sâu vào vấn đề này Thực ra, việc viện dẫn lý thuyết thể loại của các nhà nghiên cứu giai thoại ở Việt Nam đều ít nhiều dựa vào hệ lý thuyết của thế giới Để đi đến một khái niệm về thể loại, xin đi vào một số cách tiếp cận giai thoại qua sự phân hóa thành 4 khuynh hướng cơ bản:
- Xem giai thoại như một thể loại tự sự dân gian;
- Xem giai thoại như một thể loại trung gian giữa văn học dân gian và văn học viết;
- Xem giai thoại là một thể loại của văn học viết;
- Xem giai thoại là một thể loại tổng hợp
1.1.1.1 Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại thuộc văn học dân gian
Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại thuộc văn học dân gian phân hóa thành các nhánh: xem giai thoại như một bộ phận của cổ tích và xem giai thoại là một thể loại độc lập, có vị trí tương đương với các thể loại khác trong tự sự dân gian
a Khuynh hướng xem giai thoại là một bộ phận của cổ tích
Khuynh hướng này chủ yếu xuất hiện ở Nga Một số nhà nghiên cứu Nga xem giai thoại tương đương với truyện cười và xếp nó vào tiểu loại cổ tích sinh hoạt Trong
đó, tiêu biểu nhất là quan niệm của V Ja Propp Ở công trình Folklore và thực tại, trong phần Cơ cấu thành phần thể loại, khi bàn về cổ tích sinh hoạt, học giả người Nga xem giai thoại như một bộ phận của cổ tích sinh hoạt Theo ông: “Nói về cổ tích
Trang 20sinh hoạt hay truyện cổ tích hiện thực, cần phải đề cập tới vấn đề giai thoại (…) Theo
ý chúng tôi, nó không phải là một loại hình riêng của sáng tác dân gian, khác biệt với loại truyện cổ tích đoản thiên về con người (…) Nghiên cứu kĩ càng hơn nữa những truyện cổ tích sinh hoạt về con người, thì có thể khẳng định được rằng trong folklore không có ranh giới giữa truyện cổ tích sinh hoạt về con người và truyện giai thoại Có chăng thì cũng chỉ có thể xếp giai thoại thành một tiểu loại riêng trong truyện cổ tích sinh hoạt” [44, tr.325]
b Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại độc lập
Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại độc lập thuộc văn học dân gian lại chia
thành 2 nhánh: 1 Đặt giai thoại trong truyện hài hước (truyện cười) và 2 Tách giai thoại ra khỏi truyện hài hước Quan điểm đặt giai thoại bên cạnh truyện hài hước có
thể tìm thấy ở trường phái Phần Lan và một số nhà folklore học hiện đại của Mỹ Còn nhánh thứ hai chủ yếu xuất hiện ở các nhà nghiên cứu người Nga
Khuynh hướng đặt giai thoại trong truyện hài hước (truyện cười)
Ở trường phái Phần Lan, trong công trình The types of the folklore: A classitification and bibliography (Các loại truyện dân gian: Phân loại và thư mục)
(1910), Aarne đã phân loại truyện kể dân gian theo chủ đề, gồm 3 loại lớn là: I Truyện động vật, II Truyện dân gian thông thường và III Truyện hài hước Trong đó, giai thoại được xếp vào loại truyện hài hước cùng với truyện cười (mục III Jokes and Anecdotes, Truyện cười và Giai thoại,) [169, tr.374] Còn ở Mỹ, Alan Dundes, một
trong những học giả folklore nổi tiếng của Hoa Kỳ, trong bài viết Who are the folk? (Ai là người sáng tác văn hóa dân gian?, in trong cuốn Interpreting Folklore (Lý giải Folklore), Indian University – Bloomington, 1980) cũng có cùng quan điểm như
Aarne khi ông đặt giai thoại (Anecdotes) trong hệ thống truyện cười (Jokes) [175]
Khuynh hướng tách giai thoại ra khỏi truyện hài hước (truyện cười)
Guxev trong công trình Mỹ học folklore (1967) xem giai thoại như một thể loại
độc lập thuộc tự sự dân gian sau khi so sánh và phân biệt so với những nhóm khác:
“Chúng tôi tách giai thoại ra khỏi cổ tích sinh hoạt và cổ tích trào phúng (loại này dĩ nhiên có thể mang những yếu tố giai thoại), vì nó có một số đặc điểm cho phép nó như một thể loại độc lập Chúng tôi gọi là giai thoại tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước, được xây dựng trên một tình tiết có sự tăng tiến đến điểm cao, biểu hiện rõ rệt
và kết thúc bất ngờ” [51, tr.233] Như vậy, nguyên nhân khiến Guxev tách giai thoại
ra khỏi cổ tích là do tính trào phúng và hài hước của nó Soi chiếu quan niệm ấy vào tình hình giai thoại Việt Nam, có thể thấy vì sao các nhà nghiên cứu nước ta từ trước
Trang 21tới nay vẫn cho rằng đó là truyện cười
Một số nhà nghiên cứu khác ở Nga cũng trình bày ý kiến về thể loại này Nhìn
chung, các ý kiến vẫn thiên về tính hài, trào phúng Gipkop cho rằng: “Giai thoại là một truyện kể ngắn gọn và bất ngờ, là một sản phẩm chân chính của các nhà trào phúng” (Những giai thoại về Khotgia) (Dẫn theo [91, tr.12]) Davlevtop cũng khẳng định: “Cái gì đã tạo ra bản chất của giai thoại, của các hình thức quan trọng và phổ biến nhất? Cũng dễ quan niệm rằng bản chất đó dẫn đến sự biểu thị có tính hài hước của một cái mâu thuẫn duy nhất trong cuộc sống Trong giai thoại, không có cái gì ngoài cái đó” (Sáng tác dân gian, một loại hình nghệ thuật) (Dẫn theo [91, tr.12])
Trong các quan niệm trên, quan niệm của Guxev có ảnh hưởng nhất định đến các nhà nghiên cứu Việt Nam, tiêu biểu là Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch Các tác giả này
đã tiếp thu định nghĩa trên (về giai thoại) của Guxev để triển khai luận điểm: Giai thoại là một thể loại độc lập thuộc văn học dân gian
Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu khẳng định giai thoại là thể loại văn học dân gian
sớm nhất là Cao Huy Đỉnh (tuy ông chưa lý giải vấn đề) Trong công trình Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian, ông nhận định như sau: “Chung quanh Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu,… và sau này có Nguyễn Trãi nữa, nhân dân có những lời ngợi khen, mến phục hoặc tin tưởng tự hào Tiểu sử của những ông quan như thế thường lẫn lộn với tình tiết hư cấu trùng lặp về “các nhân tài nước Nam” và trở thành giai thoại” [36, tr.53] Nghĩa là giai thoại về các danh nhân lịch sử
do lòng ái mộ, tôn vinh của nhân dân đã kéo các huyền thoại về với giai thoại
Trong hai công trình khá đồ sộ giới thiệu về giai thoại là Kho tàng giai thoại Việt Nam (2 tập) và Giai thoại folklore Việt Nam, xuất phát từ góc nhìn folklore, cũng như
tiếp thu định nghĩa giai thoại của Guxev, Vũ Ngọc Khánh đã xem giai thoại như một thể loại tự sự dân gian Tác giả cho rằng không thể hiểu được giai thoại nếu ta không đặt nó vào trong môi trường sinh hoạt văn hóa của nhân dân thời phong kiến Theo
ông: “Nhân vật lịch sử hay tác gia văn học được xem chấp nhận thành nhân vật dân gian Tác phẩm văn học bác học được xem như tác phẩm dân gian và có thể sống trong quần chúng, cùng với ca dao, câu đố, truyện nôm, tuồng, chèo” [91, tr.18] Qua
ý kiến trên, ta thấy Vũ Ngọc Khánh muốn nhấn mạnh đến quá trình dân gian hóa một nhân vật quan phương (trong văn học và lịch sử) và dân gian chính là cầu nối đưa văn học bác học về với giai thoại
Mặc dù không đưa ra một định nghĩa về giai thoại nhưng Vũ Ngọc Khánh cũng lưu ý về sự khác biệt về nội hàm giữa giai thoại phương Đông và phương Tây, ông
Trang 22viết: “Thuật ngữ này là dùng theo ngôn ngữ Trung Quốc, có nghĩa là câu chuyện đẹp Câu chuyện – thoại – là một chuyện! Chuyện thì có chuyện dài, chuyện ngắn, chuyện giàu hoặc ít tình tiết lại và chủ yếu được kể bằng lời Chúng ta đã quan niệm giai thoại là tương đương với thuật ngữ anecdotes của phương Tây Anecdotes không phải
là câu chuyện, mà là mẩu chuyện Mẩu chuyện này bao giờ cũng ngắn, có khi rất ngắn” [91, tr 9 – 10] Theo cách hiểu của Vũ Ngọc Khánh, rõ ràng, khó thể áp dụng thuật ngữ anecdotes của phương Tây vào tình hình giai thoại ở nước ta Nói cách khác,
không thể xem dung lượng như một tiêu chí xác đáng để xác định thể loại
Gần với quan niệm của Vũ Ngọc Khánh, trong công trình Giai thoại văn học Việt Nam[67], Kiều Thu Hoạch cũng xem giai thoại là thể loại độc lập thuộc tự sự dân
gian Ở phần Khái luận, tác giả viết: “Về cơ bản và trên đại thể, chúng tôi đồng tình với lập luận của Vũ Ngọc Khánh; tuy nhiên, có một số điểm chúng tôi nhận thấy cần làm sáng rõ hơn” [67, tr.25] Theo đó, Kiều Thu Hoạch đã dẫn chứng rất nhiều ca dao,
tục ngữ có chứa yếu tố Hán Việt để chứng minh rằng: văn học dân gian không chỉ là sáng tác của người bình dân mà còn là sáng tác của những người biết chữ nghĩa và
tầng lớp trí thức Ở một chỗ khác, tác giả cũng khẳng định: “Chúng ta đã thấy rõ giai thoại là các sáng tác folklore, là văn học dân gian, mà các tác giả nước ngoài có người còn gọi rõ là giai thoại dân gian” [67, tr.29] Trên cơ sở quan niệm như vậy, Kiều Thu Hoạch đã đưa ra định nghĩa của ông về giai thoại như sau: “Giai thoại vốn
là một thuật ngữ gốc Hán Giai có nghĩa là hay, đẹp, thoại là câu chuyện kể Như vậy giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp, mà lâu nay giới nghiên cứu vẫn coi thuật ngữ này tương đương với anecdotes của phương Tây” [67, tr.23] Ninh Viết Giao qua phần tổng thuật tư liệu về giai thoại trong Giai thoại xứ Nghệ cũng khẳng định giai thoại là một thể loại của văn học dân gian Tác giả cho rằng: “Giai thoại là những văn bản đẹp, hay, ngắn, gọn, vui, thú vị, có khả năng gây cho người nghe, người đọc một cảm giác thoải mái, sảng khoái, nhẹ nhàng, trong đó ẩn giấu một suy nghĩ, một tính cách, một thái độ… của nhân vật nào đó” [48, tr.307]
Như vậy, ở Việt Nam, khuynh hướng xem giai thoại là thể loại độc lập của văn học dân gian dựa trên cơ sở tổng hợp tư liệu, đánh giá tình hình từ các nhà nghiên cứu
Dù tiếp thu định nghĩa của các tác giả nước ngoài nhưng các tác giả Việt Nam không rập khuôn áp dụng mà vẫn căn cứ vào tình hình thực tiễn giai thoại Việt Nam để khái quát Chẳng hạn, giai thoại trong quan niệm của Guxev là thiên về hài hước, trào phúng (tương đương với truyện cười ở Việt Nam), còn giai thoại Việt Nam, đúng như nhận xét của Vũ Ngọc Khánh và Kiều Thu Hoạch thì không chỉ có tính hài mà còn có
Trang 23cả sự nghiêm túc, thậm chí bi ai, nghĩa là có nhiều sắc thái, cung bậc
1.1.1.2 Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại trung gian giữa văn học dân gian và văn học viết
Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại trung gian giữa văn học dân gian và văn học viết cũng khá phổ biến Ta có thể tìm thấy khuynh hướng này ở Nga, Đức (qua quan niệm của Tamarchenko và Nicolaisen) và ở Việt Nam (qua quan niệm của các nhà biên soạn từ điển) Quan niệm của Tamarchenko được trình bày trong bài viết
Giai thoại là gì? Đây là bài viết mang tính tổng quát về khái niệm cũng như đặc trưng
thể loại của giai thoại Theo đó, về khái niệm giai thoại, Tamarchenko nhấn mạnh đến tính chất lưỡng diện, vừa là văn học dân gian, vừa là văn học viết của giai thoại Ông
viết như sau: “Giai thoại có hai nét nghĩa: 1 “Câu chuyện lưu truyền rộng rãi trong dân gian, thuật lại một cách ngôn lí thú, một cảnh độc đáo, hay một trang tiểu sử riêng tư của một nhân vật lịch sử” (M Petrovski) 2 Thể tự sự cỡ nhỏ nửa truyền miệng, bán văn học, đặc điểm nổi bật của nó là mô tả các nhân vật hành động một cách hàm súc, sơ lược, tập trung vào một tình huống được suy ngẫm lại, đánh giá lại bằng cách thay đổi hoàn toàn điểm nhìn (“point”, bước ngoặt, đột biến) Ở cả phía đối tượng của sự kể (đời sống riêng tư của nhân vật lịch sử, tức là nhân vật quan phương, hoặc một trường hợp nào đó rút ra từ đời sống của những người bình thường), lẫn ở phía chức năng, tức là ở cả hai ý nghĩa của thuật ngữ, giai thoại là thể loại không chính thức: vì thế, truyện kể bao giờ cũng mang tính phi văn học, nó là thứ
“văn học rỉ tai, bí mật” (E Kurganov) ” [132]
Trong luận giải này, chúng ta có thể chú ý một số điểm nhấn quan trọng về mặt nội hàm: 1 Câu chuyện với tính chất như một cảnh – một tình huống độc đáo mang tính chất riêng tư của nhân vật; 2 Tình huống được đánh giá lại bằng cách thay đổi hoàn toàn điểm nhìn của người tiếp nhận về nhân vật quan phương; 3 Giai thoại là thể loại không chính thức, là “văn học rỉ tai, bí mật”, tức là tác giả nhấn mạnh đến tính chất phi chính thống của giai thoại đặt trong sự đối sánh ngầm với văn học chính thống Chúng tôi sẽ trở lại nhận xét một cách cụ thể hơn ý kiến này ở phần đặc điểm của giai thoại
Lưu ý đến tính chất trung gian, vừa mang những đặc điểm của văn học dân gian vừa có xu hướng trở thành một thể loại của văn học viết, tác giả Nicolaisen nhấn
mạnh: “Bất chấp sự phổ biến của giai thoại trong truyền thống truyền miệng, các nhà nghiên cứu dân gian hầu như ít chú ý đến nó (tức giai thoại – chúng tôi nhấn mạnh) như một thể loại độc lập Nên không có gì đáng ngạc nhiên, với sự giống nhau sâu sắc
Trang 24về mặt cấu trúc với truyện ngắn, giai thoại cũng đã trở thành một thể loại văn học
được gọt giũa” [107]
Ở Việt Nam, trong Từ điển Văn học (Bộ mới) (Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi,
Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Chủ biên)), ở mục giai thoại, các tác giả định nghĩa thể
loại như sau: “Một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu truyền chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng ưa thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán Thuật ngữ giai thoại được mượn từ Trung Hoa (thoại: truyện kể; giai: hay, đẹp, thú vị) Mỗi giai thoại là một truyện kể ngắn gọn, lý thú, xoay quanh những nhân vật có thực, thường là những danh nhân (…) Tuy vậy giai thoại vẫn mang tính độc lập như một thể loại độc đáo; nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là
dạng thức tồn tại của các truyện kể dân gian” [45, tr.519]
Như vậy, về mặt nội hàm khái niệm, ta thấy sự gặp gỡ giữa quan niệm này với ý
kiến của Tamarchenko ở trên (tính chất nửa truyền miệng, bán văn học của giai thoại)
Trên đại thể, các ý kiến trên có tính thuyết phục riêng Bởi lẽ, các nhà nghiên cứu đã bám sát vào thực tế văn bản của giai thoại có nguồn gốc bác học (liên quan đến thơ văn, câu đối, điển tích, chữ nghĩa, ) Tuy nhiên, nhận định ấy chỉ đúng đối với tiểu loại giai thoại văn học chứ chưa hẳn phù hợp với các tiểu loại còn lại của giai thoại
1.1.1.3 Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại thuộc văn học viết
Bên cạnh xu hướng trung dung xem giai thoại là thể loại trung gian giữa văn học dân gian và văn học viết, cũng có khuynh hướng khẳng định giai thoại thuộc lĩnh vực
văn học viết Khuynh hướng này chỉ xuất hiện ở Việt Nam Trong công trình Giai thoại văn học Việt Nam [65], ở phần Tiểu luận, Trần Thanh Mại cho rằng: “Giai thoại văn học là một thể loại văn học truyền miệng, nhưng trừ một số trường hợp cá biệt, nói chung thì giai thoại văn học không thuộc phạm vi văn học dân gian (…) Thoại có nhiều nghĩa nhưng trong trường hợp chúng ta xét đây, thì thoại là một truyện kể ngắn gọn, nhẹ nhàng, nói chung chỉ gồm những sự việc diễn biến với một vài tình tiết đơn giản Giai thoại là một truyện kể nhỏ mà hay, lý thú, có khả năng gây cười cho người nghe, người đọc một cảm giác vui thích thoải mái một cảm giác sảng khoái nhẹ nhàng” [65, tr.9]
Trong định nghĩa trên, Trần Thanh Mại đã thừa nhận hình thức truyền miệng của giai thoại, nhưng vẫn khẳng định giai thoại không phải là văn học dân gian mà là văn
học bác học Nguyên nhân dẫn đến quan điểm ấy là do tiêu chí về mặt nội dung: mặc
dù có hình thức truyền miệng như các truyện kể dân gian nhưng về mặt nội dung, các
Trang 25truyện kể ấy rất khó để cho người bình dân có thể sáng tác và thưởng lãm bởi tính chất bác học, chữ nghĩa uyên bác của nó Tuy nhiên, quan điểm nghiên cứu hiện đại về folklore cho thấy cách hiểu như vậy là không còn phù hợp nữa Chẳng hạn, trong bài
viết Ai là người sáng tác văn hóa dân gian, sau khi kể lại một số truyện cười và giai thoại hiện đại, Alan Dundes cho rằng: “Bây giờ chúng ta có thể thấy sự không phù hợp của định nghĩa thế kỷ XIX về người sáng tác dân gian là những người mù chữ trong xã hội có chữ viết ( ) Đối với nhà nghiên cứu văn hóa dân gian hiện đại, không có cái
gì là ngược đời khi nói về người sáng tác dân gian thành thị Có những người sáng tác dân gian thành thị và cũng có những người sáng tác dân gian nông thôn ( ) Chúng ta
là những người sáng tác văn hóa dân gian trong số những người sáng tác văn hóa dân gian khác” (Ai là người sáng tác văn hóa dân gian, Nguyễn Thị Hiền dịch từ sách Interpreting Folklore (Lý giải Folklore) của Alan Dundes (đã dẫn nguồn ở trên), dẫn lại theo Kiều Thu Hoạch, trong phần Khái luận Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Tập 11, Giai thoại văn học Việt Nam, [67, tr.28 – 29]) Thực ra, ngay từ thập niên 60
của thế kỷ trước, trong các giáo trình văn học dân gian ở các trường Đại học (miền Bắc), các học giả vẫn cho rằng văn học dân gian vẫn có sự tham gia sáng tác của các tầng lớp có học dần được dân gian hóa Như vậy, quan niệm sáng tác dân gian thuộc
về các tầng lớp nhân dân dễ chấp nhận hơn
1.1.1.4 Khuynh hướng xem giai thoại là thể loại tổng hợp
Ở Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh là nhà nghiên cứu đầu tiên xem giai thoại là một
thể loại tổng hợp (Giai thoại folklore Việt Nam) Theo ông: “Thể loại này (tức giai thoại – chúng tôi nhấn mạnh) có đặc tính bao trùm và ở mỗi phạm trù nó đều có vị trí của nó Có thể tìm giai thoại trong văn chương bác học, trong văn học dân gian, trong lịch sử và trong nhiều lĩnh vực khác Ở mỗi nơi có thể có mặt, đồng thời nó lại có những tính chất chung (mixte), đa thanh, rất phong phú” [91, tr.64] Theo đó, giai
thoại thuộc ba lĩnh vực cơ bản là văn học, lịch sử và folklore (chữ dùng của tác giả)
Dù là thể loại mang tính tổng hợp, gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng như đã trình bày, trên đại thể, Vũ Ngọc Khánh vẫn xem giai thoại là một thể loại độc lập của văn học dân gian
Gần đây, trong công trình mới nhất nghiên cứu về giai thoại là Luận về giai thoại (2016), Triều Nguyên đã tiếp thu quan niệm giai thoại là một thể loại tổng hợp (của
Vũ Ngọc Khánh) Tuy nhiên, Triều Nguyên không xem giai thoại là một thể loại văn học dân gian thuần túy mà đưa ra quan điểm: giai thoại là một thể loại tổng hợp (gồm
3 lĩnh vực là lịch sử, văn học và văn hóa dân gian) Trên đại thể, Triều Nguyên cho
Trang 26rằng quan niệm giai thoại thuộc về văn học dân gian hoặc văn học viết là không hợp
lý Triều Nguyên đã đưa ra định nghĩa giai thoại như sau: “Giai thoại là một loại hình văn hóa, dạng tự sự ngắn bằng văn xuôi, có kết cấu thông dụng gồm một sự việc cốt lõi và các sự việc phụ trợ, nội dung kể về người thật việc thật, bao gồm các lĩnh vực lịch sử, văn học, và văn hóa dân gian” [115, tr.365] Tác giả diễn giải định nghĩa trên
như sau:
“– Giai thoại là một loại hình văn hóa, dạng tự sự ngắn bằng văn xuôi: Thuật ngữ loại hình văn hóa đã bao trùm các loại hình nghệ thuật (được dùng để chỉ những hình thức tồn tại ổn định của nghệ thuật trong lịch sử, như hội họa, điêu khắc, văn học, sân khấu, điện ảnh,…) với ý nghĩa bao hàm nghệ thuật, đồng thời cũng bao gồm trong đó các đối tượng không phải nghệ thuật (như ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo…) – Dạng tự sự bằng văn xuôi giúp việc khoanh vùng giai để nhận dạng giai thoại; – Có kết cấu thông dụng gồm một sự việc cốt lõi và các sự việc phụ trợ: Nhằm đề cập đến một vấn đề quan trọng ở hình thức nghệ thuật của giai thoại là kết cấu; – Nội dung kể về người thật việc thật, bao gồm các lĩnh vực lịch sử, văn học, và văn hóa dân gian: Cho thấy nội dung và đồng thời là phương thức thể hiện của giai thoại, là kể về người thật việc thật (lối hư cấu chỉ có phạm vi hạn chế) Vế này cũng giới thiệu ba loại giai thoại lớn là giai thoại lịch sử, giai thoại văn học, giai thoại văn hóa dân gian (mỗi loại lớn này gồm các giai thoại trực thuộc; như giai thoại văn học
có giai thoại văn học viết và giai thoại văn học dân gian…)” [115, tr.365]
Trong định nghĩa trên, tác giả Triều Nguyên không nhắc đến hai đặc điểm của giai thoại là tính lý thú và tính truyền miệng vì các lý do sau: Tính lý thú là tính chất
có mặt ở hầu hết các thể loại tự sự dân gian (như ngụ ngôn, truyện cười,…) chứ không riêng gì giai thoại; còn tính truyền miệng chỉ là một trong hai phương thức lưu hành, bên cạnh phương thức văn bản hóa của văn học dân gian nên đưa vào là không cần thiết Như vậy, từng khuynh hướng xem giai thoại thuộc lĩnh vực nào đều có cơ sở khoa học riêng của nó Đó có thể là người sáng tác – thưởng thức, nội dung phản ánh, hình thức lưu truyền, đặc điểm nghệ thuật,… Tuy nhiên, nếu chỉ đặt giai thoại vào trong một phạm vi cụ thể (chẳng hạn, chỉ thuộc văn học, lịch sử hay văn hóa) vẫn khó phản ánh chính xác thực tiễn giai thoại trong kho tàng giai thoại Việt Nam Do vậy, cần phải xem giai thoại là một thể loại mang tính chất đa diện, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, và mỗi lĩnh vực như vậy tương đương với một tiểu loại của giai thoại (như quan niệm của Vũ Ngọc Khánh) thì mới có thể bao quát hết được tính chất đa diện và phong phú của thể loại Cố nhiên, từng tiểu loại của giai thoại không thể nào tồn tại
Trang 27một cách độc lập tuyệt đối, mà sẽ có những vùng chồng lấn, xuyên thấm, thậm chí chuyển hóa cho nhau Đây cũng là quy luật vận động của các thể loại tự sự nói chung
1.1.2 Đặc điểm thể loại của giai thoại
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tập trung nhấn mạnh một số đặc điểm của giai
thoại gồm: tính dân gian và tính bác học (xét trong mối quan hệ với văn học); tính hư cấu; tính sai lệch (xét trong mối quan hệ với lịch sử); tính lý thú; tính đối thoại (xét về mặt tình huống của giai thoại), Theo chúng tôi, tính lý thú; tính đối thoại dù là đặc
điểm dễ nhận thấy của giai thoại nhưng nó cũng xuất hiện trong hầu hết các thể loại tự
sự dân gian khác (có chăng là ở giai thoại, sự lý thú được thể hiện qua tình huống đối đáp bằng văn chương, thơ phú; qua ứng xử của các nhân vật trong các huống cảnh cụ thể,…) Do vậy, nếu xem đây là đặc trưng thể loại thì có lẽ chưa thực sự thuyết phục
Do đó, việc quan trọng cần phải giải quyết là lý giải những tác động của văn học, lịch
sử, văn hóa lên giai thoại để từ đó hình thành các đặc trưng cho thể loại
Còn các nhà nghiên cứu trên thế giới, khi bàn về bản chất thể loại của giai thoại
đã tập trung sự chú ý vào một điểm, có thể được xem như đặc điểm thể loại quan trọng của giai thoại (dù không phải tất cả giai thoại đều có tính chất này) Đó là tính phản biện của giai thoại Tính chất này có thể hiểu như sau: đối lập với quan niệm chính thống, giai thoại đưa ra cách đánh giá mới mẻ về nhân vật quan phương, khiến cho quan niệm truyền thống, phổ biến về người nổi tiếng trở nên bị lung lay Sau đây, luận
án sẽ điểm qua một số quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới về đặc điểm thể loại của giai thoại
1.1.2.1 Tính lý thú của giai thoại
Tác giả Kiều Thu Hoạch trong phần Khái luận về giai thoại (trong Giai thoại văn học Việt Nam, Tập 11, Tổng tập Văn học dân gian người Việt) đã nhấn mạnh đến tính
lý thú của giai thoại văn học Tác giả xem khái niệm này tương đương với thuật ngữ
“kịch tính” mà Guxev từng đề cập khi phân tích giai thoại trong Mỹ học folklore Nhà nghiên cứu viết như sau: “Nói riêng về giai thoại văn học thì khi nói đến tính lý thú là nói một cách toàn diện, đó là tính lý thú ở bản thân thơ văn cũng như tính lý thú ở tình huống của giai thoại Nếu chỉ có bài thơ hoặc câu đối lý thú thì vẫn chưa thể thành giai thoại Ở đây đòi hỏi phải có tình huống lý thú nữa mới thành một giai thoại.” [67,
tr.31] Nhận xét trên của Kiều Thu Hoạch là hoàn toàn xác đáng Bởi lẽ, đối với giai thoại văn học, thì nội dung văn chương, chữ nghĩa cũng như tình huống dẫn đến sự đối chọi, ứng biến văn chương của các nhân vật là hồn cốt không thể thiếu của tiểu loại này
Trang 28Cùng một ý kiến như trên nhưng Trần Thanh Mại có những kiến giải có phần cụ
thể hơn khi ông đi vào bản chất của những tình huống văn chương Tác giả cho rằng:
“Nhìn chung mà nói, thơ văn, câu đối trong giai thoại toàn là thơ ứng đáp, đối phó
Nó là thơ tức cảnh, linh hoạt, biến hóa, làm ngay tại chỗ, đáp ngay tại chỗ, hoặc để
gây cái ấn tượng như thế, vì quả tình có nhiều bài thơ tác giả vô danh đã phải mất
nhiều thời gian mới nghĩ ra Nó không giống như thơ trữ tình, thơ lãng mạn chính
tông Yếu tố chính của thơ giai thoại là trào phúng, hài hước, châm biếm; đó là những
yếu tố thích hợp với tính chất vui tươi, lý thú của giai thoại” [65, tr.54]
Theo chúng tôi, nhận xét trên của Trần Thanh Mại không chỉ dúng đối với giai
thoại văn học mà còn đúng cả với tiểu loại giai thoại văn hóa với nhóm giai thoại sinh
hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian của các nghệ nhân dân gian, các nhà nho tài tử Bởi
lẽ, tình huống cơ bản của nhóm giai thoại sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian vẫn là
tình huống đối đáp tức thời Do vậy, tình huống khoảnh khắc (hay tình huống tức thời)
có vai trò vô cùng quan trọng trong cách tổ chức cốt truyện của giai thoại nói chung
Nhìn chung, các tác giả đi trước đều tập trung sự chú ý vào tính lý thú của giai
thoại qua tiểu loại giai thoại văn học, cụ thể là tình huống đối đáp văn chương, chưa
thấy bàn đến tính lý thú (hay sự hấp dẫn) của hai tiểu loại còn lại là giai thoại văn hoá
dân gian và giai thoại lịch sử Đây rõ ràng là những điểm cần bổ sung thêm mà luận án
đang hướng đến
1.1.2.2 Tính dân gian và tính bác học của giai thoại
Đây là đường ranh gây nhiều ngộ nhận và tranh luận của các học giả về bản chất
thể loại của giai thoại Ở Việt Nam, Trần Thanh Mại là người đầu tiên nhấn mạnh đến
tính bác học của giai thoại Trong phần Tiểu luận công trình Giai thoại văn học Việt
Nam (1965), Trần Thanh Mại cho rằng giai thoại là “một loại văn chương bác học mà
lại truyền miệng” [65, tr.9] Mặc dù thừa nhận tính chất trên nhưng trong quan niệm
của tác giả, giai thoại vẫn nằm trong phạm vi của văn học viết: “Giai thoại văn học là
một thể loại văn học truyền miệng, nhưng trừ một số cá biệt nói chung thì giai thoại
văn học không thuộc phạm vi văn học dân gian” [65, tr.9] Qua nhận xét trên, tác giả
đã gián tiếp khẳng định tính chất bác học là yếu tố cốt lõi, quyết định đến bản chất thể
loại chứ không phải là tính chất dân gian của giai thoại Vì quan niệm giai thoại là một
thể loại thuộc văn học viết nên Trần Thanh Mại đã tập trung phân tích tính bác học của
giai thoại ở một số khía cạnh như: cách dùng điển tích, điển cố; câu đối chữ Hán,
Nôm; cách chiết tự chữ Hán; Nguyên nhân dẫn đến quan niệm trên xuất phát từ vấn
Trang 29đề tác giả sáng tác và người thưởng thức giai thoại Tác giả viết: “Giai thoại văn học chủ yếu là truyện của những người có điều kiện biết đọc, biết viết, biết thưởng thức thơ văn chữ Hán và chữ Nôm” [65, tr.9] Như vậy, góc nhìn của Trần Thanh Mại là
xuất phát từ điểm nhìn của văn học viết, dùng lý thuyết của văn học viết để soi chiếu giai thoại Nói đúng hơn đấy là môi trường tương tác giữa sáng tác và tiếp nhận của văn học thành văn
Cùng đề cập đến tính chất bác học và dân gian của giai thoại nhưng các tác giả
Vũ Ngọc Khánh và Kiều Thu Hoạch lại có cái nhìn khác hơn so với Trần Thanh Mại Theo đó, hai tác giả đã xuất phát từ góc nhìn của folklore để lý giải vấn đề này Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch đặc biệt quan tâm, chú ý đến tính dân gian của giai thoại (các tác giả định danh tính dân gian của giai thoại là “phong cách dân gian”) thể hiện qua các trường hợp: nói lái; dùng thổ âm, thổ ngữ; dùng ca dao, tục ngữ; cách
diễn giải chữ nghĩa theo kiểu dân gian, Trong phần giới thiệu công trình Kho tàng giai thoại Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh nhận xét: “Những câu thơ, câu đối ở đây có vẻ giàu chữ nghĩa, điển tích như ở văn chương bác học, song điều bắt buộc là phải được vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả biện pháp nghệ thuật của ca dao, câu đối” [89, tr.18] Ở một chỗ khác, tác giả viết: “Giai thoại văn học có tính chất bác học nhưng nó nâng cao mà không cách biệt với dân gian Cái đặc sắc và ý vị của nó là ở đó” [89, tr.31] Kiều Thu Hoạch trong Khái luận công trình Giai thoại văn
học Việt Nam cũng khẳng định: “Để đạt được tính lý thú đối với thể loại giai thoại văn
học (chúng tôi nhấn mạnh và in đậm từ “thể loại” – chữ dùng của tác giả) thì người kể chuyện thường cũng phải sử dụng một số biện pháp nghệ thuật dân gian quen thuộc như: khoa trương, ngoa dụ, phóng đại, và đặc biệt là lối chơi chữ” [67, tr.35]
Theo chúng tôi, vấn đề không chỉ nằm ở chỗ chỉ ra được đâu là tính dân gian, đâu
là tính bác học của giai thoại (để làm cơ sở cho việc xếp một văn bản giai thoại vào nhóm giai thoại văn học dân gian hay nhóm giai thoại văn học viết như một số nhà nghiên cứu từng làm) mà còn phải tìm hiểu sự tương tác, thâm nhập, xuyên thấm của
hai yếu tố trên Có như vậy, chúng ta mới có thể trả lời cho câu hỏi: Có nên phân chia giai thoại văn học một cách tách bạch thành hai nhóm (hay bộ phận) như trên hay không và giai thoại thực chất là thể loại thuộc văn học dân gian hay văn học viết? Đây
cũng là vấn đề mà các nhà nghiên cứu đi trước chưa tìm hiểu, lý giải một cách cặn kẽ, cần phải trao đổi thêm
Trang 301.1.2.3 Tính sai lệch của giai thoại
Xét trong mối quan hệ với lịch sử, một số thông tin được nêu ra trong giai thoại ít nhiều sẽ có độ vênh, độ lệch so với quan niệm chính thống Từ đó, tạo nên sự sai lệch Tính chất này xuất phát từ tư duy hư cấu yếu tố sử (hay kỹ xảo nhào nặn yếu tố sử) của giai thoại Hầu hết các tác giả nghiên cứu giai thoại ở Việt Nam như Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch, Triều Nguyên,… đều bàn đến điểm này Chung quy, các tác giả trên đều lưu ý rằng khi tiếp nhận giai thoại, cần lưu ý và phải soi chiếu những thông tin (người, việc) trong giai thoại với sử quan phương để tránh tình trạng ngộ nhận, quy chụp một cách chủ quan, vội vàng Để chứng minh cho đặc điểm trên, các tác giả đã dùng một số giai thoại có liên quan đến các nhân vật nổi tiếng
để luận giải, tiêu biểu là các nhân vật: Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Lê Quý Đôn,…
Ở một phương diện khác, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã chỉ ra được nguyên nhân của sự sai lệch trong giai thoại Theo đó, ở khía cạnh sáng tạo, giai thoại
được xây dựng theo các khuynh hướng chủ yếu sau: Dân tộc hóa (hút và tái tạo những giai thoại chủ yếu của Trung Quốc thành giai thoại Việt Nam), địa phương hóa (thay
đổi tên NVC trong giai thoại thành tên của nhân vật địa phương, vùng miền cụ thể nào
đó), lịch sử hóa (dựa vào những tác phẩm có sẵn trong kho tàng tự sự dân gian, các tác
giả dân gian thay đổi tên NVC từ nhân vật phiếm chỉ biến thành nhân vật là người nổi tiếng) Hiển nhiên, những điểm trên sẽ có ý nghĩa quan trọng, mang tính chất gợi mở cho luận án trong việc lý giải sự giao thoa và chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và một số thể loại khác trong tự sự dân gian
1.1.2.4.Tính phản biện (hay thách thức) quan niệm truyền thống của giai thoại
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu như Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch, Triều Nguyên,… khi bàn về cảm hứng trong giai thoại đều ít nhiều nhắc đến tính chất đấu tranh giai cấp của giai thoại Sự đấu tranh ấy thể hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp qua ứng xử của các nhân vật nổi tiếng (hay khuyết danh) đối với các
đại diện của giai cấp thống trị qua xu hướng: đả kích, phê phán; giải thiêng, hạ bệ
(thường là bằng đối đáp văn chương), tức là vạch ra, chỉ ra được những thiếu sót, khuyết điểm, tính xấu, của một người nổi tiếng được nhiều người kính phục, tôn sùng Còn ở phương Tây, các tác giả như Tamarchenko, Nicolaisen, Gossman,… quan
niệm một cách cụ thể hơn Trong bài viết Giai thoại là gì?, Tamarchenko nhấn mạnh đến “tình huống được suy ngẫm lại, đánh giá lại bằng cách thay đổi hoàn toàn điểm nhìn” [132] Ở một chỗ khác, tác giả lưu ý đến tình huống hai mặt của giai thoại Ông viết: “Chức năng làm nổi bật tính hai mặt của tình huống truyện kể rốt cuộc quyết
Trang 31định toàn bộ tổ hợp đặc trưng thể loại giai thoại, bao gồm cả tính hàm súc trong việc
mô tả các sự kiện một cách khách quan Thoạt đầu, nhân vật giai thoại được đặt ở vị thế bình thường, ai cũng biết rõ, về sau diễn ra sự thay đổi hoàn toàn trong việc tiếp nhận và đánh giá nó, tức là xuất hiện “point” (một khái niệm thi pháp học, nghĩa là đột biến, đỉnh điểm – Lã Nguyên nhấn mạnh), đột biến (ví như đột ngột chuyển từ điểm nhìn bên trong ra điểm nhìn bên ngoài) – di chuyển về phía cái đặc biệt mới mẻ, khác lạ: điểm nhìn mới đối với tình huống ban đầu hoá ra hoàn toàn hợp qui luật”
[132] Qua các nhận xét trên của Tamarchenko, ông muốn nhấn mạnh đến sự thay đổi cách đánh giá về nhân vật quan phương qua tình huống được nhắc đến trong giai thoại Cũng bàn về sự thay đổi cách đánh giá về nhân vật quan phương trong giai thoại
nhưng tác giả Nicolaisen (trong bài viết Giai thoại, 2013) có cách lý giải khác Ông
cho rằng, bên cạnh sự củng cố quan niệm truyền thống về nhân vật quan phương thì giai thoại cũng có tính chất đấu tranh, nói rõ hơn là phản biện, thậm chí là thách thức lại quan niệm truyền thống về nhân vật Theo đó, sự thay đổi cách đánh giá về nhân
vật quan phương mà giai thoại đưa ra chính là “một sự cố có tính đại diện cho cá nhân hoặc cộng đồng được nêu đích danh” và “giai thoại là thủ pháp phù hợp để công khai hoặc che đậy sự chỉ trích xã hội” [107]
Như vậy, mặc dù có cách diễn đạt khác nhau (hạ bệ, giải thiêng, thay đổi điểm
nhìn, sự cố có tính đại diện,…) nhưng chung quy lại, đã thấy được tính chất phản biện
chính là một trong những đặc trưng quan trọng của giai thoại Do vậy, vấn đề đặt ra cho luận án là: Quá trình các tiểu diễn ngôn (tức giai thoại) đối lập và thách thức các đại diễn ngôn (tức dòng quan điểm chính thống) đã được hình thành như thế nào và góp phần định hình quan điểm về các vấn đề liên quan theo thời gian ra sao? Chung quy, về đặc điểm thể loại của giai thoại, các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới đã
chỉ ra một số đặc điểm là: tính lý thú, tính hư cấu và sai lệch, tính dân gian và bác học, tính phản biện Đấy là những đúc kết khoa học giá trị mà luận án sẽ tiếp thu và phát
triển thêm
1.1.3 Một số khía cạnh thi pháp thể loại của giai thoại
1.1.3.1 Kết cấu của giai thoại Việt Nam
Kết cấu của truyện là phương diện quan trọng về hình thức nghệ thuật Sự ổn định về kết cấu tạo ra các mô thức cho từng thể loại chính là yếu tố thi pháp của giai thoại Ở đây, xin điểm qua một số quan niệm về kết cấu của giai thoại mà các nhà
nghiên cứu đi trước ở Việt Nam đã chỉ ra Trong công trình Giai thoại văn học Việt Nam (1965), Trần Thanh Mại quan niệm kết cấu của giai thoại văn học gồm 3 phần:
Trang 32mở đầu, diễn biến và kết thúc với các chức năng cụ thể là:
– Mở đầu: Giới thiệu rất tóm tắt về tiểu sử NVC
– Diễn biến: Tình huống đối đáp văn chương
– Kết thúc: Sự khâm phục đối với nhân vật
Trên thực tế, một giai thoại có thể không có phần giới thiệu đặc điểm của NVC, đặc biệt là đối với nhóm giai thoại văn học kết chuỗi Ở đấy, các giai thoại nương vào nhau Do vậy, đặc điểm, tính tình, sở học, của NVC đơn giản chỉ được giới thiệu ở truyện mở đầu, các giai thoại tiếp theo không cần lặp lại điều đó Trong kho tàng giai thoại văn học Việt Nam, ta có thể thấy rõ điều này qua các chùm giai thoại có liên quan đến: Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phan Văn Trị, Tuy nhiên, phần lớn các giai thoại đều mang tính độc lập
Trong phần Khái luận công trình Giai thoại văn học Việt Nam (Tổng tập Văn học dân gian người Việt, tập 11), Kiều Thu Hoạch tuy không trực tiếp nêu lên quan niệm
về kết cấu của giai thoại văn học nhưng qua sự phân tích dẫn chứng (giai thoại Hóa ra dưa – Tú Xương), ông đã gián tiếp bộc lộ quan điểm Ông cho rằng giai thoại văn học gồm hai phần: phần giai và phần thoại Trong đó, phần giai là phần thơ văn, câu đối,
còn phần thoại là lời đối đáp của các nhân vật Đây cũng chính là tiêu chí để tác giả chọn lọc, sắp xếp một văn bản tự sự vào giai thoại Sau khi trích dẫn văn bản trên, tác
giả nhận xét: “Phải nói rằng bài thơ rất lý thú, rất dí dỏm Nhưng mấy lời kể ở trên chỉ có thể xem như một tiểu dẫn về hoàn cảnh sáng tác bài thơ của Tú Xương, chứ chưa phải là một mẩu chuyện có tình tiết mang kịch tính để trở thành giai thoại Hơn nữa, thông thường đã gọi là giai thoại, là phải có đối thoại, đối đáp (dialogue) giữa hai nhân vật Ở đây, mới chỉ có Tú Xương làm thơ đùa chơi, còn phía cô gái hàng xóm đáp lại thế nào thì không có lời kể chuyện
Do đó, chỉ có giai mà chưa có thoại Cũng như thế, truyện “Hóa ra dưa” hay
“Muốn hóa dưa hồng” đều chưa thành giai thoại, như đúng nghĩa của thuật ngữ” [67,
tr.32 – 33]
Quan niệm một giai thoại văn học phải có 2 phần hẳn hoi (gồm giai và thoại)
như trên của Kiều Thu Hoạch tỏ ra chưa sát với thực tiễn giai thoại văn học Việt Nam, đặc biệt là đối với nhóm giai thoại ứng tác văn chương Nếu nhóm giai thoại thách đố văn chương tất yếu có phần đối đáp bằng hình thức thách đố và giải đố (bằng thơ văn) của các nhân vật, thì trong nhóm giai thoại ứng tác văn chương, sự thách đố này không
có mặt Thay vào đó là NVC đứng trước một tình huống thực tế và cảm hứng làm thơ
Trang 33mà thôi Vấn đề nằm ở chỗ đó Trong nhiều trường hợp, NVC không cần đối đáp mà vẫn sáng tác ra bài thơ hay, để lại một câu chuyện thú vị (Xin xem cụ thể phần văn bản giai thoại ở nhóm ứng tác văn chương trong Phụ lục của luận án)
Gần đây, trong công trình Luận về giai thoại (2016), Triều Nguyên cũng đưa ra
một quan niệm khá mới mẻ về kết cấu của giai thoại so với các nhà nghiên cứu đi trước Tác giả cho rằng kết cấu của giai thoại nói chung, trong đó có giai thoại văn học gồm một sự việc mang tính cốt lõi và những sự việc phụ trợ xoay quanh sự việc cốt lõi
này Về khái niệm sự việc then chốt, tác giả diễn giải như sau: “Sự việc then chốt của phần lớn văn bản giai thoại là sự việc tiêu biểu, cốt lõi, thể hiện điều thường được gọi
là có vấn đề của một mẩu truyện kể, và vì nó mà văn bản giai thoại được dựng nên”
[115, tr.138]
Với quan niệm như vậy, Triều Nguyên đã chia kết cấu của giai thoại nói chung
(gồm cả 3 tiểu loại của giai thoại) gồm các loại sau: “1 Kiểu kết cấu thông dụng, phổ biến: văn bản giai thoại gồm một sự việc then chốt và một số sự việc phụ trợ; và 2 Kiểu kết cấu đặc biệt, ít gặp, gồm 3 dạng: kết cấu “chung cuộc một đời người”; kết cấu lưỡng diện và kết cấu đa diện” [115, tr.142]
Chúng tôi tóm lược lại từng kiểu kết cấu theo quan niệm của tác giả như sau: – Kết cấu chung cuộc một đời người là dạng kết cấu mà trong đó giai thoại kể tường tận về nhân vật từ lúc sinh thành, tạo lập công danh, sự nghiệp cho đến khi mất (thường thấy ở giai thoại lịch sử)
– Kết cấu lưỡng diện là dạng kết cấu đề cập đến hai hành động, ứng xử khác nhau của một nhân vật (đáng khen hay đáng trách) trong cùng một giai thoại
– Kết cấu đa diện nghĩa là trong truyện có kể đến nhiều hành động khác nhau của cùng một nhân vật
Để chứng minh cho “Kiểu kết cấu thông dụng, phổ biến: văn bản giai thoại gồm một sự việc then chốt và một số sự việc phụ trợ”, Triều Nguyên đã dẫn ra văn bản Khóc mướn kiếm ăn (Cao Bá Quát) để minh chứng (Xin xem Phụ lục) Nếu xâu chuỗi
lại những nhận xét của Triều Nguyên, ta có sơ đồ kết cấu của văn bản trên như sau:
Nguyên nhân dẫn đến sự việc (Cao Bá Quát đi thăm bạn) → điều kiện, cơ hội của sự việc (Bạn không có ở nhà, đi ngang qua đám tang) → sự việc (câu đối của Cao Bá Quát) → hệ quả của sự việc (được ca tụng, ngưỡng mộ) Cách khái quát kết cấu của giai thoại (gồm các dạng kết cấu: các sự việc phụ trợ xoay quanh một sự việc then chốt; kết cấu chung cuộc một đời người; kết cấu lưỡng diện và đa diện) nêu trên của
Triều Nguyên có ưu điểm khá rõ là tác giả đã bước đầu khái quát nên kết cấu dựa trên
Trang 34cơ sở tình tiết sự việc cấu tạo tác phẩm Tuy nhiên, chúng tôi có đôi điều băn khoăn về kiểu kết cấu thông dụng nhất trong giai thoại (theo quan điểm của Triều Nguyên là “sự việc cốt lõi xoay quanh một số sự việc phụ trợ”) của tác giả ở mấy điểm sau:
– Cách định danh “sự việc then chốt” này chưa có chức năng phân nhóm giai thoại văn học (cụ thể là nhóm thách đố và ứng tác văn chương);
– Chưa định danh được các tên tình tiết cốt yếu cấu tạo nên giai thoại văn học là gì;
– Chưa chỉ ra được sự liên kết bên trong giữa các tình tiết để tạo thành cốt truyện
Chung quy lại, vấn đề kết cấu của giai thoại đã được các nhà nghiên cứu đi trước bàn đến ở 2 mức độ: các phần tạo nên giai thoại (dựa vào nội dung chính của truyện)
và các mô hình kết cấu dựa vào hành động của NVC Và như đã nêu ở phần Mở đầu, trong luận án này, chúng tôi đề xuất đưa ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu kết cấu của giai thoại Đó là tìm hiểu kết cấu theo hướng tình tiết, motif
1.1.3.2 Nhân vật của giai thoại
Vấn đề các kiểu nhân vật đặc trưng trong giai thoại từng được bàn đến trong hầu hết những tuyển tập giới thiệu giai thoại ở nước ta Tùy theo tính chất, phạm vi tiểu loại được đề cập, giới thiệu đến trong các tuyển tập mà sự bàn luận, lý giải của các tác giả cũng có những mức độ đậm nhạt khác nhau Vì chỉ giới hạn phạm vi tiểu loại là
giai thoại văn học nên trong các công trình Giai thoại văn học Việt Nam (1965) và Giai thoại văn học Việt Nam (2004), Trần Thanh Mại và Kiều Thu Hoạch tập trung sự
chú ý vào kiểu nhân vật trí thức, tức là những nhà nho, nhà khoa bảng nổi tiếng (và có phần nào nhắc đến vai trò của các nhà nho ẩn dật ở nhóm giai thoại khuyết danh) Các tác giả cũng đã bước đầu chỉ ra được những căn rễ lịch sử, xã hội góp phần hình thành nên kiểu nhân vật này Cụ thể, đó là tư duy sùng bái chữ nghĩa (trọng Nho) trong tâm thức Việt thời phong kiến
Cũng bàn về các kiểu nhân vật tiêu biểu của giai thoại nhưng tác giả Vũ Ngọc
Khánh có sự khái quát hóa và phân tích cặn kẽ hơn Qua hai công trình Kho tàng giai thoại Việt Nam (2 tập, 1994) và Giai thoại folklore Việt Nam (1996), ông đã đưa ra những kiểu loại nhân vật (tác giả gọi là “motif nhân vật”) như sau: nhân vật trí thức, mưu trí; nhân vật ngông; nhân vật dị nhân; nhân vật đạo đức, nhân vật nghệ nhân dân gian Tác giả đã bóc tách các khía cạnh sau:
- Khuynh hướng xây dựng nhân vật (tuyệt đối hóa tài năng, trí tuệ; giải thiêng, hạ bệ, );
Trang 35- Cơ sở lịch sử, xã hội hình thành nên một số kiểu nhân vật (trí thức, ngông, dị nhân, nghệ nhận dân gian)
Như vậy, khía cạnh nhân vật của giai thoại đã được chú ý, tìm hiểu ở hầu hết những kiểu loại của nó Trong đó, có các kiểu nhân vật chưa thực sự được quan tâm,
bàn luận đúng mức là kiểu nhân vật nhà nho tài tử, nhà nho ẩn dật và nghệ nhân dân gian
1.1.3.2 Cảm hứng của giai thoại
Bên cạnh các đặc điểm về kết cấu, nhân vật, các nhà nghiên cứu đi trước đều ít nhiều bàn đến khía cạnh cảm hứng của giai thoại Ở Việt Nam, Trần Thanh Mại là nhà nghiên cứu đầu tiên bàn về vấn đề này Và nhìn chung, các nhà nghiên cứu giai thoại
về sau (như Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch, ) đều đồng thuận với quan niệm của
ông Trong phần Tiểu luận công trình Giai thoại văn học Việt Nam (1965), Trần Thanh Mại cho rằng trong giai thoại, “sự đả kích bao giờ cũng gắn liền với đề cao (đả kích Minh Mạng, Tự Đức đồng thời cũng đề cao Cao Bá Quát; đả kích sư mô, quan lại, đồng thời đề cao Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Quý Tân, Hoàng Phan Thái, )” [65,
tr.16] Như vậy, cảm hứng trong giai thoại là cảm hứng mang tính lưỡng diện, vừa đề cao vừa đả kích, phê phán nhân vật quan phương
Hai dạng cảm hứng trên, xét về mặt lịch đại, theo Trần Thanh Mại, có thể chia thành hai thời kỳ khá tách bạch: thời kỳ đầu, khi mà giai cấp thống trị phong kiến còn
giữ được vai trò lãnh đạo (với những vua hiền, tôi trung) thì giai thoại có xu hướng đề cao những ông vua, những ông quan tài giỏi, thanh liêm, yêu nước; và thứ hai, khi mà
giai cấp thống trị bắt đầu bộc lộ những mặt tệ đoan, xấu xa thì sự đề cao không còn
nữa, thay vào đó là xu hướng phê phán, hạ bệ Chúng tôi cho rằng cách đánh giá trên
của Trần Thanh Mại là hoàn toàn xác đáng
Như đã đề cập ở tính phản biện của giai thoại, xu hướng phê phán, hạ bệ nhân vật quan phương chắc hẳn xuất phát từ những căn rễ lịch sử, xã hội cụ thể, hướng đến những mục đích cụ thể Các vấn đề cần làm rõ thêm ở đây là:
– Tư duy phản biện đó có xuất hiện trong truyền thống truyền miệng hay không, nếu có thì đâu là điểm tương đồng và dị biệt;
– Trong hai biểu hiện của cảm hứng (đề cao, ca ngợi và phản biện) thì dạng cảm hứng nào đóng vai trò chủ đạo
– Ý nghĩa của sự phản biện đặt trong bối cảnh của thời đại cũng như lý giải những căn rễ lịch sử, văn hóa góp phần làm sinh tư duy phản biện của giai thoại
Trang 361.1.4 Phân định ranh giới và vấn đề chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và các thể loại của tự sự dân gian
1.1.4.1 Phân định ranh giới và vấn đề chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và truyện cười
Về vấn đề phân định ranh giới giữa giai thoại và truyện cười, các nhà nghiên cứu
đi trước cũng đã đề cập, bóc tách ở những khía cạnh, mức độ khác nhau Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua những điều cơ bản mà các tác giả đã giải quyết trong các công
trình đó Trong công trình Giai thoại văn học Việt Nam [65, tr.14 – 18], Trần Thanh
Mại đã so sánh giai thoại văn học và truyện cười trên một số phương diện Có thể tóm lược bằng bảng tóm tắt dưới đây:
Bảng 1.1 So sánh truyện cười và truyện trạng của Trần Thanh Mại
Tiêu chí so sánh Truyện cười Giai thoại (văn học)
Cảm hứng Đả kích vương quyền và
những thói hư, tật xấu trong
xã hội
Đả kích (vương quyền) gắn liền với cảm hứng đề cao NVC người nổi tiếng
Yếu tố thơ văn, câu đối Phần lớn truyện cười không
sử dụng
Phải có thơ văn, câu đối
Mục đích thể loại Phải tạo được tiếng cười Không nhất thiết phải có
tiếng cười, gây cười Mâu thuẫn, kịch tính Là bản chất thể loại Không nhất thiết phải có
kịch tính Khác với Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Khánh tập trung vào mức độ của tiếng cười
trong hai thể loại để phân biệt Ông viết: “Ở truyện cười, tiếu lâm, người ta cần cái cười, thậm chí là cười ào ạt, cái cười đập phá; ở giai thoại chỉ cần cái cười vui Ở truyện cười, người ta cần cái cười nghịch, giai thoại chỉ cần sự cười đùa, tiếu lâm cự tuyệt cái cười buồn vui lẫn lộn” [91, tr.24] Hai ý kiến tiêu biểu trên bước đầu cho
thấy những mặt tương đồng và dị biệt về hình thức và nội dung của hai thể loại Tuy nhiên, cần suy nghĩ thêm về một số khía cạnh như sau:
– Khó có thể lượng hóa được mức độ của tiếng cười và nhất là ý nghĩa của nó một cách khách quan Điều này có phần cảm tính, do đó khó có thể là tiêu chí để phân định thể loại;
– Giai thoại và truyện cười còn có những điểm tương đồng, dị biệt trên các khía cạnh khác như: ngôn ngữ nhân vật, kiểu nhân vật, chức năng thể loại,…
Các tác giả chưa đặt ra cũng như tìm hiểu vấn đề thâm nhập và chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và truyện cười (ở hai tiểu loại của nó là truyện cười không kết
Trang 37chuỗi và truyện cười kết chuỗi – mà có một số nhà nghiên cứu gọi là truyện trạng) Đây cũng là một trong những nội dung mà luận án sẽ triển khai, làm rõ trong các phần sau
1.1.4.2 Phân định ranh giới và vấn đề chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và truyền thuyết
Đây là một trong những vấn đề mang tính chất lý luận quan trọng, không chỉ có ý nghĩa trong việc xác lập thể loại của giai thoại mà còn mang tính định hướng cho việc phân biệt giai thoại và truyền thuyết Qua đó, giúp tránh tình trạng nhầm lẫn về mặt thể loại trong các tuyển tập giai thoại và truyền thuyết Trong các công trình giới thiệu
về giai thoại, các tác giả Trần Thanh Mại, Kiều Thu Hoạch và Vũ Ngọc Khánh đều ít nhiều bàn đến sự hiện diện của yếu tố kỳ ảo trong giai thoại, tức là thừa nhận sự tác động của truyền thuyết đến giai thoại, chưa thấy bàn về sự phân định ranh giới của hai thể loại này Mặt khác, ý kiến của các tác giả trên chỉ dừng lại ở mức độ những nhận xét ban đầu và chưa được luận giải một cách cặn kẽ, cụ thể bằng tác phẩm Trong một chừng mực nào đó, những ý kiến trên sẽ mang tính chất gợi mở cho việc đào sâu, bóc tách thêm cho các tác giả nghiên cứu ở giai đoạn sau
Một trong những bài viết có giá trị, góp phần phân biệt giai thoại và truyền
thuyết là bài viết Bước đầu phân biệt truyền thuyết và giai thoại [23] của tác giả Võ
Phúc Châu Bài viết với các tiêu chí so sánh cụ thể (ở hai tiểu loại là truyền thuyết lịch
sử và giai thoại lịch sử) như: quy mô tác phẩm, hình thức thể hiện, ngôn ngữ kể, giọng
kể, nhân vật, cách miêu tả, chức năng, thái độ tiếp nhận,…
Chúng tôi xin trích dẫn ra đây bảng so sánh của tác giả Võ Phúc Châu:
Bảng 1.2 So sánh giai thoại lịch sử và truyền thuyết lịch sử
truyền Chủ yếu truyền miệng và ghi chép thành văn bản Nội dung Liên quan đến các sự kiện, nhân vật lịch sử, có liên hệ chặt chẽ đến tiến trình tồn vong của đất nước Phương pháp
phản ánh Nhân vật gần với đời thực, ít yếu tố siêu nhiên, thần kỳ; có thể còn yếu tố hư cấu, tưởng tượng
ĐIỂM
KHÁC
NHAU
Quy mô tác phẩm Luôn ngắn, rất ngắn Có ngắn lẫn dài Hình thức thể
Trang 38TIÊU CHÍ SO SÁNH GIAI THOẠI
LỊCH SỬ
TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ
hước, phê phán Đặc điểm của
sự kiện, tình tiết
Luôn gắn với không gian, thời gian sinh hoạt đời thường, hàng ngày
Luôn gắn với không gian thiêng, thời gian thiêng, liên quan đến vận mệnh nhân vật
và dân tộc
Vị trí, vai trò của sự kiện lịch
- Là nội dung chính của tác phẩm
- Nhằm phản ánh, đánh giá lịch sử
Đặc điểm nhân vật Phải là người nổi tiếng Có thể chỉ là người xuất thân bình thường hoặc vô danh
Cách miêu tả nhân vật
Cuộc đời đi từ chỗ bí
ẩn trở về gần gũi với
mọi người xu hướng kéo nhân vật xuống đời thường
Cuộc đời từ chỗ bình thường hóa thành bất tử, thiêng liêng
xu hướng nâng nhân vật lên ngưỡng tôn thờ
Chức năng tác phẩm
- Tạo cảm giác lý thú
- Rút ra bài học triết lý nhân sinh
- Đánh giá lịch sử -Biết ơn, tôn thờ, ngưỡng mộ người có công đức
Thái độ người tiếp nhận Có thể tin hoặc không tin
- Luôn có niềm tin
- Có nhu cầu gắn tác phẩm với một chứng tích văn hóa nào đó
Qua các tiêu chí phân biệt khá cụ thể, bao quát như trên, có thể thấy bài viết tác giả Võ Phúc Châu đã có những mặt khả thủ trong việc kiến giải, phân tích, bước đầu chỉ ra sự tương đồng và dị biệt giữa truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử Đó là những gợi ý quý báu mà luận án sẽ kế thừa và phát triển thêm Tuy nhiên, về mặt lý luận còn một số vấn đề cần làm rõ thêm, đó là:
– Sự giao thoa, tương tác giữa truyền thuyết và giai thoại không chỉ xảy ra ở cấp
độ tiểu loại mà còn ở cấp độ thể loại;
– Về mặt cảm hứng, cùng một đối tượng người nổi tiếng, giai thoại không chỉ
kéo nhân vật về cuộc sống đời thường mà còn cảm hứng khác là đề cao nhân vật,
thiêng hóa nhân vật (Đây chính là điểm giao thoa về mặt cảm hứng với truyền thuyết
và giả thuyết đặt ra là: phải chăng giai thoại cũng tiếp biến một số motif để xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm theo hướng thiêng hóa từ truyền thuyết?);
– Cần làm rõ thêm sự chuyển hóa về mặt thể loại giữa giai thoại và truyền thuyết cũng như lý giải căn nguyên của sự chuyển hóa đó là gì
Trang 391.1.4.3 Phân định ranh giới và vấn đề chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và cổ tích
Các nhà nghiên cứu đi trước như Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch đã từng lưu ý đến vấn đề giao thoa và chuyển hóa thể loại giữa cổ tích và giai thoại Trong phần
Khái luận công trình Giai thoại văn học Việt Nam, Kiều Thu Hoạch viết: “Ngoài mối quan hệ gần gũi với truyện cười, thể loại giai thoại cũng còn có mối tương quan với một số thể loại khác trong loại hình tự sự dân gian, như truyền thuyết, cổ tích, song số lượng những giai thoại loại này không nhiều (…) Chùm giai thoại văn học về Trạng Quỳnh, có thể thấy thấp thoáng motif anh chàng khôn ngoan, cơ trí của truyện cổ tích Qua một vài ví dụ vừa nêu, cũng cho thấy ở giai thoại văn học, rõ ràng là có vấn đề giao thoa, thâm nhập và chuyển hóa thể loại” [67, tr.51]
Nhận xét trên của Kiều Thu Hoạch đã lưu ý đến điểm giao nhau giữa giai thoại (văn học) và cổ tích ở kiểu nhân vật cơ trí Đây là một ý kiến hoàn toàn xác đáng Dưới góc độ nhân vật của mỗi thể loại mà nói, thì khó có thể dẫn đến sự nhập nhằng, thâm nhập thể loại giữa giai thoại và cổ tích Bởi lẽ, nhân vật của giai thoại phần lớn là những con người nổi tiếng Con người nổi tiếng ấy có tên tuổi, hành trạng, địa vị hẳn hoi Nó hoàn toàn khác với kiểu con người chung chung – con người mang tính biểu trưng, đại diện cho giai tầng nào đó trong xã hội như trong cổ tích Nhưng tại sao có sự nhập nhằng về thể loại giữa cổ tích và giai thoại? Vấn đề này nhất định cần được bàn bạc nhiều hơn
Tóm lại, khi nghiên cứu về giai thoại, các nhà nghiên cứu đi trước cũng đã bước đầu đặt ra vấn đề chuyển hóa thể loại giữa giai thoại với một số thể loại trong tự sự dân gian nhưng chủ yếu là ở thể loại cổ tích Các tác giả Vũ Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch từng lưu ý sự thâm nhập, chuyển hóa thể loại từ cổ tích (sinh hoạt) sang giai
thoại văn học ở kiểu truyện về nhân vật cơ trí (mà tiêu biểu nhất là kiểu truyện Em bé thông minh) Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ nêu luận điểm gợi ý
chứ chưa đi vào phân tích, lý giải cụ thể Vả chăng, còn một số kiểu truyện khác cũng cho thấy sự thâm nhập, chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và cổ tích như: kiểu truyện
Kén rể, kiểu truyện Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng, kiểu truyện Người học trò và
ba con quỷ, cần phải phân tích, đào sâu thêm Như vậy, về vấn đề phân định ranh giới
và sự chuyển hóa thể loại giữa giai thoại và các thể loại tự sự dân gian đã được đặt ra nhưng còn một số khía cạnh cần phải làm rõ hơn là:
– Cụ thể hóa sự phân định ranh giới giữa giai thoại và các thể loại tự sự dân gian qua các tiêu chí cụ thể;
– Chỉ ra biểu hiện của sự thâm nhập, chuyển hóa thể loại và lý giải quy luật của
sự xâm nhập, chuyển hóa đó;
Trang 40– Tập trung nhiều hơn vào motif sinh nở thần kỳ, bởi lẽ đó chính là motif chịu
ảnh hưởng nhiều nhất, đậm nét nhất của tự sự dân gian đến giai thoại
1.1.5 Phân loại giai thoại
Những quan niệm về giai thoại đã dẫn ra ở trên cho thấy tính phức tạp của vấn đề quan niệm về giai thoại và đương nhiên tác động đến cách phân loại thể loại này
Trong công trình Mỹ học folklore, chính Guxev cũng đã thừa nhận: “Các tiểu loại giai thoại chưa phân hóa rõ rệt” [51, tr.284] Còn ở Việt Nam, khi nghiên cứu về giai
thoại, các tác giả cũng đã đưa ra sự phân loại Tuy tiêu chí và cách phân loại có khác nhau nhưng cũng đã cho thấy việc phân hóa giai thoại Việt Nam có những mặt khả thủ Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm qua những ý kiến tiêu biểu nhất
Trong công trình Giai thoại văn học Việt Nam (1965), do đối tượng giới thiệu là
giai thoại văn học nên Trần Thanh Mại chỉ phân loại tiểu loại này gồm: giai thoại văn học về các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng và giai thoại văn học khuyết danh Như vậy, tiêu chí để phân loại giai thoại (văn học) Việt Nam của Trần Thanh Mại là xuất phát từ nhân vật (có tính danh cụ thể và khuyết danh) Trong các công trình biên soạn về giai
thoại (gồm Kho tàng giai thoại Việt Nam (2 tập, 1994) và Giai thoại folklore Việt Nam (1996)), Vũ Ngọc Khánh chia giai thoại thành 3 tiểu loại là giai thoại văn học, giai thoại lịch sử và giai thoại folklore Tiêu chí phân loại của tác giả là dựa vào lĩnh vực
phản ánh của giai thoại Cách phân loại này hợp lý ở chỗ nó đã bước đầu chỉ ra được những lĩnh vực phản ánh quan trọng, tiêu biểu của giai thoại Việt Nam, qua đó định hình nên các tiểu loại chính yếu Vũ Ngọc Khánh cũng là tác giả đầu tiên đi sâu vào sự phân chia nhóm của từng tiểu loại giai thoại Việt Nam Sự phân chia này xuất phát từ tình hình thực tiễn của tư liệu về giai thoại hiện có trong kho tàng
Về tiểu loại giai thoại văn học, trong công trình Kho tàng giai thoại Việt Nam (1994), Vũ Ngọc Khánh chia thành các nhóm: “1 Những sáng tác thơ ca, câu đối; 2 Những giai thoại chung quanh các tác giả” [89, tr.32] Ở tiểu loại giai thoại lịch sử, nhà nghiên cứu phân thành các nhóm sau: “1 Những sự kiện lịch sử (bao gồm: những câu danh ngôn, những chiến công, những hành động hoặc những ý kiến đánh giá về người và việc; 2 Những trang tình sử; 3 Những nhân vật lịch sử” [89, tr.534] Về tiểu loại giai thoại folklore, tác giả chia thành các nhóm: “1 Những giai thoại chung quanh các sinh hoạt văn nghệ dân gian (folklore); 2 Giai thoại về những nhân vật trong cuộc sống folklore: những ông trạng, những nghệ nhân, những nhân vật hài hước, láu lỉnh” [89, tr.906] Về cách phân nhóm này, dễ thấy tác giả chủ yếu dựa vào tiêu chí đề
tài, nội dung của các giai thoại
Trong công trình Giai thoại folklore Việt Nam (1996), ở phần Biên tập đại ý, Vũ
Ngọc Khánh chủ định không phân nhóm (ông dành phần này cho người đọc), nhưng