Từ yêu cầu trên, vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG PT NGUYỄN MỘNG TUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NHÌN NHẬN, ĐÁNH GIÁ, TRÌNH BÀY
QUAN ĐIỂM TRONG BÀI
PHÁT BIỂU TỰ DO
Người thực hiện: Phạm Thị Thơ
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA NĂM 2021
MỤC LỤC
Trang 2Nội dung Trang
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm.
5
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện sáng kiến. 5
2.4 Đánh giá hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 11
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
Trong thời kì 4.0 hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và học
Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân phải không ngừng cập nhật tri thức để hoàn thiện mình Để tồn tại và phát triển, với bất kì ai, việc có công việc làm để đảm bảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quan trọng Đồng thời với đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng để nâng cao chất lượng đời sống, để đời sống thực sự là “sống” chứ không phải là
“tồn tại”
Từ yêu cầu trên, vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, nhà trường và giáo viên nói riêng
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ việc quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “ truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Trong xu hướng đó, giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học sinh, mà cần dạy cho học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức, cách rèn luyện, phát triển kỹ năng để đảm bảo cho việc tự học, tự lao động suốt đời
Trước những vấn đề nêu trên, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng nhìn nhận, đánh giá, trình bày quan điểm cho học sinh trong
bài học “Phát biểu tự do" Với đề tài này, tối hướng đến giúp các em học
sinh của mình phát huy tốt khả năng tự học, chủ động, sáng tạo, tạo hứng thú trong học tập, giúp các em hình thành các kỹ năng như: nhìn nhận và đánh giá, thuyết trình và thuyết phục, đàm phán và thương lượng, lắng nghe và thấu hiểu, chia sẻ và hợp tác…
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu.
Thông qua tiết học rèn luyện kỹ năng nhìn nhận, đánh giá, trình bày
quan điểm trong bài “Phát biểu tự do” giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh
kiến thức một cách hiệu quả hơn, có kỹ năng nhìn nhận, quan sát, đánh giá, trình bày quan điểm cá nhân, thuyết trình Đồng thời qua đó giúp học sinh hứng thú hơn với môn Ngữ Văn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 12A1 và 12A3 trường PT Nguyễn Mộng Tuân
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phối hợp nhiều phương pháp trong đó chủ yếu 2 phương pháp:
a Về nghiên cứu lý luận
Làm việc trong phòng học, theo dõi trên các kênh truyền thông và tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến đề tài
b Về nghiên cứu thực tiễn
Soạn và thiết kế giáo án theo phương pháp định hướng năng lực nhìn nhận, đánh giá, trình bày quan điểm và tiến hành thực nghiệm tại lớp 12A1
và 12A3
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
- Từ năm 2002, nhà nước ta bắt đầu triển khai chương trình và sách
giáo khoa phổ thông mới mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh
- Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động học tập Điều 24.2 của Luật giáo dục đã nêu rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Như vậy, chúng ta có thể thấy định hướng đổi mới phương pháp
dạy học đã được khẳng định, không còn là vấn đề tranh luận Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
-Theo tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra,đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của Bộ GD- ĐT năm 2014:
Trong định hướng phát triển chương trình sau năm 2015, môn Ngữ Văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp Tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc
Trang 5thù của môn học.Trong đó, việc hình thành và phát triển cho học sinh năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, Được hiểu và nâng cao khả năng tiếng Việt văn hóa, văn học.
Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa
dạng của cuộc sống.
- Sau khi hoàn thành bài học, học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ tốt
hơn trong việc trình bày vấn đề trước đám đông, trong hội nghị… hoặc trong giao tiếp hằng ngày của cuộc sống Học sinh hứng thú hơn với môn Ngữ Văn, đặc biệt là phân môn Tiếng Việt, Làm văn của môn học này
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
- Từ thực tế giảng dạy ở trường THPT các năm qua, tôi nhận thấy
trong xu hướng hiện nay, một bộ phận không nhỏ học sinh không chú trọng đến môn Ngữ Văn, các em thích học các môn tự nhiên hơn Một bộ phận học để theo khối nhưng ít đam mê Còn một bộ phận học để thi tốt nghiệp
Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học để gây hứng thú cho học sinh cũng là một vấn đề cần quan tâm
- Khi học Ngữ Văn, các học sinh thường ngại đối với phân môn Làm
văn và Tiếng Việt, giáo viên ít chú trọng hơn so với phân môn ĐọcVăn Vì thế cần có sự thay đổi phương pháp từ người dạy, thay đổi cách tiếp nhận cho người học
- Và đặc biệt, một thực tế rất phổ biến ở HS lớp 12 là khả năng sử
dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của các em còn khá nhiều hạn chế Chỉ một
bộ phận nhỏ các em có kỹ năng giao tiếp linh hoạt phù hợp, có đủ tự tin phát biểu một vấn đề trên diễn đàn Còn đa phần thì rụt rè, lúng túng khi phát biểu ý kiến
Vì vậy dạy học theo định hướng rèn luyện kỹ năng thực hành, đặc biệt
là năng lực nhìn nhận, đánh giá, trình bày quan điểm cá nhân sẽ góp phần giúp học sinh chủ động trong việc nắm kiến thức và hứng thú nhiều hơn đối với môn học, giúp học sinh trang bị một trong những kỹ năng quan trọng nhất cho hành trang vào đời “Sự thành công của mỗi người chỉ có 15% dựa
Trang 6vào kỹ thuật chuyên ngành, còn 85% là dựa vào những quan hệ giao tiếp và
tài năng xử thế của người đó”, Kinixki- học giả người Mỹ Và hơn nữa, dạy bài “Phát biểu tự do” theo định hướng rèn luyện kỹ năng nhìn nhận, đánh
giá, trình bày quan điểm là tiết học dạy học sinh kỹ năng nói trước tập thể,
cụ thể là luyện kĩ năng làm văn nghị luận nói, tập thuyết trình một vấn đề, một ý kiến nào đó trước nhóm, tổ, lớp, trường, cuộc sinh hoạt, hội thảo… để sau này, khi vào thực tế cuộc sống, học sinh dám mạnh dạn bộc lộ quan điểm
cá nhân, biết nói lên tiếng nói cá nhân trước các vấn đề trong cuộc sống Đó
là mong muốn của tôi cũng như của bất kì người giáo viên nào
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Dưới đây là tiến trình dạy học trong nội dung của bài: Phát biểu tự do
TIẾT 91 PHÁT BIỂU TỰ DO
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức:
- Hiểu được tầm quan trọng của việc phát biểu, trình bày quan điểm cá nhân.
- Biết cách lập dàn ý cho vấn đề cần phát biểu.
- Nắm được các bước tiến hành của quá trình phát biểu tự do
2 Kĩ năng:
- Sử dụng ngôn ngữ đúng, linh hoạt, sáng tạo trong hình thành dàn ý cho vấn
đề cần phát biểu
- Vận dụng được kiến thức thực tế, kiến thức sách vở để bày tỏ quan điểm cá nhân, ý kiến cá nhân
- Mạnh dạn, bình tĩnh và tự tin khi phát biểu một vấn đề nào đó trước tập
thể
3 Thái độ:
- Tạo thói quen phát biểu tự do, thể hiện nét đẹp văn hóa trong phát biểu
- Tôi luyện tính cách tự tin, sáng tạo khi phát biểu tự do
- Biết suy nghĩ, trăn trở về các vấn đề trong đời sống Có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong quá trình phát biểu
4 Định hướng năng lực được hình thành:
- Năng lực thu thập thông tin, nhìn nhận, đánh giá vấn đề đáng quan tâm của đời sống hiện nay
- Năng lực giải quyết những tình huống có thể xảy đến trong quá trình phát
biểu; năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ, điều chỉnh giọng điệu, cử chỉ, thái độ phù
hợp trong từng tình huống giao tiếp
II CHUẨN BỊ BÀI HỌC
1 Phương pháp và kĩ thuật dạy học:
- Phương pháp dạy học: Tìm kiếm tri thức, thảo luận nhóm, đàm thoại, tình
huống, động não, giảng giải, thuyết trình
Trang 7- Kĩ thuật dạy học: Đặt câu hỏi, tranh luận- ủng hộ- phản đối, tia chớp, các
mảnh ghép…
2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
- Chuẩn bị của giáo viên:
+ Kế hoạch dạy học, bài giảng trên Powerpoint
+ Các phiếu học tập sử dụng trong bài
- Chuẩn bị của HS: sách, vở, đồ dùng học tập
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động khởi động(2 phút)
a GV cho học sinh trả lời một số câu hỏi để dẫn vào bài học.
Chọn đáp phù hợp với bản thân Câu 1: Phản ứng của bạn khi phải diễn đạt một vấn đề nào đó trước lớp?
a Rất ngại
b Chán ngán
c Chuyện bình thường trong hoạt động học tập
Câu 2: Bạn có cảm thấy khó khăn khi diễn đạt ý tưởng của mình?
a Tôi thường không biết phải bắt đầu như thế nào
b Tôi sẽ im lặng bởi trong đầu không có ý tưởng gì
c Rất dễ dàng, mọi người luôn hiểu tôi
Nhận định của giáo viên
- Nếu chọn đáp án (a), bạn không có kiến thức, thiếu tự tin và thiếu kỹ
năng phát biểu, trình bày ý tưởng cá nhân
- Nếu chọn đáp án (b), bạn không hề hào hứng với việc học tập
- Nếu chọn đáp án (c), thì bạn đã có cả sự tự tin và phương pháp phát
biểu trước tập thể
b Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết mục tiêu của bài học
c GV thông báo cho học sinh biết về thời gian, cách thức tổ chức dạy học của bài.
Hoạt động 1: Hình thành kiến thức:
Tìm hiểu phát biểu tự do Nhu cầu phát biểu Cách thức phát biểu
(10 phút)
(Hình thức tổ chức dạy học: Cá nhân/ Toàn lớp)
- Bước 1: GV yêu cầu HS đọc kĩ mục 1,2,3, SGK, suy nghĩ và trả lời câu
hỏi:
Trang 8+ Anh/chị hãy tìm một vài ví dụ từ đời sống và của bản thân để chứng
tỏ rằng: trong thực tế không phải lúc nào con người cũng chỉ phát biểu
những ý kiến mà mình đã chuẩn bị kĩ càng theo chủ đề định sẵn?
+ Trên cơ sở những ví dụ đã tìm được, anh/chị hãy trả lời câu hỏi vì
sao con người lại có nhu cầu phát biểu tự do?
+ Phát biểu tự do thường thiếu thời gian chuẩn bị, vậy làm thế nào để
có thể đạt được thành công?
- Bước 2: HS nghiên cứu tài liệu, giáo viên gọi hai học sinh trả lời câu hỏi
- Bước 3: GV có thể bổ sung, thống nhất, khẳng định tầm quan trọng của
việc phát biểu ý kiến, thuyết trình, trước tập thể trong xã hội hiện đại
KIẾN THỨC CẦN NẮM CỦA HOẠT ĐỘNG 1
Những đề tài thường được nói đến một cách tự nhiên:
Dịch bệnh, ửng xử của con người trong thời kì dịch bệnh, thời trang, nhu cầu của con người, tình bạn, tình yêu, mạng xã hội…
2 Nhu cầu được (hay phải) phát biểu tự do.
– Trong quá trình sống, học tập và làm việc, con người có rất nhiều điều say mê (hay buộc phải tìm hiểu) Tri thức thì vô cùng mà hiểu biết của mỗi người có hạn nên chia sẻ và được chia sẻ là điều vẫn thường gặp
– “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Vì vậy, phát biểu tự do là một nhu cầu (muốn người khác nghe mình nói) đồng thời là một yêu cầu
(người khác muốn được nghe mình nói) Qua phát biểu tự do, con người sẽ hiểu người, hiểu mình và hiểu đời hơn
Phát biểu tự do và quá trình chuẩn bị phát biểu:
– Phát biểu tự do là dạng phát biểu trong đó người phát biểu trình bày với mọi người về một điều bất chợt nảy sinh do mình thích thú, say mê hoặc do mọi người yêu cầu
Vì bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài dự tính nên người phát biểu không thể tức thời xây dựng lời phát biểu thành một bài hoàn chỉnh có sự chuẩn bị công phu
Do đó, để phát biểu thành công, người phát biểu cần chú ý:
+ Không phát biểu những gì mình không hiểu biết và thích thú
+ Phải bám sát chủ đề đã chọn, không để bị xa đề hay lạc đề
+ Phải tự rèn luyện để có thể nhanh chóng tìm ý và sắp xếp ý
+ Nên xây dựng lời phát biểu thành một bài hoàn chỉnh
Hoạt động 2: Thực hành phát biểu tự do (20 phút)
(Hình thức tổ chức dạy học: (Cá nhân/ nhóm/toàn lớp)
Trang 9Bước 1: Chọn nội dung phát biểu
Có thể chọn một trong các đề tài sau:
+ Đại dịch covid 19 và hành động của con người?
+ Mạng xã hội và văn hóa sử dụng mạng?
+ Tình yêu tuổi học đường nên hay không nên?
+ Nghề nghiệp mà bạn dự định theo đuổi? v v…
Bước 1: Chọn chủ đề cụ thể.
Bước 2: Kiểm tra nhanh xem vì sao mình chọn chủ đề ấy (tâm đắc? được
nhiều người tán thành? chủ đề mới mẻ?… hay là tất cả những lí do đó?)
Bước 3: Phác nhanh trong óc những ý chính của lời phát biểu và sắp xếp
chúng theo thứ tự hợp lí
Bước 4: Nghĩ cách thu hút sự chú ý của người nghe (nhấn mạnh những chỗ
có ý nghĩa quan trọng; đưa ra những thông tin mới, bất ngờ, có sức gây ấn tượng; lồng nội dung phát biểu vào những câu chuyện kể lí thú, hấp dẫn; tìm cách diễn đạt dễ tiếp nhận và trong hoàn cảnh thích hợp có thêm sự gợi cảm hay hài hước; thể iện sự hào hứng của bản thân qua ánh mắt, giọng nói, điệu bộ; tạo cảm giác gần gũi, có sự giao lưu giữa người nói và người nghe)
GV có thể chọn một chủ đề bất ngờ và khuyến khích những học sinh có
hứng thú và hiểu biết thực hành- cả lớp nghe và nhận xét, góp ý
HS dựa vào kinh nghiệm bản thân và những điều tìm hiểu trên đây để có những lựa chọn thích hợp Trên cơ sở mục (3), HS cụ thể hóa những điều đặt
ra ở mục (4)
- GV yêu cầu học sinh hoàn thành phiếu học tập lí giải nguyên nhân các cơ
sở lựa chọn vấn đề phát biểu (5 phút)
Phiếu học tập
Người nghe
Người trình bày
Môi trường, cơ sở
vc, thời gian…
- HS suy nghĩ, nghiên cứu SGK, hoàn thành phiếu học tập.
- GV yêu cầu vài học sinh trình bày phiếu học tập, sau đó nhận xét, bổ sung,
khái quát kiến thức
Gv cho hs trình bày bài phát biểu của mình theo nhóm đã sắp xếp, phân loại trước đó Trong quá trình học sinh phát biểu, gv ghi âm (15 phút)
Trang 10Hs nhóm khác lắng nghe, ghi chép (nếu cần).
KIẾN THỨC CẦN NẮM CỦA HOẠT ĐỘNG 2
II Thực hành phát biểu.
1.Chọn nội dung phát biểu
a, Các cơ sở để lựa chọn vấn đề trình bày
- Căn cứ vào người nghe
- Căn cứ vào hiểu biết của bản thân.
- Căn cứ vào điều kiện môi trường, cơ sở vật chất, thời gian trình bày.
b, Nguyên nhân lựa chọn (phiếu học tập)
Người nghe Lứa tuổi, trình độ, nghề nghiệp, nhu cầu thị hiếu…của
người nghe tác động lớn đến bài trình bày
Người phát biểu Hiểu biết hiện thời của bản thân về đề tài, nguồn tài liệu
đã có và có thể có…chi phối đến việc lựa chọn vấn đề Môi trường, cơ sở
vc, thời gian…
Yếu tố môi trường, cơ sở vật chất…ảnh hưởng đến chất lượng bài trình bày; thời gian ngắn, dài quyết định sự lựa chọn vấn đề rộng, hẹp
2 phát biểu của học sinh.
a Mặt đã đạt:
- Chủ động, tự tin, bình tĩnh khi phát biểu.
- Vấn đề sẽ được trình bày mạch lạc, hệ thống, vừa đủ, nổi trọng tâm.
- Người nghe dễ dàng tiếp nhận, đồng quan điểm.
- Đảm bảo thời gian quy định.
- Tôn trọng người nghe.
b Mặt cần khắc phục
- Xác định luận điểm, luận cứ cho bài trình bày, xác định luận điểm trọng tâm
- Sắp xếp luận điểm, luận cứ theo trình tự hợp lí, khoa học.
- Chuẩn bị trước những câu chào hỏi, kết thúc, chuyển ý và dự kiến điều
khiển giọng điệu, cử chỉ khi nói… ,
Hoạt động 4: Khái quát kiến thức và củng cố (8 phút)