SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THÔNG QUA CÁC BÀI HỌC LỊCH SỬ 10 CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT NÔ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THÔNG QUA CÁC BÀI HỌC LỊCH SỬ 10 CHO HỌC
SINH TRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 4
Người thực hiện: Lê Thị Tâm Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Lịch sử
THANH HÓA NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu 0
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung 2
2.1 Cơ sở lý luận 2
2.2 Thực trạng 3
2.3 Cách thức, biện pháp thực hiện 6
2.3.1 Giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các bài học lịch sử cụ thể 6
2.3.2 Giáo dục học sinh ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động ngoại khóa 16
2.3.3 Giáo dục học sinh ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động sinh hoạt tập thể 18
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 18
3 Kết luận, kiến nghị 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3Mặt khác, nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, cùng với đó là
cơ chế thị trường, quá trình đô thị hóa, sự bùng nổ thông tin, … tác động đếnviệc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Bên cạnh nhữngthuận lợi, cơ hội để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, thì nguy cơ mai mộtbản sắc văn hóa đang hiện hữu Nhất là thế hệ trẻ với những ảnh hưởng mạnh
mẽ của các nền văn hóa ngoại lai
Chính vì vậy, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụcấp bách hàng đầu, là chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia, là nhiệm
vụ chung của toàn xã hội Trong đó giáo dục giữ vai trò quan trọng nhất, bằngcon đường giáo dục và thông qua giáo dục, các giá trị vật chất, tinh thần, cáckinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, ngôn ngữ,phong tục, tập quán…của các dân tộc được lưu truyền, bảo tồn, vận hành, nốiliền các thế hệ
Là giáo giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Nông Công 4 - huyệnNông Cống – Thanh Hóa, tôi nhận thấy vai trò và trọng trách vô cùng quantrọng của mình trong việc giáo dục học sinh ý thức giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa trên quê hương Nông Cống nói riêng và dân tộc nói chung TrườngTHPT Nông cống 4 có 23 lớp họcvới gần 1000 học sinh, đóng chân trên mộtvùng quê nông nghiệp hiền hòa Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do ảnhhưởng của quá trình đô thị hóa, sự bình yên của những xóm làng trước đây bịphá vỡ, kéo theo đó là sự du nhập của các yếu tố văn hóa mới tiếp thu từ cácnguồn khác nhau như báo chí, ti vi, mạng xã hội, các mối quan hệ bạn bè…Trong khi đó, tâm lí các em ở lứa tuổi này rất nhạy cảm với cái mới, chịu ảnhhưởng to lớn của những tác động bên ngoài đã khiến một bộ phận không nhỏcác em học sinh dần xa rời văn hóa truyền thống của quê hương, của dân tộc
Mặc dù trong những năm học qua, nhà trường, Đoàn thanh niên đã đưa racác nội quy, quy định rõ ràng về tác phong học sinh THPT( đầu tóc, trang phục,tác phong học sinh….) nhưng vẫn còn một bộ phận học sinh thường xuyên viphạm nội quy hoặc thực hiện chỉ mang tính chất đối phó để Ban nền nếp của nhàtrường không trừ điểm lớp Vậy làm thế nào để các em thực hiện tốt nội quy nhàtrường, thêm yêu hơn và tự hào hơn về bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề mà tôirất trăn trở
Trang 4Qua thực tế giảng dạy gần 10 năm ở miền núi và 1 năm ở trường, qua quátrình tìm hiểu tâm lí học sinh trong đó có học sinh khối 10, tôi mạnh dạn đưa ra
đề tài: “Giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các bài
học Lịch sử 10 cho học sinh trường THPT Nông Cống 4” Nhờ những kinh
nghiệm đó mà bản thân tôi trong năm học vừa qua đã, đang thực hiện và thuđược nhiều kết quả Kính mong các thầy cô tham khảo và cho ý kiến đóng góp
để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả và sự hứng thú đối với bộ môn Lịch
sử của học sinh THPT nói chung
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Thông qua đề tài, tôi muốn được chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệptrong trường, trong tỉnh về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong dạy họcLịch sử 10
- Giúp học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử, vị trí, giá trị tinh thần to lớn của văn hóatruyền thống dân tộc qua các thời kỳ lịch sử Từ đó hình thành ở các em kỹ năngđánh giá, bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc.Góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong nhà trường
- Hình thành cho các em học sinh ý thức thực hiện tốt nội quy trường, lớp, xâydựng môi trường học tập văn minh, mô phạm
- Giúp học sinh hứng thú, say mê hơn đối với bộ môn Lịch sử
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh lớp 10 ởtrường THPT Nông Cống 4 thông qua các bài học Lịch sử
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Sử dụng các phương pháp trong dạy học lịch
sử ở các bài học lịch sử cụ thể, để hình thành kiến thức về văn hóa dân tộc chocác em học sinh
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu các khái niệm, các Nghị quyết cóliên quan đến vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
- Phương pháp thực nghiệm, phân tích: Tiến hành soạn và thực nghiệm các tiếtdạy cụ thể, trực tiếp triển khai các hoạt động ngoại khóa để khẳng định tính khảthi, hiệu quả của đề tài
- Phương pháp tổng hợp: Sau khi triển khai thực hiện vấn đề, tôi tổng hợp đánhgiá kết quả cuối cùng để thấy được thành công của đề tài.Từ đó áp dụng phổbiến trong những năm học tiếp theo
2 Nội dung.
2.1 Cơ sở lý luận.
Giáo dục thế hệ trẻ luôn là mối quan tâm đặc biệt của mỗi dân tộc , bởi vì
“ mỗi thế hệ đi vào cuộc sống, hướng theo sự phát triển chung của nhân loại và dân tộc không thể không mang theo mình những giá trị của quá khứ Cứ như vậy, trong dòng phát triển của lịch sử, các thế hệ nối tiếp nhau sáng tạo và kế thừa các di sản quí báu mà tiến lên…” Dạy Lịch sử là “ dạy chữ để dạy người”,
môn Lịch sử không chỉ trang bị cho thế hệ trẻ một vốn kiến thức cần thiết về
Trang 5lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới mà còn góp phần quan trọng bồi dưỡng kỹ năngsống cho học sinh như ý thức, tinh thần trách nhiệm… trong đó có giáo dục ýthức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Trên thế giới, mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc sẽ có những bản sắc vănhóa riêng và hình thành nên nét đặc trưng của từng dân tộc.Văn hóa dân tộcchính là niềm tự hào, là món ăn tinh thần của người dân cả nước Vậy bản sắcvăn hóa dân tộc là gì?
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là thuật ngữ chỉ sắc thái, vẻ đẹp và tínhchất đặc biệt, cái riêng để phân biệt với những nước trên thế giới, bản sắc vănhóa dân tộc là cái gốc của nền văn hóa, những đặc trưng không thể trộn lẫntrong cội nguồn văn hóa dân tộc Việt Nam.Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam lànhững nét đặc trưng đặc biệt làm nên sắc thái, bản lĩnh và dấu ấn riêng của mỗidân tộc, từ những nét đó để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Văn hóakhông phải mang trong mình những giá trị cố định, bất biến mà văn hóa luônphát triển theo lịch sử
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là hành động, việc làm của mỗi ngườihướng tới mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và phát huy những nét đặc trưng, tài sản vôgiá, linh hồn của dân tộc hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,biết bao mồ hôi xương máu của dân tộc Việt Nam
Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển, vì vậy phải
chuẩn bị cho mình đầy đủ những năng lực nội sinh cần thiết để “ hòa nhập mà không bị hòa tan” Trong đó nhiệm vụ quan trọng là vừa phải giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc, vừa phải tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làmđang dạng thêm nền văn hóa của mình Trong Báo cáo chính trị của Ban chấphành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII trình trước Đại hội IX đãnhấn mạnh việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Vậygiáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh là hợp với chủtrương đường lối của Đảng, Nhà nước, với ý chí, nguyện vọng của nhân dân,đưa nước ta vững bước trước làn sóng hội nhập và phát triển.Giáo dục học sinh
ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong dạy học Lịch sử 10 là giáo dụcnhững vấn đề gì?
- Là hình thành cho học sinh những nhận thức cơ bản về cácgiá trị củavăn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc trong các bài học lịch sử cụ thể qua từng giaiđoạn, về vai trò của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
-Hình thành cho các em thái độ trân quý những giá trị văn hóa truyềnthống tốt đẹp của cha anh hình thành trong quá trình lịch sử Từ đó từng bướchình thành ở học sinh lòng tự hào dân tộc, tình yêu và trách nhiệm của các emđối với quê hương, đất nước
- Khi các em đã có nhận thức đúng ,thái độ đúng, sẽ các tác động tích cựcđến hành động của các em Như vậy sẽ hình thành cho các em ý thức chủ động
tự giác trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 62.2 Thực trạng.
Có thể thấy văn hóa Việt Nam có bề dày truyền thống mấy nghìn năm lịch
sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều biến cố thăng trầm nên kết tinh và lắngđọng được nhiều giá trị tích cực, như truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm,
sự khoan dung, tinh thần cộng đồng, sự nhân ái, lạc quan và hồn hậu, trọngnghĩa tình, sự cần cù, siêng năng… Hiện nay,trong quá trình hội nhập, Việt Namđược bạn bè quốc tế biết đến như một đất nước thanh bình, hiện đại, trẻ trung vànăng động, một thành viên tích cực trong các hoạt động hợp tác quốc tế cho hòabình và phồn vinh chung trên toàn cầu Hơn nữa, bối cảnh chuyển đổi mang tínhbước ngoặt của Việt Nam, sự “va đập” giữa cái mới và cái cũ tạo nên một lựchấp dẫn đặc biệt của văn hóa Việt Nam Nền văn hóa hiện tại đang hướng đếnviệc kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trịvăn hóa mới, hướng tới tương lai Những thành tựu về văn hóa trong lịch sử dân
tộc sẽ chuyển hóa thành “sức mạnh mềm” để Việt Nam “ tăng sức đề kháng”
trong quá trình hội nhập quốc tế
Tuy vậy, hội nhập quốc tế cũng có những tác động tiêu cực không nhỏđến việc giữ gìn bản sắc dân tộc của nước ta hiện nay như:
- Những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, nên có nhiều phần tửphản động tuyên truyền nhảm tạo nên sự hoài nghi, phủ nhận con đường đi lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta, phủ nhận những thành quả của cha ông trong quátrình lịch sử, phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng… chính điều nàygây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở nước ta
- Một bộ phận giới trẻ hiện nay có lối sống hướng ngoại và năng động quámức: dễ tiếp thu cái mới, hấp thụ các ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa ngoại lai,xuất hiện những bất thường, phá cách, lệch chuẩn, “gây sốt” cho xã hội, làm xóimòn các giá trị văn hóa truyền thống như chuộng các loại “thời trang sành điệu”,mốt đầu trọc, hình xăm trổ, mặc thiếu vải…Ngoài ra còn có một hiện tượngđáng lo ngại là dùng ngôn ngữ “ tuổi teen”, làm mất đi sự trong sáng của TiếngViệt, sùng bái thần tượng nước ngoài, lối sống vô cảm, ích kỉ, thích và quenhưởng thụ, sống buông thả…gây hại đến thuần phong mĩ tục của dân tộc
-Còn không ít trường hợp vì đồng tiền, danh lợi mà chà đạp lên tình nghĩagia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp, suy thoái đạo đức lối sống
- Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan… vẫn còn tồntại
Còn thực trạng nữa là văn hóa ứng xử, giao tiếp của một bộ phận họcsinhtrong các trường học ngày nay không còn những nét đẹp của truyền thống: không ít học sinhchẳng những đã đánh mất phép tắc, không kể trên - dưới, trước
- sau, ăn nói thiếu lễ độ, thô tục mà còn hành xử côn đồ, hiếu thắng… bất kểtrong gia đình hay ra ngoài đường.Đã không còn hoặc còn rất ít các em học sinhtrong giờ ra chơi cùng nhau chơi các trò chơi như nhảy dây, đá cầu, đánh thẻ…Thay vào đó, các em lướt Wed, lướt Facebook, Instagram, Tik Tok, YouTube,chơi liên quân… các em đắm chìm vào thế giới với đủ mọi tin tức tốt - xấu,trắng- đen, đúng- sai lẫn lộn Không chỉ ở nhà hay ngoài đường mà ngay trong
Trang 7trường học, tình trạng học sinh chửi thề, nói bậy ngày càng nhiều và rất khókiểm soát Mặc dù Bộ Giáo dục đã ban hành đi kèm những nội quy trường học,quy định khen thưởng, kỷ luật học sinh Tuy nhiên để xử phạt học sinh chửi thề,
nói bậy là rất khó vì “ không thể đi theo học sinh như hình với bóng để bắt quả tang các em và xử phạt Tất cả chỉ trông chờ vào tính tự giác của các em” Vì
vậy giáo dục học sinh giữ gìn bản sắc dân tộc trong các trường học là một việclàm cần thiết nhằm xây dựng một môi trường học tập văn minh, tích cực, môphạm
Trường THPT Nông Cống 4 đóng chân trên địa bàn xã Trường Sơn,huyện Nông Cống- một vùng đất nông nghiệp hiền hòa Học sinh trong trườngchủ yếu là con em trong các gia đình thuần nông, với bản tính hiền lành, thânthiện, các em học sinh cơ bản đã thực hiện tốt nội quy trường lớp, chăm chỉ họctập, yêu thương, đoàn kết Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh sống châylười, ỷ lại, cố tình vi phạm nội quy trường lớp như trốn tránh mặc áo dài vào thứ
2 đầu tuần, đi dép lê, mặc sai trang phục, đầu tóc không đúng quy định, hay nóitục chửi thề, lệ thuộc vào mạng xã hội, dùng vũ lực với bạn bè… đặc biệt là học
sinh khối 10, khi các em vừa rời “trường xã lên trường huyện”, gặp bạn mới,
môi trường học tập mới, tiếp cận nhiều mối quan hệ mới, nhiều yếu tố văn hóa
mới… nên các em thường hay “choáng ngợp, bỡ ngỡ” Nếu không giáo dục và
định hướng tốt, các em sẽ đi lệch hướng,thường xuyên vi phạm nội quy trườnglớp, dễ xa ngã trước các tệ nạn xã hội Thêm vào đó, các emthường ít tìm hiểu
về phong tục văn hóa quê hương, sự hạn chế trong hiểu biết văn hóa dân tộc Vìvậy cần phải giáo dục để các em hiểu hơn về các giá trị văn hóa truyền thốngtrên quê hương nói riêng, dân tộc nói chung Từ đó có thái độ trân quý, giữ gìn
và phát huy các giá trị văn hóa, tự nguyện thực hiện tốt nội quy trường lớp, xâydựng môi trường học tập thân thiện, văn minh là nhiệm vụ quan trọng của cácthầy cô trong trường, trong đó có bộ môn Lịch sử
Tuy nhiên,thực tiễn cho thấy quan niệm trong dạy và học Lịch sử còn tồntại nhiều sai lệch như: cho rằng môn Lịch sử là môn phụ, khó học, khó nhớ,không có những hữu ích trực tiếp cho thời buổi kinh tế thị trường, chỉ là môn lựachọn thi tốt nghiệp để vừa điểm xét tốt nghiệp …, vì vậy cả giáo viên và họcsinh đều dạy và học Lịch sử còn mang tính hình thức Mặt khác, xuất phát từquan điểm học gì thi nấy nên công tác dạy và học Lịch sử hiện nay còn tồn tạinhiều bất cập là điều không thể tránh khỏi
Bên cạnh đó, do khối lượng kiến thức cho mỗi tiết học nhiều nên giáo
viên nhiều khi phải “gắng sức” mới truyền tải được các kiến thức lịch sử cho
học sinh Vì vậy thông qua những kiến thức đó hình thành cho các em kỹ năngsống, giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc thì thường bị bỏ qua hoặc có thì cũng chỉ là “ cưỡi ngựa xem hoa”
nên chưa tác động đến tưtưởng, tình cảm của các em, dẫn đến nhận thức của các
em về vấn đề này còn mơ hồ, chưa rõ ràng Chính điều này đã khiến cho việcdạy học Lịch sử gặp nhiều trở ngại, trong đó có giáo dục học sinh giữ gìn bảnsắc văn hóa dân tộc
Trang 8Trong chương trình lịch sử 10,11,12, số lượng bài đề cập đến chủ đề vănhóa dân tộc còn ít, chủ yếu ở lớp 10 với các bài 20,24 và một phần bài 25 Vìvậy để giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi giáo viên phải có
sự đầu tư, tìm hiểu và thiết kế bài dạy cho phù hợp với thời gian quy định củachương trình
Từ lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng củaviệc giáodục học sinh ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong dạyhọc lịch
sử ở trường phổ thông Điều đó không chỉ có ýnghĩa trong việc nâng cao tri thức
mà còn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện nhân cách đạo đức cho thế hệ trẻ
2.3 Cách thức, biện pháp thực hiện.
Văn hóa dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử xa xưa cùng vớiquá trình dựng nước và giữ nước của cha ông, được giữ gìn và phát huy quahàng nghìn năm lịch sử Trong giới hạn của đề tài, tôi sẽ giáo dục cho học sinhquá trình hình thành, phát triển những giá trị văn hóa của dân tộc trong suốt tiếntrình từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX thông qua các bài học lịch sử cụ thể từbài 13 đến bài 28 trong chương trình Lịch sử 10, trong một số tiết lịch sử ngoạikhóa và lồng ghép trong một số hoạt động tập thể của nhà trường.Qua đó giáodục các em thái độ trân quý, giữ gìn và phát huy Dưới đây là một số biện pháp
từ thế kỷ X-XIX Tuy nhiên, văn hóa dân tộc còn được thể hiện qua thời kỳdựng nước đầu tiên, qua quá trình hoàn thiện và phát triển nhà nước phong kiến,qua xây dựng, phát triển kinh tế, đấu tranh chống giặc ngoại xâm… Do vậy,thông qua các bài học cụ thể, giáo viên phải có sự lồng ghép linh hoạt để qua đógóp phần hình thành kỹ năng sống cho các em
Ví dụ: Bài 13: Việt Nam thời nguyên thủy ( lịch sử 10, cơ bản), được gộp
vào bài 1,2: xã hội nguyên thủy Tuy nhiên, giáo viên khi day nội dung này cầnnhấn mạnh: cư dân ở các nền văn hóa Phùng Nguyên, Sa Huỳnh, sông Đồng Naingoài hoạt động kinh tế, biết chế tác và sử dụng các công cụ lao động bằng kimloại, họ còn biết làm đồ gốm đẹp, làm đồ trang sức, thiêu người chết , rồi đổ trovào các vò bằng đất nung cùng với đồ trang sức Như vậy, có thể thấy từ thờinguyên thủy, con người trên lãnh thổ nước ta đã có đời sống văn hóa tinh thầnphong phú Chính điều đó đã tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc đến tận ngàynay
Ở bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam Để tìm hiểu về
nét đặc sắc trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Văn Lang- Âu lạc, cưdân Champa, cư dân cổ Phù Nam, giáo viên tổ chức hoạt động nhóm
Nhóm 1: Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân Văn Lang- Âu Lạc?
Nhóm 2: Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân cổ Champa?
Trang 9Nhóm 3: Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân cổ Phù Nam?
Nhóm 4: Sự khác nhau trong đời sống vật chất tinh thần của cư dân Văn
Lang- Âu Lạc so với cư dân Champa và cư dân Phù Nam?
-Học sinh thảo luận 3 phút, cử đại diện trả lời
- Gv nhận xét ,bổ sung, nhấn mạnh: Như vậy từ thời cổ đại trên lãnh thổ nước
ta, nhân dân ta đã định hình cho sự ra đời các giá trị văn hóa truyền thống củadân tộc Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các giá trị văn hóa đó vẫn tồn tại chođến tận ngày nay
Giáo viên có thể sử dụng phương pháp dạy học liên môn với môn Ngữvăn để giáo dục học sinh các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc: Kể chohọc sinh nghe các câu chuyện như sự tích “ bánh trưng bánh dày” để học sinhthấy được nét đẹp văn hóa truyền thống trong tết Nguyên Đán hàng năm đượchình thành từ thời Văn Lang Ngày nay, gói và nấu bánh chưng đã trở thành mộttập quán, văn hóa sống trong các gia đình Việt Nam Hoặc sự tích “trầu cau”.Qua việc kể câu chuyện cho học sinh nghe, giúp học sinh hiểu đượcnguồn gốccủa cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là những thứ được sử dụng để ăn trầucũng như giải thích tục lệ trầu cau trong các đám cưới Cho đến nay, trầu cauvẫn là những thứ không thể thiếu trong việc giao hiếu, kết thân, cưới hỏi củangười Việt
Bài 15: Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc(Từ thế kỷ thứ II TCN đến đầu thế kỷ X) Mục 2: Những chuyển biến về kinh tế, văn hóa, xã hội Giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức sau: Trước
âm mưu “đồng hóa” về văn hóa của các triều đại phong kiến phương Bắc, nhândân ta đã đoàn kết một lòng chống “đồng hóa”, đồng thời “Việt hóa” các yếu tốvăn hóa tiếp thu từ Trung Quốc, vẫn giữ gìn được các giá trị văn hóa, phong tụctập quán của mình,đồng thời tiếp biến văn hóa Trung quốc làm phong phú thêmcác giá trị văn hóa dân tộc, làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực xâmlược phương Bắc
Giáo viên yêu cầu học sinh lấy một vài ví dụ về “ Việt hóa” các yếu tốvăn hóa phương Bắc? Như ta đã học chữ Hán rồi từ đó tạo ra chữ Nôm, các từHán- Việt, Nho giáo, Phật giáo mang những nét Việt hóa, kể cả thể chế, lễ nghi,tập quán gốc Trung Quốc
Qua nội dung bài học, giáo viên cần giáo dục cho học sinh tinh thần giữgìn bản sắc văn hóa dân tộc qua những biến cố của lịch sử Bên cạnh đó là tiếpthu có chọn lọc các yếu tố văn hóa tiếp thu từ bên ngoài
Ở thời kỳ đất nước ta được độc lập, tự chủ ( thế kỷ X-XIX), các triều đạiNgô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê - Trịnh, Chúa Nguyễn, TâySơn, Nhà Nguyễn vẫn thực hiện đan xen giữa gìn giữ và tiếp thu các giá trị vănhóa từ bên ngoài(Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây) được thể hiện rõ qua các bài
20,24,25, được tích hợp thành chủ đề: “Văn hóa Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX” Nội dung chủ đề được giảng dạy trong 2 tiết với thiết kế
bài học như sau:
CHỦ ĐỀ:
Trang 10VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
- So sánh được sự khác nhau về văn hóa giữa các giai đoạn lịch sử
2 Kĩ năng
- Phát triển kĩ năng khai thác tranh ảnh, tư liệu lịch sử
- Phát triển kĩ năng phân tích, so sánh các sự kiện lịch sử
3 Thái độ
- Bồi dưỡng lòng tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam
- Giáo dục cho HS thái độ trân trọng và có ý thức gìn giữ, bảo tồn các di sản vănhóa của nhân loại, duy trì và phát triển bản sắc văn hóa của ông cha ta
4 Định hướng các năng lực hình thành
Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng
lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực chuyên biệt:
- Năng lực tái hiện các sự kiện lịch sử dân tộc, các thành tựu văn hóa trong thế
- Vận dụng những kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn:Học sinh cần hành động gì để giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc?
- Biết vận dụng kiến thức liên môn các bộ môn Văn học, Địa lí giải quyết vấn
đề bài học, lĩnh hội kiến thức mới
II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
Trang 11- Nghiên cứu nội dung chuyên đề tìm hiểu về các thành tựu văn hóa dân tộc
trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX
- Bút dạ hoặc bút màu
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ
A KHỞI ĐỘNG, GIỚI THIỆU BÀI HỌC.
GV chốt ý, và giới thiệu về nội dung của bài học:
- Hình ảnh 1 là Tháp Báo Thiên ở Hà Nội.
- Hình ảnh 2 là sân khấu Chèo.
- Hình ảnh 3 là Văn Miếu- Hà Nội.
- Hình ảnh 4 là thi cử thời phong kiến.
=> Đây là những hình ảnh về văn hóa Việt Nam thời phong kiến
GV: Từ khi giành được độc lập chủ quyền, trải qua gần 10 thế kỷ lao động và chiến đấu, nhân dân Việt Nam đã xây dựng cho mình một nền văn hóa đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Để thấy được các giá trị văn hóa
đó, chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề “ Văn hóa Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX”.
Trang 12B HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC.
1 Hoạt động 1: Tìm hiểu về tình hình tư tưởng, tôn giáo trong các thế kỷ X-XIX( Cá nhân, hoạt động nhóm).
X-GV cho HS xem một số bức tranh sau:
- Ở thời kì độc lập, Nho giáo, phật giáo, Đạo giáo có điều kiện
phát triển
Thích-ca Mâu-ni (563 - 483 TCN)
Lão Tử (khoảng TK VI TCN)
* Từ thế kỉ X-XIV (thời Lý - Trần)
- Phật giáo giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong triều đình và
rất phổ biến trong nhân dân.
- Nho giáo chiếm địa vị độc tôn
* Từ thế kỉ XV (thời Lê sơ)
- Nho giáo dần trở thành hệ tư tưởng chính thống của
giai cấp thống trị, chi phối nội dung giáo dục thi cử
nhưng ảnh hưởng còn ít.
- Đạo giáo hòa lẫn với các tín ngưỡng dân gian
- Phật giáo, Đạo giáo suy yếu.
“Tam giáo đồng nguyên”
GV yêu cầu học sinh tìm hiểu SGK lịch sử 10, mục I - bài 20, mục I – Bài 24,mục 3 bài 25 kết hợp với các tư liệu sau:
Tư liệu 1: Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hộiloạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) phát triển tư tưởngcủa Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế
mà người đời sau coi Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo
Tư liệu 2: Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI TCN, là một tôn giáo
đồng thời cũng là một hệ thống triết học bao gồm một loạt các giáo lý, tư tưởngtriết học cũng như tư tưởng cùng tư duy về nhân sinh quan, vũ trụ quan, thế giớiquan, giải thích hiện tượng tự nhiên, tâm linh, xã hội, bản chất sự vật và sự việc;các phương pháp thực hành, tu tập dựa trên lời dạy của một nhân vật lịch sử có
thật là Sít- đác- ta hiệu là Sa-ky-a Mu-ni(Thích-ca-mâu-ni) thường được gọi
là Bụt hay Phật hoặc người giác ngộ, người tỉnh thức Ngay từ buổi đầu, Thích
Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặtchẽ Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi vớinhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khácnhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển