Trong quá trình tìm hướng tháo gỡ, bản thân tôi nhận thấy, kiến thức môn Giáo dục công dân lớp 10 có nhiều nội dung gần gũi với những vấn đề thường được bàn luận trong kiểu bài nghị luận
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN MỘNG TUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“VẬN DỤNG KIẾN THỨC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VÀO ÔN LUYỆN KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ
VĂN THPT”
Người thực hiện: Phạm Thị Hồng Nhung
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Mộng
Tuân
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA THÁNG 5 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
Tra
ng
1 Mở đầu 2
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5
2.3 Các giải pháp đã áp dụng trong việc vận dụng kiến thức …… …… 6
2.4 Hiệu quả của việc vận dụng sáng kiến kinh nghệm trong giảng dạy 12
3 Kết luận và kiến nghị 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Ngữ văn nói chung kiểu bài nghị luận xã hội nói riêng đang ngày càng có vị trí quan trọng đối với mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh Đây là kiểu bài giúp học sinh nhìn nhận, đánh giá, nhận thức được những vấn đề xã hội, đặc biệt là giúp học sinh lựa chọn được lối sống đúng đắn, lành mạnh, có đạo đức, có nhân cách, có nghị lực trong cuộc sống Hơn nữa kiểu bài nghị luận xã hội, đặc biệt là nghị luận về tư tưởng, đạo lý, là một phần quan trọng trong đề thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng những năm gần đây Trong cấu trúc đề thi môn Ngữ văn kỳ thi quốc gia THPT năm 2020-2021, kiểu bài này là một trong ba câu của đề thi, chiếm 3/10 điểm của toàn bài Như vậy đây là một kiểu bài quan trọng mà học sinh cần có kiến thức, kỹ năng để làm tốt
và có kết quả cao trong kì thi quan trọng này
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là kiểu bài hay mà khó Hay bởi kiểu bài này có đối tượng nghị luận là những vấn đề có liên quan đến những tư tưởng, đạo đức, lối sống đẹp, lành mạnh, tích cực của con người Khó vì cách hỏi của đề bài thường không trực tiếp, các vấn đề bàn luận thường có khái niệm trừu tượng, biểu hiện phong phú, tác động nhiều mặt trong đời sống Khi làm kiểu bài này, học sinh không chỉ phải vận dụng kiến thức tổng hợp ở nhiều phân môn, nhiều lĩnh vực trong đời sống để nghị luận mà còn phải có kỹ năng phân tích, đánh giá, nhìn nhận vấn đề Chính vì thế mà học sinh thường ngại ngùng hoặc lúng túng khi tiếp cận kiểu bài này
Bản thân là giáo viên môn Ngữ văn đã nhiều năm giảng dạy chương trình THPT nên cũng có trăn trở, tìm tòi những cách thức giúp học sinh có hứng thú và kỹ năng giải quyết kiểu bài này Trong quá trình tìm hướng tháo gỡ, bản thân tôi nhận thấy, kiến thức môn Giáo dục công dân lớp 10 có nhiều nội dung gần gũi với những vấn đề thường được bàn luận trong kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý Vì vậy mà tôi đã vận dụng những kiến thức của bộ môn này vào việc ôn luyện để giúp học sinh có thể “ăn điểm” đối với kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lý trong các kỳ kiểm tra, đánh giá Kể từ khi áp dụng kinh nghiệm nhỏ này, chất lượng bài làm của học sinh về kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo
lý được nâng lên đáng kể
Vì vậy, tôi xin nêu ra sáng kiến và những kinh nghiệm của mình trong việc vận dụng kiến thức môn Giáo dục công dân vào ôn luyện kiểu bài nghị luận về một
tư tưởng, đạo lý để đồng nghiệp cùng tham khảo và có thể áp dụng vào việc ôn luyện cho học sinh đạt hiệu quả tốt nhất
2.2 Mục đích nghiên cứu
Bản thân tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm nhằm những mục đích sau:
- Giúp các em có khái niệm khoa học, đầy đủ, chính xác về các phạm trù xã hội
- Phân tích, bàn bạc, đánh giá các vấn đề nghị luận sâu sắc có tính thuyết phục
- Rút ra đầy đủ bài học cho bản thân
Trang 41.3 Đối tượng nghiên cứu
- Kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý
- Các văn bản:
+Bài 10 Quan niệm về đạo đức
+Bài 11 Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
+Bài 12 Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình
+Bài 13 Công dân với cộng đồng
+Bài 14 Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
+Bài 16 Tự hoàn thiện bản thân
( Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10, Nxb Giáo dục Việt Nam)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Vận dụng có hiệu quả kiến thức môn giáo dục công dân vào ôn luyện kiểu bài
nghị luận về tư tưởng, đạo lý trong chương trình THPT để các em có khái niệm khoa học, đầy đủ, chính xác về các phạm trù xã hội từ đó phân tích, bàn bạc và rút ra bài học cho bản thân sâu sắc hơn
- Tiến hành thực nghiệm so sánh trước và sau khi vận dụng ở hai năm học
2019-2020 và 2020-2021.
Trang 5
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1 Dạy học tích hợp liên môn là một yêu cầu cơ bản trong định hướng giáo dục học sinh tích cực hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong
đó môn Ngữ Văn là bộ môn Khoa học xã hội, có khả năng tích hợp với các môn Khoa học xã hội khác như Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân… Trong đó, Giáo dục công dân là bộ môn có mục tiêu giáo dục gần gũi nhất với môn Ngữ văn, đó
là hướng tới giáo dục nhân cách, tư tưởng, lối sống, lành mạnh cho học sinh Đồng ý rằng, môn Giáo dục công dân nghiêng về việc cung cấp những tri thức mang tính hệ tư tưởng, nghiêng về mặt chính trị, lý tính cao Nhưng những tri thức đó lại thuộc lĩnh vực đạo đức, tình cảm, thẩm mỹ của con người Bởi vậy ở một góc độ nào đó, nó vẫn có tiếng nói chung với bộ môn Ngữ văn
2.1.2 Nghị luận về một tư tưởng đạo lý là việc bàn bạc, đánh giá về những quan điểm, đạo đức, lối sống, tư tưởng tình cảm của con người trong đời sống qua đó giáo dục, hình thành nhân cách, lối sống lành mạnh cho học sinh Yêu cầu chung của bài nghị luận xã hội là tính thuyết phục cao Tính thuyết phục này là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố lý và tình Nghị luận phải cho người đọc thấy được sự đánh giá chủ quan cũng như tình cảm mãnh liệt của người viết nhưng cũng không thể thiếu những lí luận căn bản về những vấn đề tư tưởng đạo lý mà mình đang nghị luận Nếu chỉ có tình thì bài viết dễ rời vào sáo rỗng, nếu chỉ có lý thì dễ rơi vào cứng nhắc, khô khan, nặng tuyên truyền, thậm chí là áp đặt, giáo điều
Về cách thức tiến hành kiểu bài nghị luận một tư tưởng đạo lý nhìn chung cũng bao gồm các bước cơ bản như những kiểu bài nghị luận khác, gồm 4 bước: Tìm hiểu đề-tìm ý; lập dàn ý; viết bài; sửa chữa, bổ sung Trong đó, dàn ý chung cho bài nghị luận về tư tưởng đạo lý thường được triển khai như sau:
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề bàn luận.
* Thân bài:
- Giải thích: giải thích khái niệm, ý nghĩa câu nói, ý nghĩa câu chuyện được nêu ở đề bài để xác định nội dung tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
- Phân tích, chứng minh: Nêu ra các mặt, khía cạnh, biểu hiện của vấn
đề, lấy dẫn chứng để chứng minh
- Bàn luận, mở rộng vấn đề: Khẳng định tính đúng đán hay sai lầm của vấn đề, những hiện tượng khác biệt liên quan đến vấn đề, ảnh hưởng của vấn đề đối vời đời sống xã hội…
- Rút ra bài học nhận thức và hành động: Bài học đối với bản thân và đối với xã hội
* Kết bài: Đánh giá lại vấn đề, suy nghĩ và hành động của bản thân.
Mô hình chung là như vậy song mỗi vấn đề nghị luận lại có nội dung và định hướng nghị luận riêng, cách nhìn nhận, đánh giá riêng, lý lẽ và dẫn chứng riêng… Tất cả những điều này đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức kỹ năng
bộ môn Làm văn mà còn cần có vốn sống, sự am hiểu và khả năng nhìn nhận phân tích, đánh giá những tư tưởng, đạo đức, lối sống tồn tại trong đời sống xã hội
Trang 62.1.3 Như đã nói ở trên, bộ môn Giáo dục công dân là bộ môn gần gũi nhất với bộ môn Ngữ văn về mục tiêu giáo dục Hơn nữa môn giáo dục công dân trong nhà trường không chỉ cung cấp cho các em hệ thống kiến thức mang tính lý luận về các phạm trù xã hội mà còn giúp các em hiểu rõ qui luật của thực tiễn và có kỹ năng hành động đúng đắn, hợp qui luật thực tiễn Đặc biệt trong tình hình giáo dục hiện nay, khi mà đa số học sinh đều quá chú tâm vào trang bị vốn kiến thức sách vở, sự thiếu hụt về vốn sống, kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn đang là thực trạng phổ biến thì môn Giáo dục công dân lại càng chiếm vị trí quan trọng trong nhà trường
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có trăn trở, tìm tòi và nhận thấy, những vấn đề cơ bản của kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lý đều là những vấn
đề thuộc phạm trù đạo đức học, một nội dung quan trọng của bộ môn Giáo dục công dân lớp 10 Cụ thể, trong phần hai của sách Giáo dục công dân lớp 10 tập
trung giảng dạy nội dung: Công dân với đạo đức Trong đó, những vấn đề cơ
bản được triển khai có thể áp dụng để giải quyết một số đề về kiểu bài nghị luận
về tư tưởng, đạo ly như: Quan niệm về đạo đức; Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học, gồm: nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự, hạnh phúc, nhu cầu, lợi ích, trách nhiệm, phẩm chất của con người; Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình, gồm tình yêu, gia đình; Công dân với cộng đồng; Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Tự hoàn thiện bản thân…
Sau khi khảo khát nội dung chương trình của môn Giáo dục công dân lớp 10, tôi xét thấy rằng, có thể vận dụng những kiến thức này để nâng cao hiệu quả trong việc giảng dạy và ôn luyện kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý Vì vậy mà tôi đã thực nghiệm giải pháp này trong hai năm học 2019-2020 và
2020-2021 vừa qua Trong quá trình thực nghiệm biện pháp tôi cũng có gặp một vài trở ngại nhỏ nhưng về cơ bản, đây là một giải pháp đem lại hiệu quả không nhỏ đối với việc giúp học sinh tự tin, “ăn điểm” đối với kiểu bài này
2.2 Thực trạng của vấn đề
Kiểu bài nghị luận xã hội nói chung và nghị luân về tư tưởng đạo lý nói riêng có đối tượng rộng, phong phú, đa dạng Việc xác định đúng vấn đề nghị luận của đề bài đã khó, việc hiểu, cắt nghĩa, lý giải vấn đề sao cho đúng đắn, thỏa đáng lại còn khó hơn Bởi lẽ, những vấn đề thuộc về tư tưởng đạo lý thường bao hàm những khái niệm trừu tượng, khó hiểu và có nhiều biểu hiện khác nhau trong hiện thực đời sống Đây là trở ngại lớn đối với các em học sinh khi gặp kiểu bài này
Cụ thể hơn, trong thực tế giảng dạy cũng như kiểm tra, đánh giá học sinh
có liên quan đến kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý, tôi thấy rằng, học sinh thường lúng túng trong khâu giải thích các khái niệm có liên quan đến các phạm trù xã hội như: đạo đức, lý tưởng, phẩm hạnh, nhân nghĩ, bổn phận, trách nhiệm, lương tâm, tình yêu, gia đình, hạnh phúc… Các em thường giải thích một cách nôm na, chung chung, thậm chí là sai lệch các khái niệm Điều này khiến các em bàn bạc, đánh giá chưa thấu đáo hoặc sai về vấn đề nghị luận
Mặt khác, trong việc phân tích, bàn luận, rút ra bài học cho bản thân trong quá trình nghị luận, học sinh cũng chưa đánh giá thấu đáo được mọi vấn
đề Trong phần phân tích chưa chỉ ra được hết những biểu hiện cụ thể của vấn
Trang 7đề, phần mở rộng bàn luận chưa thấy hết được ý nghĩa, vai trò của vấn đề, phần rút ra bài học cũng còn nhiều lúng túng Vì vậy mà bài viết sơ sài, qua loa, thiếu tính thuyết phục
Trong năm học 2019-2020, khi chưa vận dụng kiến thức môn Giáo dục công dân vào giảng dạy và ôn luyện kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lý thì kết quả kiểm tra, đánh giá, kết quả cho thấy: khoảng 80% học sinh giải thích khái niệm chưa đúng, hoặc giải thích một cách nôm na, thiếu khoa học; khoảng 50% phân tích chưa cặn kẽ các mặt, các biểu hiện của vấn đề; khoảng 40% chưa rút
ra đầy đủ bài học cho bản thân Nhìn chung số học sinh đạt điểm trung bình trở lên chỉ khoảng 50-60%
Đây là một thực trạng đáng lo ngại trong khi kiểu bài này lại đang chiếm một vị trí quan trọng trong kết cấu đề thi tốt nghiệp THPT, Cao đẳng - Đại học
mà năm 2020-2021 là kì thi Quốc gia môn Ngữ văn Vì vậy tôi đã tìm tòi hướng tháo gỡ giúp các em học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 12 khắc phục những điểm yếu và nỗi lo lắng khi các em đối diện với kiểu bài hay mà khó này Và việc tìm đến với bộ môn Giáo dục công dân, vận dụng một số kiến thức của môn học này
để giải quyết vấn đề là một trong những giải pháp mà tôi đã làm trong năm học
2020 - 2021 này
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1 Giải pháp
2.3.1.1 Nội dung giải pháp thứ nhất: Củng cố lại những kiến thức môn Giáo
dục công dân có thể vận dụng để giải quyết kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý
Các bài học thuộc phạm trù Đạo đức học trong sách Giáo dục công dân lớp 10 cung cấp một cách khoa học các nội dung cơ bản về phạm trù như: khái niệm – biểu hiện – vai trò ý nghĩa – trách nhiệm của công dân Đây là những đơn vị kiến thức mà giáo viên cần củng cố lại cho học sinh
Trước hết, để trang bị cho các em những khái niệm cơ bản có thể gặp trong các đề nghị luận, giáo viên cung cấp cho các em những khái niệm như:
1 Đạo đức: là hệ thống các qui tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.
2 Nghĩa vụ: là trách nhiệm của cá nhân đối với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội.
3 Trách nhiệm: phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả Trách nhiệm là việc đề cao tinh thần tự giác đảm nhận công việc của con người trong cuộc sống.
4 Lương tâm: là năng lực tự đánh giá và điều chỉnh hành vi đạo đức của bản thân trong mối quan hệ với người khác và xã hội.
5 Nhân phẩm: là toàn bọ những phẩm chất mà con người có được Nói cách khác, nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người.
6 Danh dự: là sự coi trọng, đánh giá cao của dư luận xã hội đối với một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức của người đó
7 Phẩm chất: cái làm nên giá trị của con người.
Trang 88 Hạnh phúc: là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống khi được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu chân chính, lành mạnh về vật chất và tinh thần.
9 Tình yêu: là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới Ở họ có sự hòa hợp về nhiều mặt… làm cho họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình.
10 Tình yêu chân chính: là tình yêu trong sáng và lành mạnh, phù hợp với các quan niệm đạo đức tiến bộ của xã hội.
11 Gia đình: là một cộng đồng người chung sống và gắn bó với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.
12 Nhân nghĩa: là lòng thương người và đối xử với người theo lẽ phải.
13 Sống hòa nhập: là lối sống gần gũi, chan hòa, không xa lánh mọi người; không gây mâu thuẫn, bất hòa với người khác; có ý thực tham gia các hoạt động chung của cộng đồng.
14: Hợp tác (đoàn kết): là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ chợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
15 Lòng yêu nước: là tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ lợi ích của tổ quốc.
16 Tự hoàn thiện bản thân: là vượt lên mọi khó khăn, trở ngại, không ngừng lao động, học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phát huy ưu điểm, khắc phục, sủa chữa khuyết điểm, học hỏi những điều hay, điểm tốt của người khác để bản ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn.
17 Tự nhận thức về bản thân:là biết nhìn nhận, đánh giá về khả năng, thái đ , hành vi, việc làm, điểm mạnh, điểm yếu… của bản thân.
Bên cạnh đó, còn nhiều những khái niệm khác nữa như: lý tưởng, hoài bão, lòng vị tha, lòng nhân ái, ý chí, nghị lực, tính kiên định, lòng dũng cảm, tính trung thực… cũng cần cung cấp cho học sinh một cách chính xác, đảm bảo tính khoa học Giáo viên có thê yêu cầu học sinh học thuộc các khái niệm này để
có thể vận dụng một cách hiệu quả khi cần thiết
Sau khi nêu khái niệm, giáo viên có thể rút ra các mặt, các biểu hiện của vấn đề đó sau khi tham khảo kiến thức từ môn Giáo dục công dân Hơn nữa, trong hệ thống bài học thuộc môn Giáo dục công dân như đã nêu ở mục 1, có thể
vận dụng kiến thức phần trách nhiệm của công dân để rút ra bài học về những
vấn đề có liên quan trong bài nghị luận về tư tưởng đạo lý như sau:
- Bài 10: có thể rút ra bài học “làm thế nào để trở thành người có đạo đức?” trong bài nghị luận về vấn đề đạo đức của con người.
- Bài 11: có thể rút ra bài học “bản thân cần phải làm gì để có được hạnh phúc chân chính?” trong bài nghị luận về vấn đề hạnh phúc của con
người
- Bài 12: có thể rút ra bài học “làm thế nào để có một tình yêu chân chính, lành mạnh; trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với gia đình” trong bài nghị
luận về vấn đề tình yêu, hạnh phúc của con người
- Bài 13: có thể rút ra bài học “trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng” trong bài nghị luận về vấn đề cá nhân với cộng đồng.
Trang 9- Bài 14: có thể rút ra bài học “lòng yêu nước của thanh niên hiện nay”
trong bài nghị luận về vấn đề lòng yêu nước của con người
- Bài 16: có thể rút ra bài học “cần phải làm gì để tự hoàn thiện bản thân” trong bài nghị luận về vấn đề tự hoàn thiện bản thân của con người.
Đó là những kiến thức bộ môn giáo dục công dân mà bản thân tôi thấy
có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lý Đồng ý rằng kiều bài này có đối tượng nghị luận khá phong phú, đa dạng, song
đây có thể được xem là mô típ để học sinh hình thành những kỹ năng cơ bản
trong cách tìm luận điểm tiêu biểu cho bài viết
2.3.1.2 Nội dung giải pháp thứ hai: Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức
môn Giáo dục công dân vào việc triển khai từng phần của bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý
a Vận dụng những khái niệm thuộc phạm trù đạo đức vào phần giải thích khái niệm (ở phần thân bài) của bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý
Những vấn đề như nghĩa vụ, lương tâm, trách nhiệm, nhân phẩm, danh
dự, hạnh phúc, gia đình, lòng yêu nước… của con người thường trở thành đối tượng của bài nghị luận về tư tưởng đạo lý Vì vậy, chúng ta có thể vận dụng những khái niệm này trong sách Giáo dục công dân để giải thích vấn đề nghị luận trong bài viết
Chúng ta có thể lấy một số ví dụ cụ thể sau:
Đề bài 1:
Suy nghĩ của anh (chị) về quan điểm của Éuripides: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của
số phận”
Với đề bài này thì vấn đề nghị luận là: vai trò, tầm quan trọng của gia đình đối với mỗi con người trong cuộc sống Để bàn luận được vấn đề này thì trong phần giải thích câu nói ở thân bài, khái niệm đầu tiên người viết cần phải giải thích đó là “gia đình” Về khái niệm này thì trong sách giáo dục công dân
lớp 10, trang 82 có định nghĩa như sau: “Gia đình là một cộng đồng người chung sống và gắn bó với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân
và quan hệ huyết thống” Đây là khái niệm cơ bản nhất về gia đình, tuy chưa thể
hiện nổi bật được vai trò quan trọng của gia đình đối với đời sống của mỗi cá nhân nhưng thiết nghĩ chúng ta vẫn có thể vận dụng khái niệm này, coi đây là cơ
sở đầu tiên để đánh giá những biểu hiện khác của gia đình
Đề bài 2:
Anh (chị) suy nghĩ gì về câu nói: “Hạnh phúc cũng như lửa, càng chia
ra thì càng được nhân lên”?
Với đề bài trên, vấn đề bàn luận là: Bản chất của hạnh phúc chân chính
Ở đây khái niệm và từ ngữ mà người viết cần giải thích là “hạnh phúc”, “lửa”,
‘chia ra”, “nhân lên” Trong đó, khái niệm ‘hạnh phúc” trong sách Giáo dục
công dân lớp 10 có nêu: Hạnh phúc là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống khi được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu chân chính, lành mạnh về vật chất và tinh thần Khái niệm này có thể sử dụng được khi giải
thích ý nghĩa câu nói trong bài ngị luận
Trang 10Việc sử dụng các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức trong môn Giáo dục công dân vào phần giải thích của bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý là cần thiết bời nó mang lại tính lý luận cho bài nghị luận Việc giải thích, cắt nghĩa đúng bản chất nội hàm các khái niệm sẽ là nền tảng vững chắc để các em nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách sắc sảo, đúng đắn
b, Vận dụng phần kiến thức về phân tích những biểu hiện của phạm trù đạo đức vào phần phân tích, chứng minh (ở phần thân bài) của bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý
Trong bài nghị luận về tư tưởng đạo lý, phần phân tích, chứng minh (ý lớn thứ 2 ở phần thân bài) là phần trọng tâm của bài viết Phần này đòi hỏi học sinh phải nhìn thấy đầy đủ, toàn diện từng mặt, từng khía cạnh của vấn đề Đây không phải là một việc dễ dàng bởi sự nhìn nhận phụ thuộc vào vốn sống, sự hiểu biết của các em vào vấn đề đó Có một thực tế rằng, học sinh của chung ta hiện nay mất quá nhiều thời gian cho việc học lý thuyết trên sách vở dẫn đến vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn chưa có nhiều Bởi thế mà việc nhìn nhận, phân tích vấn đề về tưởng đạo lý cũng gặp nhiều trở ngại Điều này dẫn đến việc nghị luận của các em đơn điệu, thiếu toàn diện, hời hợt
Tham khảo kiến thức môn Giáo dục công dân, tôi nhận thấy những phạm trù đạo đức học không chỉ được định nghĩa một cách khoa học mà còn được phân tích một cách sâu sắc, toàn diện, thấu đáo Những thuộc tính, những mặt, những biểu hiện của vấn đề đều được trình bày thành các luận điểm rõ ràng, mạch lạc Nội dung kiến thức này thường được trình bày ở ý thứ 2 của bài học Chúng ta có thể căn cứ nào tính chất, mức độ nghị luận mà vận dụng đơn vị kiến thức này vào bài viết thông thường chúng ta có thể vận dụng vào phần phân tích, chứng minh của bài nghị luận
Để hiểu rõ thêm điều này, chúng ta có thể trở lại đề bài 1 ở mục 3.1 để minh họa cụ thể cho giải nội dung giải pháp này
Đề bài :
Suy nghĩ của anh (chị) về quan điểm của Éuripides: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của
số phận”
Với đề bài này, vấn đê nghi luận là vai trò của gia đình đối với đời sống
của mỗi người Vì vậy ở phần thân bài, sau khi giải thích ý kiến và khẳng định vấn đề bàn luận thì học sinh phải đi vào phân tích, chứng minh vấn đề Việc xác
định đước các ý cơ bản để phân tích vấn đề cũng là một khâu khó khăn đối với học sinh Ở vấn đè này chúng ta có thể tham khảo ý b mục 3 của bài 12 sách Giáo dục công dân 10 (trang 82) Mục này trình bày về chức năng của gia đình, trong đó có 4 chức năng của gia đình được xác định là: chức năng duy trì nòi giống; chức năng kinh tế, chức năng tổ chức đời sống gia đình, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái Trong 4 chức năng này thì hai chức năng sau phù hợp với các luận điểm về vai trò của gia đình đối với bài nghị luận trên Dựa vào nội dung của hai chức năng sau, học sinh có thể khái quát thành các ý cơ bản trong phần phân tích chứng minh của bài nghị luận này là:
- Gia đình là môi trường sống an toàn, lành mạnh, dễ chịu nhất của mỗi con người.