Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy môn Mĩ thuật ở miền núi, tiếp tục xây dựng chủ trương “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Dạy học đi đôi với thực tiễn” lồng ghép các hoạt độ
Trang 11 Mở đầu.
1.1 Lí do chọn đề tài.
Thanh Hóa là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ và là một vùng đất có vị tríchiến lược của cả nước, có 7 đồng bào dân tộc sinh sống bên cạnh dân tộc Kinhnhư Thái, Mường, Dao, Giáy, H’Mông, Thổ, Khơ mú Cộng đồng các dân tộc ítngười nơi đây ngoài những đặc điểm chung với các dân tộc khác thì vẫn giữ nétđặc thù của dân tộc mình, là một điều độc đáo thú vị cho những ai yêu khám phánét đẹp vùng cao Huyện Bá Thước là một huyện miền núi thuộc phía Tây củaThanh Hóa, có ba dân tộc sinh sống là Thái (31,9%), Mường (57,3%) và Kinh(16,8%) Xuất phát từ tập tục truyền thống và những quy định phân công tổ chứcđời sống xã hội, trong quá trình sinh sống các dân tộc thiểu số đã tạo nên nét vănhóa riêng cho dân tộc mình Một điều hấp dẫn tôi là họa tiết, hoa văn trang trícủa dân tộc Thái và dân tộc Mường huyện Bá Thước Qua những hoa văn vừamang tính thẩm mĩ vừa mang tính khoa học nói lên đời sống tâm hồn nguyên sơ
mà phong phú cùng với thiên nhiên tạo vật của các dân tộc vùng cao nơi đây
Người Thái và người Mường có những điểm rất riêng về tập tục nhưngcũng có nhiều điểm tương đồng về một số sinh hoạt đời thường như ẩm thực haytrang trí, kiến trúc… Họ thường tạo hoa văn trang trí trong đan lát, vẽ tranh thờ,dệt thổ cẩm, hoặc trang trí nhà ở Các họa tiết hoa văn được tái hiện và cách điệu
từ thiên nhiên, cuộc sống, ấn tượng nhất là họa tiết trong trang phục thổ cẩm.
Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy môn Mĩ thuật ở miền núi, tiếp tục xây
dựng chủ trương “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Dạy học đi đôi với thực tiễn” lồng ghép các hoạt động giáo dục gắn với thực tiễn, mang tinh hoa dân tộc nhằm “ Giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” ( Nghị quyết TW V), thực hiện theo lời dạy của Bác: “ Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Hơn nữa đây là một đề tài
mới mẻ cho đến nay chưa ai nghiên cứu và vận dụng họa tiết hoa văn dân tộcThái, dân tộc Mường vào dạy học Mĩ thuật tại địa phương huyện Bá Thước Vìvậy tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn có được những tàiliệu quý cho bản thân cũng như chia sẻ với các đồng nghiệp và học sinh về lĩnhvực này Đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết cũng như ý thức xã hội, góp phầnhoàn thiện giai đoạn phát triển của lứa tuổi thiếu niên, giúp các em làm chủ vănhóa tri thức và đời sống, tự tin, tự hào về dân tộc mình, về quê hương đất nước
nên tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Vận dụng hoa văn trên thổ cẩm dân tộc Thái, Mường trong dạy vẽ trang trí môn Mĩ thuật 6 ở Trường THCS & THPT
Bá Thước, Thanh Hóa” Đề tài hứa hẹn sẽ giúp chúng tôi có được phương pháp
tốt hơn trong công việc giảng dạy bộ môn Mĩ thuật ở trường THCS & THPT BáThước cũng như tài liệu cho đồng nghiệp tham khảo áp dụng
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm góp phần giáo dục ý thức cội nguồn, niềm tự hào dân tộc trong học sinh Giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống Vận dụng nội dung học tập vào hoạt động thực tiễn, phát huy vai trò và năng lực người học bằng điều kiện vốn có từ môi trường học tập
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Hoa văn trang trí trên trang phục thổ cẩm của các dân tộc Thái, Mường ở
Trang 2huyện Bá Thước, tỉnhThanh Hóa trong bài Vẽ trang trí môn Mĩ thuật 6.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Dựa trên nghiên cứu các tài liệu, sách báo, các ấn phẩm viết về dân tộcThái, Mường trên cả nước nói chung và dân tộc Thái, Mường ở Thanh Hóa, ởhuyện Bá Thước nói riêng Các văn kiện, nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện BáThước, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Thường Xuân
Một số sách viết về Các phương pháp dạy học tích cực
Chương trình bồi dưỡng thường xuyên bộ môn Mĩ thuật
Đề tài của tác giả từ năm học 2019 - 2020
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin, nghiên cứu tâm lí, khả nănghọc hiểu và động cơ học tập của học sinh ở một số trường học
Nghiên cứu mức độ tiếp cận xử lí tình huống học tập hiện đại của họcsinh ( Học qua internet, máy chiếu power poin , học qua hoạt động thực tế )
Khảo sát học sinh và giáo viên mức độ hiểu về họa tiết hoa văn trang trítruyền thống của các dân tộc, trong đó có dân tộc Thái, Mường
Thống kê, xử lý số liệu
1.5 Những điểm mới của SKKN
Bổ sung phần đi thực tế, nghiên cứu họa tiết hoa văn trên thổ cẩm của dântộc Mường ở huyện Bá Thước, Thanh Hóa
Giúp học sinh phân biệt và gọi tên các họa tiết của các dân tộc ở từngvùng miền khu vực phía Tây Bắc trong bài 1, SGK Mĩ thuật 6, nhận biết và sửdụng họa tiết hoa văn dân tộc Mường vào bài trang trí
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận
Căn cứ vào các công văn, thông tư hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nộidung dạy học, PPCT, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh cập nhật gần đây như thông tư 26 ( bổ sung thông tư 58); công văn
đà ứng dụng sâu vào cuộc sống Là một mắt xích của hệ thống giáo dục các mônhọc bậc THCS giúp học sinh phát triển một cách toàn diện đồng đều các mặtĐức - Trí - Lao - Thể - Mĩ
2.2 Thực trạng
2.2.1 Thực trạng của vấn đề
Trường THCS & THPT Bá Thước là một trường học có hai cấp học thuộc
Trang 3khu vực miền núi, đóng tại địa bàn thôn Đủ, xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước.Trường học có nhiều lứa tuổi học sinh khác nhau và những biểu hiện đặc trưng ởhai giai đoạn Thiếu niên và Thanh niên, có 97% là con em dân tộc Thái, khoảng3% là con em dân tộc Kinh và Mường Học sinh các lớp nói chung và khối lớp 6nói riêng rất thích học vẽ song bản thân các em không có đủ điều kiện tốt nhưcác bạn ở vùng kinh tế phát triển, ví như đầy đủ chất liệu học tập là các loạigiấy, màu, bút vẽ, bảng pha màu, cặp vẽ chất lượng cao và được sử dụng In-ter-net thường xuyên để truy cập nguồn tài liệu phong phú trên mạng Vì vậy các
em thường học theo lối tự túc và khắc phục bằng điều kiện học cơ bản nhất là vẽtrên giấy A4, sử dụng các màu thông dụng như sáp màu, chì màu Ở phần học
Vẽ trang trí, các em chưa biết khai thác những họa tiết trang trí của dân tộc vùngcao vốn rất phong phú và đặc sắc thậm chí là hoa văn của chính dân tộc mình
mà thường ngày các em truyền tay nhau kỹ thuật thêu và dệt trên thổ cẩm - mộtcông việc vốn quen thuộc của học sinh vùng cao Một phần do chưa hiểu về xuất
xứ cũng như bản sắc của các hoa văn các dân tộc một cách bài bản
2.2.2 Thực trạng chương trình - Sách giáo khoa
Thực tế trước thềm thí điểm sách giáo khoa mới, HS vẫn đang học sách cũ
và chương trình giảm tải Những ý tưởng về một cuốn sách hoàn thiện như banđầu của các tác giả và nhà sản xuất đã được cắt gọt và xây dựng lại ít nhiều tácđộng đến tiến độ nhận thức của học sinh Nếu các em dễ thích nghi sẽ chủ độnghọc và ngược lại sẽ gây ra bị động cho học sinh trong tư duy logic của quy trìnhlĩnh hội kiến thức Làm giảm đi hứng thú và động cơ học tập
Đơn cử chương trình giảm tải sách giáo khoa năm 2019 - 2020, HS lớp 6trường THCS & THPT Bá Thước sẽ học các bài Vẽ trang trí như sau:
Tiết 1: Chép họa tiết trang trí dân tộc
Tiết 8: Cách sắp xếp, bố cục trong trang trí
Tiết 11: Màu sắc
Tiết 12: Màu sắc trong trang trí
Tiết 15: Trang trí đường diềm ( Kiểm tra giữa học kỳ )
Tiết 18: Trang trí hình vuông ( Thi Học kỳ I )
Tiết 23: Kẻ chữ in hoa nét đều
Tiết 24: Kẻ chữ in hoa nét thanh nét đậm
Tiết 30: Trang trí chiếc khăn để đặt lọ hoa
Như vậy nội dung học vẽ trang trí lớp 6 gồm 09 tiết thực hành, lượng thờigian này đủ để áp dụng phương pháp học mới, tích hợp kiến thức địa phươngnhằm góp phần củng cố kiến thức cơ bản và vận dụng nâng cao trong cả hai thểloại trang trí (cơ bản và ứng dụng) Song các bài thực hành hầu hết là học xen kẽcác phân môn khác và ngắt đoạn bài học theo PPCT, cộng thêm với số tiết dạyrất ít (1 tiết/ tuần/lớp) Điều đó dễ khiến tiến trình khắc sâu kiến thức bị bẻ gãy,chỉ mang tính chất giới thiệu như kiểu“cưỡi ngựa xem hoa” Nếu như người giáoviên không sáng tạo trong phương pháp dạy, học và thực hành thì tiến trình họcchậm lại, khó khắc sâu kiến thức cho học sinh hơn
Hiện tại nhà trường vẫn đang sử dụng sách giáo khoa cũ biên soạn từ năm
2010 Chất lượng màu in và chọn lựa tư liệu trực quan trên giấy ở một số trangchưa thật sự phù hợp nhưng đủ để học sinh nắm được quy luật chuyển động đậm
Trang 4nhạt và vẻ đẹp của màu sắc cũng như đường nét họa tiết trong các bài trang trí
cơ bản và trang trí ứng dụng Điều đó cho thấy sách giáo khoa đóng vai trò làmột dạng trực quan gốc đối với công tác dạy học Mỗi bài học là một từ khóa.Trên thực tế cho thấy học Vẽ trang trí qua quan sát trong tự nhiên và cuộc sống
là điều rất cần thiết, thông qua đó học sinh dễ hiểu và vận dụng vào thực hànhtrong bài vở cũng như trong đời sống lao động hơn
2.2.3 Về phía giáo viên
Môn Mĩ thuật là một môn học đặc thù trong trường học, với số lượng thờigian lên lớp ít hơn so với các môn học còn lại nên định biên thường là 01 giáoviên / đơn vị trường học Đối với khối lớp 9 còn cắt giảm một học kỳ Giáo viên
có những thiệt thòi như là thời gian tương tác với học sinh ít Do vậy, để hoànthành mục tiêu môn học một cách hiệu quả giáo viên phải tích cực đồng hànhcùng học sinh hơn trong cách cảm, cách nghĩ và hành động của các em Thôngqua đó hướng các em hoàn thành mục tiêu bài học, nắm chắc kiến thức trang trí
Mỹ thuật cho các em từ cơ bản đến nâng cao Bắt đầu từ kiến thức lớp 6, để dùtrong hoàn cảnh nào các em cũng có thể vận dụng những kiến thức đó phục vụđời sống của mình tốt hơn, lan tỏa cái đẹp ra xung quanh, làm đẹp hơn cho xãhội
Theo phiếu khảo sát giáo viên cho thấy phần lớn giáo viên (bộ môn khác)không phân loại được họa tiết trang trí trong sách giáo khoa Mỹ thuật 6 Một sốgiáo viên bộ môn Mĩ thuật chưa phân biệt được đặc điểm của các loại họa tiếthoa văn dân tộc, nguồn gốc xuất xứ của hoạt tiết đó
2.2.4 Thực trạng về học sinh
Đa phần các em học sinh vùng cao rất chăm ngoan, vâng lời Tuy nhiên
sự tập trung chưa cao, do vậy sự hiểu biết tường tận vấn đề chưa được thấu đáo.Khi học vẽ trang trí, học sinh thường sử dụng lại các họa tiết hoa văn phổ biếnnhư hoa sen cách điệu, đường díc dắc, hoa lá, chưa biết tìm tòi thêm cái mớicái hay để truyền tải ý tưởng phong phú hơn
Một phát hiện nhỏ của tôi khi học sinh vùng cao đi học, các em thườngmang theo thổ cẩm để thêu lúc có thời gian rảnh rỗi, các em biết học thêu từ khi8,9 tuổi nhưng lại chưa đọc được tên, chưa hiểu về nguồn gốc họa tiết và thườnglàm việc này theo cảm tính, thói quen
Trước thực trạng trên, tôi muốn làm cầu nối cho học sinh với bài học trênlớp và cuộc sống thực - thông qua đó các em hiểu hơn bài học của mình, thêm tựtin và hứng thú với họa tiết hoa văn trang trí hơn
Trước tiên, tôi tiến hành khảo sát mức độ hứng thú của học sinh trong họctập môn Mĩ thuật, cụ thể trong phân môn Vẽ trang trí
Trang 5Đạt Khá Đạt TB
% Đạt
Chưa Đạt CĐ %
1
Phát hiện được kiến thức
của bài trang trí, trả lời
được các câu hỏi trong
Trang 6phẩm trang trí ứng dụng
( khăn tay, lọ hoa .) từ
họa tiết được học trong
cuộc sống đưa vào bài vẽ
Bảng khảo sát mức độ học tập của học sinh lớp 6 đầu năm học 2020 - 2021
Trường THCS & THPT Bá Thước.
Qua bảng thống kê và phiếu khảo sát nhận biết cho thấy đối với phân môn
Vẽ trang trí học sinh lớp 6 chưa hoàn toàn chủ động trong học tập, vẫn thiếu tựtin và đặc biệt là con em dân tộc Thái, Mường nhưng lại chưa hiểu gì về nguồngốc văn hóa hoa văn trang trí dân tộc mình Bên cạnh đó, một số em còn lơ là, ýthức chưa tốt trong học tập nên lĩnh hội chưa cao
Nguyên nhân là do học sinh chưa chủ động trang bị cho mình kiến thức,chưa hiểu bản chất vấn đề, chưa xác định rõ vai trò chủ đạo của mình trong họctập và thiếu mạnh dạn tự tin trong quá trình học tập cũng như trong giao tiếp
Từ thực trạng trên, tôi đã chú trọng cải tiến cách giảng dạy, đặc biệt là ápdụng các biện pháp dưới đây, qua thực tế vận dụng các biện pháp này chúng tôi
đã đạt được một số thành quả nhất định Tôi xin đưa ra giải pháp như sau
Cụ thể như sau:
2.3.1 Biện pháp 1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu họa tiết hoa văn của dân tộc Thái, Mường trên trang phục thổ cẩm.
2.3.1.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về họa tiết trang trí dân tộc trên lớp học.
Trong 4 phân môn mĩ thuật bậc THCS thì Vẽ trang trí là phân môn rất dễ
đi vào nhận thức và sở thích của học sinh bởi nó có phương pháp tạo hình rấtđơn giản, có sự kế thừa từ lớp học trước Tác phẩm sau khi hoàn thành thườngtạo cho học sinh sự phấn khích và thích thú bởi sự kỳ diệu của đường nét, mảngmiếng đậm nhạt và màu sắc khi đặt cạnh nhau Nó như là có sẵn trong tiềm thứctrẻ em, bản năng nghệ thuật của trẻ thể hiện ở màu sắc và đường nét Tuy vậycũng dễ để trẻ em thỏa mãn về sản phẩm của mình mà ít có nhu cầu khám pháhay thử sáng tạo những điều mới mẻ ý nghĩa khác Bài vẽ thường lặp lại theo
Trang 7thói quen nên thiếu sự sáng tạo phong phú cũng như đầu tư bài bản.
Trước tiên các em cần nắm được các khái niệm.
Học sinh cần nắm được khái niệm Trang trí là gì? Có thể nói Trang trí là
sự sắp xếp đường nét, hình mảng, họa tiết, đậm nhạt, màu sắc, ánh sáng trênmặt phẳng hay trong không gian để tạo nên một sản phẩm đẹp, phù hợp với nộidung trang trí và đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của con người Trang trí gồmhai loại: Trang trí cơ bản và trang trí ứng dụng
Trang trí cơ bản: là trang trí các hình học như hình vuông, hình chữ nhật,
hình tròn, đường diềm và chữ in hoa thể loại này đòi hỏi những nguyên tắc sắpxếp họa tiết và bố cục màu chặt chẽ theo các nguyên tắc chính phụ, đối xứng,xen kẽ, nhắc lại
Trang trí ứng dụng: Là trang trí các vật dụng có tên gọi cụ thể, thông
dụng như: Lọ hoa, khăn trải bàn, chiếc đĩa, lều trại, đầu báo tường, khẩu hiệu Nguyên tắc trang trí của thể loại này bao gồm trang trí cơ bản và lối trang trí tự
do ( Phá thế, đăng đối, mảng hình không đều )
Trong trang trí phản ánh sắc thái dân tộc, bởi vậy nó có tính giáo dục sâusắc Mặt khác trang trí xuất phát từ hiện thực đời sống, nó phản ánh cuộc sốngnhưng không rập khuôn mà luôn cải tiến, sáng tạo ra những cái mới - cái hay -cái đẹp,lạ, nhiều hình nhiều vẻ từ bố cục, hình mảng, nội dung cho đến màusắc
Họa tiết trang trí: Chỉ một đơn vị cụ thể
Màu sắc trong trang trí giữ vai trò quan trọng, có tính quyết định đến sựhấp dẫn của bài vẽ Màu sắc trong các họa tiết, hoa văn của dân tộc miền núi nóichung, dân tộc Thái, Mường trên địa bàn Thanh Hóa nói riêng thường sặc sỡcùng những gam màu tương phản, gây ấn tượng mạnh, bắt mắt Bên cạnh lối tạohình khỏe khắn, đường nét rõ ràng tạo nên nét đặc trưng cho hoa văn dân tộcmiền núi Nó độc đáo và khác biệt với sự chau chuốt, mềm mại, tinh tế trong họatiết hoa văn của dân tộc Kinh ở miền xuôi
Họa tiết miền xuôi Họa tiết miền núi
Cò thìa trên trống đồng Con gà trên thổ cấm
Chiến binh trên thuyền Cưỡi voi đánh giặc
Hoa văn trong trang trí là những hình vẽ tượng trưng mang tính ước lệ về
Trang 8động vật, cỏ cây hoa lá, đồ vật và con người được chọn lọc, cách điệu đa dạng
về hình dáng nhưng vẫn không bị mất đi nét đặc trưng của đối tượng mà có giátrị thẩm mĩ dùng để trang trí Có hoa văn tuy đơn giản nhưng lại biểu hiện tưtưởng, tình cảm thẩm mĩ, là cách cảm nhận và phản ánh lại thế giới của conngười một cách sáng tạo Ví dụ họa tiết H.4, 5 hoa văn dân tộc Thái, H.6,7 hoavăn dân tộc Mường:
H.4 Họa tiết Sao coóng ( Cồng chiêng ) H.5 Họa tiết Boọc khoáy
( Bó cật tre làm vía )
H.6 Cây thông H.7 Cây chu đồng
Trong nghệ thuật tạo hình nói riêng và nghệ thuật trang trí nói chung, hoavăn luôn đóng vai trò chủ đạo để tô điểm và phản ánh thế giới đặc trưng của conngười Mô tuýp hoa văn là sự kết hợp của họa tiết, chuyển tải nội dung chủ đềtrang trí Điều đó cho thấy họa tiết là những hình vẽ cách điệu đơn giản hoặccách điệu cao dùng để trang trí, họa tiết có vai trò cấu thành nên hoa văn
H.10 Trong hoa văn Tô mạ ( Con
ngựa ) có họa tiết người cưỡi ngựa
và con ngựa
H.11.Trong hoa văn Boọc san ( hoa 8 cánh ) Có họa tiết quả và hoa boọc san, hình tam giác, quả trám, cái vồ
Trang 9H.12 Hoa văn nhà sàn ( dân tộc Thái Đen ) có họa tiết cây cau, nhà sàn, quả trám, sao 8 cánh, 2 hình tam giác vắt chéo.
Hay màu sắc trong trang phục cũng mang tượng trưng và ý nghĩa khácMàu sắc được dùng không đơn thuần chỉ làm đẹp cho tấm vải hay bộ trang phục,
nó là một bức tranh hàm ý những câu chuyện về khoa học tự nhiên và cuộcsống, chở đầy cảm xúc Người Thái Đen cho rằng màu đỏ tượng trưng cho mặttrời, màu vàng là mặt trăng, màu xanh là thiên nhiên cây cỏ, màu đen là đất, màutrắng là trời , bởi vậy khi ngắm trang phục thổ cẩm với những lớp lớp hoa vănngười ta cảm nhận được sự thú vị và tinh túy trong nghệ thuật dùng màu củangười Thái Nói cách khác đó là cách sử dụng màu sắc theo quan niệm có cơ sởkhoa học, tự nhiên và xã hội
Mặt trời Mặt trăng Nước Đất
( H.4 Màu sắc trong trang trí của người Thái tượng trưng cho các linh vật.)
Để tiết học bớt hàn lâm khô cứng và học sinh thêm hiểu nguồn gốc cáchọa tiết, hoa văn trên thổ cẩm của người Thái, giáo viên có thể Tổ chức trò chơi
“ Gọi tên họa tiết”, “Ai nhanh tay nhất” khi tổ chức các nhóm thi vẽ các họa tiếthoặc tích hợp các câu chuyện sinh động trích trong sử thi Mường Đẻ Đất, ĐẻNước để nói về nguồn gốc của họa tiết hoa văn Cụ thể, tôi tích hợp các câuchuyện truyền thuyết được đọc trong các tài liệu chính thống từ Thư viện vănhóa huyện, tỉnh hoặc sưu tầm từ nghệ nhân dân gian để chia sẻ với học sinh.Mỗi họa tiết ẩn chứa một câu chuyện ý nghĩa và hấp dẫn, gắn liền với lịch sử
văn hóa của địa phương Ví dụ:
+ Hoa văn con vịt (Tô pẹt): “Theo truyền
thuyết của người Thái, vào kỷ nguyên thứ 8,
khi loài người bắn hạ 8 mặt trời và mặt trời thứ
9 đi trốn, con người sống trong tăm tối Họ
phải gửi con vịt cõng con gà đi gọi mặt trời Để
miêu tả truyền thuyết này, người Thái dệt hoa
văn con vịt lên thổ cẩm của họ.” H Hoa văn con vịt
+ Hoa văn con rồng cụt đuôi (Tô
ngược):
Trang 10“Ngày xưa có một đôi vợ chồng nhà
nông nghèo mà hiếm con Một hôm người vợ
ra suối xúc cá, đi cả buổi không được con cá
nào mà xúc lần nào cũng chỉ được một quả
trứng như trứng vịt Sau khi bà nhặt quả
trứng lên bao nhiêu cá thi nhau bơi về Bà
mang trứng về nhà cho gà ấp thì sáng hôm
sau nở ra một con rồng nhỏ.Bà thả nó vào cối H Hoa văn con rồng. giã gạo Nước bỗng ngập cối nên ông chồng phải mang rồng ra suối thả, nhưngrồng không chịu ở mà cứ đi theo ông về nhà Từ đó cứ mỗi lần ông bà đi đâu thìrồng đi theo, ông bà làm gì rồng cũng làm theo Rồng rất hiền lành và yêu quýông bà Một hôm ông vô tình cuốc phải đuôi rồng làm nó bị cụt đuôi, ông bàthương quá bèn nuôi rồng và gọi nó là con Khi giặc đến xâm lược, rồng xin bố
mẹ cho đi đánh giặc Dù rất thương con nhưng vì đất nước, ông bà vẫn cho con
đi Khi đi, Rồng dặn rằng không được nhắc tên nó nhưng bố mẹ nhớ quá vẫnnhắc Giặc biết được bèn lập mưu bắt và đánh chết Rồng Người bố thương bènđóng quan tài và mang về mường Mai Châu chôn cất Từ đó, cứ đến mùa nước
to, Rồng muốn báo hiếu bố mẹ bèn gửi hàng đàn cá lớn về Người Thái Mai
Châu lưu truyền câu chuyện này và dệt hoa văn con rồng cụt đuôi.” ( Huyền thoại này tương đồng với sử thi Mường Đẻ đất, Đẻ Nước)
+ Họa tiết xương cá và hoa văn cá: Xuất hiện nhiều trong trang trí thổ
cẩm bởi lẽ con cá có vị trí quan trọng trong tâm linh người Thái Đã từ lâu cá làcon vật không thể thiếu trong các đám cưới, đám ma, là món ăn bắt buộc trongcác lễ cơm mới hay bữa ăn đãi khách món ăn cá đã đi vào đời sống văn họcThái như là món ăn đặc trưng của tộc người Tục ngữ Thái có câu:
“ Đi ăn cá, đến ăn cơm
Đêm ngủ đắp chăn, nằm đệm”
( Pay kin pa má kin khạu
Tạu má hướn nón xửa hổm phá), Hay: “ Cơm nếp ruộng, cá trê nướng” ( Kháu niễu ná, pa đúc pịnh) Đó là hình tượng văn hóa là nét hoa văn đặc trưng của tộc người
Họa tiết Con cá – Xương cá, dân tộc Thái.
Về bố cục họa tiết, mô tuýp hoa văn trên thổ cẩm của dân tộc Thái,Mường thoạt nhìn sẽ thấy có phần phức tạp do sự tỉ mỉ trong sợi đan và hoa văn
li ti chi tiết, cộng với màu sắc phong phú, các mảng miếng hoa văn dày đặc, cáchình trang trí, các đường kỷ hà gấp khúc chạy theo nhịp điệu vui mắt bất tận như
sự miệt mài công phu của người dệt Không những thế họ còn tưởng tượng, giao
Trang 11lưu văn hóa, cách điệu hình ảnh cho họa tiết thêm đa dạng
Họa tiết hoa bưởi, quả trám - dân tộc Mường.
Các họa tiết được khai thác từ các sự vật, hiện tượng tự nhiên trở thànhmột kho tàng nghệ thuật có hệ thống, mô tuýp đó được truyền từ đời này sangđời khác, không chỉ bởi lí trí mà cả bằng cảm tính Từ việc cách điệu, xử lí nét,mảng, hình theo lối tạo hình trang trí cao cho tới bố cục của hoa văn cũng đặcsắc Bố cục có tầng có lớp theo trình tự rõ ràng, chính xác Họ đã khéo léo và tỉ
mỉ dệt những mảng hoa văn đặt cạnh nhau, các hình học tam giác, các đường kỷ
hà song song, các đường dích dắc, với mong muốn tạo nên không gian đa chiềucho dãy họa tiết hoa văn và “ tác phẩm” trang trí
H.Trang phục phụ nữ Thái Điện Biên và một số vùng miền Nghệ An, Thanh Hóa.
Đối với đồng bào thiểu số sống ở vùng cao, vùng sâu hiện nay đã khôngcòn nhiều khó khăn trong giao thoa văn hóa các vùng miền và nắm bắt thông tintruyền thông hiện đại Tuy đời sống kinh tế vẫn còn những thiếu thốn nhất địnhnhưng dân trí khá tốt Ở khía cạnh đời sống văn hóa tinh thần, người Thái vàngười Mường thật phong phú và giàu có Cái bắt gặp đầu tiên là những bộ trangphục của cô gái Thái, rất giải dị nhưng chứa chan vẻ đẹp riêng biệt Chiếc khănPiêu với hai đầu vải thêu hươu nai và hình quả trám với họa tiết răng cưa, đồngbào gọi là “ Xéo Nam Hiềng” rất hút ánh nhìn Trên gấu váy có thêm chim chóc,cây cối, mặt trời và hình rồng sinh động Cùng với các họa tiết hoa văn của túithổ cẩm, gối, đệm, rèm, màn, áo lễ hội hình cách điệu cây dương sỉ, chimphượng, con công, con bướm, voi, ngựa, gà, vịt, hoa lá cộng với y phục, trangsức của người Thái, người Mường tạo nên sự phong phú đa dạng Không những