Tuy nhiên, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học, học sinh chỉ chú ý phần nội dung về tác phẩm liên quan đến những đề văn cụ thể mà không chú tâm đến kiến thức về tác giả, từ đó thiếu một cứ
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THPT chia làm ba phân môn: Văn học (Đọc văn), Tiếng Việt, Làm văn Trong thực tế dạy và học, phân môn Văn học chiếm số lượng nhiều nhất và được học sinh quan tâm hơn cả Khi phân tích, tìm hiểu một đoạn trích, tác phẩm văn học, trước tiên phải tìm hiểu về tác giả của đoạn trích, tác phẩm đó Đây được coi là tiền đề cơ bản để học sinh tiếp nhận tác phẩm Tuy nhiên, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học, học sinh chỉ chú
ý phần nội dung về tác phẩm liên quan đến những đề văn cụ thể mà không chú tâm đến kiến thức về tác giả, từ đó thiếu một cứ liệu để hiểu đúng, hiểu đủ hơn tác phẩm của tác giả đó Sự nhầm lẫn thông tin từ tác giả này đến tác giả khác, không nhớ được những tác phẩm tiêu biểu của một tác giả, không định hình được phong cách nghệ thuật, hay nhìn một bức chân dung học sinh không biết là tác giả văn học nào, … thực sự là hiện tượng không hiếm gặp và là vấn đề cần được báo động Một học sinh phổ thông không thể giới thiệu về một tác giả văn học học, một tác phẩm văn học lớn của đất nước, có kiến thức nghèo nàn về văn học dân tộc … vấn đề đó buộc những thầy giáo, cô giáo dạy văn phải suy nghĩ
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12, kiến thức về tác giả văn học chủ yếu được giới thiệu riêng trong phẩn Tiểu dẫn, bài học riêng về tác giả không nhiều Điều này cũng dẫn đến tâm lí của học sinh thường coi nhẹ kiến thức về tác giả Vậy để tạo hứng thú, khơi dậy lòng đam mê và giúp học sinh có nhận thức đúng trong việc tích lũy mảng kiến thức này, tôi nhận thấy người giáo viên dạy Văn cần có cái nhìn đúng đắn về vai trò của những bài học liên quan đến tác giả văn học, từ đó có phương pháp hiệu quả hơn trong việc giảng dạy bộ môn
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức khi học bài về tác giả văn học ở trường THPT.
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu
Giúp học sinh có hứng thú, yêu thích và biết cảm nhận sâu các tác phẩm văn học từ những kiến thức nền về tác giả Có thể giúp giáo viên Ngữ văn có được những giờ dạy đạt hiệu quả, kéo gần hơn nữa mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống
Đề cập đến các góc độ trong nội dung tìm hiểu kiến thức cơ bản về tác giả văn học, giáo dục kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh giới hạn trong chương trình THPT Từ đó tôi đưa ra một số phương pháp, cách thức dạy và học hợp lí,
có thể ứng dụng trong giảng dạy
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cơ bản là các bài học cụ thể về tác giả văn học và kiến thức về tác giả đi kèm khi tìm hiểu tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, 11, 12, thông qua khảo sát, thực nghiệm ở một số lớp được phân công giảng dạy tại trường THPT Nông Cống II
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài: Một số giải pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức khi học bài về tác giả văn học ở trường THPT, tôi sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cơ bản như phân tích, so sánh - đối chiếu, phân loại cùng các thao tác bổ trợ như đưa vấn đề, xây dựng câu hỏi, trao đổi, thực nghiệm Những phương pháp đó không phải được sử dụng một cách độc lập mà trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu để có thể đạt được hiệu quả cao nhất Việc sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khi thực hiện đề tài này giúp người nghiên cứu có cái nhìn hệ thống về đối tượng nghiên cứu để từ đó đánh giá khách quan, khoa học
Trang 3
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Tác giả văn học là người làm ra tác phẩm nghệ thuật ngôn từ như các bài thơ, bài văn, bài nghiên cứu văn học, vở kịch Thông qua tác phẩm của mình, tác giả gửi gắm trong đó những quan điểm, tư tưởng, nhận thức, về con người
và cuộc đời Chính vì vậy, có thể nói các tác giả đã xây dựng nên “hình tượng” cho chính mình qua những trang viết, như nhận định: “Tác giả biểu hiện chính mình” (Goethe), “Hình tượng tác giả là trung tâm của phong cách ngôn ngữ” (Vinogradov)
Tác giả và vai trò tác giả trong sự sáng tạo tác phẩm văn chương là rất quan trọng Ai cũng thấy đó là người “sáng tạo” toàn bộ tác phẩm Người ta có nói đến vai trò “đồng sáng tạo” của người đọc nhưng không thể đánh đồng hai chữ “sáng tạo” trong cách nói ấy Và về lý luận, không ai lại không thấy tầm quan trọng của “tác giả” Từ xưa đến nay, các nhà lí luận văn học và những người cầm bút với sự trải nghiệm thấm thía của mình đã khẳng định mối quan
hệ không thể tách rời giữa nhà văn với tác phẩm, giữa chủ thể sáng tạo với sản
phẩm sáng tạo Cao Bá Quát trong trang cuối bài thơ Rừng chuối (trong Cao Chu Thần thi tập) đã nói: “Thơ không có phẩm chất nhất định, phẩm chất của
người là phẩm chất của thơ Phẩm chất của người cao thì phẩm chất của thơ
cao” Tác giả Nguyễn Đức Đạt trong Nam Sơn tùng thoại (Tạp chí văn học số 1,
1979) cũng khẳng định: “Văn thâm hậu thì con người của nó trầm và tĩnh, văn
ôn nhu thì con người của nó đạm và giản, văn hùng hồn thì con người của nó cương và nhanh, văn uyên sâu thì con người của nó thuần túy mà đúng đắn” Vì thế người đọc văn và hơn nữa đối với người dạy văn phải làm thế nào để học sinh thấy được mối quan hệ đó, hay nói cách khác học sinh muốn hiểu đúng, muốn cảm nhận được tư tưởng của tác phẩm cần có sự liên hệ với tư tưởng tác giả, ngược lại từ sự tìm hiểu tác phẩm người đọc có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn hơn về nhà văn Để giúp học sinh khám phá được thế giới diệu kỳ của tác phẩm văn học, hiểu được những triết lí nhân sinh hay cảm được những cung bậc cảm xúc tinh tế trong tác phẩm văn học, bên cạnh việc khám phá nhiều tầng bậc, lớp
Trang 4lang của tác phẩm với tư cách là một chỉnh thể cũng cần suy luận, liên hệ từ cuộc đời, con người, tư tưởng của nhà văn Dạy học bài về tác giả văn học hoặc hướng dẫn học sinh nắm được những thông tin cơ bản về một tác giả văn học nào đó có vai trò quan trọng Trước hết hoạt động này sẽ giúp học sinh có được một lối nhỏ để đi vào thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học Hơn nữa học sinh sẽ có cơ sở để đọc hiểu những tác phẩm khác của cùng nhà văn, của một giai đoạn, một thời đại văn học
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Theo xu hướng phát triển của xã hội, các môn học xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng dần dần trở thành môn học không còn thời thượng Sự bùng nổ thông tin, nền kinh tế thị trường dẫn đến tình trạng học sinh yếu trong cảm thụ văn học, kiến thức về tác phẩm văn học hạn chế, thậm chí không biết, không cần biết Sách tham khảo, bài văn mẫu ngày càng nhiều dẫn đến các em thụ động trong học văn Mặt khác, có bộ phận học sinh thích văn học nhưng ngành nghề mà các em lựa chọn lại không liên quan… Tất cả dẫn đến giờ học văn trên lớp không còn quan trọng, thiếu sự say mê, hứng thú, và tất nhiên, chất lượng các bài làm văn nghị luận không còn hiệu quả Một bài làm văn không có chất lượng chắc chắn một phần kiến thức về tác giả còn thiếu và yếu
Mặc dù kiến thức về tác giả văn học có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học văn nói riêng và đời sống văn hóa, văn học nói chung nhưng trên thực tế việc dạy học phần tác giả văn đang có nhiều vấn đề phải bàn luận Những tiết học hoàn chỉnh về tác giả văn học trong sách giáo khoa không nhiều, cụ thể: chương trình lớp 10 có 02 tiết về: Tác giả Nguyễn Trãi, Tác giả Nguyễn Du; chương trình lớp 11 có 02 tiết về: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu, Tác giả Nam Cao; chương trình lớp 12 có 02 tiết về: Tác giả Hồ Chí Minh, Tác giả Tố Hữu Các tác giả còn lại được giới thiệu trong phần Tiểu dẫn khi tìm hiểu về tác phẩm Do quy định của thời lượng chương trình, có lúc người giáo viên phải cắt thời gian dành cho phần Tiểu dẫn, yêu cầu học sinh đọc tại nhà Thực tế như vậy buộc mỗi người giáo viên dạy văn cần có phương pháp, cách thức tổ chức phù hợp để không phải tăng thời lượng chương trình mà học sinh vẫn đảm bảo
Trang 5những yêu cầu cơ bản về kiến thức, có được lòng yêu quý trân trọng những nhân cách, tài năng văn học lớn
Trường THPT Nông Cống 2 là ngôi trường tập trung học sinh ở hầu hết các xã ở phía Bắc của huyện Nông Cống Gia đình các em chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, một số gia đình buôn bán nhỏ, chỉ có rất ít các em có
bố mẹ là công chức, viên chức Rất nhiều em thuộc đối tượng hộ nghèo, cận nghèo; nhiều em mồ côi hoặc bố mẹ đi làm ăn xa, phải ở nhà với ông bà, chú bác nên không được đầu tư hay chú trọng vào việc học hành như học sinh ở trung tâm thị trấn, thành phố Sự chênh lệch trong trình độ nhận thức của học sinh ít nhiều tác động đến hiệu quả giáo dục đạo đức, tư tưởng, tư duy cũng như chất lượng giảng dạy, trong đó có môn Ngữ văn, thông qua các bài làm văn nghị luận Trên cơ sở nghiên cứu đề tài, bước đầu tôi cũng khảo sát thực trạng trong phạm vi môn học Lớp học tôi lựa chọn là lớp A3 khóa 2018-2021 (học sinh có điểm thi đầu vào khá cao) và lớp A4 khóa 2019-2022 (học sinh có điểm thi đầu vào gần thấp nhất khối) Cách thức thực hiện là tổ chức kiểm tra khảo sát chất lượng bộ môn ngay từ đầu năm học lớp 10 thông qua viết bài làm văn nghị luận Kết quả thống kê sơ bộ về thực trạng như sau:
1 A3 45 02 (4,44%) 12 (26,64%) 21 (46,72%) 10 (22,2%)
2 A4 43 0 (0%) 05 (11,62%) 23 (53,52%) 15 (34,86%)
Như vậy, qua khảo sát, bước đầu tôi thấy kĩ năng làm văn nghị luận của học sinh còn nhiều hạn chế, dẫn đến niềm yêu thích của học sinh đối với môn Ngữ văn còn rất ít, thậm chí số lượng học sinh không yêu thích bộ môn còn nhiều Đồng thời, các em hoặc không nhận thức được, hoặc còn thờ ơ với những bài học giáo dục đạo đức, tư tưởng, lối sống sống vô cùng quý giá qua các tiết học và thực hành làm văn nghị luận Kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, đời sống xã hội còn nhiều lỗ hổng, thiếu sót Và như vậy mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh sẽ giảm đi ít nhiều cả về chất lượng, số lượng
Trang 62.3 Một số giải pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức khi học bài về tác giả văn học ở trường THPT.
2.3.1 Mục tiêu của giải pháp
Hướng đến khái quát một số yêu cầu và cách thức, kỹ thuật dạy học nhằm
tổ chức học sinh tìm hiểu có chất lượng các bài học về tác giả văn học Việt Nam
và những thông tin cơ bản về tác giả văn học Việt Nam được tóm lược trong phần tiểu dẫn ở các bài đọc văn trong chương trình Ngữ văn THPT Từ đó các
em có ý thức trong xây dựng phương pháp học tập và vận dụng có hiệu quả, chất lượng trong làm văn nghị luận
2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
a Hệ thống hóa kiến thức theo định hướng
Đây là bước đầu tiên và quan trọng trong tìm hiểu về tác giả văn học Hệ thống hóa kiến thức theo định hướng để xác định đúng trọng tâm bài học không chỉ trở thành kĩ năng đối với người dạy mà còn cả đối với người học Cách làm của tôi qua nhiều năm là đưa ra khung vấn đề chính, học sinh trên cơ sở đó hệ thống kiến thức cơ bản Dù ở bài học riêng về tác giả hay trong phần Tiểu dẫn, theo quan điểm của tôi cần đảm bảo ba nội dung lớn sau:
Thứ nhất, tìm hiểu về Cuộc đời Trong phần Cuộc đời trước hết cần nêu
lên thông tin về: tên gọi (tên tự, tên hiệu, tên khai sinh, bút danh, ), năm sinh – năm mất Trong một số trường hợp giáo viên nên lưu ý, cho học sinh phát biểu cảm nhận về hiệu, hoặc bút danh, hoặc có lúc là danh hiệu người đời khen tặng của tác giả Bởi hiệu và bút danh nói lên hoài bão, lí tưởng, mơ ước … của nhà văn Ví dụ tìm hiểu về Nguyễn Bỉnh Khiêm cần cho học sinh thể hiện suy nghĩ
về hiệu của ông (Bạch Vân Cư Sĩ) và danh hiệu người đời sau suy tôn (Tuyết Giang Phu Tử) Tiếp đó cũng trong phần Cuộc đời cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu về quê hương, gia đình (xuất thân), thời đại, những nét chính về đường đời của tác giả Thực tế cuộc đời của một tác giả có nhiều những biến cố, thăng trầm, do đó người dạy, người học chỉ nên nêu lên những thông tin nào có ảnh hưởng trực tiếp tới con người, tư tưởng và tài năng của nhà văn Như cuộc đời Nguyễn Trãi đã phản ánh cả thời kỳ vừa đau thương vừa huy hoàng, oanh liệt
Trang 7của dân tộc, dạy học về tác giả Nguyễn Trãi nếu nêu tất cả thông tin về ông sẽ không có thời gian và quá sức đối với học sinh Hoặc khi tìm hiểu về cuộc đời tác giả Tố Hữu, kiến thức về quê hương, gia đình, thời đại rất quan trọng Vì đó
là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hồn thơ Tố Hữu Sau đó có thể dành thời gian để khái quát một số ý về Con người của nhà văn, nhà thơ (khái quát những điểm tiêu biểu, riêng biệt nhất về tâm hồn, cá tính … của tác giả)
Tất nhiên, theo tôi, trên đây chỉ là công thức chung nhất, nếu bài học nào, tác giả nào cũng liệt kê tất cả những thông tin trên sẽ tạo áp lực kiến thức lớn có thể gây ra sự căng thẳng cho học sinh Do vậy tùy từng tác giả, thời lượng chương trình giáo viên có thể lựa chọn và cho tìm hiểu tại lớp lượng thông tin phù hợp, còn lại có thể hướng dẫn để học sinh yêu thích sẽ tiếp tục tìm hiểu ở nhà
Thứ hai, tìm hiểu về Sự nghiệp văn học Trong phần này cần xác định nội
dung trọng tâm thứ nhất là những tác phẩm chính, cần phân loại các tác phẩm tiểu biểu của tác giả theo thể loại, giai đoạn sáng tác Giới thiệu về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (là tác giả có sáng tác trên nhiều lĩnh vực) cần phân loại các sáng tác thuộc văn chính luận, truyện và kí, thơ ca,… Cũng cần lí giải sâu sắc về Quan niệm văn chương của nhà văn, bởi nhiều lúc nó giúp học sinh hiểu
rõ hơn tư tưởng của tác phẩm văn học Ở một khía cạnh khác nó soi sáng vẻ đẹp tâm hồn của nhà văn Về Nguyễn Đình Chiểu, cần nhớ câu thơ: “Chở bao nhiêu
đạo thuyền không khẳm - Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (Than đạo) Về
Thạch Lam, giáo viên có thể giới thiệu với học sinh quan niệm: “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta
có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn” Hoặc quan niệm tiến bộ của Nam Cao về nghề văn: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa
có ” (Đời thừa) Từ đó học sinh có thể thấy được một quan niệm đúng đắn, một
Trang 8cái nhìn tiến bộ, vừa tinh tế trong cảm nhận về cuộc sống, vừa thực tế trong cái nhìn cuộc đời…
Và thứ ba cần có sự đánh giá chung nhất về về vị trí của tác giả trong lịch
sử văn học qua phần kết luận Nên lưu ý cho học sinh sự khách quan khi đánh giá, tránh khiên cưỡng, sáo rỗng
Trong các nội dung trên, có những nội dung được trình bày cụ thể, chi tiết trong sách giáo khoa, giáo viên chỉ cần nhắc học sinh đọc và ghi nhớ, nhưng cũng có những nội dung cần yêu cầu học sinh rèn luyện kỹ năng tổng hợp, suy luận Ví dụ phần tiểu sử, đường đời của Nguyễn Du trong bài học về tác giả này
đã được sách giáo khoa trình bày rất cụ thể, chi tiết nên giáo viên yêu cầu học sinh tóm lược nhanh trước lớp và ghi nhớ Nhưng từ những thông tin đó giáo viên cần đặt vấn đề để học sinh thấy được điều sâu sắc hơn ở nhà thơ Có thể đặt vấn đề: Các yếu tố trên (quê hương, xuất thân, thời đại, đường đời) đã ảnh hưởng tới con người Nguyễn Du như thế nào? Học sinh sẽ từ những dữ liệu đã
có khái quát được rằng: Xuất thân từ gia đình có truyền thống văn học đã góp phần hình thành tài năng văn chương; xuất thân trong gia đình nhiều đời làm quan (quan to) giúp Nguyễn Du hiểu sâu sắc bản chất của giới quan lại đương thời; “mười năm gió bụi” giúp ông hiểu cuộc sống người dân lao động và hình thành ngôn ngữ bình dân trong sáng tác của ông; …
Giáo viên định hướng ngay từ đầu năm học cho học sinh nhớ những nội dung trọng tâm như trên và vận dụng vào mỗi tác giả, bài học cụ thể Dựa vào dàn ý này học sinh có thể dễ dàng điền các thông tin riêng của mỗi tác giả vào nội dung tương ứng, vừa giúp học sinh ghi nhớ, vừa có thể giúp học sinh trình bày một cách mạch lạc, có hệ thống thông tin về tác giả
b Phát huy tinh thần chủ động, tích cực của mỗi học sinh nhằm tự chiếm lĩnh lượng thông tin cần thiết
Thời đại ngày nay là thời đại 4.0, thời đại của thông tin Chỉ trong thời gian rất ngắn với sự hỗ trợ của công nghệ người ta có thể có được thông tin về mọi tác phẩm, mọi tác giả văn học lớn Bên cạnh đó số lượng tài liệu tham khảo dưới các hình thức rất đa dạng và phong phú như các tạp chí thường kỳ, các
Trang 9cuốn sách tham khảo, blog cá nhân … cũng vô cùng lớn, học sinh không khó để tra cứu thông tin quê quán, xuất thân, con người, sáng tác, tư tưởng … của nhà văn Vì vậy trên tinh thần đổi mới, giáo viên cần chú ý phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh Người giáo viên có lúc chỉ cần nêu các yêu cầu
cơ bản về nội dung trọng tâm cần đạt của mỗi bài học, gợi ý và yêu cầu học sinh
tự đọc sách giáo khoa, tham khảo thông tin trên mạng Internet và qua một số tài liệu khác nếu có Tất nhiên như quan điểm chung về nguyên tắc dạy học, các bài học về tác giả văn học không nên yêu cầu lượng thông tin quá nhiều, không nên mang tính hàn lâm, mà phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh, phù hợp với đặc thù học sinh Bên cạnh đó cũng cần có định hướng để học sinh biết lựa chọn đâu là thông tin đúng hoặc đâu là thông tin cơ bản cần thiết đối với học sinh
Và rõ ràng rằng khi tự mình phát hiện, chiếm lĩnh lượng thông tin cần thiết học sinh sẽ ghi nhớ rất lâu, sẽ tạo được hứng thú tìm hiểu tiếp những bài học tiếp theo
c Phát huy vai trò của phương pháp làm việc nhóm
Đổi mới phương pháp không chỉ là phát huy tính tích cực chủ động của cá nhân học sinh mà bên cạnh đó cần làm cho từng cá nhân biết phối hợp với cá nhân khác để giúp người khác đồng thời là giúp chính mình hoàn thiện nhận thức Vì vậy giáo viên nên khuyến khích và tổ chức các hình thức làm việc nhóm cho học sinh, thông qua đó học sinh sẽ có điều kiện trình bày những kiến thức của mình về tác giả văn học, những học sinh khác nghe và điều chỉnh Có thể giao cho mỗi nhóm tìm hiểu một phương diện nào đó về tác giả và trình bày trước lớp, các nhóm khác góp ý, giáo viên là nhân tố xúc tác để tạo nên các cuộc tranh luận tích cực trong giờ học Có như vậy học sinh sẽ có điều kiện để kiểm nghiệm thông tin mình thu thập được có tính chính xác như thế nào, nếu cần sẽ điều chỉnh ra sao Và tất yếu được tranh luận học sinh sẽ ghi nhớ rất tốt thông tin
d Sử dụng sơ đồ tư duy
Sử dụng sơ đồ tư duy phát huy hiệu quả trong dạy kiểu bài “Tác giả văn học” Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ tăng cường tính tích cực của học
Trang 10sinh.Vì mỗi một bài học chứa một vấn đề cơ bản, bằng sự hiểu biết của mình giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề bằng cách sáng tạo thành sơ đồ nhằm phát huy tính tích cực trong học sinh, huy động bộ não của các em hoạt động hết công suất cho mỗi bài học, sẽ không còn tình trạng học sinh ngồi im, thụ động ghi chép để một vài em phát biểu Cách học này tạo không khí học tập sôi nổi mỗi khi học kiểu bài “Tác giả văn học” mà nhiều em cho là khô khan, cứng nhắc và thiếu cảm xúc Sử dụng sơ đồ tư duy như là một công cụ giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức tổng hợp Với kiểu bài “Tác giả văn học” thì việc cung cấp những kiến thức tổng hợp là yêu cầu quan trọng nhất, vì thế người giáo viên phải giúp học sinh phát hiện những kiến thức tổng quát của bài, những ý trung tâm, ý chính, ý nhỏ và cuối cùng hoàn thiện sơ đồ tư duy Từ đó học sinh sẽ có cái nhìn tổng thể, đa chiều nhiều mặt về vấn đề Đồng thời khi nhìn vào sơ đồ tư duy giúp các em có thể trình bày lại bài học Ngoài ra, sơ đồ tư duy còn là công
cụ gợi mở, kích thích học sinh tìm tòi kiến thức Đây là bước cần thiết mà người giáo viên phải dẫn dắt học sinh bằng những câu hỏi gợi mở có liên quan mật thiết đến những từ khóa trung tâm của sơ đồ để học sinh khám phá kiến thức của bài bằng việc tìm ra những nhánh nhỏ có liên kết với từ khóa trung tâm mà học sinh đã tìm trước đó Chắc chắn, với phương pháp này, học sinh sẽ rất hứng thú
và ghi nhớ tốt kiến thức cơ bản
e Sử dụng đồ dùng, tư liệu học tập
Đổi mới phương pháp dạy học môn văn không thể không gắn với việc sử dụng đồ dùng dạy học hiện đại Dạy học các bài đọc văn có thể khó vận dụng các trang thiết bị nghe nhìn hiện đại Nhưng ngược lại, trang thiết bị hiện đại, các tư liệu truyền hình như phóng sự, ký sự, phim tài liệu … lại là công cụ phục
vụ đắc lực cho việc dạy học một tác giả văn học Chúng ta có hàng loạt tư liệu
về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân … lựa chọn nội dung, dung lượng hợp lý các
tư liệu trên, người thầy sẽ định hướng cho học sinh một hướng tiếp cận mới đối với tác giả văn học bên cạnh việc học sinh đọc sách giáo khoa Và tất yếu những
tư liệu này giúp học sinh dễ tiếp nhận và nhớ lâu hơn nội dung trọng tâm bài