1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng công cụ đánh giá giờ dạy của giáo viên trung học

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 386,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày các cơ sở khoa học của việc xác định một giờ dạy/bài dạy hiệu quả và thành công của giáo viên trung học. Dựa trên các cơ sở khoa học này, tác giả đã thiết kế ra bộ công cụ để đánh giá giờ dạy của giáo viên trung học.

Trang 1

3

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

XÂY DỰNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ GIỜ DẠY CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC

Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Mỹ Linh

Trung tâm Đảm bảo chất lượng và Khảo thí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt Bài báo trình bày các cơ sở khoa học của việc xác định một giờ dạy/ bài dạy hiệu

quả và thành công của giáo viên trung học Dựa trên các cơ sở khoa học này, tác giả đã thiết

kế ra bộ công cụ để đánh giá giờ dạy của giáo viên trung học Bộ công cụ đánh giá giờ

dạy/bài dạy của giáo viên trung học lượng giá theo 5 mức độ, dựa trên 5 nội dung với 20 tiêu

chí Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra cách thức xác định, tìm minh chứng cho từng mức độ

đánh giá của mỗi tiêu chí để trên cơ sở đó xếp loại giờ dạy, đảm bảo tính chuẩn xác, khách

quan, công bằng trong đánh giá

Từ khóa: Giờ dạy thiết kế theo tiếp cận năng lực, bản chất của dạy học hiệu quả, đặc điểm

của giờ dạy thành công, đặc điểm của việc học tích cực, các tiêu chí đánh giá giờ dạy, cách

xếp loại giờ dạy

1 Mở đầu

Theo các nhà tâm lí học, giáo dục học hoạt động học tập ở học sinh (HS) là hoạt động có mục đích, trực tiếp hướng vào việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Dạy học chỉ được coi là hiệu quả và tích cực khi quá trình tổ chức hoạt động giảng dạy dẫn đến sự thành công hay hiệu quả của quá trình học thể hiện ở độ sâu của sự thông hiểu kiến thức, mức độ thành thạo của

kĩ năng và tạo dựng niềm tin, sự hứng thú ở người học [1, 2] Do vậy để giúp HS học hiệu quả, giáo viên (GV) cần hiểu việc học của mỗi HS diễn ra thế nào? Mỗi HS học bằng cách nào? Các công trình nghiên cứu cho thấy các em HS học qua: bắt chước; quan sát; phơi nhiễm; tập nhiễm; tương tác; trải nghiệm; trò chơi Việc học của các em HS ở nhà trường phổ thông chỉ thành công

hay hiệu quả khi trong quá trình học: các em hứng thú, tích cực khám phá, thường xuyên được trải nghiệm và giầu tương tác [3, 4]

Xu hướng chung của dạy học trên thế giới hiện nay là chuyển từ mục tiêu cung cấp tri thức sang hình thành các năng lực ở HS, hoạt động dạy ở mỗi giờ học/bài học cần tích cực hóa HS (học thế nào) để hướng đến việc hình thành và phát triển năng lực của người học [6] Chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam cũng hướng đến việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của người học [7] Dạy học theo tiếp cận năng lực chú trọng giúp HS không chỉ biết ghi nhớ, hiểu, mà chủ yếu phải biết làm (vận dụng những điều đã học) thể hiện qua các hoạt

Ngày nhận bài: 27/10/2017 Ngày chỉnh sửa: 21/11/2017 Ngày nhận đăng: 24/11/2017

Tác giả liên hệ: Nguyễn Công Khanh, e-mail: congkhanh6@gmail.com

Trang 2

động cụ thể, hoạt động trải nghiệm thực tế, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do chính cuộc sống đặt ra Dạy học theo tiếp cận năng lực tập trung vào kết quả học tập, nhằm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học thuộc, ghi nhớ Tiếp cận năng lực trong dạy học cũng có thể được xem là một chiến lược giảng dạy lấy người học làm trung tâm, thúc đẩy quá trình học tập của người học dựa trên năng lực thực hiện (performance-based learning) [8, 9]

Dạy học hiệu quả theo tiếp cận năng lực phải được đánh giá dựa trên kết quả đạt được ở người học đáp ứng mục tiêu, chuẩn đã đề ra, hướng đến việc hình thành năng lực gì sau mỗi bài dạy của

GV Đánh giá giờ dạy của GV cũng cần được xem xét hiệu quả các hoạt động của học sinh qua cách thức tổ chức hoạt động dạy học của GV [8, 9]

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Cơ sở lí luận về một giờ dạy/bài dạy thành công của GV trung học

Thiết kế giờ dạy/bài dạy theo tiếp cận năng lực

Thế nào là một giờ dạy hay bài dạy thiết kế theo cách tiếp cận năng lực? Theo các chuyên gia

một giờ dạy hay bài dạy thiết kế theo cách tiếp cận năng lực là [4]:

- Mục tiêu của bài học định hướng vào việc mô tả rõ các năng lực cần đạt và có thể quan sát/đo lường được, hơn là mô tả nội dung kiến thức HS cần được truyền thụ, thể hiện ở kết quả ghi nhớ, thuộc bài

- Năng lực được hình thành ở HS được xác định một cách rõ ràng Chúng được xem là tiêu chuẩn đánh giá kết quả (đầu ra)

- Tập trung vào sự tương tác giữa GV-HS và giữa HS-HS

- Nhấn mạnh vào việc hiểu, khám phá, đặc biệt là vận dụng kiến thức bài học trong những tình huống/ bối cảnh khác nhau

- Bài giảng nhấn mạnh vào các hoạt động học (thực hành, trải nghiệm, giải quyết vấn đề, tìm kiếm/xử lí thông tin kích hoạt khả năng tự học)

- Vai trò GV là làm thay đổi người học ở các góc độ sẵn sàng tiếp thu các khái niệm mới, tích cực thể hiện, tích cực tương tác, nghĩ về cách nghĩ… tăng cường hứng thú, sự tự tin, kích thích tư duy sáng tạo của người học

Bản chất của dạy học hiệu quả

Thế nào là dạy học hiệu quả và tích cực hóa người học? Theo các chuyên gia (Hativa, 2000; Hallinger, 2008) dạy học chỉ được coi là hiệu quả khi:

- Quá trình dạy dẫn đến sự thành công hay hiệu quả của quá trình học thể hiện ở vai trò tổ chức của người thầy, thúc đẩy tính tích cực chủ động của người học, tạo ra sự thông hiểu kiến thức, thành thạo kĩ năng, phát triển năng lực và tạo dựng được niềm tin, hứng thú ở người học

- Tạo ra được những thay đổi tích cực ở người học ở các góc độ nhận thức (kiến thức, kĩ năng,… theo chuẩn hay mục tiêu đã đề ra), tình cảm/thái độ (hứng thú, động cơ, niềm tin…)

- Giúp người học biết cách học hiệu quả, tức là: đạt được các mục tiêu đã đề ra về kiến thức,

kĩ năng, biết cách vận dụng linh hoạt cái gì học được vào cuộc sống và có thể tự đánh giá được

Trang 3

các kết quả này; hình thành được các năng lực theo chuẩn đầu ra (ví dụ năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực tư duy phê phán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng ở người học); Tạo dựng được niềm tin và hứng thú ở người học

- GV tạo ra môi trường học có sự hỗ trợ, tạo nhiều cơ hội cho HS tham gia vào ứng dụng và thực hành có hướng dẫn, giám sát chặt chẽ sự tiến bộ của HS và dạy lại, thực hành thêm khi cần thiết

- GV tin vào khả năng học của HS, tin vào khả năng của mình hướng dẫn HS học có kết quả tốt

- Sử dụng hợp lí, các chiến lược/kĩ thuật dạy học như chứng minh, làm mẫu, giải thích, nêu câu hỏi và nhận xét chính xác

Những đặc điểm của một giờ dạy/bài dạy thành công

❖ Xác định mục tiêu bài học rõ ràng, rõ trọng tâm

❖ Dạy học hướng vào HS, lấy HS làm trung tâm:

❖ Nội dung giảng dạy đảm bảo tính chuẩn xác, tính khoa học;

❖ Phương pháp giảng dạy đa dạng, tích cực hoá người học, kích thích tự học;

❖ Tạo bầu không khí tin cậy, thúc đẩy tương tác GV-HS/ HS-HS Khuyến khích HS trao đổi/ tranh luận, tự đánh giá, chia sẻ quan điểm/kinh nghiệm, thúc đẩy/cổ vũ tinh thần hợp tác,

kĩ năng làm việc nhóm;

❖ Tạo dựng một môi trường học tập thân thiện, HS cảm thấy thoải mái (không bị áp đặt, được khuyến khích phát biểu/ tự do bày tỏ quan điểm cá nhân, HS cảm thấy ý kiến của mình được thừa nhận, được tôn trọng ), hứng thú, tự tin;

❖ Nuôi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy phản biện, sáng tạo, nghĩ về cách suy nghĩ;

Các đặc điểm của việc học tích cực

(1) Tương tác GV-HS/HS-HS đóng vai trò nền tảng trong việc phát triển nhận thức nói riêng, nhân cách nói chung

(2) Việc học tập tích cực chỉ diễn ra trên nền của những cảm xúc tích cực, được liên hệ với những kinh nghiệm đã có của HS và cách sử dụng những kinh nghiệm đó để tiếp thu bài học Kinh nghiệm học tập được hiểu trước hết là các phương pháp cách thức/chiến lược tự học (3) Việc học tập tích cực không thực hiện từng nội dung riêng rẽ, cô lập mà được tích hợp trong các mối quan hệ mang tính toàn thể hướng đến giáo dục, phát triển hoàn thiện bản thân (4) Các lí thuyết dạy học hiện đại đều dựa trên những nguyên tắc tích cực hoá HS GV trở thành người tổ chức và hướng dẫn, HS giữ vai trò chủ thể trong quá trình học tập

(5) HS được hướng dẫn, biết cách xác định mục tiêu và nội dung học tập Qua đó toàn bộ quá trình học tập được đặc trưng bởi những hoạt động tìm kiếm, khám phá sáng tạo và tự kiểm soát

2.2 Cơ sở thực tiễn về một giờ dạy/bài dạy thành công/không thành công của giáo viên trung học

Kết quả phỏng vấn sâu trên 500 GV, cán bộ quản lí các trường trung học cơ sở, chuyên viên

sở GD, phòng GD, thuộc gần 40 tỉnh/thành phố trong cả nước (qua 2 hội thảo: thiết kế và ứng dụng bản đồ tư duy cho các trường trung học của Dự án giáo dục THCS II tháng 5/2012) với các

Trang 4

câu hỏi sau:

- Theo các thầy/ cô thế nào là một giờ dạy/ bài dạy thành công và không thành công?

- Có những tiêu chí nào để đánh giá một giờ dạy/ bài dạy được coi là thành công ?

Dưới đây là tóm tắt những dấu hiệu cơ bản/tiêu chí chính được nhiều người đưa ra (theo suy nghĩ/ quan điểm cá nhân của trên 500 người được phỏng vấn) [10]:

Các dấu hiệu trên đây là dữ liệu rất quan trọng giúp nhóm chuyên gia thiết kế, xác định được những dấu hiệu cơ bản để xây dựng bộ công cụ đánh giá giờ dạy của GV trung học đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dục Việt Nam

2.3 Mục đích, yêu cầu và nguyên tắc thiết kế phiếu đánh giá giờ dạy

2.3.1 Mục đích

- Giúp GV trung học tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ;

- Góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn thông qua suy ngẫm, nghiên cứu bài học;

Giờ dạy/ bài dạy thành công

1 Học sinh nhớ - hiểu kiến thức/nắm vững kiến

thức

2 Học sinh hứng thú, tích cực, tập trung tham

gia giờ học

3 Giáo viên truyền đạt kiến thức đầy đủ, chính

xác, khoa học, có trọng tâm

4 Học sinh biết vận dụng kiến thức vào giải bài

tập

5 Học sinh biết vận dụng kiến thức, liên hệ vào

thực tế cuộc sống

6 Bài học được thực hiện với nhiều phương

tiện, phương pháp hỗ trợ phù hợp, linh hoạt, có

tính tích hợp, lồng ghép kiến thức thực tế

7 Giờ học sinh động, hấp dẫn, sôi nổi, không khí

thân thiện, bài giảng lôi cuốn

8 Phát huy tính sáng tạo, chủ động, tư duy độc

lập của học sinh

9 Giáo viên đạt được mục tiêu kiến thức-kĩ

năng của bài dạy

10… ???

Giờ dạy/ bài dạy không thành công

1 Đa số HS không hiểu bài, không nắm vững hay tiếp thu được nội dung kiến thức

2 Học sinh chưa nắm được kiến thức, chưa

có khả năng làm các bài tập vận dụng

3 GV không đạt được mục tiêu bài học, dạy không đúng trọng tâm, truyền tải không đủ kiến thức

4 Học sinh không phối hợp trong giờ học, thụ động, lười tư duy

5 Học sinh không hứng thú tiếp thu kiến thức, không tích cực trong giờ học

6 Giáo viên không đảm bảo được thời gian, giờ dạy, cháy giáo án

7 Phương pháp dạy học đơn điệu, không đổi mới phương pháp dạy học, không tích hợp được kiến thức

8 Truyền tải 1 chiều, không sinh động, áp đặt học sinh

9 Giáo viên dạy chay, thiếu đồ dùng DH

10 … ???

Trang 5

- Giúp cho các cấp quản lí giáo dục làm căn cứ để đánh giá, xếp loại GV, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ GV

2.3.2 Yêu cầu

1 Việc đánh giá và tự đánh giá xếp loại giờ dạy của GV phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, toàn diện, khoa học, dân chủ và công bằng; phản ánh đúng năng lực giáo dục của GV trong điều kiện cụ thể của nhà trường, địa phương và đối tượng HS

2 Đánh giá và tự đánh giá xếp loại giờ dạy dựa trên các thành tố cơ bản, cốt lõi của quá trình dạy học và được đánh giá trên 5 mặt: (1) chuẩn bị bài học; (2) nội dung bài học; (3) phương pháp

và kĩ thuật dạy học; (4) hoạt động học của HS; (5) kết quả bài học Mỗi mặt đánh giá bao gồm các tiêu chí đánh giá và được quy định cụ thể ở Phiếu đánh giá giờ dạy

3 Để đánh giá giờ dạy chính xác, người đánh giá các tiêu chí phải hiểu rõ các tiêu chí, biết cách xác định đúng mức độ cho mỗi tiêu chí dựa trên quan sát, ghi chép kết hợp với xem xét giáo

án, có thể trao đổi với GV dạy và kiểm tra ngắn đối với HS (tham khảo các mô tả ở mục 2.4.3 của bài này)

4 Đánh giá giờ dạy cần tính đến sự phù hợp với đặc điểm riêng của môn học, loại bài lên lớp

và hình thức tổ chức dạy học

2.3.3 Nguyên tắc thiết kế phiếu đánh giá giờ dạy

Một bộ công cụ đánh giá chuẩn phải được xây dựng dựa trên những cơ sở lí luận đáng tin cậy,

có quy trình thiết kế thích hợp được kiểm soát chặt chẽ Bộ công cụ đánh giá giờ dạy của GV (Phiếu đánh giá giờ dạy) được chuẩn hóa phải đáp ứng tính chuẩn thể hiện ở các đặc tính thiết kế

và các đặc tính đo lường [5, 12] Cụ thể:

- Các đặc tính thiết kế: xác định rõ mục tiêu đo lường, nội dung đo lường, trọng số các tiêu

chí, kiểu thang đo, kiểu cho điểm Một bộ công cụ được thiết kế chuẩn phải có tính bao quát đo được các dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất của cái cần đo

Bảng trọng số các tiêu chí của phép đo: (I) Chuẩn bị bài học (15%); (II) Nội dung bài học (20%); (III) Phương pháp và kĩ thuật dạy học (20%); (IV) Hoạt động học của HS (30%); (V) Kết quả bài học (20%) Phiếu đánh giá này có 20 item (câu), mỗi item có điểm tối đa (5đ) Tổng

điểm tối đa: 100đ

Ngoài ra Phiếu đánh giá này còn có các câu hỏi mở (định tính) nhận xét chung về tiết dạy (cảm nhận, ấn tượng thành công nhất, khó khăn của GV )

Để Phiếu đánh giá này có tính khả thi, tiện lợi và dễ sử dụng, nó có thể được rút gọn hoặc chi tiết hơn cho phù hợp với thực tế địa phương trong những trường hợp đặc biệt

- Các đặc tính đo lường: đó là độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ hiệu lực (giá trị) Các đặc

tính đo lường này của Phiếu đánh giá giờ dạy phải đạt các tiêu chuẩn chuẩn hóa, tức là sau khi thiết kế xong, phiếu đánh giá này cần được thử nhiệm trên các mẫu thử nghiệm đủ lớn, có tính đại diện/đặc trưng và các chỉ số độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ hiệu lực trên các mẫu thử nghiệm hẹp, thử nghiệm trên phạm vi rộng phải đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định thống kê [11, 12] Căn cứ vào kết quả thử nghiệm để sửa chữa, căn chỉnh lại Phiếu đánh giá, hướng dẫn cách đánh giá trước khi được triển khai áp dụng đại trà cho GV trung học trên cả nước

Trang 6

2.4 Bộ công cụ đánh giá, xếp loại giờ dạy

2.4.1 Phiếu đánh giá

PHIẾU ĐÁNH GIÁ GIỜ DẠY

Họ và tên người dạy: Môn:

Tên bài học:

Trường: Lớp: Họ và tên người dự giờ: Chuyên môn:

Mức độ đạt được (điểm)

1 2 3 4 5

Chuẩn bị

bài học

(15đ)

1.1 Xác định được mục tiêu bài học

1.2 Giáo án thể hiện rõ các hoạt động của GV và HS

1.3 Thiết bị/tài liệu phù hợp với mục tiêu và nội dung bài học

Nội dung

bài học

(20đ)

2.1 Đảm bảo tính chính xác, lôgic, khoa học

2.2 Có trọng tâm và phù hợp với khả năng học của mỗi HS

2.3 Liên hệ với thực tế, cập nhật kiến thức và liên môn

2.4 Tích hợp được các nội dung giáo dục toàn diện

Phương

pháp và

kĩ thuật

dạy học

(20đ)

3.1 Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp

3.2 Sử dụng thiết bị/tài liệu dạy học hợp lí, hiệu quả

3.3 Thu thập và xử lí được thông tin phản hồi từ HS

3.4 Xử lí được các tình huống sư phạm, tạo môi trường học tập

thân thiện

Hoạt

động học

của HS

(30đ)

4.1 HS được hướng dẫn chủ động trong các hoạt động học tập

4.2 HS được tổ chức, khuyến khích tham gia các hoạt động

tương tác nhóm

4.3 HS được hướng dẫn và kích thích khả năng tự học

4.4 HS được tích cực hóa hoạt động tư duy trong học tập

4.5 HS được đánh giá và sửa chữa những sai sót khi học bài

4.6 Đảm bảo thời gian, phân bố thời gian hợp lí cho các hoạt

động

Kết quả

bài học

(15đ)

5.1 HS có nhận thức tốt đáp ứng yêu cầu mục tiêu bài học

5.2 HS vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế

5.3 HS tự tin, tích cực tương tác trong các hoạt động học tập

Cộng Điểm tổng cộng: /100

Trang 7

Đánh giá chung

- Giáo viên dạy tự nhận xét:

………

………

………

………

- Người dự giờ nhận xét: Những thành công của giờ dạy (nội dung, phương pháp và kĩ thuật dạy học, hoạt động học của HS, ):

………

………

………

………

- Những hạn chế của giờ học (nội dung, phương pháp và kĩ thuật dạy học, hoạt động học của HS, ):

………

………

………

………

Xếp loại giờ dạy:

., ngày tháng năm

Người đánh giá

2.4.2 Hướng dẫn xếp loại giờ dạy

- Có 5 mặt đánh giá, với 20 tiêu chí làm cơ sở cho việc đánh giá, xếp loại giờ dạy Mỗi tiêu

chí, có 5 mức độ từ thấp đến cao: 1, 2, 3, 4, 5 Mỗi mức độ liền kề chênh nhau 1,0 điểm Cụ thể là:

+ Mức độ 5: (5 điểm) mức độ này phải đạt đầy đủ các yêu cầu của tiêu chí và phải có đầy đủ

minh chứng để công nhận

+ Mức độ 4: (4 điểm) mức độ này phải đạt hầu hết các yêu cầu của tiêu chí và có những minh

chứng cốt lõi để công nhận (Chọn lựa mức 4 khi có đủ minh chứng vượt quá mức 3 nhưng chưa đạt mức 5)

+ Mức độ 3: (3 điểm) mức độ này phải đạt ít nhất 50% các yêu cầu của tiêu chí và có minh

chứng rõ ràng để công nhận

+ Mức độ 2: (2 điểm) mức độ này chỉ đạt một phần các yêu cầu của tiêu chí và có ít minh

chứng để công nhận (Chọn lựa mức 2 khi có đủ minh chứng vượt quá mức 1 nhưng chưa đạt mức 3)

+ Mức độ 1: (1 điểm) mức độ này hoàn toàn chưa đạt hoặc đạt được rất ít các yêu cầu của tiêu

chí và chưa có minh chứng để công nhận

Trang 8

- Xếp loại giờ dạy:

+ Loại giỏi: Điểm tổng cộng đạt từ 80 điểm trở lên và không có tiêu chí đạt dưới mức độ 3; + Loại khá: Điểm tổng cộng từ 65 đến dưới 80 điểm, không có tiêu chí đạt dưới mức độ 3; + Loại trung bình: Điểm tổng cộng đạt từ 50 điểm đến dưới 65 điểm;

+ Chưa đạt yêu cầu: Điểm tổng cộng dưới 50 điểm;

+ Trường hợp giờ dạy có nhiều GV đánh giá, điểm trung bình của giờ dạy có thể để điểm lẻ làm tròn đến 0,5đ Khi xếp loại giờ dạy: Loại giỏi điểm tổng cộng trung bình đạt 80 điểm trở lên

và 2/3 tổng số tiêu chí đạt từ mức 3 trở lên; Loại khá điểm tổng cộng trung bình đạt từ 65 đến dưới 80 điểm và 1/2 tổng số tiêu chí đạt từ mức 3 trở lên; Loại trung bình và chưa đạt yêu cầu được xếp loại như trên

* Lưu ý: trường hợp đủ điểm, nhưng không đủ các điều kiện xếp loại thì được xếp ở loại dưới liền kề

2.4.3 Mô tả biểu hiện các mức độ đánh giá giờ dạy của 20 tiêu chí

Dưới đây là các mô tả gợi ý, trên cơ sở đó xác định rõ các mức độ đánh giá của mỗi tiêu chí: mức độ 5, mức độ 3 và mức độ 1 Các mức độ 2 và mức độ 4 của mỗi tiêu chí, GV chủ động xác định Khi tìm minh chứng cho các mức độ đánh giá của mỗi tiêu chí người đánh giá cần vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường, địa phương, đối tượng HS, đặc điểm của môn học, loại bài lên lớp và hình thức tổ chức dạy học

1.1 Xác định được mục tiêu bài học

Mức độ 5: Xác định được mục tiêu của bài học theo chương trình giáo dục phổ thông Các

mức độ về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ được thể hiện cụ thể, tường minh, phù hợp với đối tượng HS Sử dụng các động từ có thể quan sát và đo lường được để viết các mục tiêu bài

học

Mức độ 3: Xác định được mục tiêu bài học theo chương trình giáo dục phổ thông, phù hợp với

đối tượng HS Sử dụng các động từ có thể quan sát và đo lường được khi viết các mục tiêu bài học Tuy nhiên, các mức độ về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ được thể hiện chưa cụ thể, chưa tường minh

Mức độ 1: Xác định mục tiêu bài học không theo chương trình giáo dục phổ thông hoặc thiếu

những mục tiêu quan trọng Sử dụng các động từ không quan sát và đo lường được để viết các mục tiêu bài học

1.2 Giáo án thể hiện rõ các hoạt động của GV và HS

Mức độ 5: Giáo án thể hiện rõ tiến trình các hoạt động của GV và HS, dự kiến sử dụng

phương pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học, thiết bị dạy học phù hợp với nội

dung bài học, điều kiện của địa phương, dự kiến được thời gian cho các hoạt động

Mức độ 3: Giáo án thể hiện được tiến trình các hoạt động của GV và HS Tuy nhiên, dự kiến

lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học, thiết bị dạy học chưa

thật phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương

Mức độ 1: Giáo án thể hiện tiến trình các hoạt động của GV và HS chưa rõ; chưa dự kiến

được thời gian cho các hoạt động; dự kiến lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học, hình

thức tổ chức dạy học chưa phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương

Trang 9

1.3 Thiết bị /tài liệu phù hợp với mục tiêu và nội dung bài học

Mức độ 5: Chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT) phù hợp với

mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học Khuyến khích việc cải tiến phương tiện dạy học hoặc sáng tạo những phương tiện dạy học mới

Mức độ 3: Có chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT), song

chưa thật phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học, chưa biết cải tiến phương tiện dạy học

Mức độ 1: Không chuẩn bị thiết bị/tài liệu hoặc có nhưng cẩu thả, không phù hợp với nội

dung bài học

2.1 Đảm bảo tính chính xác, lôgic, khoa học

Mức độ 5: Đảm bảo tính chính xác về: các khái niệm, thuật ngữ khoa học; các đơn vị kiến

thức, kĩ năng được sắp xếp lôgic, khoa học

Mức độ 3: Đảm bảo tính chính xác về: các khái niệm, thuật ngữ khoa học Tuy nhiên, việc sắp

xếp các đơn vị kiến thức, kĩ năng chưa thật lôgic, khoa học

Mức độ 1: Các khái niệm, thuật ngữ khoa học có nội dung chưa chuẩn xác Các đơn vị kiến

thức, kĩ năng được sắp xếp chưa khoa học

2.2 Có trọng tâm và phù hợp với khả năng học của mọi HS

Mức độ 5: Xác định được kiến thức trọng tâm của bài học Nội dung bài học đảm bảo mức độ

phân hoá theo trình độ HS trong lớp học: nội dung kiến thức, kĩ năng chuẩn; nội dung kiến thức,

kĩ năng phù hợp với HS yếu; nội dung kiến thức, kĩ năng nâng cao dành cho đối tượng học khá,

giỏi

Mức độ 3: Xác định được kiến thức trọng tâm của bài học Tuy nhiên, nội dung kiến thức, kĩ

năng dành cho các đối tượng: HS yếu, HS khá giỏi trong lớp học được xác định chưa rõ ràng

Mức độ 1: Chưa xác định rõ được kiến thức trọng tâm của bài học.Không có sự phân hóa các nội dung kiến thức, kĩ năng dành cho các đối tượng HS khác nhau trong lớp học

2.3 Liên hệ với thực tế, cập nhật kiến thức và liên môn

Mức độ 5: Nội dung kiến thức của bài học được cập nhật, đảm bảo tính hiện đại, thời sự và

các ví dụ xuất phát từ thực tế cuộc sống Khai thác được nội dung bài học để liên hệ, ứng dụng vào thực tế cuộc sống Đảm bảo khai thác hiệu quả các mối quan hệ về kiến thức liên môn với

nội dung bài học

Mức độ 3: Nội dung kiến thức của bài học được cập nhật Tuy nhiên chưa đảm bảo được tính

hiện đại, thời sự Biết khai thác nội dung bài học liên hệ, ứng dụng trong thực tế cuộc sống, song các liên hệ chưa thật tiêu biểu Khai thác các mối quan hệ về kiến thức liên môn với nội dung bài

học chưa hiệu quả

Mức độ 1: Nội dung kiến thức chưa được cập nhật, chưa biết liên hệ kiến thức của bài học với

thực tế cuộc sống Chưa chú ý đến các nội dung dạy học có liên quan đến các môn học khác

2.4 Tích hợp được các nội dung giáo dục toàn diện

Mức độ 5: Nội dung kiến thức được tích hợp với các vấn đề: giáo dục tư tưởng, đạo đức, giáo

dục pháp luật, dân số, bảo vệ môi trường, kĩ năng sống, một cách hợp lí Các ví dụ, câu chuyện,

Trang 10

bài học đạo đức, giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống, nuôi dưỡng hứng thú, tạo niềm tin,…có sức

hấp dẫn HS

Mức độ 3: Nội dung kiến thức được tích hợp với các vấn đề: giáo dục tư tưởng, đạo đức, giáo

dục pháp luật, dân số, môi trường, kĩ năng sống, song chưa thật tiêu biểu Có lồng ghép các nội

dung giáo dục đạo đức, giá trị, kĩ năng sống,… nhưng chưa thực sự hấp dẫn HS

Mức độ 1: Nội dung kiến thức khô khan, thuần kiến thức môn học, không được lồng ghép các

nội dung giáo dục toàn diện

3.1 Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học tối ưu

Mức độ 5: Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học tối ưu, tích cực, phù hợp với đặc

trưng môn học, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểu bài lên lớp và đối tượng HS, phát huy được tính tích cực chủ động của HS

Mức độ 3: Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với đặc trưng môn học,

nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểu bài lên lớp Tuy nhiên, các phương pháp và kĩ thuật dạy học được lựa chọn chưa phù hợp với mọi đối tượng HS, chưa phát huy được tính tích cực chủ động của HS

Mức độ 1: Lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học chưa phù hợp với mục tiêu, nội dung,

hình thức tổ chức dạy học và kiểu bài lên lớp Chưa phát huy được tính tích cực, chủ động học tập của HS

3.2 Sử dụng thiết bị/tài liệu dạy học hợp lí, hiệu quả

Mức độ 5: Thiết bị dạy học và tài liệu (kể cả thiết bị cải tiến và thiết bị dạy học tự làm, sách

giáo khoa và các tài liệu khác) được GV và HS khai thác hiệu quả, sử dụng an toàn HS được tạo điều kiện thao tác trên thiết bị, tài liệu học tập và có tác động rõ rệt đến chất lượng giờ dạy

Mức độ 3: Thiết bị dạy học và tài liệu được GV và HS khai thác, sử dụng trong quá trình học

tập Tuy nhiên, chưa thật hiệu quả; mức độ thao tác của HS trên thiết bị dạy học và tài liệu học tập còn mang tính hình thức

Mức độ 1: Không sử dụng thiết bị, tài liệu dạy học, hoặc sử dụng chưa hợp lí, kém hiệu quả

HS không được thao tác trên các thiết bị, tài liệu dạy học

3.3 Thu thập được thông tin phản hồi từ HS

Mức độ 5: Biết sử dụng các phương pháp và hình thức để thu thập thông tin phản hồi từ

phía HS (thông qua cử chỉ, hành vi, nét mặt, thái độ, qua vở ghi bài, câu hỏi phát vấn,…) để từ

đó kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học làm tăng hiệu quả của giờ dạy

Mức độ 3: GV có sử dụng các phương pháp, hình thức để thu thập thông tin phản hồi từ phía

HS, song còn hình thức và chưa hiệu quả Việc sử dụng các thông tin thu thập được để điều chỉnh phương pháp dạy học chưa kịp thời

Mức độ 1: Chưa biết thu thập thông tin phản hồi về mức độ nhận thức của HS để điều chỉnh

phương pháp dạy học kịp thời

3.4 Xử lí được các tình huống sư phạm, tạo môi trường học tập thân thiện

Mức độ 5: Linh hoạt các tình huống sư phạm Xây dựng được môi trường học tập thân thiện, hợp

tác, thuận lợi, an toàn, lôi cuốn được mọi HS tham gia vào các hoạt động học tập và thi đua lành

mạnh Tôn trọng các ý kiến của HS

Ngày đăng: 19/05/2021, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w