Tài liệu Xã Tượng Sơn - Lịch sử Đảng bộ và nhân dân (1930 - 2016) được biên soạn nhằm ghi lại những sự kiện và giai đoạn lịch sử Đảng bộ và nhân dân của xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Tài liệu có nội dung gồm 7 chương và được chia thành 2 phần. Phần 1 sau đây sẽ giới thiệu đến bạn đọc các nội dung: Mảnh đất, con người và truyền thống lịch sử, văn hóa; thời kỳ vận động thành lập các tổ chức và đấu tranh giành chính quyền (1930-1945); thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1945 – 1954);... Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
DƯƠNG KIM HỢI
NGUYỄN VĂN THÌN
TRẦN DANH PHẤN
NGUYỄN NGỌC HOA
DƯƠNG KIM HUY
BAN BIÊN SOẠN
Th.S DƯƠNG TRÍ THỨC - Chủ biên
HOÀNG SAN
DƯƠNG THỈ NGUYỄN ĐÌNH TRÂN
DƯƠNG KIM HỠI
NGUYỄN NGỌC HOA
Trang 3
-Trải qua các thời kỳ lịch sử, xã Tượng Sơn đã có những thay
đổi về tên gọi, địa giới hành chính Vào khoảng thế kỷ thứ XII
xã Tượng Sơn là một xứ đầm lầy, hoang vắng, đường sá đi lại rất khó khăn, cách trở; vì thế nơi đây trở thành nơi trú ẩn của một số người dân ở các tỉnh phía Bắc chạy loạn, chống binh dịch, hoặc bị chu di tam tộc “Đất nghèo nuôi lớn những anh hùng”, nơi đây đã sinh thành, nuôi dưỡng những người con cần
cù trong lao động sản xuất, anh dũng trong chiến đấu chống
giặc xâm lược, chống thiên tai, lũ lụt Chính mảnh đất này đã nuôi dưỡng Đô đốc Tướng quân Nguyễn Phi Nghi, Quan tán
Trần Đình Lãng, những người có công trong cuộc chiến giặc phong kiến phương Bắc đô hộ nước ta; Võ tướng đô đốc Trần Danh Lập (sinh năm 1848) đỗ giải nguyên võ (năm 1876), năm
1879 ông được bổ nhiệm làm Đội trưởng phân võ tỉnh Nghệ
An, Chánh đội trưởng (năm 1881) và Phó quản cơ sở Trung Uy
ở tỉnh Bắc Ninh năm 1882; năm 1887 ông trở về quê tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp, góp phần cùng nghĩa quân làm nên những trận đánh làm kẻ thù khiếp sợ…
Trang 4Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tượng Sơn cùng nhau đoàn kết đấu tranh, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chi bộ lãnh đạo nhân dân đẩy lùi “giặc đói, giặc dốt”, thực hiện giảm tô, cải cách ruộng đất, xây dựng “Ba ngọn cờ hồng”, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Trong ba cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, con em Tượng Sơn luôn sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ đánh giặc, không sợ gian khổ, hy sinh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Trong số những người ra đi ấy có 97 người con vĩnh viễn nằm lại các chiến trường, 35 người trở về trên thân thể còn đầy thương tích, 9
bà mẹ được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Những người ở lại quê hương “tay cày, tay súng”, vừa đẩy mạnh thi đua lao động sản xuất, nuôi dưỡng sức dân, chi viện sức người sức của cho các chiến trường; vừa chiến đấu và phục
vụ chiến đấu tại chỗ Với tinh thần:“Tất cả cho tiền tuyến, tất
cả để đánh thắng kẻ thù xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”
Những phẩm chất và truyền thống tốt đẹp của của Đảng bộ
và nhân dân Tượng Sơn tiếp tục được tỏa sáng trong sự nghiệp đổi mới đất nước Đảng bộ Tượng Sơn năng động, sáng tạo vận dụng chủ trương, đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Nhanh chóng triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị về “Ðổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, Nghị định 64 “về giao đất nông nghiệp cho hộ gia
Trang 5đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” Đảng bộ, chính quyền vừa phát huy nội lực, kết hợp với tranh thủ các nguồn dự án, hỗ trợ cấp trên đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, nhờ đó hệ thống điện thắp sáng, trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang Đặc biệt thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (từ năm 2011), bộ mặt quê hương đã hoàn toàn thay đổi Những con đường đất, ổ trâu, ổ gà lởm chởm về mùa hè, mùa đông lầy lội không còn nữa Các tuyến đường đã được làm bằng bê tông rộng rãi, thông thoáng; Trụ sở làm việc của Đảng ủy, chính quyền, các trường học, Trạm y tế được xây dựng cao tầng, khang trang, hiện đại Thu nhập đầu người bình quân của xã năm 2015 đạt 28,7 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 4,95%, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên…
Để gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương,
đáp ứng nguyện vọng của đảng viên và nhân dân xã nhà; đồng
thời thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 28/08/2002 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Chỉ thị số 22- CT/TU ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Tỉnh uỷ về việc biên soạn Lịch sử Đảng bộ địa phương và chỉ đạo của Huyện ủy,
Ban Thường vụ Đảng uỷ xã đã chỉ đạo biên soạn cuốn Lịch sử
Đảng bộ và nhân dân xã Tượng Sơn giai đoạn 1930 - 2016
Do thời gian các sự kiện xảy ra đã lâu, tài liệu hồ sơ lưu trữ của Đảng bộ xã những năm trước đây không được đầy đủ, vì vậy cuốn sách chắc không thể tránh khỏi thiếu sót Ban biên tập mong bạn đọc tiếp tục đóng góp ý kiến, để cuốn sách ngày càng
Trang 6được đầy đủ và hoàn thiện hơn cho việc tái bản sau này Những
ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về Ban Thường vụ Đảng uỷ
xã Tượng Sơn huyện Thạch Hà
Ban Biên tập xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy Thạch Hà, mà trực tiếp là Ban Tuyên giáo Huyện ủy; cảm ơn các đồng chí cán bộ lãnh đạo xã qua các thời kỳ, cùng đại diện các ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đã tham gia đóng góp ý kiến vào bản thảo, cung cấp thông tin tư liệu để chúng tôi hoàn thành cuốn sách
BAN THƯỜNG VỤ ĐẢNG UỶ XÃ TƯỢNG SƠN
Trang 7xã Thạch Hưng (thành phố Hà Tĩnh) và xã Thạch Lạc (huyện Thạch Hà); phía Nam tiếp giáp xã Thạch Thắng (huyện Thạch Hà) và xã Thạch Bình (thành phố Hà Tĩnh); phía Đông tiếp giáp với xã Thạch Lạc và xã Thạch Thắng; phía Tây tiếp giáp với phường Đại Nài và phường Văn Yên (thành phố Hà Tĩnh) Toàn
bộ phía Bắc và phía Tây xã tiếp giáp với thành phố Hà Tĩnh, được ngăn cách bởi con sông Ngàn Mọ (đoạn chảy qua địa bàn
xã thường gọi là sông Hoàng Hà(1)) Xã Tượng Sơn cách thị trấn Thạch Hà khoảng 9 km (thị trấn ở phía Bắc xã)
Ngày trước, xã Hoàng Hà nói chung và xã Tượng Sơn nói riêng là xứ đầm lầy, hoang vắng, đường sá đi lại khó khăn, cách
(1) Hoàng có nghĩa là màu vàng, hà là sông Nước trên dòng sông thường
có màu vàng nên gọi là sông Hoàng Hà
Trang 8trở Vì thế vào khoảng thế kỷ thứ XII, một số người dân ở các tỉnh phía Bắc chạy loạn, chống binh dịch, một số bị chu di tam tộc chạy trốn vùng đất này, từ đó sinh cơ lập nghiệp, dần dần phát triển trở thành dân số của xã Tiếp sau đó có một số người
ở Thanh Hoá, Thái Bình, Nam Hà tiếp tục vào lập nghiệp Sau
đó, một số người ở xã Yên Định, Nam Trị tiếp tục sang sinh sống, dân cư đông dần Từ khi thành lập xã Hoàng Hà thuộc tổng Hạ Nhất, Hoàng Hà là một xã lớn nhất trong 10 xã của tổng Hạ Nhất Các di chỉ khảo cổ học đã chứng minh người tiền sử đã từng sống trên đất Thạch Hà từ trên 4000 năm Theo gia phả các dòng họ lớn thì tổ tiên lớp người hiện nay đến đây sớm nhất là từ cuối Trần, đầu triều đại nhà Lê (thế kỷ XIII đến XV) Hiện nay có 9 họ tộc chủ yếu: Nguyễn, Trần, Hoàng, Lê, Dương, Hồ, Đinh, Võ, Bùi Trong đó họ Trần, họ Nguyễn là những họ đến đây sinh sống đầu tiên, đến nay mỗi họ tộc có trên 30 đời
Xã Tượng Sơn và xã Thạch Thắng hiện nay, trước cách mạng tháng 8 năm 1945 gọi là xã Hoàng Hà Xã Hoàng Hà được chia thành 9 thôn: Bái Nội, Bái Ngoại, Thành Công, Thái Thịnh (thuộc xã Thạch Thắng, ngày nay gọi là vùng Tứ Thượng); các thôn: Thượng Phú, Sâm Lộc, Hà Thanh, Phú Sơn, Yên Định thuộc xã Tượng Sơn (hiện nay gọi là vùng Ngụ Hạ) Ngoài ra
có một xã Giang Xá sống xen cư Nhân dân xã Giang Xá sống
ở đây chỉ có một nhiệm vụ thu thuế, thu sưu, còn ruộng đất do
xã Hoàng Hà quản lý Thực hiện chủ trương của cấp trên xóa
bỏ chính quyền cấp làng, cấp tổng, thành lập chính chính quyền cấp xã, tháng 12 năm 1945 một số làng, xã của tổng Hạ Nhất được cắt ra để thành lập các xã mới Ba xã: Hoàng Hà, Giang
Trang 9Xá(1), Hoà Thắng được hợp nhất lại thành xã mới, đặt tên là
xã Hoàng Thắng Được sự đồng ý của cấp trên, phiên họp đầu tiên của Hội đồng nhân dân xã năm 1946 quyết định đổi tên xã Hoàng Thắng thành xã Tượng Sơn Tượng có nghĩa là voi, sơn
là núi Núi ở xã Hoàng Thắng có hình trông tựa con voi, vì vậy nên gọi là xã Tượng Sơn Tháng 8 năm 1954, sau khi thực hiện chủ trương giảm tô, Tượng Sơn được chia thành hai xã: Thạch Tượng và Thạch Thắng Theo đường cắt ngang từ cống Nhà
Bà đi về phía Nam; phía Bắc và Phía Tây lấy sông Hà làm biên giới Tháng 2 năm 1972, theo đề nghị của Viện Sử học và Bộ Văn hoá, Chính phủ đã đồng ý xã Thạch Tượng được mang tên
cũ là Tượng Sơn cho đến nay
2 Điều kiện tự nhiên
Hoàng Hà là xã thuộc đồng bằng, nơi đây có 4 hòn núi đá, ngày nay gọi là Rú Ngói, Rú Mồ, Rú Săng, Rú Nước Theo truyền thuyết kể lại rằng, nơi đây trước kia là một bãi biển, bốn hòn núi ấy là bốn hòn đảo, bây giờ nếu đào xuống tầng đất 1-2 mét, sẽ gặp một lớp vỏ sỏ, vỏ hàu, vỏ hến Qua nhiều lần biến động địa chất, vùng bãi biển này thành một vùng đầm lầy, dần dần được sự bồi đắp của phù sa từ cao xuống thấp, trở thành đất trồng trọt Ruộng đồng trước đây chủ yếu là ruộng bậc thang, đồng trũng, đất trồng trọt không được bao nhiêu Theo dư địa chí huyện Thạch Hà thì các ngọn núi trên được gọi chung là núi núi Hà Thanh, núi nằm ở làng Phú Sơn Mạch núi khởi nguồn từ dãy núi Nhật Lệ, đến đây đột khởi lên các ngọn nhỏ Sau này thì dân bản địa gọi đây là núi Tượng, vì có hình thù giống con voi, do đó tên xã cũng được gọi là Tượng Sơn
(1) Theo Dư địa chí Thạch Hà gọi là Dương Xá
Trang 10Gọi là núi Tượng, nhưng ba ngọn ấy thực chất cũng tương tự như những ngọn đồi Trên núi ít có cây gỗ, phần lớn là sim mua
và các loại cây thông thường khác Núi được cấu tạo chủ yếu bằng đất sạn, đá cơm - loại đá giòn dễ đập vỡ Bởi vậy, dân ở đây cũng quen gọi những ngọn núi này là rú Đất Do tác động của thiên nhiên và con người (khai thác đất đá về làm đường sá, vườn tược, sân nhà) nay núi đã mòn đi quá nhiều Những hình thù mà thiên nhiên ban tặng như voi, như hổ, như rùa, như tháp bút không còn Hiện nay, núi Tượng chỉ còn lại một vài mỏm đất, mọi người khó tưởng tượng được rằng, nơi đây đã từng là
những hòn núi đẹp, đã từng có một “Hà Thanh sơn” đi vào văn
chương và lịch sử
Dòng sông Ngàn Mọ bắt nguồn từ vùng núi Đá Bạc xã Cẩm
Mỹ huyện Cẩm Xuyên, khi đến địa phận xã Phất Não (xã Thạch Bình hiện nay) uốn thành hình vòng cung ôm lấy toàn bộ phía Tây (bắt đầu từ xã Thạch Bình) và phía Bắc của xã, sau đó đi qua một số xã rồi đổ ra Cửa Sót xã Thạch Kim Về mùa mưa, dòng sông chứa đầy phù sa nước đục ngầu, trông từ xa có màu vàng Vào mùa hạ, ánh nắng mặt trời chiếu vào dòng sông dập dờn sóng nước, tạo nên màu vàng lấp lánh, vì thế nên gọi là Hoàng Hà Dòng sông này tạo thành đường giao thông thuỷ quan trọng trước đây cũng như trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, đồng thời góp phần điều hòa khí hậu tại địa bàn Tuy nhiên, về mùa mưa lũ, nước sông dâng cao, gây ra cảnh ngập lũ và thiệt hại cho nhân dân Do sự tàn phá của nước thuỷ triều, lũ lụt, gây nên sạt lở đất đai, để lại những chỗ sâu tạo thành vực, chỗ nông tạo thành đầm Thời kỳ ấy trên địa hình xã Hoàng Hà có những vực sâu: Vực Đình, Vực Chùa, Vực Đầu, Bàu Sanh Ngày nay bằng công sức lao động của con người, đã
Trang 11cải tạo những vùng đầm lầy thành đất trồng trọt Để bảo vệ cánh đồng không bị xâm nhập mặn lúc triều cường, xã được đầu tư xây dựng 4 con đê ngăn mặn, dài khoảng 12 km.
Về giao thông, trước năm 1945 xã chỉ có một con đường chính, gọi là đường 54(1), từ tỉnh lỵ đi Đò Hà đến chợ Đạu (giáp với đê N9), nay gọi là Tỉnh lộ 27 Điểm đầu là cầu Đò Hà (xã Tượng Sơn), điểm cuối là bãi biển xã Thạch Văn, dài 10,3 km; đoạn đi qua địa bàn xã có chiều dài 2,8 km Đường có 3 cầu chính, gồm: cầu Đò Hà qua sông Rào Cái, cầu Nhà Bà là ranh giới giữa xã Tượng Sơn và xã Thạch Thắng và cầu Đạo là ranh giới giữa xã Thạch Thắng - Thạch Văn Người dân trong xã muốn đi lên tỉnh lỵ phải qua một đò ngang gọi là Đò Hà Vào năm 1976 Nhà nước đã đầu tư xây dựng cầu Đò Hà bằng cáp treo, việc đi lại của nhân dân thuận tiện hơn trước Đến năm
1991 cáp treo bị hỏng, cầu được đầu tư xây dựng bằng bê tông cốt thép Đường qua lại trong nông thôn chật hẹp, chưa được hình thành quy cũ Từ năm 2011, thực hiện chủ trương của Chính phủ, cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới, hệ thống các tuyến đường giao thông của xã và liên xã được mở rộng, nâng cấp
II Tình hình chính trị kinh tế – xã hội dưới thời kỳ
đô hộ của đế quốc và phong kiến đến tháng 8 năm 1945.
1 Tình hình chính trị
Ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, công khai xâm lược nước ta Triều đình Nhà Nguyễn buộc phải đầu hàng Từ một xã hội phong kiến,
(1) Nhân dân hay gọi là Đường Quan, đi từ tỉnh lỵ qua xã Hoàng Hà, xuống
xã Ngu Xá (nay là xã Thạch Văn).
Trang 12Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ, do thực dân Pháp và chính quyền Nam triều cai quản Ở huyện có tri huyện, ở tổng có chánh tổng, phó chánh tổng, chánh phó tổng đoàn Ở xã có lý trưởng, dưới lý trưởng có ngũ hương: hương lý (phó lý trưởng), hương kiểm, hương bộ, hương dịch và hương mục làm mọi công việc phục
vụ cho chúng như: tuần tra, canh gác, thu thuế, bắt phu… Ngoài
ra còn có Hội đồng hương biểu, Hội đồng tộc biểu, Hội đồng hào mục, Hội đồng lý dịch do Lý trưởng đứng đầu Những bọn quan lại, chức sắc hào cường là những tổ chức kìm hãm và ức hiếp nhân dân Đối với xã Hoàng Hà đã có nhiều đời lý trưởng Đến triều đại cuối cùng của niên hiệu Bảo Đại là lý trưởng Nguyễn Văn Quý
Người nông dân dưới chế độ thực dân phong kiến không được hưởng một tý gì về quyền lợi chính trị Giới cầm quyền chế độ thực dân đã biến dân ta thành những người chỉ biết tuân thủ, bảo đi đâu, làm gì phải tuân theo Nếu có người nào đó
chống đối lại, chúng đánh đập tàn nhẫn, còn bị ghép vào tội bất tuân hương chính và có thể bị truy tố tội thượng phạm pháp,
hoặc bị vu cáo làm loạn Để tăng cường củng cố địa vị, bọn cường hào địa chủ cấu kết với đế quốc, tăng cường các quyền lực hành chính và tôn giáo nhằm đàn áp bóc lột nhân dân ta Chúng tìm đủ mọi hình thức mua bán chức tước, mặc sức hoành hành áp bức nhân dân
Người cao tuổi trong làng cũng được hình thành hai hội: Hội lão quan và hội lão dân Hội lão quan là những người cao tuổi giàu có, chức sắc, hào lý; Hội lão dân là của những người đói khổ, không được học hành, mù chữ Hội lão dân phải làm
Trang 13những việc do hội lão quan sai bảo những lúc tế tự, hội họp Nhân dân ta dưới chế độ phong kiến, ngoài khoản sưu cao, thuế nặng, còn phải đi lao động công ích, như đắp đường quốc
lộ, tỉnh lộ, huyện lộ Người dân chỉ biết lao động, không được hưởng một quyền lợi gì Tất cả gánh nặng phu phen, tạp dịch gì đều đổ lên đầu người nông dân Bên cạnh đó nạn bắt phu, bắt lính diễn ra thường xuyên, nhất là những năm 1914-1918, thực dân Pháp mở đường quốc lộ số 7, số 8 đi sang Lào và mở đường sắt xuyên Việt, chúng ồ ạt bắt phu đi làm đường Rất nhiều người ra đi mãi không trở về, phần chết do ốm đau, bệnh tật nơi chốn rừng thiêng nước độc; có người chết do lao động quá vất
vả, ăn uống khổ sở, lại còn bị đánh đập tàn nhẫn
2 Tình hình sản xuất nông nghiệp:
Nhân dân Tượng Sơn thuần tuý sản xuất nông nghiệp, nhưng địa hình của xã ba bề nước mặn bao vây, 2/3 diện tích
bị nhiễm nước mặn, nhiễm phèn; như vùng đập Vệnh 39 mẫu, Đòng Đòng, Sác Su ở làng Phú Sơn 25 mẫu, đập Bến Giang 38 mẫu, đập Hà 30 mẫu, một số diện tích bị bạc màu, bậc thang,
bị úng, hết mưa bị hạn Mặt khác diện tích phân bổ không đều theo dân cư, vùng Bái Nội, Bái Ngoại, bình quân đầu người cao hơn vùng Ngụ Hạ Diện tích đất sản xuất chủ yếu nằm vào nhà giàu, tầng lớp trung lưu, nhà chung, ruộng công điền, công thổ Còn thành phần trung nông lớp dưới và bần nông ruộng rất ít, bình quân mỗi hộ chỉ có từ 1-1,5 sào Nhưng người nông dân
do không có tài sản gì đáng giá hơn vài sào ruộng, nên khi gia đình có công việc gì phải đem ruộng ra cầm cố, đến lúc lãi mẹ
đẻ lãi con không trả được phải bán ruộng, quanh năm cày thuê, cuốc mướn cho những gia đình giàu có thuộc tầng lớp trung
Trang 14lưu Tượng Sơn là một xã chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết, bão
lũ hàng năm phá huỷ đê điều làm cho nước mặn dâng lên, có năm bị thất bát hoàn toàn, bỏ công lao động sản xuất mà không
có thu hoạch Việc sản xuất mang tính chất độc canh, một năm sản xuất hai vụ lúa, bình quân chỉ đạt năng suất 25-30 kg/sào Khoai lang đã bị thoái hoá giống, chỉ đạt từ 90-100 kg/sào Đàn gia súc, gia cầm không phát triển Những gia đình địa chủ, phú nông, mới có trâu bò, còn nông dân không có trâu bò cày, làm đất sản xuất bằng cuốc, hoặc làm công đổi cho địa chủ, phú nông Người nông dân dưới chế độ thực dân phong kiến suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho cho trời, nhưng cuộc sống quanh năm vất vả, cơm không đủ ăn, áo không có mặc
3 Đời sống văn hóa – xã hội
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để trị, chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Trường học rất ít, do đó chỉ con nhà giàu mới được học Mỗi tổng gồm năm, sáu xã chỉ
có một hay hai trường yếu lược, mỗi trường 2 hoặc ba lớp, dạy trình độ tương đương lớp 1 và lớp 2 hiện nay (gọi là lớp
tư và lớp năm) Gần 90 năm đô hộ nước ta, đến năm 1944
cả huyện Thạch Hà chỉ có một trường tiểu học từ lớp nhì trở xuống (tương đương lớp ba hiện nay) và 13 trường sơ học liên hương, một trường tiểu học tư, một trường sơ học tư và 14 lớp học gia đình Do không có trường lớp, nhân dân không có điều kiện để đi học, nên trước cách mạng tháng 8 năm 1945 hơn 95% người dân mù chữ Người biết chữ cũng chỉ ở trình
độ yếu lược Một số gia đình có điều kiện nuôi thầy dạy cho con tại nhà Các thầy dạy cho con em vừa học chữ Nho, vừa học chữ Quốc ngữ và học chữ Pháp Từ năm 1918 -1944 các
Trang 15lớp học của các thầy đồ, ông cử được mở ở các làng Năm
1921 thầy giáo Kê ở làng Hà Thanh mở một lớp dạy tư tại đình Thượng Phú, hàng năm có từ 10 đến 15 học sinh theo học Tiếp sau thầy Kê là thầy Hoàn, thầy Trân Học sinh chỉ học xong chương trình lớp nhì (tương đương lớp ba hiện nay), sau
đó hầu hết không có điều kiện học lên
Năm 1927, trước sự đấu tranh của nhân dân, đòi mở lớp dạy chữ quốc ngữ, chính quyền thực dân phong kiến huy động nhân dân đóng góp, xây dựng một trường hai gian tại xứ Đồng Quan, đặt tên là Hoàng Hà Tổng trường Đến năm 1936 đổi tên thành trường Tổng Hoàng Hà Trường đặt dưới sự quản lý của thực dân Pháp, có quan đốc học để quản lý chương trình giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh Chương trình học đơn điệu, kiến thức không toàn diện Đa số học sinh biết đọc biết viết rồi nghỉ học Số ít có điều kiện theo học Trường Tiểu học Pháp Việt Từ năm 1940-1944 xã có 12 người thi đậu yếu lược,
5 người có trình độ Prime, 2 người đậu tú tài Đến năm 1945 xã
có 270 người biết chữ Hán và chữ Quốc ngữ
Về y tế, suốt thời gian dài thực dân Pháp đô hộ nước ta, cả
tỉnh chỉ có một bệnh viện, mỗi huyện có một trạm phát thuốc, nhưng thuốc men rất khan hiếm và rất đắt, chỉ có nhà giàu mới
đủ tiền mua Nhân dân đau ốm hầu như không có thuốc để chữa bệnh, gia đình nào có điều kiện cũng chỉ có tiền để cắt vài thang thuốc bắc Bên cạnh đó do trình độ dân trí rất thấp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng trầm trọng, ngủ không có màn ngăn muỗi, đa số nhân dân không biết vệ sinh phòng bệnh nên ốm đau, mắc bệnh và chết chóc xảy ra thường xuyên Mỗi khi có bệnh truyền nhiễm như: ỉa chảy, bệnh sưởi, đậu mùa trẻ em, ho
Trang 16gà, do không có thuốc men điều trị và phòng dịch, nên rất dễ lây lan ra cộng đồng và gây chết người hàng loạt Năm 1941 có 30 người trong xã bị chết do bị bệnh ỉa chảy.
Giếng nước sử dụng sinh hoạt của nhân dân chủ yếu là giếng đất, thường được đào ngoài đồng Gọi là giếng, nhưng như chiếc ao ngày nay Một số gia đình giàu có mới đào giếng riêng, xây bằng đá Toàn xã có 25 giếng bằng đất, 18 giếng xây
đá, nhưng về mùa hè hầu hết bị cạn nước, người dân không có nước sử dụng Do sử dụng chung nguồn nước, hơn nữa không biết cách phòng trừ, nên khi có các dịch bệnh rất dễ lây lan Việc đi lại, vận chuyển của người dân trước đây chủ yếu là đi
bộ và sử dụng quang, gánh Một số hộ sống ven sông di chuyển bằng thuyền Các phương tiện giao thông hầu như không có, đến năm 1945 toàn xã chỉ có 2 chiếc xe đạp Mê tín dị đoan cũng là một tệ nạn của xã hội cũ Một số gia đình khi trong nhà có người bị ốm, mời thầy cúng về làm lễ cúng tế, nhờ thần thánh ủng hộ Làm như thế bệnh tình chẳng khỏi mà lại thêm tốn kém tiền thuê thầy cúng
Cuộc sống lam lũ của người dân dưới xã hội phong kiến hầu như phó mặc cho trời đất, vì vậy nhân dân thường tin vào các vị thần phù trì, bảo hộ, che chở để họ khỏe mạnh, mưa thuận, gió hòa làm ăn yên ổn Từ đó mặc dù đời sống đời sống cực khổ, cái ăn, cái mặc không có, nhưng họ vẫn đóng góp xây dựng đền chùa, miếu mạo Theo thống kê trước đây toàn xã có
52 đền, chùa, miếu lớn nhỏ Hiện nay vẫn còn: đền Cao Các ở thôn Thượng Phú, thờ Cao các Mạc Sơn; đền Tam Tòa - Tứ Vị thờ Lý Nhật Quang, Tứ vị đại càn quốc gia Nam hải; đền Nhất, nhị Lang Long, thở Nhất Lang, Nhị Lang Long Vương, Song
Trang 17đồng Ngọc Nữ; đền Văn Miếu Hoàng Hà thôn Thượng Phú, thờ Khổng Thánh, Tiến sỹ Nguyễn Hoằng Nghĩa Từ năm 1945 về trước, hàng năm nhân dân trong làng phải đóng góp để cúng
tế đền, chùa Thường có các lễ tế: Kỳ Phúc (tháng 6), Khai Hạ (mồng 7 tháng giêng), tế Tết Nguyên Đán, tế đinh (tháng 2), tế Khổng Tử, tế Bụt sinh (mồng 8 tháng 4) tế Phật ở chùa, tế rằm tháng giêng, rằm tháng 7 ở chùa, tế đoan ngọ (mồng 5 tháng 5)… Mỗi lần tế lễ như thế, nhân dân phải đóng góp: xôi thịt,
mổ trâu, bò, lợn, gà, dê, tế lễ ăn uống linh đình Vì thế làm cho người nông dân đã nghèo lại càng nghèo thêm
Dưới xã hội thực dân phong kiến, nam nữ không được tự
do yêu đương, việc xây dựng gia đình là do cha mẹ định đoạt,
con phải phục tùng mệnh lệnh của cha mẹ “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, hai gia đình có “môn đăng hộ đối” thì mới
làm thông gia với nhau Xã hội phong kiến trọng nam kinh
nữ Người phụ nữ chỉ biết nội trợ trong gia đình, không được
tham gia các công việc xã hội, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”(1) Đàn ông muốn lấy bao nhiêu vợ cũng được, nhưng phụ nữ thì “bất sự nhị phu” “phu xướng phụ tòng” Nghĩa là người phụ nữ không được lấy hai chồng và phải nghe lời chồng, dù lời đó là sai trái Chồng có quyền bỏ vợ, nhưng
vợ thì không được bỏ chồng Người phụ nữ không được hưởng quyền công dân ngoài xã hội cũng như trong gia đình Vấn đề
ma chay rất phiền phức Khi cha mẹ chết, con cái phải sắm sửa
cỗ bàn linh đình để mời làng, họ hàng, phe, giáp ăn uống trước
và sau khi đưa đám Từ khi chết đến hết hai năm đủ tang, đủ phục phải cúng tế nhiều lần Thủ tục cúng rất rườm rà
(1) Tại gia đình tuân theo bố, khi lấy chồng tuân theo chồng, khi chồng chết phải ở với con trai thờ chồng, không được tái giá như ngày nay.
Trang 18Những tệ nạn xã hội như: cờ, bạc, rượu chè, nghiện hút dưới xã hội thực dân phong kiến không bị cấm Mục đích của chúng là làm cho nhân dân ta mê muội trong rượu chè, cờ bạc, nghiện hút mà quên đi nhiệm vụ đấu tranh đòi quyền lợi cuộc sống, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chúng
Đời sống nhân dân
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, đa số ruộng đất nằm trong tay địa chủ, nhà chung; trung nông lớp trên có một số ít Trung nông lớp dưới và bần nông không có ruộng, quanh năm cày cấy ruộng thuê Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) thực dân Pháp ra sức vơ vét, bóc lột các nước thuộc địa
ở Đông Dương Chúng thi hành chính sách sưu thuế rất nặng
nề Nạn sưu cao, thuế nặng làm cho đời sống nhân dân dưới chế độ thực dân phong kiến vô cùng cực khổ Dã man nhất là khoản thuế thân Đây là khoản thuế đánh vào đầu người Những người đàn ông từ 18 tuổi đến 60 tuổi hàng năm phải nộp sưu Mỗi năm hạng cao nhất phải đóng 3,6 đồng/người, số tiền này tương đương với gần 3 tạ thóc Nếu ai không có tiền nộp sẽ bị cùm, kẹp, đánh đập Vì vậy quanh năm cả gia đình đi ở, hay làm thuê phải đem toàn bộ thóc bán nộp thuế sưu cho cha hay con trai trong gia đình cũng không đủ Đau khổ, tàn nhẫn nhất
là có người đã chết, nhưng đến kỳ thu thuế vẫn phải nộp, năm mất mùa cũng thu như năm được mùa, không có chế độ miễn, giảm thuế
Địa chủ bóc lột tô chính và tô phụ Người nông dân cày ruộng rẹ của địa chủ, đến mùa thu hoạch họ thu một nửa hoa lợi của ruộng, gọi là tô chính Cuối năm âm lịch tá điền phải còn phải đi tết và mừng tuổi cho chủ ruộng (gọi là tô phụ) Được
Trang 19mùa thì tô chính tăng lên, nhưng mất mùa không được giảm Ngoài nạp sưu thuế, tô tức, người dân còn phải nộp làm cỗ làng, khe giáp để cúng tế các ngày lễ của làng trong năm tại chùa, đình, miếu mạo Vì thế cứ hết mùa là trong nhà hết lúa Cuộc sống người dân hết sức cùng cực, ăn thì rau má, khoai lang trừ bữa, mặc thì dùng vỏ cây che thân Do đói rét nên sản sinh ra nhiều bệnh tật, cướp đi sinh mạng của rất nhiều người Nạn đói năm 1945 xã có 142 người chết đói, vùng Ngụ Hạ có 15 người,
Tứ Thượng 127 người Toàn huyện có hơn 5000 người chết đói Nhiều người bỏ quê đi tìm cuộc sống nơi khác Từ năm 1938-1944 có 52 người trên địa bàn xã rời bỏ quê hương đi sang Lào, Thái Lan để tìm đường sinh sống Có 8 người đã chết trên đường đi
Sự truyền đạo vào Tượng Sơn cũng khá sớm Theo người xưa kể lại, vào trước năm 1800 có gia đình ông Tràng Tổng từ
Kẻ Nhím (giáo xứ An Nhiên) sang định cư tại xóm Chùa (họ Hòa Yên ngày nay) vừa dạy học, vừa nuôi vịt Từ gia đình đầu tiên ấy, dần dần có nhiều người theo học đạo và hình thành nên họ đạo Kẻ Cường thuộc giáo xứ Kẻ Đông Năm 1880 cha Nguyên quản xứ Kẻ Đông nhận thấy giáo dân vùng Kẻ Cường ngày càng đông số và các họ kế cận đó cũng đang lớn mạnh, về khoảng cách cũng khá xa xứ mẹ Kẻ Đông, đi lại khó khăn nên cha đã trình Bề trên Giáo phận xin tách lập một giáo xứ mới với tên gọi là giáo xứ Kẻ Cường gồm các họ đạo Kẻ Cường, Thu Chỉ, Làng Khe, Kẻ Ngo (Tân Thành), Tĩnh Giang, Văn Định, Văn Yên Năm 1934, xứ đạo Kẻ Cường chính thức được đổi tên thành giáo xứ Hòa Thắng Giáo xứ Hòa Thắng nằm trên địa bàn hành chính của hai xã Thạch Thắng và Tượng Sơn của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Đến năm 1942, Giáo hạt xây dựng một nhà thờ ở xóm Hoà Mỹ Dân số giáo xứ ngày càng tăng, năm
Trang 201991 là 530 người, năm 2015 là 1.818 người với 05 giáo họ
là Hòa Thắng (trị sở), Hòa Lạc, Hòa Yên, Hòa Khánh và Hòa Bình Năm 2009 khánh thành ngôi nhà thờ giáo xứ hiện nay(1)
(sau 05 năm xây dựng) Tiếp đó, vào năm 2014 giáo xứ mở rộng khuôn viên nhà xứ, hoàn thiện tượng đài Đức Mẹ La Vang, xây dựng nhà máy nước sạch phục vụ nước uống cho bà con trong vùng, lập thư viện tạo kho tư liệu cho các bạn trẻ trong giáo xứ tham khảo, nghiên cứu Cuối năm 2014, ngôi nhà xứ được hoàn thành và đưa vào sử dụng Bên cạnh cơ sở vật chất, đời sống tâm linh nơi đây cũng đang kiện toàn từng ngày với nhiều hội đoàn tông đồ được thành lập như Gia đình Thánh Tâm, Thiếu nhi Thánh Thể
Chế độ thực dân phong kiến có nhiều thủ đoạn thâm độc khác nhau, nhất là chính sách chia rẽ khối đoàn kết lương - giáo Đặc biệt năm 1954, chúng đưa tin chúa đã di chuyển vào Nam,
ai ở lại miền Bắc sẽ bị Mỹ ném bom nguyên tử hủy diệt Người nào không đi chúng đến tận gia đình khống chế, cưỡng ép Thế nhưng dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền, từ trước đến nay nhân dân lương, giáo Tượng Sơn đều đoàn kết xây dựng quê hương ngày một đi lên
II Phong trào yêu nước của nhân dân Tượng Sơn trước ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
1 Hưởng ứng chiếu Cần Vương chống thực dân Pháp
Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi(2), Phan
(1) Sáng ngày 11/7/2010, giáo xứ Hòa Thắng đã long trọng tổ chức ngày cao điểm tuần chầu đền tạ Thánh Thể, vinh dự được đón Thị trưởng Công giáo người Pháp đến chung vui, nhân chuyến ngài công tác tại tỉnh
Hà Tĩnh.
(2) Tuyên bố ngày 13 tháng 7 năm 1885 (tức ngày mùng 2 tháng 6 năm
Ất Dậu) tại căn cứ Tân Sở thuộc Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Trang 21Đình Phùng đã tập hợp nghĩa quân chống thực dân Pháp, lấy vùng núi non hiểm trở của huyện Hương Khê (nay là huyện
Vũ Quang) làm địa bàn hoạt động (từ 1885 cho đến 1895), kêu gọi lực lượng đinh tráng trong toàn tỉnh tham gia lực lượng của nghĩa quân Đáp lời kêu gọi của Phan Đình Phùng, ông Đội Cu (tên thật là Nguyễn Tất Cu), quê ở xã Hoàng Hà, đã liên kết với ông Bùi Khắc Thố (quê ở xã Phất Não, nay là xã Thạch Bình, hai ông này tổ chức một lực lượng gọi là đội quân Tứ Thượng gồm bốn thôn: Bái Nội, Bái Ngoại, Thành Công, Thái Thịnh thuộc xã Hoàng Hà cũ Hai ông đặt sở chỉ huy tại đình Bái Nội Nghĩa quân thường tổ chức tập trận ở cánh đồng gọi
là giếng Đồng Quan Từ đây phong trào tập luyện võ lan rộng khắp ở các thôn ở vùng Tứ Thượng và Ngụ Hạ Trong đội nghĩa binh của Bùi Thố và Đội Cu chỉ huy thời ấy có người phụ nữ tham gia tên là Nguyễn Thị Phượng (1867-1929) Nguyễn Thị Phượng gọi Nguyễn Tất Cu là chú ruột, cùng Bùi Thố, chú và chồng tham gia chiến đấu Bà Nguyễn Thị Phượng là vợ của Trần Danh Lập Ông Lập thường được gọi là Đề Quynh, người thôn Thượng Phú xã Hoàng Hà tổng Hạ Nhất, nay thuộc xã Tượng Sơn Ông sinh năm 1848, lúc 15 tuổi học võ nổi tiếng, đến tháng 7 năm 1876 thi đỗ giải nguyên võ Năm 1879 ông được bổ nhiệm làm đội trưởng phân võ tỉnh Nghệ An Năm
1877 và năm 1881 ông được phong chức Chánh đội trưởng Cuối năm 1882, vua Tự Đức điều Trần Danh Lập ra làm phó quản cơ sở Trung Uy ở tỉnh Bắc Ninh Năm 1887 ông trở về quê tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cùng với Nguyễn Thứ Thạch, Nguyễn Huy Thuận Trần Danh Lập tham gia các trận đánh tại Truông Bát, Đức Lâm năm 1891, trận này ông diệt gọn toán quân sục sạo của địch Trận Trại Chè làng Hương Bộc
Trang 22(nay là xã Thạch Hương) rồi đến trận đánh đồn thị xã Hà Tĩnh Đến khi cụ Phan Đình Phùng mất, Trần Danh Lập thúc quân đánh thêm hai trận nữa, sau đó bị chúng bắt giải về đèo Ngang Sau khi dụ dỗ không được, chúng đem ông ra pháp trường xử chém vào ngày 13 tháng 1 năm 1896
2 Phong trào chống sưu thuế và các phong trào khác
Sau ngày cụ Phan Bội Châu lập ra Hội Duy Tân năm 1904,
ở huyện Thạch Hà các thành viên của hội đã vận động nhân dân bãi bỏ các hủ tục mê tín dị đoan, nam giới không để tóc búi bó, phụ nữ bỏ váy mặc quần, tổ chức một số lớp dạy học chữ quốc ngữ cho nhân dân Một số gia đình trong xã có điều kiện đã ủng
hộ tiền bạc cho phong trào “Đông du”(1)
Bị áp bức, bóc lột đến cùng cực, cơm không có ăn, áo không
có mặc, không có đất để sản xuất, lại còn bắt đi lính, phu phen, tạp dịch nhiều nơi nhân dân đã vùng lên đấu tranh chống lại
sự bất công, tàn bạo của xã hội cũ Mùa hè năm 1908 phong trào chống thuế của nhân dân toàn huyện đã nổi lên mạnh mẽ Hàng trăm nông dân nghèo ở các tổng rầm rộ kéo lên huyện, tỉnh lỵ nêu yêu sách đòi giảm sưu, thuế cho dân cày Ông Trần Danh Hài là con của Trần Danh Lập, trú quán tại chợ Gát vận động nông dân nổi dậy đấu tranh chống thuế Sau vụ việc này ông bị thực dân Pháp truy lùng ráo riết nên ông đã trốn đi khỏi làng từ đó Những năm 1920 phong trào đấu tranh chống cướp đoạt ruộng đất, sưu thuế, tô tức nặng nề, của nông dân nhiều nơi trong các làng, các tổng đã nổ ra
(1) Vận động thanh niên sang Nhật Bản du học, sau này trở về cứu nước, giúp dân.
Trang 23CHƯƠNG II
THỜI KỲ VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP CÁC TỔ CHỨC
VÀ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)
I Sự ra đời của các tổ chức Đảng, phong trào cách mạng 1930-1939
1 Sự ra đời của các tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể
ở Hoàng Hà
Ngày mồng 3 tháng 2 năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập Cuối tháng 3 năm 1930 Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ Hà Tĩnh được thành lập Lúc này ở một số xã trên địa bàn huyện đã thành lập các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam
và các tổ chức Nông hội đỏ (nay là Hội Nông dân), Tự vệ Do đặc điểm của xã nên lúc này trên địa bàn xã chưa có đảng viên
để thành lập chi bộ Cuối tháng 8 năm 1930 Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ huyện Thạch Hà được thành lập Từ đây phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân có bước chuyển biến rõ nét Một số thanh niên được giác ngộ cách mạng của xã đã nhận truyền đơn về bí mật rải các xóm để tuyên truyền, kêu gọi quần chúng nhân dân cùng nhau đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi Dưới sự vận động và chỉ đạo của một số đảng viên trong tổng Hạ Nhất, nhân dân xã đã tham gia các cuộc biểu tình cùng
Trang 24với nhân dân trong tổng Tiêu biểu là tham gia các cuộc biểu tình nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động ngày mồng 1 tháng 5 năm 1930 Tại cuộc biểu tình này nhân dân hô vang các khẩu
hiệu: Đả đảo đế quốc phong kiến! Tiếp đến tham gia biểu tình
nhân ngày chống chiến tranh đế quốc (ngày mồng 1 tháng 8) theo thông báo ngày 9 tháng 7 năm 1930 của Tỉnh ủy lâm thời
Hà Tĩnh Cuộc biểu tình quy mô lớn nhất là ngày mồng 8 tháng
9 năm 1930 Theo chỉ đạo của Huyện ủy, nông dân các làng của
xã cùng với gần 1000 nông dân thuộc 13 xã, thôn ở các tổng cùng với nhân dân huyện Can Lộc đã biểu tình kéo vào tỉnh lỵ
Hà Tĩnh
Những cuộc biểu tình này đã làm cho chính quyền thực dân và bọn hào lý trong xã hoang mang, lo lắng Chúng tăng cường cắt cử người tuần tra, canh gác, đề phòng cán bộ, đảng viên nơi khác về đưa truyền đơn, vận động quần chúng tham gia mít tinh Tuy nhiên các cán bộ, đảng viên cũng như một số thanh niên tiến bộ trong xã không hề nao núng tinh thần, vẫn bí mật hoạt động Tháng 9 năm 1930 chính quyền thực dân tăng cường đàn áp, khủng bố các cuộc biểu tình Chúng lập sở mật thám ở Hà Tĩnh, thành lập mạng lưới mật thám dày đặc từ tỉnh đến các làng, xã Từ tháng 10 năm 1930 trở đi lính khố xanh, khố đỏ được tăng cường, về các làng, xã lùng sục, bắt bớ những cán bộ của phong trào quần chúng và bất cứ ai chúng nghi là làm việc cho Cộng sản
Đi đôi với khủng bố, địch còn đưa ra các thủ đoạn lừa bịp như phát thẻ quy thuận Chúng tuyên truyền với nhân dân, người có thẻ quy thuận được tự do đi lại, được hưởng một số quyền lợi về kinh tế do chính quyền thực dân ban bố Có hai
Trang 25loại thẻ, thẻ xanh và thẻ vàng; thẻ xanh chúng phát cho những người đã theo Cộng sản, nay trở về với chính phủ; thẻ vàng phát cho những người quy thuận với chính phủ, không theo Cộng
sản Tuy nhiên, nhân dân đã được các đồng chí cán bộ đảng
viên giải thích từ trước, đây là âm mưu chia rẽ nội bộ nhân dân, đồng thời vận động nhân dân không một ai nhận thẻ quy thuận
Từ tháng 7 năm 1931 bọn đế quốc phong kiến, cường hào ác bá
ở các làng xã điên cuồng đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng, với quyết tâm chặn đứng làn sóng cách mạng ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Cuối tháng 11 năm 1931 tất cả các đồng chí trong Huyện ủy Thạch Hà lần lượt bị bắt Đến đây phong trào cách mạng quần chúng tạm thời lắng xuống
Tháng 8 năm 1932, khi đưa Bảo Đại về nước, chính quyền thực dân phong kiến ân xá cho một số tù nhân chính trị Các đồng chí được thả tự do về đã bắt tay gây dựng tổ chức, tiếp tục vận động quần chúng đấu tranh cách mạng Tháng 2 năm 1936 Mặt trận nhân dân Pháp thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử lên nắm quyền Chính phủ này đã thi hành một số chủ trương tiến
bộ, trong đó cho thả tù chính trị bị giam giữ ở các nhà lao, nhưng quy định hàng tháng phải lên phủ trình diện Lợi dụng quy định này, các đồng chí đảng viên đã gặp nhau, bàn bạc tổ chức gây dựng phong trào Năm 1936 các cán bộ ở huyện được điều động
về xã vận động nhân dân thành lập các tổ chức công khai, hợp pháp, như: thành lập hội cày, hội cấy, hội gặt, hội đưa ma, hội lợp nhà Thông qua các hội, các đồng chí cán bộ đảng viên đã tuyên truyền, vận động nhân dân đấu tranh đòi những quyền lợi thông thường như: tự do hội họp, tự do ngôn luận, giảm sưu thuế Đến tháng 8 năm 1939, Chính phủ của Mặt trận nhân dân Pháp bị sụp
đổ, bọn phản động lên nắm quyền, chúng thẳng tay đàn áp phong
Trang 26trào cách mạng ở các nước thuộc địa Tháng 10 năm 1939, Chính phủ Nam triều ra đạo dụ cấm hội họp, tuyên truyền cộng sản Các
tổ chức phường, hội đã được lập ra ở xã bị giải tán
II Thành lập các tổ chức đoàn thể và khởi nghĩa cướp chính quyền
1 Thành lập các tổ chức đoàn thể
Ngày 22 tháng 9 năm 1940 Nhật vào Việt Nam, đến giữa năm 1943 Nhật bắt đầu có những hoạt động ở Hà Tĩnh Từ những năm 1940-1945, thực dân Pháp và phát xít Nhật gây mẫu thuẫn, cắn xé lẫn nhau, tranh giành quyền lợi về chính trị và kinh tế Triều đình nhà Nguyễn suy sụp Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật nổ súng đánh Pháp, giành quyền thống trị Đông dương Ngày 10 tháng 3 năm 1945 tên công sứ Pháp ở Hà Tĩnh đầu hàng và giao quyền đô hộ cho Chính phủ Nhật Chế độ thực dân Pháp ở Hà Tĩnh đã đến lúc rối ren, suy tàn
Trong thời kỳ này, ông Nguyễn Văn Trí(1) và ông Bùi Thái(2)
đã được các ông: Phan Nguyên Trị , Lê Xuân Bình, Lê Bảy giác ngộ và giao nhiệm vụ về xã Hoàng Hà bắt liên lạc, xây dựng
tổ chức các đoàn thể cứu quốc Đầu tháng 3 năm 1945 ông Nguyễn Văn Trí và Bùi Thái về tại nhà ông Dương Đình Lưu
ở làng Phú Sơn (thuộc xã Giang Xá cũ) bí mật tìm gặp một số thanh niên tiêu biểu Đó là: Dương Văn Thỉ, Bùi Đình Cường, Dương Chương, Dương Đình Nghị, Dương Lưu, Bùi Thuận, Hoàng Cương, Nguyễn Quê Sau khi gặp gỡ, truyền đạt một số chủ trương của cấp trên, hai ông đã thành lập được ba tổ chức
(1) Lúc ấy là một thanh niên đi làm thuê cho Thiệu Ninh Ký, chuyên bán thuốc Bắc
(2) Một công chức của ngành Bưu điện
Trang 27tại xã Giang Xá: Tổ chức Tự vệ cứu quốc do ông Dương Văn Thỉ làm thủ lĩnh; Tổ chức Thanh niên Phan Anh(1) do ông Bùi Thuận làm thủ lĩnh; Tổ chức nông dân cứu quốc do ông Hoàng Cương làm thủ lĩnh Nhiệm vụ trước mắt của các tổ chức là tích cực tham gia xây dựng phong trào cứu quốc, vận động những gia đình khá giả cứu đói cho dân nghèo Lúc này tại làng Thượng Phú (thuộc xã Hoàng Hà cũ) tiếp tục thành lập các tổ chức cứu quốc: Tổ chức thanh niên Phan Anh chuyển thành Thanh niên cứu quốc xã Hoàng Hà do Dương Kim Khang làm thủ lĩnh; Tổ chức Tự vệ cứu quốc xã Hoàng Hà do Trần Thường thủ lĩnh; Tổ chức nông dân cứu quốc xã Hoàng Hà do Hoàng San làm thủ lĩnh.
Tháng 7 năm 1945 Ban lãnh đạo Việt Minh huyện Thạch
Hà được thành lập Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh huyện, Ban Việt Minh các làng, xã, tổng được thành lập Hội viên Việt Minh là các đảng viên của Đảng Cộng sản, các cán bộ đoàn thể quần chúng, một số thanh niên, học sinh lớn tuổi và một số thân sỹ yêu nước Bắt đầu từ tháng 8, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, các tổ chức quần chúng mà nòng cốt là tổ chức thanh niên đã tổ chức các cuộc tuần hành Lúc này Ban Chấp hành Việt Minh xã đổi thành Ban khởi nghĩa
Sau khi thành lập xong, các tổ chức ở xã Giang Xá và Hoàng Hà, ông Nguyễn Văn Trí và Bùi Thái vẫn thường xuyên
đi về giúp đỡ, tuyên truyền giác ngộ cho các tổ chức củng cố tinh thần cho các hội viên để duy trì phong trào Năm 1945, thực hiện chủ trương phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân,
(1) Đây chính là tổ chức “Thanh niên đoàn” do Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim ra nghị định thành lập tháng 4/1945, ông Phan Anh làm Bộ trưởng Thanh niên nên gọi là “Thanh niên Phan Anh”
Trang 28ba tổ chức nói trên đã kêu gọi, vận động nhân dân tham gia đấu tranh, buộc bọn hào lý cấp phát gạo cho nhân dân Cùng năm này, dưới làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân, buộc phát xít Nhật phải mở kho thóc cứu đói cho nhân dân Thông tin từ ông Trí và ông Thái báo về cho các tổ chức biết, xã Hoàng Hà được phát ba tấn gạo, bọn hào lý trong làng nhận về phát tại đình Thượng Phú và định dấu đi một số, các tổ chức kiên quyết đấu tranh, buộc bọn hào lý cấp phát đủ cho nhân dân
2 Khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945
Tình hình thế giới và trong nước thời gian này có nhiều thuận lợi cho cách mạng Ngày 4 tháng 6 năm 1945 ở phía Bắc
đã thành lập khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên và Tuyên Quang Phát xít Đức và Ý đã đầu hàng quân đồng minh Ngày 13 tháng 8 năm
1945 phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh Trung ương Đảng
ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
Do tình hình phát triển mau lẹ, yêu cầu cuộc khởi nghĩa giành chính quyền hết sức khẩn trương, Việt Minh liên tỉnh đã quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa các cấp Ngày 16/8/1945 Ban lãnh đạo Việt Minh huyện Thạch Hà mở hội nghị bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền và thành lập Uỷ ban khởi nghĩa Tối ngày 17 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh huyện Thạch
Hà tập hợp hàng ngàn quần chúng, theo lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, nhân dân đã biểu tình kéo về phủ Thạch Hà Trước sức mạnh và khí thế hùng dũng của quần chúng, tên tri phủ Nguyễn Tấn nộp sổ sách, ấn tín cho Việt Minh Sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945 tên tỉnh trưởng Hà Văn Đại ký giấy đầu hàng, giao chính quyền cho cách mạng Bộ máy thống trị của đế quốc và
Trang 29phong kiến từ tỉnh đến huyện đã bị lật đổ Ngày 20 tháng 8 năm
1945, dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban cách mạng lâm thời do các đội tự vệ làm nòng cốt, nhân dân xã kéo lên sân vận động thị xã
Hà Tĩnh dự cuộc mít tinh lớn với hàng vạn quần chúng các xã lân cận Đồng chí Phan Thao thay mặt Việt Minh huyện tuyên
bố xoá bỏ chính quyền tay sai thân Nhật, thành lập chính quyền cách mạng huyện Thạch Hà do đồng chí Phan Thao làm chủ tịch
Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban Mặt trận Việt Minh huyện, thành lập các đoàn về hỗ trợ các xã giành chính quyền Ông Nguyễn Văn Trí cùng ông Bùi Thái được ông Phan Nguyên Trị
và ông Lê Bảy giao nhiệm vụ về giúp đỡ xã Hoàng Hà cướp chính quyền 12 giờ ngày 20 tháng 8 năm 1945 ông Bùi Thái
về tại nhà ông Dương Đình Lưu ở làng Phú Sơn, triệu tập các
tổ chức cứu quốc, tự vệ và thanh niên Gồm có các ông: Dương Văn Thỉ, Bùi Đình Cường, Dương Đình Lưu, Dương Chương, Dương Đình Nghị, Nguyễn Viết Quê, Bùi Đình Thuận Đội tự
vệ xã thời kỳ này có các đồng chí: Bùi Đức Quế, Nguyễn Viết Tín Ông Bùi Thái chủ trì cuộc họp, phổ biến kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền và phân công vận động quần chúng mít tinh Vào 14 giờ cùng ngày, một cuộc mít tinh có khoảng
150 người tham gia đã được tập hợp tại đình làng Phú Sơn Tại đây, ông Bùi Thái tuyên bố với nhân dân chính quyền đã về tay Việt Minh Đội tự vệ cứu quốc và thanh niên cứu quốc lâu nay hoạt động bí mật, nay đã ra trình diện trước nhân dân 20 đội viên tự vệ và thanh niên dương cao lá cờ Tổ quốc, hàng ngũ chỉnh tề, ông Dương Văn Thỉ và Bùi Đình Cường đứng trước hàng quân, ông Bùi Thái tuyên bố thành lập Mặt trận Việt Minh làng Phú Sơn Cuộc mít tinh kết thúc vào 17 giờ cùng ngày, mọi
Trang 30người ra về rất phấn khởi 13 giờ ngày 21 tháng 8 năm 1945, đội Tự vệ và Thanh niên cùng với hơn 100 quần chúng, dưới
sự chỉ đạo của Uỷ ban cách mạng lâm thời và đội tự vệ làng Phú Sơn do ông Bùi Thái chỉ huy đi giành chính quyền Đoàn quân dương cao cờ đỏ sao vàng, trang bị gậy gộc, giáo mác, khí thế hùng dũng đến nhà Nguyễn Đại – Lý trưởng xã Giang Xá, tuyên bố Việt Minh đã giành chính quyền Lúc đó Nguyễn Đại
đã đưa con dấu và toàn bộ sổ sách nộp cho đoàn Đoàn tiếp tục đến xã Hoà Thắng thu dấu ấn và sổ sách của lý trưởng Bùi Ý; đến xã Ngư Xá thu dấu ấn của lý trưởng Nguyễn Tao Khi đoàn đến xã Hà Xá thu dấu ấn của Lý Xước thì gặp đoàn của huyện
do ông Lê Bảy dẫn đầu Hai đoàn phối hợp lại, cùng diễu hành
về Thượng Phú thu triện của lý trưởng Thực Đoàn tiếp tục đến
xã Hoàng Hà, cho người vào gọi Nguyễn Quý ra đình làng Lúc đầu Nguyễn Quý còn chần chừ không chịu nộp hồ sơ và ấn tín, nhưng với lời tuyên bố đanh thép của đoàn, Nguyễn Quý cúi đầu xin nộp Chỉ trong vòng 5 giờ, chế độ phong kiến của bốn
xã Giang Xá, Hoà Thắng, Ngư Xá, Hoàng Hà đã bị lật đổ, chính quyền về tay nhân dân 7 giờ ngày 24 tháng 8 năm 1945 nhân dân ba xã: Hoàng Hà, Giang Xá, Hoà Thắng tập trung đội ngũ chỉnh tề, do các đội tự vệ làm nòng cốt diễu hành tập trung về
xứ Đồng Trung mít tinh mừng thắng lợi và thành lập Uỷ ban cách mạng lâm thời Uỷ ban cách mạng lâm thời có các đồng chí: Trần Yên - Chủ tịch Uỷ ban cách mạng lâm thời, Dương Đình Nghị - Phó chủ tịch Uỷ ban lâm thời, Bùi Đình Thuận - Thư ký, Dương Đình Lưu - Phụ trách Dân sinh kinh tế, Bùi Khiêm - Thủ quỹ, Bùi Thái - Điều hành chung
Thực hiện chủ trương của cấp trên về việc bỏ chính quyền cấp làng, cấp tổng, thành lập chính chính quyền cấp xã, tháng
Trang 3112 năm 1945 một số làng, xã của tổng Hạ Nhất được cắt ra để thành lập các xã mới Ba xã: Hoàng Hà, Giang Xá, Hoà Thắng được hợp nhất lại thành xã mới, đặt tên là xã Hoàng Thắng Nhân dân đã bầu các chức danh chính quyền xã, gồm các đồng chí: Dương Kim Khang - Chủ tịch, Bùi Tràng - Phó Chủ tịch, Dương Hoài - Thư ký, Trần Bá Trinh - Nội chính, Dương Đình Lưu - Dân sinh kinh tế, Hoàng Trọng Tuân - Thủ quỹ, Bùi Thái - Quân sự Chính quyền nhận nhiệm vụ trước nhân dân, bắt tay vào thi hành các nhiệm vụ cách mạng mới do huyện chỉ đạo và hướng dẫn Đồng thời lúc này các tổ chức đoàn thể được thành lập: Thanh niên cứu quốc, Tự vệ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc
Trang 321 Sự ra đời của Chi bộ (thời kỳ 1945-1950)
Tháng 9 năm 1945 đồng chí Nguyễn Văn Trí được đồng chí Phan Nguyên Trị và đồng chí Dương Lung giới thiệu, sau
đó được chi bộ Trung Tiết(1) kết nạp vào Đảng Như vậy đồng chí Nguyễn Văn Trí là người đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Tượng Sơn Được sự quan tâm giúp đỡ của chi bộ Trung Tiết,
có hai đồng chí tiếp tục được kết nạp: đồng chí Dương Hoài
và Bùi Tràng Cả ba đồng chí vẫn tiếp tục sinh hoạt tại Chi bộ Trung Tiết một thời gian Tháng 1 năm 1946 Chi bộ Hoàng Thắng được thành lập Giữa năm 1946, chi bộ kết nạp đồng chí Trần Danh Thường vào Đảng, lúc này chi bộ có 4 đảng viên Với khí thế thắng lợi của cách mạng, cùng với sự ra đời và lãnh đạo của chi bộ, sự điều hành của Ủy ban cách mạng, cán
bộ và nhân dân xã Tượng Sơn từng bước khắc phục khó khăn,
(1) Thuộc làng Trung Tiết, nay là phường Thạch Quý, thành phố Hà Tĩnh
Trang 33triển khai thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu trong thời kì đầu xây dựng chế độ mới trên lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội Tuy nhiên chính quyền mới ra đời phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, phức tạp Xã nhà nói riêng và đất nước ta nói chung, lúc này phải đương đầu với ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Về kinh tế, nạn đói đầu năm 1945 để lại những hậu quả
còn kéo dài trong những tháng cuối năm 1945 Do khí hậu khắc nghiệt, bão lũ, vụ mùa năm 1945 thất bát, sản lượng chỉ đạt 50%
Để giải quyết nông dân có ruộng cày, chính quyền đã trưng thu
125 mẫu đất thuộc công điền, công thổ chia cho những gia đình nông dân không có ruộng cày, phát động nhân dân khai hoang phục hóa trồng hoa màu chống đói dịp giáp hạt Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1946, xã phát động toàn dân các làng, các xóm đắp đê ngăn mặn, mở rộng diện tích sản xuất lúa Tất cả lực lượng lao động trong xã không phân biệt nam, nữ, già, trẻ đều nhiệt tình đóng góp công sức đắp đê ngăn mặn, quyết tâm đẩy lùi giặc đói Bằng việc huy động sự đóng góp của nhân dân, xã
đã xây dựng được 7 cống ngăn mặn, đào đắp được 4700 m3 đê ngăn mặn có tổng chiều dài 9,5 km Nhờ có đê ngăn mặn, vụ chiêm năm 1947 đã đưa thêm một số diện tích vào sản xuất: tại Đập Vệnh 39 mẫu, Sác Su 2 mẫu, Bến Giang 27 mẫu, Đập Hà
12 mẫu, Hậu Thánh 7 mẫu, Bãi Bầu 8 mẫu Đây là thắng lợi bước đầu của nhân dân Hoàng Thắng dưới sự lãnh đạo của chi
bộ Bên cạnh đó triển khai thực hiện chỉ thị của cấp trên, chi
bộ chỉ đạo chính quyền triệt để xoá bỏ những thứ thuế do chế
độ cũ đặt ra Vận động các chủ hộ có ruộng cho nông dân cày
rẽ phải giảm tô, giảm thuế cho nhân dân Phát động toàn dân hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, thực hiện phong trào
Trang 34tiết kiệm, phát huy tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng khối đoàn kết cộng đồng trong xã hội Những chủ trương và biện pháp trên, bước đầu đã góp phần cải thiện đời sống của nhân dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với cách mạng.
Tượng Sơn là một xã thuần túy về sản xuất nông nghiệp, số gia đình nghèo đói chiếm tỉ lệ khá cao Đứng trước những khó khăn của địa phương, chi bộ đã có những chủ trương và biện pháp sáng tạo, tiếp tục thu hồi đất ruộng công phân phối thêm cho nông dân, phát động toàn dân khai hoang, phục hóa ở các
đê đập, khai khẩn 10 mẫu đất ở đập Bàu Sanh Để tự túc một phần về mặc, chi bộ đã phát động phong trào toàn dân trồng bông Bình quân mỗi gia đình phải trồng được một sào, ngoài ra còn giành diện tích trồng hoa màu để chống đói Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của chi bộ, nông dân cần cù trong lao động, năm
1949 sản lượng lương thực được tăng lên, thu nhập của nông dân có phần trội hơn năm 1948 Năng suất lúa năm 1948 đạt 60 kg/sào, năm 1949 đã tăng lên 65-75 kg/sào, bông đạt từ 20-30 kg/sào Xã đã du nhập một số giống khoai lang mới, năng suất đạt 250-300 kg/sào, đời sống nhân dân có phần được cải thiện Tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau, tình làng nghĩa xóm ngày càng được gắn bó Một số làng xóm đã phát triển hình thức đổi công Tiêu biểu là Tổ đổi công của đồng chí Trần Yên thôn Bắc Bình Bên cạnh đó, năm 1949 Chi bộ xã đã lãnh đạo giảm tô một cách triệt để, giao chính quyền thi hành và thực hiện giảm tô, giảm tức của địa chủ, phú nông từ 20% đến 25% Cuộc giảm tô đã đưa lại một số quyền lợi thực tế cho anh em tá điền thuộc thành phần vô sản Nông dân phấn khởi, tập trung sản xuất, càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng
Trang 352 Lĩnh vực văn hóa – xã hội
Song song với việc diệt giặc đói, phong trào diệt “giặc dốt” được chi bộ tích cực triển khai Thực hiện chỉ đạo của huyện, Ban Bình dân học vụ xã được thành lập, đồng chí Trần Hậu Thúy được cử làm Trưởng ban Để cổ động cho phong trào Bình dân học vụ, nhiều hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân đi học đã diễn ra phong phú, đa dạng, khắp mọi nơi, mọi lúc
như hò, vè, tranh áp phích cổ động Các khẩu hiệu: “Đi học là yêu nước”, “Người người thi đua đi dạy, đi học”, “Người biết chữ dạy cho người không biết chữ” được treo, dán khắp nơi
Những ai biết chữ đều được gọi là “thầy giáo” tham gia giảng dạy các lớp bình dân học vụ, không phân biệt già trẻ, gái trai Lớp học được tổ chức khắp mọi nơi: nhà của dân, đình chùa Thời gian học cả ban ngày (những lúc không đi sản xuất) và ban đêm, khí thế thi đua dạy, học rất rầm rộ Từ cuối năm 1946 đến năm 1948, bình quân mỗi năm có từ 35-37 lớp, với 650 đến 800 học viên Trung bình cứ 2 người dân có 1 người đi học Thời kỳ này sách, vở, giấy, bút khan hiếm Để có phấn viết, nhân dân phải dùng đất thó (một loại đất màu trắng) vắt hình ngón tay nhỏ, lăn tròn rồi phơi khô để viết, có người dùng than đen để viết Còn bảng là tấm ván, cánh cửa , giáo viên là những cán
bộ biết chữ của xã Các lớp học chủ yếu được học vào ban đêm, ban ngày nhân dân bận sản xuất Ban Bình dân học vụ đã tích cực thực hiện nhiều hình thức kiểm tra, kiểm tra ở lớp, ở nhà; ở bến đò, ở cổng chợ ai biết chữ mới cho đi qua Vì thế bắt buộc mọi người phải tự giác học, nếu không học không những không được đi qua mà còn bị xấu hổ trước mọi người Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy, tuy không có phụ cấp, lương bổng gì, nhưng tất cả đều nhiệt tình, hăng say công tác Những giáo viên
Trang 36điển hình trong phong trào Bình dân học vụ là các đồng chí: Trần Hậu Thúy, Nguyễn Doãn Ẩm, Dương Luyện, Bùi Con, Nguyễn Kiều, Hoàng Hảo, Nguyễn Đàn, Dương Điềm, Dương Xuyến, Nguyễn Minh, Nguyễn Hồ… Để tạo nguồn kinh phí cho ngành học bình dân học vụ, thực hiện chủ trương của tỉnh,
xã đã xây dựng quỹ khuyến học Kết quả đã vận động những gia đình khá giả đã đóng góp được 870 kg thóc và 120 đồng Phong trào Bình dân học vụ đã đưa lại những kết quả đáng kể, thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân, đồng thời đào tạo được một đội ngũ cán bộ sau này đảm nhiệm các chức vụ tại địa phương, hay thoát ly làm cán bộ các cấp, ngành của Nhà nước
Ngành học phổ thông từng bước phát triển mạnh Bậc giáo dục tiểu học từ tháng 9 năm 1945 đến năm 1946 tăng lên rõ rệt Năm học 1946-1947 là năm học đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, số học sinh vào học có 2 lớp ấu trĩ(1), 2 lớp nhất, 2 lớp nhì, 3 lớp 3 và 3 lớp 4 Lúc này phòng học chưa
có, các em học sinh phải học tại đình Thượng Phú, đền Sâm Lộc
và Trường tổng Các giáo viên đã được đào tạo qua các trường
sư phạm, được tỉnh bổ nhiệm về giảng dạy những năm đầu tiên tại xã Hoàng Thắng, đó là: thầy Đống, thầy Thông, thầy Chúc,
cô Trương Thị Mạc, thầy Quýnh, thầy Đề, thầy Đào…Các thầy giáo rất nhiệt tình, trong quá trình giảng dạy được học sinh và nhân dân yêu mến Cô Mạt, thầy Đào được Chi bộ Tượng Sơn kết nạp vào Đảng năm 1948 Mỗi giáo viên thời kỳ này thực hiện hai nhiệm vụ: vừa giảng dạy ở trường, vừa tham gia dạy các lớp bình dân học vụ Để có đủ phòng học cho học sinh, đầu năm 1948 chi bộ đã ban hành nghị quyết về xây dựng trường
(1) Tương đương lớp mẫu giáo 5 tuổi hiện nay
Trang 37học Bằng phương thức vận động sự đóng góp công sức, tiền bạc của nhân dân, Ủy ban hành chính tập trung xây dựng 12 phòng học tại Chùa Thạch, khang trang và đẹp đẽ Hội khuyến học xã đã vận động nhân dân, những gia đình khá giả đóng góp được 30 tạ thóc và 700 đồng vào việc xây dựng cơ sở vật chất cho sự nghiệp giáo dục Với sự lãnh đạo quyết liệt của chi bộ đối với phong trào “diệt giặc dốt”, cùng với sự tích cực của Ban Bình dân học vụ, đến cuối năm 1948 xã Tượng Sơn đã thanh toán được nạn mù chữ, được Chính phủ cấp bằng công nhận.Cùng với phong trào “diệt giặc dốt”, phong trào xây dựng nếp sống mới được phát động toàn dân Cấp ủy, chính quyền lãnh đạo toàn dân xây dựng đời sống mới, bài trừ những hủ tục lạc hậu như: rượu chè, mê tín dị đoan, đám cưới, đám tang thực hiện theo đời sống mới, không tổ chức ăn uống tốn kém Mọi việc trong làng, xã đều được đưa ra nhân dân bàn bạc dân chủ Nam, nữ bình đẳng trong sinh hoạt xã hội và gia đình; tình trạng phân biệt, đối xử ngược đãi đối với phụ nữ được khắc phục Các
tổ chức quần chúng đã tích cực vận động nhân dân bỏ các hủ tục, tập tục lạc hậu Để hạn chế việc cúng tế nhiều nơi, nhiều lần, gây tốn kém cho nhân dân, nhưng vẫn đảm bảo tôn trọng
tự do tín ngưỡng của nhân dân, theo hướng dẫn của cấp trên, chi bộ chỉ đạo tiến hành hợp tự các đền chùa, miếu mạo trên địa bàn Tất cả các vị thần linh ở các đền, chùa được rước về một nơi để nhân dân thắp hương, cúng tế
Phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân được khơi dậy và phát huy Một số thôn, nhân dân đã tổ chức góp vốn làm quỹ, cho những gia đình gặp hoạn nạn vay làm vốn sản xuất Tiêu biểu là các thôn: Phú Sơn, Sâm Lộc, Bái Nội,
Trang 38Thượng Phú Nhân dân toàn xã thi đua thực hiện xây dựng cuộc sống mới, sửa sang giếng nước cũ, đào thêm giếng mới, giảm dần tình trạng sử dụng nước ao làng Phong trào vệ sinh phòng bệnh được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng sôi nổi, nhân dân
đã có ý thức ăn chín, uống sôi, làm hố tiểu, hố xí hợp vệ sinh Phát động phong trào “sạch làng, tốt ruộng”, chính quyền huy động nhân dân làm vệ sinh đường làng, đốt rác lấy tro bón ruộng; vệ sinh 12 giếng nước công cộng Những hoạt động vui chơi giải trí như: hò vè, ví dặm, diễn kịch, phim đèn chiếu được toàn dân nhiệt liệt hưởng ứng Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển sâu rộng, phong trào thi đua ái quốc thực sự trở thành phong trào sôi nổi trong quần chúng, thông qua phong trào thi đua ái quốc, mọi hoạt động đã đi vào chiều sâu, có tác dụng rất lớn đến nếp sống văn minh xã hội Giữa năm 1948, thực hiện chủ trương của huyện, xã đã huy động lực lượng làm giao thông nông thôn, đào đắp 3500 m đường làng ngõ xóm, tạo điều kiện
đi lại thuận lợi Một số tuyến đường liên thôn, liên xã được tu sửa, làm mới Thực hiện đợt vận động “hợp tự” lần thứ hai do huyện phát động, tất cả các đền, chùa tiếp tục được gom về một chỗ để thờ tự, nhằm hạn chế việc tế tự, đỡ tốn kém, lãng phí cho nhân dân Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, điều hành của chính quyền, nhân dân Tượng Sơn tiếp tục phát huy những thành tích
đã đạt được, vươn lên phấn đấu để tiếp tục bước vào thực hiện những nhiệm vụ mới
Sau ngày đất nước giành được độc lập, các tổ chức đoàn thể xã được củng cố và hình thành, các hoạt động văn nghệ, thể thao được đẩy mạnh Các đêm diễn văn nghệ quần chúng, diễu hành, các trò chơi dân gian như ném cù, đi cầu kiều, bơi
Trang 39thuyền… được tổ chức liên tục, tạo ra không khí vui tươi trong toàn xã Những thành tựu to lớn của Tượng Sơn trong những năm đầu của chế độ mới là kết quả của sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, sự điều hành của Uỷ ban hành chính, sự phối kết hợp của các tổ chức cứu quốc, với những biện pháp sáng tạo, phù hợp Chi bộ đảng đã vận dụng sáng tạo những chỉ thị của cấp trên vào thực tiễn của địa phương Tăng cường khối đoàn kết toàn dân, bước đầu xây dựng một địa phương trong điều kiện gặp nhiều khó khăn như: dân trí còn thấp, ngân sách chưa có gì Tự vận động vươn lên, động viên nhân tài, vật lực của các tầng lớp nhân dân trong thời kỳ đầu xây dựng chế độ mới, tạo tiền đề cho công cuộc xây dựng quê hương và đất nước trong những giai đoạn tiếp theo.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian này còn một
số mặt hạn chế Đó là: lĩnh vực y tế chậm phát triển, một số dịch bệnh phát sinh; các tệ nạn xã hội cũ như mê tín, dị đoan, rượu chè còn tồn tại trong nhân dân Nhận thức đối với chế
độ mới ở một số quần chúng nhân dân còn hạn chế Kinh nghiệm lãnh đạo quản lý của chi bộ, chính quyền cùng với trình độ, năng lực cán bộ còn nhiều khiếm khuyết Tài chính của xã còn nghèo nàn
3 Chi bộ đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị kháng chiến, xây dựng bảo vệ hậu phương chi viện cho tiền tuyến chống thực dân Pháp
Đối với lĩnh vực quốc phòng – an ninh, Trong lúc nhân dân
miền Bắc chúng ta đang ra sức củng cố lực lượng, bảo vệ và xây dựng chế độ mới, thì ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ Do lực lượng chúng ta có hạn,
Trang 40vũ khí thô sơ, lạc hậu, sau một thời gian địch đã chiếm được các tỉnh Nam bộ Tiếp đến chúng chiếm một số cao điểm trọng yếu Âm mưu thâm độc của thực dân Pháp là xâm lược nước ta một lần nữa Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm
nô lệ”, nhân dân cả nước tiếp tục vừa khôi phục kinh tế, vừa
chuẩn bị sức người, sức của chiến đấu với kẻ thù xâm lược Mặt trận Việt Minh xã đã tập trung từng bước tháo gỡ những khó khăn về kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ địa phương Thực hiện sự chỉ đạo của huyện, tháng 3 năm 1946
Uỷ ban Phòng thủ xã được thành lập Các tổ chức: giao thông liên lạc, tình báo, vận tải, tiếp tế, cứu thương, phá hoại (tiêu thổ kháng chiến), tản cư được thành lập để giúp việc cho Uỷ ban phòng thủ Cuối năm 1946, Uỷ ban kháng chiến xã được thành lập Đồng chí Trần Thường – Bí thư Chi bộ xã được chỉ định làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến
Đất nước ta lúc bấy giờ có ba kẻ thù nguy hiểm: thực dân Pháp, quân Anh - Ấn và quân Tưởng Giới Thạch(1) Trong đó
kẻ thù chính của dân tộc ta lúc này là thực dân Pháp Thực dân Pháp đánh chiếm Na Pé, lấn chiếm Pa Na Khét của Lào, trực tiếp uy hiếp biên giới tỉnh ta Ở Cửa Nhượng huyện Cẩm Xuyên, quân Pháp từ biển vào cướp phá Trước tình hình đó, chi bộ đã chỉ đạo nhân dân rào làng kháng chiến, đào hầm trú
ẩn, đào mương liên lạc giao thông, để đánh giặc và tránh giặc phá hoại Đồng thời tổ chức diễn tập nhân dân tản cư, tập đánh giặc giả Ngày 19 tháng 8 năm 1948 Uỷ ban kháng chiến hành
(1) Quân Anh - Ấn và quân Tưởng Giới Thạch vào nước ta với danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp quân phát xít Nhật.