Bài viết chọn khảo sát miêu tả lớp từ láy và từ ngữ khẩu ngữ trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh để chỉ ra đặc điểm hai lớp từ ngữ này trong tác phẩm và vai trò của chúng. Từ láy và từ ngữ khẩu ngữ được tác giả dùng nhiều và phù hợp, sáng tạo nên đã góp phần khắc họa bức tranh hiện thực và thế giới nhân vật vừa gần gũi sinh động vừa sắc nét, cá tính.
Trang 1VẺ ĐẸP NGÔN TỪ TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN KỲ NHÂN LÀNG NGỌC
CỦA TRẦN THANH CẢNH
Lê Thị Ngọc
Cao học khóa 23, chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, Trường Đại học Vinh
Ngày nhận bài 03/5/2017, ngày nhận đăng 20/7/2017 Tóm tắt Bài viết chọn khảo sát miêu tả lớp từ láy và từ ngữ khẩu ngữ trong tập
truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh để chỉ ra đặc điểm hai lớp từ
ngữ này trong tác phẩm và vai trò của chúng Từ láy và từ ngữ khẩu ngữ được tác giả dùng nhiều và phù hợp, sáng tạo nên đã góp phần khắc họa bức tranh hiện thực và thế giới nhân vật vừa gần gũi sinh động vừa sắc nét, cá tính
1 Đặt vấn đề
1.1 Bắt đầu viết văn khi đã hơn 40 tuổi,
là một cây bút “rẽ ngang”, từ dược sĩ thêm
nghề viết văn, nhưng Trần Thanh Cảnh lại
sớm khẳng định được tên tuổi của mình ngay
từ những tác phẩm đầu tiên Chỉ trong vòng 4
năm, tác giả đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn
và 1 tiểu thuyết sắp được Nhà xuất bản Trẻ ấn
hành cùng với nhiều truyện ngắn khác được
in trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước
Bước vào nghề viết khá muộn như vậy nhưng
những trang viết của Trần Thanh Cảnh đã
sớm để lại dấu ấn riêng Mới đây tập truyện
ngắn Kỳ nhân làng Ngọc đã được trao giải
thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015
1.2 Trần Thanh Cảnh là một gương mặt
mới của văn xuôi đương đại Việt Nam, với
phong cách độc đáo, lối viết mới mẻ Ngôn
ngữ trong tác phẩm của ông không gai góc,
sắc nhọn, cũng không tỉa tót, bóng bẩy mà rất
chân thật, gần gũi đời sống Nó giúp nhà văn
phản ánh đúng đối tượng miêu tả, đúng hiện
thực đầy phức tạp, bề bộn, nhiều chiều
Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh, cũng vì
thế được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm
Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có công trình
nào đi sâu nghiên cứu toàn diện về tác phẩm
của ông, đặc biệt là về ngôn ngữ để cho thấy
những cái mới, lạ của Trần Thanh Cảnh Bài
viết này, chúng tôi khảo sát ngôn từ trong
truyện ngắn của ông nhằm khẳng định tính
chất giản dị mà vẫn rất mới lạ - một vẻ đẹp
riêng của ngôn ngữ văn xuôi đương đại biểu
hiện trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh Tư
liệu khảo sát gồm mười bốn truyện ngắn
trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc
2 Ngôn từ trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc
Là một nhà văn “trẻ”, nhưng Trần Thanh Cảnh cũng đã có những cách tân đáng kể góp phần vào đổi mới văn xuôi, trong đó có ngôn ngữ Bước vào làng văn bằng tuyển tập truyện ngắn ra mắt bạn đọc đầu tiên nhưng cũng ngay tức thì, tập truyện của Trần Thanh Cảnh được đánh giá cao Khảo sát mười bốn truyện
ngắn trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng
Ngọc, chúng tôi nhận thấy Trần Thanh Cảnh
đã có những sáng tạo độc đáo trong cách dùng các lớp từ tiếng Việt, đặc biệt là từ khẩu ngữ, từ láy, từ ghép Là những lớp từ vốn được dùng quen thuộc mà mọi người vẫn hằng nghe trong cuộc sống thường ngày nhưng dưới cách tổ chức ngôn ngữ của tác giả thì các từ ngữ đó bỗng sinh động hơn Dưới đây, chúng tôi tập trung khảo sát hai lớp từ ngữ đặc sắc nhất là từ láy và từ ngữ khẩu ngữ
2.1 Từ láy trong tập truyện ngắn “Kỳ
nhân làng Ngọc”
“Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [1, 41] Theo cách hiểu này, chúng tôi thống kê từ láy trong mười bốn truyện ngắn
trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc
Email: lengoc56gmail.com
Trang 2Tiến hành khảo sát tuyển tập truyện ngắn
Kỳ nhân làng Ngọc, chúng tôi nhận thấy lớp
từ láy được Trần Thanh Cảnh sử dụng với tần
suất cao: với 300 trang truyện ngắn, có 1001
lần từ láy được sử dụng Trong đó, 205 lần tác
giả sử dụng từ láy hoàn toàn, 796 lần từ láy
bộ phận được dùng Trong 796 lần từ láy bộ
phận được sử dụng, có 140 lần từ láy phần
vần xuất hiện, từ láy phụ âm đầu được dùng
656 lần Kết quả cụ thể được thể hiện qua
bảng tổng hợp 2.1:
Bảng 2.1: Thống kê tần số sử dụng từ láy
trong tuyển tập truyện ngắn
“Kỳ nhân làng Ngọc”
Từ láy Từ láy hoàn
toàn
Từ láy bộ phận Láy
vần
Láy phụ âm đầu
Tần số 205 140 656
Tỉ lệ 20,5 % 14 % 65,5%
Tổng 205 (20,5 %) 796 (79,5%)
Qua bảng thống kê trên, ta thấy Trần
Thanh Cảnh sử dụng từ láy với tần số cao,
đặc biệt, một số truyện ngắn, số lần từ láy
được sử dụng rất cao là Hương đêm, (130
lần), Giỗ hậu (182 lần), Hoa gạo tháng ba (81
lần), Kỳ nhân làng Ngọc (112 lần)
Trong tiếng Việt, từ láy là lớp từ vừa
mang tính gợi hình, biểu trưng cao nhất, đồng
thời có thuộc tính hòa phối ngữ âm, giàu nhạc
điệu nhất Vì thế, có thể nói, việc sử dụng từ
láy trong văn chương như là một tất yếu của
nghệ thuật sáng tạo ngôn từ của các nhà văn,
nhà thơ Song sử dụng từ láy hiệu quả hay
không, làm sao phát huy được vai trò của nó
thì lại đòi hỏi tài năng của nhà văn Làm sao,
trong một câu, một đoạn, mỗi từ láy là một
nốt nhạc góp phần tạo nên âm điệu chung cho
cả bài Từ láy không chỉ tạo nên tính nhạc cho
câu văn, sự hòa âm cho cả tác phẩm mà còn là
bức tranh hội họa của văn chương; tuy không
có khung hình cụ thể nhưng rất sống động
nhờ sức gợi mở tưởng tượng mang tính biểu
trưng biểu tượng của từ Với phương thức tạo
từ láy thì ngoài vốn từ láy đã có sẵn, các nhà
văn cũng có thể tự tạo ra những dạng láy mới
Không chỉ có vậy, với nghệ thuật sử dụng từ
ngữ, nhà văn không những tạo nên những kết hợp từ láy độc đáo, bất ngờ, sáng tạo trong những câu văn, trong những tác phẩm còn có thể tạo cho từ những sắc thái nghĩa mới, sức sống mới Bởi vì ngôn ngữ nghệ thuật chỉ thực sự độc đáo, không trở thành sáo mòn khi
nó tạo ra sự bổ sung mới để không những phù hợp với nội dung nó phản ánh mà còn tạo nên
sự mới mẻ, hấp dẫn
Như đã biết, sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị do tính chất sắc thái hóa, biểu trưng hóa là đặc điểm bao trùm
về nghĩa của từ láy Vì thế, từ láy thường tạo nên những ấn tượng ngữ nghĩa rõ nét về đặc điểm, tính chất của sự vật hay tâm trạng của con người Đặc biệt, qua cách sử dụng tài tình của nhà văn, từ láy sẽ được phát huy tối đa
những công dụng của nó Trong tập truyện Kỳ
nhân làng Ngọc, từ láy được sử dụng nhiều,
đặc biệt, Trần Thanh Cảnh sử dụng liên liếp nhiều loại từ láy khác nhau trong một câu, tạo một hiệu quả kích thích xúc cảm của người đọc; khi thì dồn nén, lúc lại dàn trải, mênh mang Đó cũng chính là điểm thu hút của tác phẩm Ví dụ:
- Tiết xuân phân, mưa giăng giăng bay,
đào tàn lâu rồi, xoan mới nhu nhú vài giọt tím
mờ, rặng tre, cây mít, cây ổi búp lá mới rón rén xanh mơ như vẫn đương ngại ngùng cơn rét lộc… (Hội làng, tr 9)
- Vẫn cây đa, bến nước, sân đình, vẫn con đường làng lát gạch nghiêng, khách thập phương về dự hội vẫn trẹo trọ bước đi run rẩy ướt át (Hội làng, tr 10)
Trong tập truyện Kỳ nhân làng Ngọc,
Trần Thanh Cảnh sử dụng từ láy với nhiều vai trò, hiệu quả khác nhau Nổi bật là các vai trò sau:
2.1.1 Dùng từ láy để miêu tả cảnh vật thiên nhiên
Trần Thanh Cảnh đã sử dụng những từ láy giàu sức gợi tả để miêu tả, khắc họa cảnh
sắc thiên nhiên Trong truyện ngắn Hội làng,
Trần Thanh Cảnh đã vẽ lên một khung cảnh mùa xuân e ấp, nhẹ nhàng khiến cho lòng người cũng rung lên trước cảnh sắc mùa xuân đầy sức sống
Trang 3- Tiết xuân phân, mưa giăng giăng bay,
đào tàn lâu rồi, xoan mới nhu nhú vài giọt tím
mờ, rặng tre, cây mít, cây ổi búp lá mới rón
rén xanh mơ như vẫn đương ngại ngùng cơn
rét lộc… Chỉ có nàng bưởi mạnh mẽ, nồng
nàn tràn lấp cả ngày xuân xanh xám bằng
hương thơm thanh tao và màu xanh mởn óng
ả trong gió bắc (Hội làng, tr 9)
Có thể nói, Trần Thanh Cảnh đã tận dụng
hết ưu thế của từ láy để tạo hình và gợi mở
không gian Bởi vì, từ láy thường có khả năng
gợi lên những biểu tượng nhất định và cùng
với biểu tượng là khêu gợi những cảm giác
khác nhau Trần Thanh Cảnh đã vẽ lên hai
bức tranh đối lập Đó là hai bức tranh tương
phản giữa một vùng quê đông đúc, sôi động
và một làng quê heo hắt đến khó tả
- Nhà cửa xây san sát như biệt thự ngoài
thành phố Mỗi dịp lễ lạt hội hè, ô tô con đỗ
chật ních đường làng Thế mà về đến quê
chồng, như là thế giới khác, cứ như là nơi bị
bỏ quên Vẫn mấy bụi tre vàng vọt cong cong
khắc khổ rìa làng Vẫn mấy con trâu chậm rãi
kéo cày ngoài cánh đồng sâu Vài nếp nhà
còn lợp rạ xám xịt u tối mê man (Gái đảm, tr
27)
- Phía sau khuôn hình, thấp thoáng
những mái nhà lô nhô Những cây cối Những
bóng người Một mảng lấp lóa, lấp lóa sáng
của cái giếng làng (Gái đảm, tr 33)
Làng Ngọc, một cái làng được Trần
Thanh Cảnh hư cấu nên từ làng quê nơi ông
sinh sống, được tô vẽ nên thành một ngôi làng
nửa thành thị nửa nông thôn mà như chính tác
giả nói là làng không ra làng, phố không ra
phố Ở một bức tranh khác, Trần Thanh Cảnh
đưa người đọc đến một vùng rừng núi hoang
sơ với những âm thanh thật đáng sợ
- Đêm miền rừng yên tĩnh quá Những
tiếng thú chạy kiếm ăn ban đêm loạt soạt
quanh nhà Thỉnh thoảng, một con chim đêm
cất tiếng nheo nhéo thê lương, não nề, như
tiếng trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trong rừng hoang…
(Hoa núi, tr 63)
Có thể nói, bản thân những từ láy, khi
được sử dụng, tự nó đã có sức gợi tả rất lớn
Nhưng những kết hợp giữa từ láy với các đơn
vị ngôn ngữ khác lại có thể làm mới từ láy,
tăng thêm sức mạnh cho nó; điều đó chỉ có thể có được là nhờ tài năng của người nghệ sĩ Trần Thanh Cảnh đã thành công khi sử dụng
từ láy để vẽ lên những bức họa chân thực, sinh động nhất
2.1.2 Dùng từ láy để miêu tả tâm trạng, cảm xúc nhân vật
Trần Thanh Cảnh đã sử dụng từ láy một cách linh hoạt và độc đáo với tần số cao nhằm diễn tả chiều sâu tâm lý nhân vật Đó là tâm trạng của tuổi mới lớn với tình yêu đầu đời, vừa rụt rè lại vừa mãnh liệt:
- Cả hai, chả ai nói được lời nào Chỉ có hai bàn tay trong nhau xoắn xuýt không rời
và đôi chân thì cứ ngập ngừng muốn đi, muốn
rẽ, muốn về Đến bờ dậu cúc tần, Tuấn dang
cả hai tay rẽ cho nàng một lối để vào trong nhà Nàng luồn dưới người Tuấn để sang bên kia Thân thể nóng rực của hai đứa chạm nhau gần gũi, nàng ngừng lại mấy phút như đợi chờ Tuấn sững như bức tượng, thở hừng hực Không thể chịu đựng được, nàng xoay người kéo Tuấn xuống Tuấn buông hai tay đang vén cúc tần, xiết chặt lấy nàng Cả dậu cúc tần, tơ hồng quấn quýt bao trùm phủ lấp che đi tất cả (Hội làng, tr 15)
Hay đó là tâm trạng của sự chia ly trong tiếc nuối của những con người dường như vô tình gặp lại nhau trên đường đời “Họ chỉ như hai đường thẳng trên mặt phẳng, giao vào nhau trong một lát cắt của số phận để rồi, mỗi người, trên mỗi đường thẳng của cuộc đời mình Lại xa nhau mãi mãi về phía vô cực”
Để lại trong lòng mỗi người một nuối tiếc:
- Mấy ngày hôm nay, trong cảnh đợi chờ căng thẳng, chán ngán và lê thê, Hoàng và Thúy đã kịp tâm sự với nhau rất nhiều điều
Họ dường như muốn bù lại những năm tháng thờ ơ bên nhau (Mùa thi, tr 42)
- Thúy âm thầm nức nở trong tâm tưởng, lên xe về Hà Nội (Mùa thi, tr 46)
Đó là tâm trạng của một người đàn ông từng trải, từng đi lính nhưng vẫn sẵn sàng làm nhiệm vụ cho Việt Minh, để rồi, khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoang mang không biết cuộc đời sẽ đi về đâu; người yêu lại đi lấy chồng Rồi cuộc đời đưa ông đi khắp nơi,
Trang 4nếm trải bao nỗi cô đơn tủi nhục nơi đất
khách quê người, để rồi, cuối đời lại trở về
quê hương - nơi chỉ còn lại dấu tích xưa cũ
Trần Thanh Cảnh đã vẽ lên một bức tranh vừa
hư vừa thực; trong không gian hư ảo ấy lại
hiện lên hình ảnh một con người trầm tư suy
ngẫm:
- Ngày ngày ông cứ đi lang thang tha
thẩn trong làng ngoài phố (Hương đêm, tr
151)
- Ông Phú cứ lẩm bẩm thắc mắc một
mình khi vào ngả lưng trong cái nền miếu
gạch Bát Tràng láng bóng từ xưa (Hương
đêm, tr 152)
- Trong chập chờn của đèn nến Trong
ngát hương của trầm, của thoang thoảng loài
hoa tinh khiết Ông ngồi dựa lưng vào ban
thờ cô, vừa uống rượu, vừa ngân nga Cái
đũa tre trên tay ông thỉnh thoảng gõ tom tom
chát xuống nền gạch Bát Tràng rắn bóng như
sành Ông đọc bài thơ bằng chữ nho trong
quyển sách cúng còn sót lại trên ban Ít chữ
thánh hiền mà bố ông, cụ hương Bằng xưa
dạy, vẫn còn đủ để ông hiểu mà ngâm ngợi
(Hương đêm, tr 152)
Mỗi truyện ngắn là câu chuyện của một
con người, một số phận khác nhau với nhiều
tầng lớp, từ nông dân đến trí thức, từ trẻ đến
già Vì vậy, mỗi nhân vật, Trần Thanh Cảnh
lại khắc họa một nét tính cách, một số phận,
những thay đổi về tâm trạng trước những biến
động của thời thế Với việc sử dụng từ láy
linh hoạt, nhà văn đã phản ánh chân thực và
sinh động thế giới nội tâm nhân vật trong
từng hoàn cảnh cụ thể Ví dụ:
- Hàn xuân đang bước vào tuổi cập kê
Đêm nằm ngủ, Hàn Xuân vật vã khóc nhớ
cha Sư bà ngồi bên vuốt ve dỗ dành nàng
Bàn tay sư bà dịu dàng xoa lên tấm thân con
gái bắt đầu dậy thì của Hàn Xuân (Giỗ hậu,
tr 220)
- Tự nhiên, My có cảm giác bao nhiêu
máu trong người nàng khi ấy đã bị hút hết
ra, tơi tả tưới trên những cánh hoa bầm đỏ
Cũng từ hôm ấy, trái tim thiếu nữ của nàng
không còn rung lên những nhịp đập đợi chờ,
thấp thỏm, hy vọng, lo âu… (Hoa gạo tháng
ba, tr 275)
2.1.3 Dùng nhiều từ láy để miêu tả đặc điểm, hành động nhân vật
Để khắc họa được nét riêng ở ngoại hình, tính cách, hành động của nhân vật, làm cho nhân vật sinh động hơn, chân thực hơn, Trần Thanh Cảnh đã dùng từ láy làm phương tiện
hỗ trợ đắc lực trong việc miêu tả Chẳng hạn, miêu tả nhân vật Hàn Xuân trong truyện ngắn
Giỗ hậu, nhà văn đã viết:
- Nhưng ngắm nàng khỏa thân tắm trong rời rợi ánh trăng, thân thể đàn bà nảy nở rực
rỡ phô bày trong trăng nước còn đẹp hơn nhiều lần hình ảnh của cô trinh nữ tắm trăng năm ngoái
- Năm mười ba tuổi, Hàn Xuân đã đẹp rồi, nhưng đấy là cái đẹp của nụ hoa mới hé Cái đẹp mong manh non nớt của một cọng ngó sen trắng muốt vừa mới nhú ra khỏi đất bùn
- Ngắm nhìn vẻ rạng rỡ của nàng khi ấy, làng vẫn bảo, gái phải hơi trai
- Mái tóc màu hung nâu lạ lẫm và bồng bềnh như mây mỗi khi thả ra
- Phin nhìn Hàn Xuân băng băng lội bùn vác đất, khuôn mặt đẹp của nàng hồng rực lên trong nắng chiều, đôi chân dài và cặp mông tròn lẳn thoăn thoắt lên xuống trên triền đê nhẹ nhàng như múa (Giỗ hậu, tr 238)
Có thể nói, Trần Thanh Cảnh đã vẽ nên một cô gái mang vẻ đẹp chân quê, hồn hậu tự nhiên như bức tranh mộc bản; dường như, tất
cả mọi nét đẹp của người con gái đều được phô bày Vẻ đẹp cơ thể rất nồng nàn, hành động cũng rất mãnh liệt chứa đựng trong cái thân thể tràn trề Đó là cả một nỗi khát khao được yêu thương - một khát khao rất đàn bà:
- Khi Hàn Xuân mê man mộng mị trong nỗi khát thèm trên bậc cầu ao ngàn ngạt ánh trăng hạ tuần thì Phin đã nhanh chóng áp sát
và thành thạo như một tay thực dân chính hiệu, chiếm đoạt nàng Hàn Xuân vẫn đương
mơ màng trong giấc mộng tình tự mình tạo
ra, chưa kịp hiểu chuyện gì, đã thấy một thân thể đàn ông to lớn, mạnh mẽ khác thường, đang rầm rập tấn công vào đồn lũy nàng vẫn
để ngỏ mời gọi bao đêm nay mà không kẻ nào dám vào (Giỗ hậu, tr 240)
Trang 5Như vậy, việc sử dụng từ láy một cách tài
tình trong tác phẩm đã góp phần tạo nên sự
độc đáo trong truyện ngắn của Trần Thanh
Cảnh Cách dùng từ láy độc đáo của tác giả
không chỉ tạo ra hiệu quả mới về ngữ nghĩa
cho từ mà còn tăng thêm tính biểu cảm đối
với đối tượng được phản ánh Từ láy được sử
dụng với tần số cao và đắc dụng nên chúng đã
góp phần quan trọng trong sáng tạo nghệ
thuật truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh Từ
láy đã góp phần làm cho cảnh vật thiên nhiên
được miêu tả trong truyện của Trần Thanh
Cảnh sống động, có hồn và nhân vật luôn
được cá thể hóa với những nét tính cách, tâm
trạng mỗi người mỗi vẻ
2.2 Từ ngữ khẩu ngữ trong tập truyện
ngắn Kỳ nhân làng Ngọc
Theo Từ điển tiếng Việt, “Khẩu ngữ là
ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc
sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với
phong cách viết” [3] Như vậy, khẩu ngữ là
ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói, được sử
dụng để trao đổi tư tưởng, tình cảm trong sinh
hoạt hàng ngày Hình thức thường là đối
thoại Đặc điểm cơ bản của khẩu ngữ là phát
ngôn ngắn, đơn giản về cấu trúc, thiên về sắc
thái cảm xúc, nhiều biến thể phát âm Nhìn
chung, có thể hiểu từ khẩu ngữ là lớp từ tự
nhiên, đời thường, chưa có sự gia công trau
dồi, ít gắn với những chuẩn mực nguyên tắc
Khẩu ngữ là loại ngôn từ sinh động
Trong tác phẩm văn chương, lớp từ ngữ này
có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp
phần biểu đạt những nội dung mà tác giả
muốn thể hiện mang tính hiện thực cao, chân
thực và sinh động Khi đi vào văn học viết,
tiếng nói ấy mang cả hơi thở nóng hổi của
cuộc sống thường nhật và điệu tâm hồn mỗi
tầng lớp người, của mỗi vùng quê Lớp từ ngữ
khẩu ngữ cũng làm cho người đọc cảm nhận
được nhân vật trong văn học gần gũi như
chính con người bằng da bằng thịt trong cuộc
đời Có lẽ vì thế nên nhà văn ở bất kỳ thời đại
nào cũng đều ý thức sâu sắc việc đưa khẩu
ngữ vào trong tác phẩm của mình Đặc biệt
hơn, với sự đổi mới của văn học đương đại,
hiện nay các nhà văn đều đưa vào tác phẩm
một khối lượng rất lớn ngôn từ thô ráp có tính chất tự nhiên của cuộc sống Trần Thanh Cảnh cũng ý thức rất sâu sắc điều đó nên đã
để cho ngôn ngữ đời sống đi vào tác phẩm với tất cả vẻ đẹp bình dị, thậm chí thô nhám, gai góc của nó
Căn cứ vào các dấu hiệu nhận biết về từ ngữ khẩu ngữ, chúng tôi tiến hành khảo sát
tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và đã thu
được kết quả sau:
2.2.1 Về mặt cấu trúc hình thức, Trần Thanh Cảnh đã sử dụng nhiều cách thức, lối nói dân gian có vần có vè
Trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng
Ngọc, những cách nói quen thuộc của dân
gian như thành ngữ, chêm xen, tách, lặp, nhấn
mạnh… kiểu như: kén chọn -> kén cá chọn
canh; chửi mắng -> chửi chó mắng mèo; ăn quỵt -> ăn chằng đéo quỵt; mơ mộng -> mơ với mộng… hoặc tăng cường các dạng láy
hoặc lặp lại từ: hấp ha hấp háy để tạo ra từ
mới đã được Trần Thanh Cảnh sử dụng rất
tự nhiên và phổ biến
Sau đây, chúng tôi chỉ tập trung miêu
tả cách Trần Thanh Cảnh dùng lớp từ ngữ
khẩu ngữ quen thuộc trong dân gian
2.2.2 Dùng những từ ngữ khẩu ngữ theo nhiều hình thức, cách thức khác nhau
a Dùng từ ngữ khẩu ngữ mang sắc thái đánh giá nhấn mạnh
Ví dụ:
… Mày ra đấy vào lúc tháo khoán, chạy không kịp, ễnh bụng ra thì có chó nó lấy (tr 12)
… Tại sao xưa thân nhau mà giờ lại nhạt toẹt thế nhỉ?
thua sạch đến độ phải lột hết cả quần
áo gán nợ, trần trùng trục chạy về, xảy ra nhiều rồi (tr 100)
Trần Thanh Cảnh dùng kiểu kết hợp một yếu tố đa phong cách với một yếu tố có nghĩa nhưng chỉ sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ
để miêu tả cụ thể và dụng ý nhấn mạnh
Những từ như ễnh bụng, nhạt toẹt, lột hết,
trần trùng trục không chỉ để nhấn mạnh mà
còn biểu thị sắc thái mỉa mai, dè bỉu
Trang 6b Dùng từ xưng hô gọi đáp thân mật
suồng sã
Các từ xưng hô như mày, tao, thằng, hắn,
lão, con, lão ấy, bà ấy, thằng này, con mẹ
mày… xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm làm
cho ngôn ngữ nhân vật chân thật, gần với đời
sống hơn Chẳng hạn:
… Mày sống thế nào thì kệ con mẹ mày
Tao không cần biết, mày lớn rồi, mày phải có
nghĩa vụ gửi tiền về cho tao (tr 114)
Thằng này đi đập đá ngoài Côn Lôn
mấy năm nhưng cái tính uơng thì chả bớt đi
được tí nào (tr 251)
Cái lão già ấy hỏi: “Bà còn nhớ tôi
không?” (tr 306)
Cô cũng chỉ cười và khi cái lão già
phải gió ôm lấy cô, bế cô vào trong gian
buồng thì cô lại thấy buồn buồn nhồn nhột
khắp cả người (tr 307)
c Dùng những lối xưng hô theo kiểu
định danh chỉ trỏ thân mật hoặc đậm màu sắc
bày tỏ thái độ
Ví dụ:
Nhân thầy giáo cũ làm nhà, một tay
kiến trúc sư, nguyên là học sinh cũ của ông
Vân liền xin công (tr 158)
Chú là một tên hèn nhát (tr 259)
Mai, đành đi xe khách ra Hà Nội, lôi
cái thằng nghịch tử ấy về cho ủy ban dạy nó
(tr 278)
Cái thằng địa chủ gian ác lý Lưu kia,
mày có biết là mày bóc lột vợ chồng bà dã
man thế nào không? (tr 285)
Thế nên, khi phát hiện ra cô gái út bị
thằng Bình con Ba Be chơi rồi bỏ đi Hà Nội
mất, lý Lưu quyết phen này làm cho cái thằng
mất dạy ấy phải vào tù (tr 285)
d Dùng từ ngữ mang sắc thái đánh giá
hoặc miêu tả hành vi song hành cùng các từ
ngữ khẩu ngữ khác
Ví dụ:
Mắng cũng thế, cười cũng vậy, mặc mẹ
cái sự đời (tr 78)
Công nhận là chị Thu đĩ sớm Mới lớp
tám đã biết dắt trai đi hội Mà dắt cả hai trai
Hai tay hai súng, ghê thật (tr 193)
Thôi, cho em xin cái trong sáng của mợ Tại sao xưa thân nhau mà giờ nhạt toẹt thế nhỉ? (tr 193)
Anh này điêu Không bằng mà anh đi một mạch đến mấy năm không về (tr 284)
e Sử dụng các từ ngữ thông tục tạo nên cảm giác chân thực cho nhân vật
Từ, tổ hợp từ thông tục, chửi thề: mẹ, mẹ
nó, đếch gì, bỏ mẹ, cứt, con đĩ, đểu cáng, đ.mẹ, ngu thế… được Trần Thanh Cảnh sử
dụng một cách tự nhiên cùng các từ ngữ khẩu ngữ khác để lột tả được cái xấu xa, cái tục tĩu trong các nhân vật Ở trong tập truyện ngắn, tác giả đã sử dụng những từ, tổ hợp từ thông tục đó một cách hợp lí, đúng chỗ, vì vậy, không gây phản cảm hay cảm giác khó chịu
mà khiến cho người đọc cảm thấy rất đời:
Anh nàng bảo: Mày ra đấy lúc tháo khoán, chạy không kịp, ễnh bụng ra có chó nó lấy (tr 12)
Đm Mấy thằng chó chết chuyên cắt cổ doanh nghiệp! (tr 67)
Hai thằng con tao, một thằng thì ăn chơi nức tiếng từ nứt mắt, rồi sinh ra nghiện ngập, giờ suốt ngày lang thang vạ vật như thằng chết rồi (tr 96)
Năm đứa con gái nhà Bình được hưởng gien phong tình của cả bố lẫn mẹ nên toàn lấy chồng sớm, mới chỉ nhu nhú nứt mắt
ra đã theo trai, dân làng Ngọc thì bảo là đĩ non (tr 303)
g Dùng các quán ngữ, thành ngữ một cách rất tự nhiên
Trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân
làng Ngọc, Trần Thanh Cảnh đã sử dụng 63
thành ngữ Hầu như truyện ngắn nào Trần Thanh Cảnh cũng dùng chêm xen những thành ngữ vào trong lời kể để tăng thêm tính
hình ảnh, tính tạo hình cho tác phẩm Ví như:
Ngày đón dâu, nhìn sang nhà hàng xóm, cửa đóng then cài, đèn tắt bếp lạnh, đã lâu chả nhìn thấy mặt người ấy đâu (tr 10) Nàng, vài năm sau, lên xe xuống ngựa, hàng phu nhân (tr 11)
Hoàng mắt nhắm mắt mở, lao ầm ầm lên cái cầu thang bằng gỗ lim để tới phòng thực tập trên tầng hai (tr 38)
Trang 7Thế nên mặc dù ghét cay ghét đắng
thằng cha Thán, vừa ngu vừa gian vừa tham,
nhưng Tiến vẫn phải cưng chiều nịnh bợ nó
hết nước (tr 74)
… Cả làng, cứ mê man trong men say
của máu cờ bạc “được ham, thua gỡ” (tr
102)
Huyền xinh theo kiểu như người làng
Ngọc hay tả là mỏng mày hay hạt (tr 201)
Về phong cách ngôn ngữ, như ta biết, lớp
từ khẩu ngữ tạo nên giá trị đặc trưng, khu biệt
của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, cho nên,
với việc dùng nhiều từ ngữ khẩu ngữ trong
truyện ngắn, Trần Thanh Cảnh đã làm cho
câu chuyện hiện ra như vốn thực ngoài đời
Người đọc cảm nhận nhân vật trong truyện
bằng da bằng thịt sống động như bao con
người quanh mình trong cuộc sống mà mình
đã tiếp xúc đâu đó ở làng quê Cùng với các
lớp từ gọt giũa, trau chuốt, từ ngữ khẩu ngữ
trong truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh góp
phần cho thấy con người trong truyện không
chỉ có những nét nền nã, nhẹ nhàng, thanh cao,
lịch sự mà còn có mặt thô ráp, xù xì, bỗ bã, thô
tục Vẻ đẹp tâm hồn nhân vật có cả phần thô
ráp mộc mạc hồn nhiên; điều đó giúp người
đọc cảm thấy gần gũi, thân quen với con người
được miêu tả Từ ngữ khẩu ngữ đã góp phần
quan trọng làm cho nhân vật trong truyện ngắn
của Trần Thanh Cảnh hiện lên với đường nét,
vóc dáng ngoại hình cũng như tính cách nội
tâm vừa sắc nét vừa biểu cảm
3 Kết luận
Trần Thanh Cảnh đã đến với văn chương như một cái duyên Nhưng cái duyên đó không phải là một sự tình cờ mà là do vốn sống, những chiêm nghiệm từng trải chất chứa trong tâm hồn gặp hoàn cảnh là bùng phát ra ngoài Ngôn ngữ cuộc sống rất phong phú đa dạng; cách nói của mỗi lớp người, mỗi người trong cuộc sống cũng muôn hình muôn vẻ điều đó đã được tác giả thể hiện sinh
động trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng
Ngọc Trong tập truyện ngắn này, các lớp từ
khẩu ngữ, từ láy được tác giả sử dụng nhiều, với tần số cao Qua cách dùng của Trần Thanh Cảnh, chúng đã phát huy tối đa hiệu quả thẩm
mĩ Việc chú trọng sử dụng từ láy - lớp từ đặc trưng của tiếng Việt và lớp từ khẩu ngữ tự nhiên giàu màu sắc biểu cảm đã tạo cho ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thanh Cảnh mới mẻ nhưng chân thực Các từ ngữ khẩu ngữ và từ láy trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh đã tạo nên những dấu ấn riêng trong phong cách của tác giả Có thể nói, ngôn ngữ truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh đã hòa vào dòng chảy của ngôn ngữ văn xuôi đương đại Việt Nam đang đổi mới mạnh mẽ về chất liệu Đó là ngôn ngữ
đa thanh, đa dạng, trong đó, lớp từ ngữ khẩu ngữ, các từ thông tục được chú trọng đưa vào tác phẩm như một chất liệu cần thiết làm cho nhân vật trong truyện sống động, gần gũi như con người thực trong cuộc đời
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999
[2] Hoàng Kim Ngọc (chủ biên), Ngôn ngữ văn chương, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, 2011 [3] Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Thanh Hóa, 2016
[4] Hoàng Tuệ, “Về những từ gọi là từ láy trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, Số 3, 1978
TƯ LIỆU KHẢO SÁT
Trần Thanh Cảnh, Tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, NXB Trẻ, 2015
Trang 8SUMMARY
THE BEAUTY OF LANGUAGE IN “KỲ NHÂN LÀNG NGỌC”
BY TRẦN THANH CẢNH
The article surveys the alliterative expressions and conversational words in the
short stories “Kỳ nhân làng Ngọc” of Trần Thanh Cảnh to indicate their characteristics
in their works and their effective role These words and expressions are used
appropriately and creatively in great number, thereby contributing to portraying both
lively and personalized realistic picture and character.