1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh

17 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 225 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh gồm 5 câu hỏi lý thuyết, giúp bạn làm quen với hình thức thi của môn học, hệ thống lại kiến thức qua các câu hỏi, bài tập và tự đánh giá năng lực của mình. Mời bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Câu 1: Phân tích và làm rõ trong giai đoạn hiện nay, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn là con đường

duy nhất đúng đắn?

Câu 2: Vận dụng tư tưởng HCM về đại đoàn kết trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ?

Câu 3: Quan điểm của HCM về xây dựng bộ máy nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức ? Ý nghĩa đối với cải cách

nền hành chính hiện nay ?

Câu 4: Nội dung và ý nghĩa quan điểm của HCM về bản chất dân chủ, bản chất giai cấp công nhân của nhà nước

Việt Nam?

Câu 5: Tư tưởng HCM về cán bộ và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới hiện nay?

Trang 2

Câu 1: Phân tích và làm rõ trong giai đoạn hiện nay, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn là con đường duy nhất đúng đắn?

Trước đây, Việt Nam vốn là một nước thuộc địa nữa phong kiến, yêu cầu độc lập dân tộc và dân chủ quyện chặt với nhau và trở thành đòi hỏi bức xúc của cuộc sống, biểu hiện rõ nét là hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống xâm lược nhưng không thành Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội, đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế tại Việt Nam Người khẳng định: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Đó là con đường

“độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội”

Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng và là kim chỉ nam cho mọi hành động Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ khi Đảng ta ra đời - năm 1930 Đây là một quan điểm kiên định, thống nhất xuyên suốt cả quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta Trở thành nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ngày càng được hoàn thiện qua quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Đó cũng là mục tiêu lí tưởng của dân tộc Việt Nam, là con đường mà nhân dân ta

đã lựa chọn

Đây là sự lựa chọn đúng đắn của đảng ta và dân tộc ta Sự lựa chọn này xuất phát từ những cơ sở sau:

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là: “một hệ thống quan điểm

toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp Cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội:

Quan niệm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc:

Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thực sự, tức là các quyền dân tộc cơ bản phải được đảm bảo; dân tộc đó phải có quyền tự quyết trên tất cả các lĩnh vực đối nội và đối ngoại

Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc Mỗi công dân có quyền được hưởng tự do, độc lập Đó là quyền bất khả xâm phạm Đồng thời, mỗi công dân cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng và bảo về quyền độc lập thiêng liêng của mình

Độc lập dân tộc phải gắn liền với hòa bình Chỉ có hòa bình thật sự mới có độc lập hoàn toàn Đất nước và con người không thể có độc lập thực sự khi đất nước còn có sự xâm lược hoặc lệ thuộc vào nước khác

Độc lập dân tộc phải đi đến tự do hạnh phúc cho nhân dân Đất nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập đó cũng chẳng có ý nghĩa gì Bởi vậy, khi đất nước giành được độc lập từ tay đế quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhà nước quan tâm đến đời sống thiết thực của nhân dân, yêu cầu chính phủ cách mạng phải làm cho dân

có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành

Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội:

Đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội:

Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ Nhà nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động để huy động được tính tích cực và sáng tạo của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức Con người được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú, được tạo điều kiện để phát triển hết khả năng của mình

Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng hợp lý Các dân tộc đều bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau Hòa bình, hữu nghị với các dân tộc trên thế giới

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội:

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chính là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội sau khi được nhận thức để đạt tới trong quá trình xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của chù nghĩa xã hội ở Việt Nam là:

Về chế độ chính trị: Xây dựng chế độ do nhân dân là chủ và làm chủ Nhân dân thực hiện quyền làm chủ cùa mình chủ yếu bằng nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Về kinh tế: Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, được tạo lập trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Nhưng ở thời kỳ quá độ vẫn tồn tại nhiều hình thức sở hữu Từ nông nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa

Về văn hóa: Phát triển văn hóa là mục tiêu quan trọng của chủ nghĩa xã hội, thậm chí cần đi trước để dọn đường cho cách mạng công nghiệp Bởi vậy, cán bộ phải có văn hóa làm gốc, công nhân và nông dân phải biết văn hóa

Về quan hệ xã hội: Xây dựng cho được mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người Hồ Chí Minh căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần cỏ những con người xã hội chủ nghĩa” Thực hiện công bằng xã hội là tạo ra động lực cho chủ nghĩa xã hội Và, để tạo động lực cho chủ nghĩa xã hội, còn cần phải sử dụng vai trò điều chỉnh của các nhân tố

về chính trị, văn hóa, đạo đức, pháp luật

Chủ nghĩa xã hội tạo cơ sở củng cố, giữ vững độc lập dân tộc:

Chủ nghĩa xã hội với những ưu việt nội tại trên tất cả các lĩnh vực tạo ra cơ sở bảo đảm chắc chắn và bền vững nhất cho độc lập thật sự và phát triển dân tộc Những cơ sở đó là: Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ nguyên nhân kinh tế sâu xa của tình

Trang 3

trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sinh ra Tạo ra cơ sở cơ bản này, chủ nghĩa xã hội sẽ triệt để giải phóng con người, phát triển lực lượng sản xuất, tạo bước phát triển chưa từng có cho dân tộc

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội là thực hiện cách mạng về kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật Kết quả của cuộc cách mạng này là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cao, văn hóa phát triển của chủ nghĩa xã hội Kết quả này là một cơ

sở - một nhân tố cơ bản để thực hiện củng cố, giữ vững độc lập và phát triển dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, bản chất của chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội dân chủ xã hội chủ nghĩa Theo Người, đây là chiếc chìa khóa vạn năng để nhân dân Việt Nam xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa với sức mạnh kỳ diệu của nhân dân là chủ và biết làm chủ xã hội Sức mạnh kỳ diệu này là cơ sở để nhân dân Việt Nam củng cố, giữ vững độc lập dân tộc, biết cách tự bảo vệ và phát triển

+ Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội

Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ tất yếu, phải được thực hiện trước hết Cách mạng dân tộc dân chủ ở một nước thuộc địa giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản, nhằm đi tới hai mục tiêu chiến lược Ở giai đoạn cách mạng này, theo Hồ Chí Minh biểu hiện hai mâu thuẫn cơ bản nổi lên là mâu thuẫn chủ yếu giữa toàn thể quốc dân Việt Nam với bọn đế quốc và tay sai Để giải quyết mâu thuẫn chủ yếu trên, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết toàn dân tộc nhằm “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”; “Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” Như vậy, ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết

Độc lập dân tộc là tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết trong cách mạng dân tộc dân chủ, nó cũng là khởi điểm của con đường cách mạng Việt Nam Bởi vậy, độc lập dân tộc không phải là mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam, mà thực hiện độc lập dân tộc còn là quá trình tạo tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội - cụ thể là:

Trước hết, về chính trị: Xác lập và phát triển các thành tố của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh

đạo; thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất và thực hiện đoàn kết toàn dân trong Mặt trận; giành chính quyền và xây dựng một nhà nước cách mạng thật sự của dân, do dân và vì dân Có tiền đề chính trị này, khi cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa như là sự phát triển tự nhiên, tất yếu của giai đoạn trước, không bắt đầu bằng một cuộc cách mạng xã hội

Hai là, về kinh tế: Bước đầu hình thành đường lối kinh tế, từng bước xây dựng các cơ sở kinh tế có tính chất xã hội

chủ nghĩa Mục đích xây dựng phát triển kinh tế là từng bước cải thiện đời sống nhân dân, bồi bổ các lực lượng cách mạng Những yếu tố kinh tế này khi đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa được tiếp nối và phát triển toàn diện trong điều kiện mới

Ba là, về văn hóa - xã hội: Ngay trong cách mạng dân tộc dân chủ, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản do Người sáng

lập đã đưa ra đường lối xây dựng nền vãn hóa mới, nền văn hóa cách mạng, và giải quyết những vấn đề xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin Đường lối xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội này được tiếp nối và phát triển trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc.

Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra thời đại mới, các nước đấu tranh giành độc lập dân tộc thắng lợi có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Đó cũng là con đường cách mạng triệt để nhất, hợp với xu thế thời đại Hồ Chí Minh khẳng định:

“Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”

Chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất có thể giải phóng triệt để dân tộc khỏi thân phận nô lệ, bất công xã hội, bất bình đẳng giai cấp, đói nghèo và ngu dốt, giải phóng triệt để con người, đem lại tự do hạnh phúc cho toàn dân Hồ Chí Minh

đã khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

- Trong giai đoạn hiện nay, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn còn là con đường duy nhất đúng đắn: + Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam.

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi và có những bước phát triển mới, song vẫn bộc lộ nhiều mâu thuẫn và khủng hoảng Tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày một sâu sắc An sinh xã hội nhìn chung không được đảm bảo

Chủ nghĩa xã hội với những ưu việt nội tại trên tất cả các lĩnh vực tạo ra cơ sở bảo đảm chắc chắn và bền vững nhất cho độc lập thật sự và phát triển dân tộc Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ nguyên nhân kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sinh ra Trên cơ sở đó, chủ nghĩa xã hội sẽ triệt để giải phóng con người, phát triển lực lượng sản xuất, tạo bước phát triển chưa từng có cho dân tộc, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần cho nhân dân

Bài học đầu tiên sau gần 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định là “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan

hệ chặt chẽ với nhau”

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi lên trong sự nghiệp đồi mới Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”

Trang 4

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi phải nắm vững bối cảnh mới của thế giới có nhiều yếu tố tác động tới quá trình thực hiện mục tiêu này về kinh tế - chính trị, cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới diễn ra với nhịp độ gia tốc đưa nhân loại tới nền văn minh mới - nền văn minh tin học với hai biểu hiện tiêu biểu là sự ra đời nền kinh tế tri thức và xã hội hóa thông tin Bởi vậy, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế thế giới là tất yếu, kinh tế thị trường mang tính toàn cầu

Chiến tranh lạnh kết thúc nhưng chiến tranh dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và nạn khủng bố diễn ra ở nhiều nơi Đấu tranh dân tộc và giai cấp vẫn diễn ra phức tạp và gay gắt Nguy cơ chiến tranh cục bộ vẫn còn Chủ nghĩa đế quốc ra sức thực hiện “diễn biến hòa bình” Về văn hóa - xã hội, thông tin trên mạng Internet bùng nổ, bên cạnh mặt tích cực, cũng có nhiều tiêu cực xâm nhập vào các quốc gia Các nước đứng trước cuộc “xâm lăng văn hóa” từ các nước đế quốc, v.v Trong bối cảnh như vậy, kiên định đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong đó, về độc lập dân tộc phải được chú ý toàn diện từ độc lập về lãnh thổ; chủ quyền an ninh quốc gia, đến độc lập về kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống và đạo đức xã hội Về chủ nghĩa xã hội, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

+ Điều kiện mới của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội hiện nay:

Một là, muốn xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc độc lập

dân tộc, trước hết phải phát huy mọi tiềm năng, sức mạnh của nguồn nội lực; đồng thời phải biết tranh thủ các nguồn lực bên ngoài (ngoại lực), tận dụng thời cơ, điều kiện quốc tế thuận lợi, làm gia tăng sức mạnh dân tộc Tức là phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Hai là, xác định rõ bước đi và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước,

trên nguyên tắc đặt lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc lên trên hết Độc lập dân tộc không có nghĩa là tự cô lập mình, mà phải tích cực hội nhập quốc tế, làm tăng sức mạnh của đất nước và làm giàu bản sắc dân tộc

Ba là, độc lập dân tộc gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa xã hội, phải được thể hiện trong suốt quá trình đổi mới, trên

mọi lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bốn là, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình đổi mới Đây là con đường duy nhất đúng đắn cả trên

bình diện lý luận và thực tiễn, phù hợp thời đại Đồng thời tiếp tục làm rõ mục tiêu, đặc trưng và động lực của chủ nghĩa xã hội trong đổi mới

Để thực hiện những mục tiêu trên, cần phải bảo đảm những mục tiêu sau:

Phải củng cố, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng

Đảng phải đưa ra được đường lối đúng, thường xuyên hoàn chỉnh đường lối của mình, phải xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trong sạch, vững mạnh

Xây dựng đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh, đi liền với lãnh đạo xây dựng nhà nước cách mạng thật sự của dân, do dân và vì dân để tổ chức quản lý toàn dân tộc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức vững chắc làm nền tảng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực chất của quan điểm này là xây dựng cho được lực lượng cách mạng lớn nhất, rộng nhất, mạnh nhất cho suốt quá trình thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Liên minh công - nông - trí thức là gốc, là nền tảng của cách mạng Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểm này của Người có quá trình hình thành và phát triển: Khi lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc, Người khẳng định, liên minh đoàn kết công - nông là gốc của cách mạng Khi thực hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người lại chỉ rõ, có liên minh công - nông còn phải đoàn kết với lao động trí óc để tạo ra nền tảng của khối đoàn kết toàn dân tộc

Thường xuyên gắn bó cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới

Là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam phải biết tranh thủ sức mạnh của cách mạng thế giới, biết tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt của các lực lượng cách mạng trên thế giới làm tăng sức mạnh của mình để vượt qua khó khăn, chiến thắng kẻ thù, đưa cách mạng đến thành công Hồ Chí Minh căn dặn: ba điều kiện bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội như trên, “Đó là ba bài học lớn mà mỗi cán bộ và đảng viên ta cần ghi sâu vào lòng và phát huy thêm mãi”

Ngày nay, Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định đường lối cách mạng: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Chỉ có đi theo con đường này chúng ta mới có nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, mới đảm bảo được độc lập dân tộc thực sự, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác được tiềm năng, thế mạnh của đất nước để hội nhập quốc tế một cách có hiệu quả

Trang 5

Câu 2: Vận dụng tư tưởng HCM về đại đoàn kết trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ?

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam Chính truyền thống ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc trước bao hiểm họa của kẻ thù Trong thời đại Hồ Chí Minh, tinh thần đại đoàn kết đã trở thành một thứ vũ khí cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển sức mạnh đoàn kết Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần đại đoàn kết trong sự nghiệp đổi mới hiện nay vẫn còn là một vấn đề có ý nghĩa thời sự đặc biệt

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là: “một hệ thống quan điểm

toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp Cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Trong đó, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là một hệ thống các luận điểm về vị trí, vai trò, nội dung, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, của quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH

- Quan niệm Hồ Chí Minh về đại đoàn kết:

Đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố cơ bản quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Là một tư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam Đó là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp

Đó là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng yêu nước, cách mạng mà cao hơn đó là mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng

Hồ Chí Minh tuyên bố trước toàn dân tộc trong buổi lễ ra mắt của Đảng (3-3-1951): Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam đại thể gồm trong 8 chữ là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”

Do đó, đại đoàn kết phải là điểm xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ đường lối, chủ trương của Đảng

- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong sự nghiệp đổi mới hiện nay:

Các nhân tố tác động đến khối đại đoàn kết:

+ Tình hình thế giới:

Bước vào thời kỳ đổi mới, tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp khó lường: hòa binhfm hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt ở nhiều nơi Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, năng lượng, lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh Tiếp tcuj có những diễn biến phức tạp, không một quốc gia riêng rẽ nào có thể tự giải quyết Khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á vẫn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định

+ Tình hình trong nước:

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới đã thu được những thành tựu cơ bản Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo đinh hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và đang hội nhập quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tếm phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển

Trong những năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước trong khu vực, Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định Xã hội có nhiều tiến bộ Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Thế và lực của đất nước ta mạnh lên nhiều so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nội lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bền vững Phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thử thách, nguy cơ hay những khó khăn lớn trên con đường phát triển Nạm tham nhũng, tệ quan liêu cung như những uy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán

bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương, chiinhs sách của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhân dân Các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu "diến biến hòa bình", chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lợi dụng các vấn đề "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" hòn làm li gián, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đang đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc Khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh công -nông -trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay:

Quán triệt tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn coi đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

+ Mục tiêu đại đoàn kết:

Hiện nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong tình hình mới Qua hơn một phần tư thế kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị đất nước Các hình thức tập hợp nhân dân đa dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủ xã hội được phát huy, bước đầu đã hình thành không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội

Trang 6

Có thể khẳng định, chính sách đại đoàn kết của Đảng đã thực sự là một bộ phận của đường lối đổi mới và góp phần

to lớn vào những thành quả của đất nước

+ Quan điểm chỉ đạo đại đoàn kết:

Một là, khối đại đoàn kết dân tộc trên liên minh công-nông-trí thức được mở rộng hơn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị của đất nước

Hai là, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; phải củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu XHCN

Ba là, sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân, và vì dân, cho nên mọi chủ trương chính sách của Đảng ta đều xuất phát từ dân, dựa vào dân mà thực hiện.Do đó, cần phải phát triển nguồn lực con người, đào tạo đội ngũ cán bộ tốt,

có phẩm chất, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, khơi dậy và phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, coi dân chủ là mục tiêu, là động lực để xây dựng đất nước, chú trọng nâng cao ý thức và quyền làm chủ cho nhân dân

Bốn là, phải xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Phải chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ tham nhũng, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; phải biết lắng nghe những ý nguyện chính đáng của nhân dân; phải kịp thời giải quyết những oan ức của nhân dân, làm cho lòng dân được yên

Năm là, thực hiện nhất quán đường lối đoàn kết quốc tế độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới Việt Nam tiếp tục đoàn kết và giúp đỡ, ủng hộ phong trào cách mạng, các xu hướng tiến bộ của thời đại vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

+ Nguyên tắc đại đoàn kết:

Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội

Thứ hai, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết dân tộc

Thứ ba, phải biết tin dân, lắn nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn vướng mắc của dân; làm tốt công tác dân vận

Thứ tư, đoàn kết quốc tế phải trên cơ sở tôn trong độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi

+ Biện pháp đại đoàn kết:

Xây dựng những chính sách đúng đắn thiết thực nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc Phát huy mạnh mẽ vai trò chính quyền trong việc thực hiện chính sách đâị đoàn kết dân tộc

Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng; nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự động thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước

Giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Hiện nay, hơn bao giờ hết phải quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết trong tình hình mới

Trong tất cả mọi người Việt Nam sống ở trong nước hay ở nước ngoài đều luôn luôn tiềm ẩn tinh thần, ý thức dân tộc trong tâm thức của họ Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung

và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể và cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt do Đảng cộng sản lãnh đạo, phấn đấu vì độc lập của tổ quốc, tự do, hạnh phúc của của toàn dân là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Các cấp uỷ đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình

Trang 7

Câu 3: Quan điểm của HCM về xây dựng bộ máy nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức ? Ý nghĩa đối với cải cách nền hành chính hiện nay ?

Ở bất kỳ lĩnh vực nào, chế độ nào nhân tố con người hết sức quan trọng, đóng vai trò quyết định để đạt mục tiêu Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mỗi công việc-công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”

Do vậy, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, vừa giác ngộ về chính trị, vừa có tinh thần trách nhiệm, tận tụy công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ” là nhiệm vụ cấp thiết của các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa

Trong sự nghiệp cách mạng của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến những lĩnh vực này, khái quát thành những vấn đề tư tưởng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có giá trị thời sự lâu bền

Ngày nay, khái niệm cán bộ dùng để chỉ những người được biên chế vào làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, doanh nghiệp nhà nước và sĩ quan trong lực lượng vũ trang Ngoài ra, cán bộ được coi là những người có chức vụ, vai trò nồng cốt trong một cơ quan, tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức và liên quan đến vị trí lãnh đạo chỉ huy, quản lý điều hành, góp phần quyết định xu hướng phát triển của cơ quan, tổ chức

Theo Người thì thực chất cán bộ là đầy tớ của nhân dân

- Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng bộ máy nhà nước:

Xây dựng nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chú ý khảo cứu, lựa chọn ra một kiểu nhà nước mới cho Việt Nam để xây dựng sau khi cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản thành công Nhà nước đó phải đại biểu quyền lợi cho số đông người và Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng một nhà nước công-nông-binh thể hiện trong

Chánh cương văn tắt của Đảng từ khi thành lập 1930, trải qua thực tế các cao trào cách mạng Việt Nam, về sau, HCM đã chủ

trương xây dựng ở Việt Nam một nhà nước dân chủ cộng hòa, một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước của

dân, do ,dân, vì dân Trong bài báo Dân vận (1949), HCM khẳng định: Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì

dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của nhân dân Chính quyền từ xã đến trung ương đều do dân cử ra Nói tóm lại, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân

- Quan điểm HCM về xây dựng đội ngũ cán bộ:

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, hơn ai hết, Chủ tịch HCM thấy rõ vị trí, vai trò của cán bộ Người chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém Bất cứ chính sách, công tác gì, nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ vốn"

Theo HCM, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, đây là nhiệm vụ rất vẻ vang nhưng cũng rất nặng

nề, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp Để hoàn thành nhiệm vụ đó, đòi hỏi Đảng phải xây dựng một đội gũ cán bộ có đủ đức, tài, trong đó, đức là quan trọng hàng đầu Người chỉ rõ, đạo đức là cái gốc, nền tảng của cách mạng "Cũng như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"

Đạo đức của người cán bộ cách mạng được thể hiện ở chỗ: luôn đặt lợi ích ủa Đảng, của dân tộc lên trên hết, trước hết, phải biết giải quyết đúng đắn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của giai cấp, của dân tộc Theo Hồ Chí Minh, cán bộ phải

có đức nhưng cũng phải có tài Tài của người cán bộ thể hiện ở năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn, trong đó đặc biệt là năng lực nắm bắt, tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và chính phủ

Cùng với đức và tài, người cán bộ còn phải có phong cách quần chúng, thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân, biết lắng nghe ý kiến, tông trọng quyền làm chủ của nhân dân, khéo tổ chức và lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người yêu cầu cán bộ càng phải: "giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luốn lắng nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi ,

xa cách dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lửng ơ giữa trời, nhất định thất bại"

Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, Chủ tịch HCM yêu cầu Đảng phải làm tốt công tác cán bộ:

Một là, phải làm tốt công tác huấn luyện cán bộ

Hai là, phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ Đây là công việc hệ trọng và rất khó Đánh giá đúng cán bộ là xác định

chính xác ai là cán bộ tốt, ai là cán bộ kém, ai mạnh ở chỗ nào, khả năng hoàn thành nhiệm vụ đến đâu, quan hệ với quần chúng ra sao Trên cơ sở đó mà bố trí, sử dụng, đề bạt đúng cán bộ

Ba là, phải khéo dùng cán bộ Khéo dùng cán bộ thể hiện ở chỗ xếp người đúng việc, vì việc mà xếp người Người

căn dặn: "Dùng người cũng như dùng gỗ Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dụng được" Khéo dùng cán bộ còn thể hiện ở chỗ biết kết hợp các thế hệ cán bộ một cách đúng đắn Người dạy, trong đội ngũ cấn bộ của Đảng có cán bộ già, có cán bộ trẻ Cán bộ già là vốn quý của Đảng, họ có kinh nghiệm về mặt lãnh đạo, được rèn luyệ, được thử thách nhiều trong thực tế đấu tranh Còn cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộ già, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập, cho nên tiến bộ rất nhanh

Bốn là phải có gan cất nhắc cán bộ Có gan tức là phải mạnh dạn Sở dĩ nói như vậy vì chúng ta thường hay "rụt rè"

hoặc "quá khắt khe" trong việc đề bạt cán bộ Có gan không có nghĩa là nóng vội, làm ẩu, làm liều, càng không vì danh lợi của mình mà cất nhắc cán bộ HCM yêu cầu: "Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, vì tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái Như thế công việc nhất định chạy"

Trang 8

Năm là, phải yêu thương, chăm sóc cán bộ HCM chỉ rõ không phải vài ba tháng hoặc vài ba năm là đào tạo được

cán bộ tốt, mà cần phải công tác, đấu tranh, huân luyện lâu năm mới có được Hơn nữa, trong đấu tranh, có rất nhiều thử thách, nguy cơ dẫn đến mất cán bộ Vì vậy, Đảng phải yêu thương cán bộ, phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ "bại không nản, thắng cũng không kiêu"

Tư tưởng HCM về công tác cán bộ là một trong những viên ngọc quý, có ý nghĩa lý luận và thực tiến sâu sắc Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đáp ứng yêu câu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đòi hỏi các cấp ủy Đảng cần quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của HCM: "phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc chung của chúng ta"

- Ý nghĩa của công tác cải cách hành chính:

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung và từng địa phương nói riêng, cải cách hành chính được coi là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Cải cách hành chính được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách hành chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó, cải cách thủ tuch hành chính, thực hiện giải quyết các thủ tuch hành chính theo cơ chế một cửa là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách Cải cách là nhằm đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng trong giải quyết công việc hành chính; loại bỏ những rườm rà, chồng chéo, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho nhân dân

Thủ tục hành chính được hiểu là trình tự, cách thức thực hiện và yêu cầu điều kiện hồ sơ do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quy định để giải quyết từng công việc cụ thể liên quan đến các cá nhân, tổ chức Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân Thủ tục hành chính không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cáp chính quyền, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với nhà nước

Việc công khai minh bạch các thủ tục hành chính tạo cơ sở cho quá trình thực hiện và tăng cường khả năng giám sát thực thi công vụ của nhân dân, các tổ chức, cá nhân, thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ của mình và đồng thời các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Việc thực hiện mô hình một cửa để tập trung đầu mối giải quyết thủ tục hành chính từ các phòng, ban huyên môn về một đầu mối tại ủy ban nhân dân các cấp thông qua "bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" nhằm tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan, đảm bảo tính thông suốt và giải quyết nhanh thủ tục hành chính cho nhân dân

Lợi ích, ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện cơ chế 'một cửa, một cửa liên thông", đặc biệt đó là sự triển khai xây dựng, đưa vào hoạt động của bộ phận một cửa các cấp là: hiệu quả của việc giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế này đã làm cho nền hành chính trở nên dân chủ, minh bạch, có tính chuyên nghiệp hơn; mang lại sự thuận tiện cho người dân Trên thực tế, có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng Cơ chế một cửa liên thông đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức, cá nhân công dân mang hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác Người dân có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối

Những cải cách hành chính này đã giúp cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày càng tốt hơn những nhu cầu của nhân dân

Trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước, cùng với việc điều chỉnh cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước, cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước

có một vị trí hết sức quan trọng Xây dựng, phát triển đội ngũ công chức hành chính nhà nước có năng lực, phẩm chất đạo đức đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, của những cải cách về tổ chức bộ máy hành chính là một nhiệm vụ, một bộ phận không thể tách rời của công cuộc cải cách hành chính trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Trang 9

Câu 4: Nội dung và ý nghĩa quan điểm của HCM về bản chất dân chủ, bản chất giai cấp công nhân của nhà nước Việt Nam?

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về con đường hình thành nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, về bản hất, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của nhà nước đó Vấn đề này có nội dung và ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện bản chất dân chủ, bản chất giai cấp công nhân của nhà nước Việt Nam

- Khái niệm:

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội

- Cơ sở hình thành nhà nước của dân, do dân, vì dân:

+ Cơ sở lý luận;

Bắt guồn từ truyền thống yêu nước của dân tộc, bao gồm cả truyền thống tổ chức, xây dựng nhà nước, pháp luật Một nguồn gốc lý luận quan trọng hình thành tư tưởng HCM về nhà nước kiểu mới ở nước ta là các giá trị, tinh hoa văn hóa nhân laoij cả phương Đông và phương Tây trong lĩnh vực nhà nước và luật pháp HCM đã kế thừa có chọn lọc các quan điểm lý luận của Nho giáo về trị nước, lý luận của các nhà Khai sáng Pháp, các nhà lập pháp Mĩ về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là quan niệm về dân chủ, dân quyền, nhà nước pháp quyền, xã hội công dân

Nguồn gốc lý luận qan trọng, quyết định nhất sự hình thành tư tưởng HCM về nhà nước là học thuyết Mác-Lê nin

về nhà nước vô sản nói chung, nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước XHCN nói riêng Đến chủ nghĩa Mác-Lê nin, HCM

đã tìm thấy con đường cách mạng Việt Nam, phương thức đúng đắn để giải quyết vấn đề chính quyền nhà nước, hiểu biết thấu đáo bản chất nhà nước và các thức tổ chức nhà nước Trên cơ sở đó, HCM đã dần dần hình thành các quan điểm lý luận riêng về một kiểu nhà nước mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam- nhà nước dân chủ nhân dân Tử tưởng HCM về nhà nước kiểu mới có quá trình phát triển và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử

Từ luận điểm: vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền, còn vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai? phục vụ quyền lợi cho ai?

- Nội dung, bản chất của nhà nước Việt Nam theo tư tưởng HCM:

+ Bản chất dân chủ của nhà nước ta:

Qua nghiên cứu lịch sử của dân tộc và các kiểu Nhà nước trong lịch sử như: Nhà nước thực dân phong kiến; Nhà nước dân chủ tư sản; Nhà nước Xô viết… từ đó hình thành trong tư tưởng HCM về Nhà nước Người nhận ra rằng: Nhà nước nào cũng có chuyên chính nhưng vấn đề quan trọng là chuyên chính với ai và dân chủ với ai? HCM đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề Nhà nước, bản chất của Nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa dân chủ thuộc về nhân dân

Tư tưởng HCM về bản chất dân chủ của nhà nước Việt Nam là quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân.Quan niệm dân chủ của Người là dân là chủ, dân làm chủ Dân làm chủ nước nhà, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân,

do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Sau khi nước ta dành độc lập HCM đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ” Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân bầu ra thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu và phiếu kín Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Nhân dân có thực quyền bầu ra Nhà nước, bầu ra chính quyền các cấp Mọi cơ quan Nhà nước tự nó không có quyền mà mọi quyền lực Nhà nước có đều được do nhân dân ủy quyền cho Những người thực hiện quyền lực Nhà nước phải là đầy tớ và công bộc của nhân dân Trong nhà nước của dân thì người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật

Bản chất dân chủ của nhà nước Việt Nam còn thể hiện ở điểm: Nhà nước do dân Đó là Nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình Nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước chi tiêu hoạt động Nhà nước đó lại do dân phê bình, xây dựng, gúp đỡ Nhưng khi Chính phủ nào, cơ quan nào không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân sẽ bãi miễn nó Do đó HCM từng nói: "Tất cả các cơ quan Nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”, “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thí dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi, và gây nên chính phủ khác”

Hồ Chí Minh khẳng định chân lý đó:

“Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”

“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”

Trong mọi vấn đề của cách mạng, nếu có dân là có tất cả, ngược lại không có dân thì thất bại trong tầm tay “Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó trăm lần dân liệu cũng xong”

Nhà nước do dân, dân làm chủ nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất biện chứng của cả quyền và nghĩa vụ làm chủ; nó thể hiện bản chất dân chủ triệt để của nhà nước kiểu mới

Tư tưởng HCM về bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam còn ở nội dung “Nhà nước vì dân” Theo tư tưởng của Người chỉ có một Nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân được Đó là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thật sự trong sạch, cần kiệm liêm chính Trong nhà nước đó, cán bộ từ cao đến thấp đều là người đầy tớ, công bộc của nhân dân Vì vậy Bác dạy: “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm; Việc gí hại dến dân, ta phải hết sức tránh” Tuy nhiên Bác không chỉ thiên vị

về vai trò công bộc của người cán bộ hay dân chủ quá mức của nhân dân mà người cán bộ nhà nước vừa là người phục vụ lại vừa là người hướng dẫn, lãnh đạo của nhân dân Người nói: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực, nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai chỉ đường”

Trang 10

Bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rất rõ: “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỹ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”

+ Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta:

Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác-Lê nin về nhà nước, HCM nhận thức rất rõ bản chất giai cấp của nhà nước nói chung Theo Người, bất kỳ một nhà nước nào cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, “tính chất của nhà nước là bản chất gia cấp của chính quyền”; mỗi nhà nước đều gắn với một chủ thể giai cấp, bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định; không thể có nhà nước đứng ngoài gia cấp, nhà nước phi giai cấp

Theo tư tưởng HCM về nhà nước của dân, do dân, vì dân về bản chất là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân Hồ Chí Minh khẳng định “Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo” Mặt khác, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với Nhà nước quyết định bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta, vì nó chế định mục đích hoạt động, chức năng tổ chức, cơ chế vận hành của Nhà nước trên lập trường giải phóng nhân dân lao động, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Trong tư tưởng HCM, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước kiểu mới được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:

Nhà nước ta được tổ chức, hoạt động theo các nguyên tắc phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lê nin về nhà nước CCVS, nhà nước XHCN nói chung Nền tảng tư tưởng nhà nước là học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê nin Xa rời nguyên lý này , nhà nước sẽ biến chất, trở thành nhà nước của giai cấp khác

Nhà nước luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo nhà nước trong tất cả các giai đoạn cách mạng

Nhà nước ta được tổ chức, hoạt động và vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ- một nguyên tắc tổ chức đặc thù của giai cấp công nhân: tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung; dân chủ càng mở rộng, tập trung càng cao độ

Cơ sở xã hội của nhà nước là khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân, mà nòng cốt là liên minh công-nông-trí thức

Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc: quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng trong tổ hức, hoạt động có sự phân công rành mạch về chức năng, nhiệm vụ giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Nhà nước điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật, mà pháp luật đại biểu cho ý chí, nguyện vọng, lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng lao động

Với các biểu hiện như vậy, ở nhà nước ta, bản chất giai cấp công nhân bao giờ cũng thống nhất chặt chẽ với tính nhân dân và tính dân tộc Đây là một quan niệm hết sức đặc sắc, độc đáo của HCM Sự thống nhất này dựa trên các căn cứ khách quan mà quan trọng nhất là sự thống nhất lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của nhâ dân lao động và lợi ích của dân tộc: Độc lập cho dân tộc; khát vọng dân chủ của toàn thể dân tộc; cuộc sống no đủ, sung sướng, hạnh phúc của tất cả mọi người dân Việt Nam

Ngày đăng: 19/05/2021, 19:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w