Nội dung nguyên lý về MLH phổ biến các sự vật, hiện tượng. Ý nghĩa phương pháp luận. Sự vận dụng của Đảng ta. Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt nhưng phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực.
Trang 1Tài liệu giúp các bạn ôn tập khoa học chính trị
Câu 1: Nội dung nguyên lý về MLH phổ biến các sự vật, hiện tượng Ý nghĩa phương pháp luận Sự
vận dụng của Đảng ta
Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt nhưng phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực Cho nên, nó có khả năng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, XH và tư duy Tùy theo nhu cầu theo nhu cầu thực tiễn và trình độ nhận thức của con người, phạm vi các vấn đề được bao quát trong phép biện chứng duy vật ngày càng được phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu Nhưng ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của nó, nguyên lý MLH phổ biến được xem là một trong những nguyên lý
có ý nghĩa khái quát nhất Việc nh.thức và quán triệt nguyên lý này đối với đảng ta có ý nghĩa rất quan trọg, I là trong thực tiễn cách mạng VN, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước
1 Nội dung nguyên lý MLH phổ biến
- KN: Liên hệ là KN chỉ sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tương tác và chuyển hóa nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới, hay giữa các mặt, các yếu tố of 1quá trình, 1 sv, ht
+ Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù phong phú, đa dạng nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác, đều chịu sự tác động, chịu sự quy định của các sv, ht khác
+ MLHPB là một phạm trù TH, dùng để chỉ sự tác động, sự quy định, sự ràng buộc, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong 1 sv, ht hay trong các sv, ht
Theo triết học duy vật biện chứng, cơ sở của mối LHPB chính là tính thống nhất vật chất của thế giới Bởi lẽ, mọi sv, ht trên thế giới dù đa dạng, phong phú khác nhau nhưng đều là những dạng tồn tại cụ thể của thế giới vật chất Ngay cả tư tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có
tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của một quá trình vật chất khách quan
- Tính chất của MLH phổ biến
+ Tính khách quan của MLH phổ biến: MLH giữa các SV và HT là cái vốn của mọi SV, HT không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Nó bắt nguồn từ tính thống nhất của SV của thế giới, sự tồn tại và phát triển của chính SV, HT
+ T1inh phổ biến của MLH: MLH giữa các SV và HT là phổ biến, diễn ra mọi lúc, mọi nơi Không những các SV, HT liên hệ với nhau mà các yếu tố, các bộ phận cấu thành SV, HT cũng liên hệ hữu cơ với nhau; không những các giai đoạn trong một quá trình mà cả các quá trình trước và quá trình sau trong sự vận động và phát triển của thế giới nói chung và của từng SV nói riêng cũng luôn liên hệ với nhau Không chỉ trong tự nhiên mà cả trong lĩnh vực đời sống XH và tinh thần mọi SV, HT cũng luôn luôn liên hệ tác động qua lại với nhau Chẳng hạn, trong tự nhiên giữa động vật và thực vật, giữa cơ thể sống và môi trường…, trong đời sống XH giữa các lĩnh vực đời sống
XH, giữa các cộng đồng, giữa các quốc gia…; trong lĩnh vực nhận thức giữa các hình thức nhận thức, giữa các giai đoạn nhận thức… cũng có MLH với nhau
+ Tính đa dạng của MLH: Tính đa dạng của MLH do tính đa dạng của sự tốn tại, vận động và phát triển của chính các SV và HT quy định, biểu hiện ở tính nhiều vẻ, vô cùng phong phú của các MLH Có trong MLH bên ngoài; có MLH cơ bản, có MLH không cơ bản; có MLH trực tiếp có MLH gián tiếp; có MLH bản chất, MLH không bản chất, liên
hệ tất yếu và liên hệ ngẫu nhiên…
MLH bên trong là MLH qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một SV; nó giữ vai trò quyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của SV MLH bên ngoài là MLH giữa các SV, các HT khác nhau; nói chung nó không có ý nghĩa quyết định; hơn nữa, nó thường phải thông qua MLH bên trong mà phát huy tác dụng đốivới sự vận động và phát triển của SV
MLH bản chất và ko bản chất, mlh tất yếu và ngẫu nhiên cũng có tính chất tương tự như đã nêu ở trên, ngoài
ra, chúng còn có những nét đặc thù Chẳng hạn, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này, lại là tất nhiên khi xem xét trong một mối quan hệ khác; ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất nhiên; hiện tượng
là hình thức biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất
Xét đến cùng các mlh bên trong, cơ bản, trực tiếp, tất nhiên… là nhữg mlh giữ vai trò quyết địh chi phối đến
sự tồn tại và ptriển của sv, ht Còn các mlh khác chỉ tác động, ảhưởng đến quá trình đó
- Nội dung của nguyên lý:
Thế giới vật chất vô cùng phong phú, đa dạng các SV, HT chúng rất khác nhau về chất, tuy chúng không tồn tại tách rời một cách tuyệt đối Trái lại chúng luôn luôn tồn tại trong những MLH phổ biến (luôn luôn tác động, quy định, rang buộc, chuyển hóa lẫn nhau) Nhờ những MLH phổ biến này mà SV, HT mới vận động, biển đổi, phát triển
Trang 22 Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ việc Ng.cứu nguyên lý về MLH phổ biên của các SV, HT chúng ta rút ra các quan điểm:
- Trong nhận thức, xem xét các SV,HT chúng ta cần phải quán triệt quan điểm toàn diện Yêu cầu các quan điểm toàn diện, thứ nhất là khi xem xét các SV, HT phải xem xét nó trong MLH qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính SV, HT đó; thứ hai là xem xét các SV, HT phải xem xét nó trong MLH giữa SV, HT đó với SV, HT khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp) quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những thuộc t1inh khác nhau của SV hay HT đó; nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của SV, HT đó
- Chúng ta cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra Yêu cầu quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mức tới hoàn cảnh cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đòi và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực – cả khách quan lẫn chủ quán Bởi vì, mọi SV, HT đều tồn tại trong không gian, thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian, thời gian
Quán triệt quan điểm toàn diện, qđiểm lịch sử cụ thể, we cần khắc phục và nghiêm khắc phê phán quan điểm phiến diện, chnghĩa chiết trung, thuật ngụy biện
Quan điểm phiến diện xem xét sv, ht chỉ thấy 1 mặt, 1 mlh mà ko thấy nhiều mặt, nhiều mlh
CN chiết trung cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau, nhưg lại kết hợp 1 cách vô ngtắc nhữg cái hết súc khác nhau thành 1 hình ảnh ko đúng về sv CN chiết trung ko biết rút ra mặt bản chất, mlh căn bản cho nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mlh khác nhau
Thuật ngụy biện cũng để ý tới những mặt, những mlh khác nhau của sv, ht, nhưng lại đưa cái ko bản chất thành bản chất, cái ko cơ bản thành cái cơ bản
Với tư cách là ngtắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên ls mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo sự vật Muốn vậy, phải sử dụng đồng bộ nhiều ph/pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng
3 Sự vận dụng của đảng ta
Quan điểm toàn diện được đảng ta quán triệt và thể hiện sinh động trong đường lối kháng chiến toàn dân và toàn diện chống thực dân Pháp, trong đường lối chống Mỹ Đó là sự kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh thời đại, sức mạnh quân sự với sức mạnh chính trị, KT,VH, ngoại giao; sức mạnh của 3 vùng chiến lược và mũi tấn công…Nhờ có sức mạnh toàn diện, tổng hợp và sự nghiệp giải phóng dân tộc đã giành được thắng lợi hoàn toàn
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn cũng đòi hỏi phải hợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” (Lê nin) Trong khi khẳng định t1inh toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng cũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về CNXH là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực KT và và lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới KT là trọng tâm Thực tiễn những năm đổi mới nước ta mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên Khi đề cập tời những vấn đề này, ĐHĐBTQ lần thứ 8 của Đảng đã khẳng định “Xét trên tổng thể đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới tư duy chính trị trong hoạch định đường lối của các chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác Song, đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới KT, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống XH”
Chính vì vậy, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có
kế thừa, có bản chất đi, hình thức và cách làm phù hợp”
ĐH XI của Đảng đã khẳng định “Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ theo đường XHCN” Thực tiễn phong phú và thành tựu đạt được qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sang tạo; đi lên CNXH là sự lựa chọn phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn CMVN Để xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ với chất lượng hiệu quả cao hơn
Tóm lại: Việc vận dụng nội dung nguyên lý về mlh phổ biến cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có
vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay
ở nước ta đặt ra Đối với mỗi cán bộ, Đảng viên thì việc nắm vững nguyên lý sẽ giúp chúng ta trong hoạt động chuyên môn cũng như trong quản lý, chỉ đạo: một mặt phải thấy được mlh giữa các mặt yếu tố của sv, ht, đồng thời cũng thấy được những mlh của nó với những sv, ht khác, đặt trong không gian, thời gian, điều kiện lịch sử cụ thể; một mặt phải biết cách phân tích, xác định đúng các sự việc để có biện pháp giải quyết thích hợp, tránh rơi vào những nguyên lý sai lầm, phiến diện, chiết trung, ngụy biện
Trang 3Câu 2: Nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng của Đảng ta
Mở đầu: Triết học Mác-Lênin cho rằng thế giới được tạo thành từ các sự vật, hiện tượng, quá trình khác
nhau Chúng có mối liên hệ với nhau và luôn vận động, phát triển theo những quy luật khách quan nhất định Một trong những quy luật cơ bản là Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng-chất) Quy luật này chỉ rõ cách thức của quá trình vận động và ptriển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Việc nhận thức và áp dụng đúng quy luật này trong thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng, thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt là công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đã chứng minh điều đó
1 Nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại:
- Phạm trù chất và lượng (theo quan điểm mác xít):
+ Chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự vật hiện tượng, là sự thống
nhất hữu cơ của các thuộc tính, làm cho nó là nó và phân biệt nó với cái khác
Như vậy: Chất là cái khách quan, vốn có của mọi sự vật hiện tượng Mỗi sự vật hiện tượng có nhiều thuộc tính mà mỗi thuộc tính lại có những đặc trưng riêng về chất Do đó, 1 sự vật không chỉ có 1 chất mà có nhiều chất, vô vàn chất Chất là tổng hợp của những thuộc tính, khi những thuộc tính cơ bản của Sự vật thay đổi thì chất cơ bản của
sự vật cũng thay đổi
Chất của sự vật còn pụ thuộc vào những y/tố cấu thành và phương thức liên kết giữa các yếu tố đó
+ Lượng là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về số lượng, quy mô, trình độ, nhịp
điệu, tốc độ của sự vận động, ptriển của sự vật cũng như của các thuộc tính của nó
Như vậy: Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng Lượng có thể được xác định cụ thể, chính xác bằng các công cụ đo lường Tuy nhiên, cũng có những tính quy định về lượng biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát Một sự vật có nhiều chất, do đó cũng có vô vàn sự khác nhau về lượng
Sự pân biệt giữa chất và lượg của sv, ht cũng chỉ có tính tươg đối
- Mlh biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất:
Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng có chất và lượng Chất và lượng của sự vật hiện tượng là một thể thống nhất quy định lẫn nhau Trong quá trình vận động và phát triển, chất và lượng của sự vật hiện tượng cũng biến đổi Sự thay đổi của lượng và của chất không diễn ra độc lập đối với nhau, trái lại chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật hiện tượng Lượng của sự vật hiện tượng có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật hiện tượng đó Khuôn khổ mà trog đó, sự thay đổi về lượg chưa làm thay đổi về chất của svht, được gọi là
độ
Độ là 1 fạm trù triết học dùng để chỉ sự thống I giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Những điểm giới hạn mà tại đó có sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi chất của sv được gọi là điểm nút Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi 2 điểm nút
Sự thay đổi về lượg khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn tới sự ra đời của chất mới Sự thống I giữa lượg và chất mới tạo thàh 1 độ mới với điểm nút mới Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy
Bước nhảy là một phạm triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra Bước nhảy làm cho sự biến đổi của các sv, ht trong thế giới khách quan có sự thống nhất giữa liên tục và đứt đọan, giữa tiệm tiến và nhảy vọt Lênin khẳng định: “tính tiệm tiến mà ko có bước nhảy vọt, thì ko giải thích được gì cả”
Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại đối với sự thay đổi về lượng Chất mới có thể làm thay đổi qui mô, kết cấu,
trình độ, nhịp điệu của sự vận động và biến đổi của sự vật
Sự thay đổi về chất của Sự vật diễn ra rất đa dạng với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau Xét về thời gian
và tính chất của sự thay đổi về chất thì buớc nhày được chia thành: bước nhảy đột biến (làm thay đổi căn bản về chất một cách nhanh chóng) và buớc nhảy dần dần (thay đổi về chất bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới); xét về qui mô thì có thể chia thành: bước nhảy toàn bộ (làm thay đổi căn bản về chất của tất cả các mặt, các bộ phận, y/tố cấu thành sv) và bước nhảy cục bộ (làm thay đổi 1 số mặt, 1 số y/tố, 1 số bộ phận của sự vật)
Khi xem xét sự thay đổi về chất trong đời sống xh, người ta còn chia thành sự thay đổi cm (cải tạo căn bản về chất của sự vật) và sự thay đổi có tính chất tiến hóa (thay đổi về lượng cùng những biến đổi về chất không căn bản của sự vật)
- Nội dung quy luật:
Từ mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất, có thể khái quát nội dung cơ bản của qui luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại như sau: Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều
có sự thống nhất giữa chất và lượng Sự thay đổi dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua 1 bước nhảy Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng
2 Ý nghĩa phương pháp luận:
Trang 4Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất chúng ta sẽ rút ra đuợc ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:
- Mọi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất hữu cơ giữa chất và lượng Do vậy để có tri thức đầy đủ về sự vật ta phải nhận thức đuợc cả mặt lượng và mặt chất của nó, không được tuyệt đối hóa cái này mà xem nhẹ cái kia
- Sự phát triển của Sự vật, bao giờ cũng bắt đầu từ lượng đổi dẫn đến chất đổi Do vậy, để cải tạo sự vật phải quan tâm thích đáng đến quá trình tích lũy về lượng, đồng thời phải chủ động tạo những đìều kiện cần thiết để quá trình chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới đựoc thực hiện 1 cách hoàn hảo nhất
Khi vận dụng quy luật mối quan hệ giữa chất và lượng vào thực tiễn, ta không được tuyệt đối hóa mặt nào, nếu tuyệt đối hóa một trong hai mặt này thì chúng ta sẽ rơi vào tư tưởng nôn nóng (tả khuynh) hoặc tư tưởng bảo thủ (hữu khuynh)
Khuynh hướng nôn nóng tả khuynh là khuynh hướng không quan tâm thực hiện quá trình tích lũy về
lượng mà chỉ chú ý thực hiện những bước nhảy vọt làm thay đổi về chất trong khi chưa có đủ điều kiện tích lũy về lượng cần thiết Những người có tư tưởng này trong hoạt động thực tiễn thường nóng vội, chủ quan duy ý chí, họ cho rằng sự phát triển chỉ gồm toàn những bước nhảy liên tục nên có thể đốt giai đoạn
Khuynh hướng bảo thủ hữu khuynh là khuynh hướng chí chú ý đến quá trình tích lũy về lượng, không
chú ý phát huy nổ lực của nhân tố chủ quan, không dám thực hiện bước nhảy vọt về chất khi đã có sự tích lũy đầy đủ
về lượng hoặc kéo dài sự tích lũy, chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần về lượng
Cả hai khuynh hướng trên đều dẫn đến những sai lầm có tác hại rất lớn làm cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật hiện tượng
3 Sự vận dụng của Đảng ta:
Nắm vững và vận dụng đúng quy luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xem xét và giải quyết những vấn
đề do thực tiễn đặt ra, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay
Trong thực tiễn VN trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta cũng có lúc phạm sai lầm của 2 khuynh hướng trên Đánh giá về những sai lầm này, VKĐH VI đã nêu rõ: “Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là 1 qtrình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường, và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn
bỏ qua những bước đi cần thiết trên thực tế, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh cnh trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư, thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính tới điều kiện và khả năng thực tế Đã có những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh cần phải khắc phục cả hai khuynh hướng: bảo thủ, trì trệ, không muốn đổi mới; và nóng vội, giản đơn, mưuốn giải quyết xong mọi vấn đề trong một thời gian ngắn Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện We vừa chủ quan nóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, trong thực tế hai mặt đó cùng tồn tại và đều cản trở bước tiến của cm" 9 những sai lầm này là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng ktế xh trầm trọng ở nước ta trước thời kỳ đổi mới
Từ những thất bại trong đường lối chỉ đạo trước thời kỳ đổi mới, Đảng đã có những tổng kết, đánh giá kịp thời về những sai lầm trên Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu bước đột phá đầu tiên của tư duy lý luận của Đảng trong việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Công cuộc đổi mới mà Đảng đã khởi xướng từ Đại hội VI và từ đó đến nay đang diễn ra trên đất nước ta có ý nghĩa như là một quá trình mang tính cách mạng bởi nó tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã
khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta Đây là một quá trình cm mạng sâu sắc, triệt để,
đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xh, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước ptriển, nhiều hình thức tổ chức ktế, xh đan xen”
Trong quá trình chuyển biến đó thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem là nhiệm vụ trọng tâm và phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để đạt được mục tiêu đề ra, Đảng đã khẳng định (tại Văn kiện Đại hội IX): “Con đường công nghiệp hóa -
hiện đại hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt”
Tại Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm
năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội”
Cương lĩnh xd đất nước trong thời kỳ quá độ lên cnxh (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Phát
triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết
Trang 5chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo
có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới Bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”
Đại hội XI đã đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh, bền vững” với các nội dung cụ thể:
- Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững
- Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành có tính nền tảng, có lợi thế
so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu
- Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn
- Phát triển các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao
- Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước
- Phát triển kinh tế - xã hội hài hoà giữa các vùng, đô thị và nông thôn
Như vậy, bên cạnh việc thực hiện những giải pháp nhằm tích lũy dần tiềm lực về khoa học công nghệ, về kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và chuyển biến quy trình sản xuất từ nền sản xuất lao động thủ công sang lao động với phương tiện và phương pháp tiên tiến có năng suất cao theo những bước đi phù hợp với quy luật phát triển, chúng ta cần phải biết phát huy những lợi thế của đất nước, tạo điều kiện và phát huy tối đa nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, Khoa học và công nghệ để làm nền tảng, động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước có những bước nhảy vọt, đột phá Nhân
tố chủ quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo sự đột phá về bước nhảy để rút ngắn thời gian trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đây là quan điểm đúng đắn dựa trên cơ sở tác động của chất đối với lượng để tạo sự đột phá trong bước nhảy Đảng ta nhấn mạnh “phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu
tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Đó là việc tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng cán bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng phải được xây dựng trên những bước đi tuần tự trong việc xác định cơ chế kinh tế cũng như xây dựng lực lượng lao động cơ bản trong hệ thống sản xuất tiên tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất hiện đại, có trình độ khoa học - công nghệ, nghiệp vụ chuyên môn và tay nghề vì như bất kỳ sự thay đổi về chất nào khác, những bước nhảy trong con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay cũng chỉ có thể là kết quả của quá trình thay đổi về lượng, thích hợp ở đây bất kỳ một sự nôn nóng chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra tổn thất cho cách mạng, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước
Tóm lại: Việc vận dụng nội dung qui luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và
ngược lại cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta đặt ra Đối với mỗi cán bộ, Đảng viên thì việc nắm vững quy luật sẽ giúp chúng ta trong hoạt động chuyên môn cũng như trong quản lý, chỉ đạo: một mặt phải biết phát huy đúng mức vai trò của nhân tố chủ quan, có quyết tâm và nghị lực cao trong việc thực hiện đột phá trong công việc khi có điều kiện chín muồi, một mặt phải biết cách phân tích, xác định đúng các sự việc để có biện pháp giải quyết thích hợp, tránh rơi vào khuynh hướng nôn nóng chủ quan duy ý chí hoặc bảo thủ
Trang 6Câu 3 Khái quát những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật Ý nghĩa phương pháp luận Liên hệ thực tế đổi mới ở địa phương
Như chúng ta đã biết phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển.Trước hết ta đi vào tìm hiểu và phân tích từng nguyên lý để thấy được ý nghĩa của nĩ đối việc vận dụng của Đảng ta về các nguyên lý này trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
Nguyên lý về sự phát triển cĩ mối quan hệ biện chứng với nguyên lý về mối quan hệ phổ biến, nhờ
cĩ mối liện hệ thì mới cĩ vận động và phát triển
Là một hình thức đặc trưng của vận động, phát triển là sự vận động cĩ khuynh hướng và gắn liền với
sự ra đời của cái mới
Sự phát triển của sự vật mang tính khách quan, phổ biến, đa dạng và phong phú Mọi sự vật, hiện tượng của xem xét tồn bộ một quá trình đều vận động trải qua giai đoạn sinh thành, phát triển và mất đi Chính sự mất đi của các SVHT này là điều kiện ra đời của SVHT khác Khơng phải chỉ cĩ khuynh hướng đi lên mới được coi là sự phát triển mà nĩ thường được diễn ra quanh co, phức tạp qua những khâu trung gian
mà cĩ lúc bao hàm cả sự thụt lùi đi xuống tạm thời
Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới Sự vận động, biến đổi dù phức tạp bao nhiêu cuối cùng cũng tự vạch cho mình phát triển tiến lên khơng ngừng Sự phát triển cĩ nguồn gốc động lực là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong chính bản thân sự vật hiện tượng Phát triển là sự thay đổi
về chất của sự vật theo khuynh hướng tiến lên của đường “xốy trịn ốc”
Với những nội dung cơ bản trên, quan điểm về sự phát triển của CNDV BC đã bác bõ những sai lầm của quan điểm siêu hình và quan điểm siêu hình và quan điểm duy tâm tơn giáo về sự phát triển
Phát triển khơng phải là vận động đi tới cõi chết khơng phải là lặp lại, càng khơng thể tồn tại sự ổn định tuyệt đối của sự vật , hiện tượng
*Quan điểm phát triển:
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn địi hỏi chủ thể phải cĩ quan điểm phát triển:
Trong nhận thức: để nhận thức bản chất của sự vật hiện tượng địi hỏi chủ thể phải xem xét nĩ trong trạng thái vận động và dự đốn được các xu hướng biến đổi chuyển hĩa của chúng
Trong thực tiễn: cần thấy được tính quanh co phức tạp của quá trình phát triển, cần thấy được cái mới, cái tiến
bộ và tạo điều kiện cho cái mới ra đời để nĩ chiến thắng cái cũ cái lạc hậu
Trong tư tưởng:quan điểm phát triển là cơ sở kế hoạch để giúp đỡ chúng ta cĩ niềm tin vào sự thắng lợi của
lý tưởng CSCN mặc dù CNXH đang lâm vào thối hĩa, giúp chúng ta vững lịng tin vào cơng cuộc đổi mới tồn diện đất nước mặc dù cĩ nhiều khĩ khăn thử thách
Tuân theo những địi hỏi đĩ của quan điểm phát triển sẽ gĩp phần khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ trong tư duy cũng như trong hành động thực tiễn, gĩp phần khắc phục sự lạc hậu về lý luận
*Về nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Mối liên hệ phổ biến là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác đợng, liên hệ ràng buộc và chuyển hố lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển
Mọi SVHT đều tồn tại trong những mối liên hệ tác động qua lại và khơng loại trừ một lãnh vực nào Nhờ cĩ mối liên hệ mà cĩ sự vận động và do đĩ mới cĩ sự tồn tại của vật chất, hay nĩi cách khác mối liên
hệ là phổ biến, là hiện thực là cái vốn cĩ của mọi SVHT, thể hiện tính khái quát, tính thống nhất của vật chất của thế giới
Các SVHT trong thế giới vật chất rất đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, phổ biến nhưng đều mang tính khái quát chứ khơng phải thần linh thượng đế hoặc “ý niệm tuyệt đối” nào sinh ra cả, cĩ mối liên
hệ giữa các hình tượng vật chất, các hình tượng tinh thần song những mối liên hệ tinh thần chỉ là sự phản ánh và
là sản phẩm của mối liên hệ vật chất
Trong thế giới vơ cùng, vơ tận này khơng cĩ bất cứ một sự vật, hiện tượng nào tồn tại bên ngồi mối liên hệ với SVHT khác Các mối liên hệ đĩ, căn cứ vào tính chất phạm vi trình độ cĩ thể phân biệt thành các loại như sau: liên hệ bên trong và bên ngồi, chung và riêng, cơ bản và khơng cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, khơng gian và thời gian, trực tiếp và gián tiếp… Tuy nhiên, sự phân loại này là tương đối vì mối liên
hệ đĩ chỉ là bộ phận trong tồn bộ mối liên hệ phổ biến nĩi chung Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất của thế giới khách quan Cịn những hình thức cụ thể, riêng biệt là đối tượng
Trang 7của các ngành khoa học cụ thể, thì chủ thể phải có quan điểm toàn diện trong việc xem xét giải quyết một vấn đề trong thực tiễn
Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải nhận thức về sự vật như là một chỉnh thể của tất cả các mặt, các thuộc tính, các mối liên hệ trong bản thân SVHT và giữa SVHT đó với những SVHT khác, với môi trường xung quanh… Thực chất của quan điểm toàn diện là trong khi chú ý xem xét tất cả các mặt của sự vật, trong tư duy phải phát hiện được, phản ánh được những mặt chủ yếu, bản chất, quan trọng nhất của sự vật
Từ việc nắm được bản chất của sựï vật chúng ta cùng nhận thức các mặt khác của sự vật một cách sâu sắc trong chỉnh thể của tất cả các mặt
Từ quan điểm toàn diện trong sự xem xét chúng ta đi đến nguyên tắc đồng bộ trong hoạt động thực tiễn: để cải tạo một sự vật bao giờø chúng ta cũng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống những biện pháp nhất định Tuy nhiên cũng như đã nói ở trên, đồng bộ không có nghĩa là dàn đều, bình quân mà trong từng buớc, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu then chốt Thực hiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện, một chiều chỉ thấy một mặt mà không thấy nhiều mặt hoặc có khi tuy có chú ý đến nhiều mặt nhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật Quan điểm toàn diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn
Quan điểm toàn diện còn có ý nghĩa trong việc chống chủ nghĩa chiết trung mà đặc trưng của nó là nhân danh quan điểm toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những mặt khác nhau mà thực chất là không thể kết hợp với nhau được
Nguyên tắc lịch sử cụ thể còn đòi hỏi chúng ta khi nhìn thấy một luận điểm nào đó, một chân lý nào đó phải gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của chân lý đó, bởi vì bất cứ chân lý nào cũng chỉ là chân lý trong những hoàn cảnh lịch sử – cụ thể nhất định của nó, trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định của nó Lênin “Bản chất linh hồn sống của Chủ Nghĩa Mác là phân tích cụ thể một tình hình cụ thể, điều kiện cụ thể”
Bệnh phiến diện :
Phiến diện là khi xem xét một SVHT chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật ấy mà không nhìn thấy sư phát sinh
và tiêu vong của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của sự việc ấy mà quên mất sự vận động của sự vật
ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng
Trước Đại Hội VI, Đảng ta đã mắc phải bệnh phiến diện một chiều trong xây dựng PTSX xã hội chủ nghĩa : Đảng ta chỉ tập trung xây dựng Quan hệ SX mà không thấy được vai trò của LLSX ( qui luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX), chỉ thấy có một mặt của PTSX là QHSX dẫn đến
XD QHSX tiên tiến vượt xa so với tính chất và trình độ LLSX dẫn đến tình trạng kinh tế chậm phát triển Hoặc khi XD QHSX chúng ta chỉ chú ý đến mối quan hệ sở hữu về TLSX mà không chú ý đến mối quan hệ
tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm, hoặc việc quốc hữu hoá TLSX để phát triển Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể (sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể) đưa đến sản xuất đình trệ, kinh tế không phát triển được
Để khắc phục bệnh phiến diện một chiều, chúng ta cần phải có quan điểm toàn diện khi xem xét nghiên cứu SVHT Phải kết hợp chặt chẽ giữa “ Chính sách dàn đều” và “Chính sách có trọng điểm” (V.I Lênin) trong phát triển Kinh tế Đổi mới phải đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để với những buớc đi hình thức phu øhợp, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm trên cơ sở đó từng bước đổi mới hệ thống chính trị
*Bệnh giáo điều:
Bệnh giáo điều là tuyệt đối hoá lý luận đồng thời coi thường kinh nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất
di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung trừu tượng, không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận:
Giáo điều lý luận: thuộc lòng lý luận cho rằng áp dụng vào đâu cũng được không xem xét điều kiện
cụ thể của mình VD : Chủ trương xoá bỏ tư hữu dẫn đến việc ta tiến hành cải tạo XHCN xoá tất cả các thành phần kinh tế chỉ còn KT quốc doanh và tập thể
Giáo điều kinh nghiệm: áp dụng nguyên si rập khuôn mô hình của nước khác, của địa phương khác vào địa phương mình mà không sáng tạo, chọn lựa… VD: Bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ở Liên Xô
Trang 8(ở Liên Xô có bao nhiêu bộ ta cũng có bấy nhiêu bộ) hoặc về CNH cũng vậy chỉ chú ý tập trung phát triển
CN nặng mà không chú ý phát triển phát triển công nghiệp nhẹ…
Để khắc phục bệnh giáo điều cần từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinh viện, thuần túy chỉ biết giải thích bằng kinh nghiệm, chứng minh lý luận bằng lý luận cần chống lối tư duy bắt chước, sao chép rập khuôn, thoát ly thực tế, bất chấp những đặc điểm, truyền thống và điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, của dân tộc, mà cần phải tăng cường tổng kết thực tiễn bổ sung phát triển lý luận
Luận điểm của Đảng: Đổi mới đồng bộ, toàn diện, có nguyên tắc, có bước đi vững chắc
* Đổi mới đồng bộ, toàn diện
Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên từng lĩnh vực, nội dung của đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt: từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc Nếu chỉ đổi mới một liõnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt kết quả mong muốn Đồng thời trong mỗi bước đi lại phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết ,làm cơ sở cho việc đổi mới các khâu khác, các lực lượng khác
Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới Kinh tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH , tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống XH Trong việc đổi mới tổ chức và cơ chế hành động của hệ thống chính trị, chúng ta đã đi những bước thận trọng và vững chắc, bắt đầu từ việc giải quyết những vấn đề cấp bách nhất và đã chín muồi, với việc nhận thức đây
là việc rất cần thiết nhưng đặc biệt phức tạp, nhạy cảm và nếu vội vã để xảy ra sai lầm sẽ phải trả giá rất đắt
có khi không cứu vãn được
Mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy
đủ quyền làm chủ của nhân dân Bài học lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương Khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích Dứt khoát bác bỏ mọi mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối về chính trị, chống phá chế độ hoặc can thiệp vào nội bộ nước ta Không chấp nhận chế độ đa nguyên đa đảng
Tóm lại, tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc, lấy đổi mới KT làm trọng tâm, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các lãnh vực khác, nhất là vè dân chủ hóa XH, tổ chức và phương thức hành động của hệ thống chính trị, các chính sách Giáo Dục, Văn Hóa, Xã Hội là bài học kinh nghiệm quý báu của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay đã được Đại hội đại biểu toàn
quốc lần IX rút ra “Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững”
Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X có đoạn viết: “Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững”
* Đổi mới có nguyên tắc :
Đổi mới nhưng phải bảo đảm định hướng XHCN Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN
mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức bước đi và biện pháp thích hợp Khẳng định điều đó cũng chính là khẳng định CN M-L và tư tưởng HCM luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp đổi mới Bởi vì mụ tiêu độc lập dân tộc và CNXH chỉ được thực hiện trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo của CN Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Đổi mới nhưng phải đảm bảo sự lãnh đạo của ĐCSVN phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi XD Đảng là nhiệm vụ then chốt Đảng ta phải luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn củng cố và XD Đảng cả
về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ ; tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng
; đổi mới phương thức, lề lối làm việc, nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội Bài học lịch sử của các nước XHCN chỉ ra là không lúc nào được buông lơi hay để trượt khỏi tay ngọn cờ lãnh đạo của Đảng
Đổi mới phải gắn với Độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền quốc gia trong mở rộng quan hệ quốc tế Việc mở rộng quan hệ quốc tế đối ngoại phải trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, giữ gìn phát huy bản sắc
và truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường phải đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
Đổi mới phải không ngừng thực hiện dân chủ hóa đời sống XH trên tất cả các lãnh vực./
Trang 9Câu 4: Nội dung quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất Sự vận dụng của Đảng ta
Mở đầu: Sản xuất vật chất luôn giữ vai trò nền tảng trong đời sống xã hội loài người Sản xuất vật chất trong
mỗi giai đoạn luôn gắn với một phương thức sản xuất nhất định Phương thức sản xuất là một chỉnh thể thống nhất bởi hai mặt của quá trình sản xuất, đó là sự thống nhất giữa Lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và Quan hệ sản xuất tương ứng Quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là quy luật khách quan và cơ bản trong quá trình phát triển của xã hội loài người Việc nhận thức và áp dụng đúng quy luật này trong thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng, thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt là công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đã chứng minh điều đó
*Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở một giai đoạn lịch sử xã hội nhất định, đó chính là sự thống nhất giữa LLSX ở 1 trình độ nhất định và QHSX tương ứng
- Lực lượng sản xuất: thể hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất, là nội dung của quá trình sản xuất vật chất Lực lượng sản xuất là sự kết hợp thống nhất giữa người lao động với tư liệu sản xuất (mà trước hết là công cụ lao động) để tạo thành sức sản xuất xã hội
Lực lượng sản xuất gồm người lao động và Tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và tư liệu lao động khác; Đối tượng lao động là vật có sẵn trong tự nhiên hoặc qua chế biến của con người
Trong Lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể, là Lực lượng sản xuất hàng đầu quyết định toàn bộ quá trình sản xuất vật chất Cùng với người lao động, công cụ lao động là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất
Ngày nay khoa học đã trở thành Lực lượng sản xuất trực tiếp, cùng với công nghệ hiện đại đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt Lực lượng sản xuất của nhân loại, nó qui định nội dung mới của sức sản xuất xã hội trong thời đại ngày nay Chính vì lẽ đó mà đảng ta quan niệm “cùng với giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ phải được coi là quốc sách hàng đầu”
- Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội, là hình thức của quá trình sản xuất vật chất
Quan hệ sản xuất là một chỉnh thể thống nhất của 3 quan hệ: quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu đối với tư liệu sản xuất (quan hệ sở hữu); quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức quản lý sản xuất vào trao đổi cho nhau trong sản xuất (quan hệ quản lý); quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội (quan hệ phân phối)
Trong chỉnh thể Quan hệ sản xuất thì Quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định đối với các quan hệ khác, nhưng quan hệ quản lý và phân phối cũng rất quan trọng, nó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quan hệ sở hữu Vì vậy, nhận thức Quan hệ sản xuất phải thấy rõ tính chỉnh thể của nó, không được có quan điểm thiếu đồng bộ
*Nội dung quy luật về sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất là 2 mặt thống nhất của phương thức sản xuất Giữa 2 mặt của quá trình sản xuất luôn gắn bó chặt chẽ tác động biện chứng với nhau trong đó Lực lượng sản xuất là nội dung còn Quan
hệ sản xuất là hình thức của quá trình sản xuất xã hội sự tác động biện chứng giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất diễn ra thường xuyên, phổ biến và là nhu cầu khách quan của toàn bộ tiến trình sản xuất vật chất xã hội, quyết định đến sự phát triển kế tiếp nhau của các hình thái KT-XH trong lịch sử, cũng như của từng hình thái Mác là người đầu tiên đã khái quát vấn đề trên thành qui luật “QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX”
+ Trong mối quan hệ này LLSX quyết định QHSX LLSX ở trình độ và tính chất nào thì nó yêu cầu tất yếu
một kiểu QHSX thích ứng phù hợp với nó Đó chính là tính tất yếu kinh tế khách quan của quá trình sản xuất vật chất
xh Ở đây cần hiểu rằng xác định LLSX ở tình trạng nào để xem xét QHSX phù hợp với nó chỉ là tương đối và LLSX luôn ở trạng thái vận động liên tục Khi LLSX ở trình độ nào thì yêu cầu kiểu QHSX phát huy ở tình trạng đó, chứ không đòi hỏi QHSX cao hơn hay thấp hơn
Tính chất quyết định của LLSX đối với QHSX còn biểu hiện ở chỗ Lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên biến đổi phát triển 1 cách năng động, vừa mang tính chất kế tục, vừa mang tính cách mạng Mỗi bước vận động biến đổi của nó, đặc biệt là khi Lực lượng sản xuất có sự thay đổi căn bản từ trình độ này lên trình độ khác thì
nó luôn luôn đòi hỏi QHSX cũng phải vận động phát triển cho phù hợp với nó Nói cách khác mọi sự vận động phát triển của QHSX điều có nguyên nhân trực tiếp là từ sự vận động phát triển của LLSX Mác nói bất cứ sự thay đổi nào
về mặt chế độ XH bất cứ sự cải biến nào về mặt quan hệ chiếm hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những LLSX mới
Vấn đề đặt ra tại sao LLSX là yếu tố năng động và vận động phát triển trước Quan hệ sản xuất, quyết định Quan hệ sản xuất Để đáp ứng nhu cầu của mình ngày càng tốt hơn con người tất nhiên phải phát triển sản xuất vật chất, con người bắt đầu không ngừng cải tiến lao động Mác nói do có được Lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình dẫn đến loài người thay đổi tất cả các quan hệ xã hội của mình
Khuynh hướng của sxxh không ngừng biến đổi theo chiều tiến bộ, bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của LLSX, trước hết của công cụ lao động Do vậy LLSX là yếu tố tác dụng quyết định đối với sự biến đổi của PTSX Trình độ LLSX nói lên khả năng của con người thong qua việc sử dụng công cụ lđ thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên nhằm đảm bảo
Trang 10cho sự sinh tồn và phát triển của mình Theo Ă “không thể biến những TLSX có hạn ấy thành những LLSX hùng mạnh
mà lại không biến chúng từ chỗ là những TLSX do cá nhân sử dụng thành những TLSXXH, chỉ có thể được sử dụng chung bởi một số đông người”, thực tế t/c và trình độ của LLSX ko tách biệt nhau
Sự phù hợp của QHSX và trình độ phát triển của LLSX là một trạng thái trong đó QHSX là hình thức phát triển tất yếu của LLSX Trạng thái phù hợp tạo điều kiện tối ưu cho sự kết hợp giữa lđ và TLSX, từ đó LLSX có cơ
sở để phát triển hết khả năng của nó
Trạng thái mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX xuất hiện, thay thế trạng thái phù hợp, đến gđ nào đó LLSX chuyển sang trình độ mới với t/c xh hóa mức cao hơn, tình trạng phù hợp sẽ bị phá vỡ, mâu thuẫn gay gắt QHSX trở thành xiềng xích của LLSX
Mác nhận định: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các LLSX vật chất của xh mâu thuẫn với những QHSX hiện có…trong đó từ trước đến nay các LLSX vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát của LLSX, những qh ấy trở thành những xiềng xích của các LLSX Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc CM” là nd qui luật
về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển nhất định của LLSX
*QHSX tác động trở lại LLSX
-QHSX vừa phụ thuộc vừa có vai trò tác động trở lại LLSX, quá trình tác động do sự chi phối của tác nhân, điều kiện: tính ổn định tương đối của bản thân QHSX so với LLSX; trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể; sự chi phối của nhu cầu lợi ích của giai cấp đại biểu cho QHSX đương thời; cho nên QHSX tác động đến LLSX có thể diễn ra 2 khả năng phù hợp or không phù hợp:
+ Phù hợp : QHSX đáp ứng đúng đòi hỏi tất yếu của LLSX, yếu tố cấu thành QHSX tạo địa bàn đầy đủ cho LLSX phát triển QHSX có tác dụng làm yếu tố bản than LLSX kết hợp với nhau có hiệu quả phát huy tác dụng dẫn đến năng suất tăng trưởng kinh tế khá hơn
+ Ko phù hợp: QHSX ko đáp ứng đòi hỏi tất yếu của LLSX kiềm hãm sự phát triển của LLSX
Sự ko phù hợp biểu hiện ở 2 trường hợp:
+ Trường hợp QHSX lạc hậu so với trình độ mới của LLSX( từng mặt or trên cả 3 mặt) Mac nhận định :” Tới 1 giai đoàn phát triển nào đó của chúng, các LLSX vật chất của XH sẽ mâu thuẫn với QHSX hiện có… trong đó
từ trước đến nay các LLSX vẫn phát triển Từ chổ là những hình thức phát triển của LLSX các QH ấy trở thành những xiềng xích của LLSX Khi đó bắt đầu thời đại của 1 cuộc CM XH”
+ Trường hợp QHSX hình thành ko đồng bộ, có yếu tố vượt trước tình trạng hiện có của LLSX do chủ thể áp đặt chủ quan Mac : “Ko 1 hình thái XH nào diệt vong trước khi tất cả những LLSX mà hình thái XH đó tạo địa bàn đẩy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển và những QHSX mới cao hơn, cũng ko bao giở xuất hiện trước những điều kiện tồn tại vật chất của những QH đó chưa chín muồi trong lòng bản thân XH cũ”
Như vậy, thực chất của qui luật này là :quá trình vận động phát triển của SX vật chất của XH, LLSX luôn luôn đòi hỏi tất yếu QHSX phải phù hợp với nó; Khi QHSX ko phù hợp, mâu thuẫn gay gắt thì tất yếu k tế đòi hỏi phải đổi mới or xóa bỏ QHSX cũ thay bằng QHSX mới phù hợp với trình độ mới của LLSX đảm bảo cho LLSX tiếp tục phát triển ko ngừng
* Sự nhận thức và vận dụng quy luật này của Đảng ta:
- Tổng kết quá trình nhận thức về vận dụng qui luật này từ khi tiến hành CMXHCN đến ĐHĐBTQ lần thứ VI Đảng ta kết luận:” Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước
ta còn tồn tại trong 1 thời gian tương đối dài; Chưa nắm vững và vận dụng đúng qui luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX”
Cương lĩnh ĐH VII -1991 khẳng định : “ Trong CMXHCN, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối xác định đúng mục tiêu và phương hướng XHCN Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí vi phạm qui luật khách quan: nóng vội cải tạo XHCN, xóa bỏ nền KT nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc XD CN nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý KT tập trung, quan lieu bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả tiền lương, tiền tệ…”
-Từ ĐH VI đến nay: ĐHĐB toàn quốc lần thứ IX tiếp tục các quan điểm của các ĐH VI, VII, VIII và chỉ rõ:” Chủ trương XD và phát triển nền KTTT định hướng XHCN thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX”
“ Phát triển LLSX hiện đại gắn liền với QHSX mới phù hợp trên cả 3 mặt : sở hữu, q.lý và phân phối”
“ Đẩy mạnh CNH-HĐH… ưu tiên phát triển LLSX đồng thời XD QHSX phù hợp theo định hướng XHCN”
“ Gắn chặt việc XD nền KT độc lập tự chủ với chủ động hội nhập k.tế quốc tế” thể hiện sự vận dụng đúng đắn sáng tạo qui luật của Đảng ta trong thời đại toàn cầu hóa k.tế
-ĐH X của Đảng tổng kết 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, tiếp tục thực hiện quan điểm ĐH IX và bổ sung, phát triển vấn đề vận dụng qui luật này: Đặc trưng thứ 3 của mô hình CNXH theo quan điểm ĐH X nêu rõ:”
Có nền k.tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX”
“ Giải phóng mạnh mẽ và ko ngừng phát triển sức SX nâng cao đời sống nhân dân”, với “ phát triển nền k.tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần k.tế trong đó k.tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; K.tế nhà nước cùng với k.tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền k.tế quốc dân”
Trang 11-Gắn chặt phát triển các thành phần k.tế với các hình thức trung gian quá độ
-Vai trò loại hình DN cổ phần và HTX kiểu mới;” Đẩy mạnh CNH-HĐH gắn k.tế trí thức” “ Mở rộng quan
hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập k.tế quốc tế gắn với nâng cao khả năng đlập tự chủ của nền k.tế”
-ĐH XI của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm trên và nêu rõ: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới
sự lãnh đạo của ĐCS Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”
Như vậy việc xác định mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là một lý luận rất sáng tạo của Đảng, đặc biệt là lý luận về quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh
tế, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và các loại hình tổ chức kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại, phù hợp với từng thành phần kinh tế Chính điều này đã tạo ra sức sống động cho sự phát triển kinh tế, tạo ra được nhiều sản phẩm do khơi dậy tiềm năng, sức SX và năng động vốn có của các thành phần kinh tế Việc xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu không thể xác lập nhanh chóng ồ ạt như trước đây mà phải là một quá trình kinh tế - xã hội lâu dài, qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao … Để đánh giá hiệu quả xây dựng Quan
hệ sản xuất theo định hướng XHCN là thúc đẩy phát triển LLSX, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội
Tóm lại: XH loài người luôn tồn tại và phát triển theo những quy luật khách quan Việc nhận thức và vận
dụng đúng đắn quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX trong thời kỳ đổi mới đã đem lại những kết quả tích cực, nền kinh tế phát triển nhanh, đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng, đang từng bước phát triển một cách ổn định và bền vững, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 12Câu 5: Nội dung, kết cấu của hình thái kinh tế-xã hội Quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội Sự vận dụng của đảng ta
Học thuyết hình thái KT_XH là nội dung cơ bản của CN DVLS và cũng là một trong những nội dung cơ bản của CN M-L Với sự ra đời của học thuyết này đã chỉ rõ kết cấu cơ bản của các XH cụ thể và còn vạch rõ những quy luật nội tại của sự vận động phát triển XH, vạch ra phương pháp khoa học để giải thích tiến trình lịch sử XH
Hình thái KT-XH là một phạm trù của CN DVLS, dùng để chỉ XH ở từng g/đoạn p/triển l/sử nhất định, với một kiểu QHSX đặc trưng cho XH đó phù hợp với một trình độ nhất định của LLSX và với một kiến trúc t/tầng tương ứng được x/dựng trên những QHSX ấy
Hình thái kinh tế-XH là một XH cụ thể có kết cấu phức tạp, gồm ba yếu tố cơ bản là LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng Các yếu tố cơ bản có quan hệ biện chứng với nhau tạo thành các quy luật cơ bản chi phối sự vận
động, phát triển của các hình thái kinh tế-XH, trở thành nhân tố khách quan, khoa học cho việc phân loại XH Trong
đó, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức sản xuất XH Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ
sản xuất là một chỉnh thể thống nhất của quan hệ sở hữu (quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu đối với
các tư liệu sản xuất của XH), quan hệ quản lý (quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức sản xuất và trao đổi hoạt động cho nhau), quan hệ phân phối (quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm XH làm ra)
Các mặt của QHSX có quan hệ biện chứng với nhau trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định, còn quan hệ quản lý và phân phối tác động lại rất mạnh mẽ và quan trọng đến chế độ sở hữu
Mỗi hình thái kinh tế-XH có một kiểu quan hệ sản xuất tương ứng với một trình độ nhất định của LLSX Những quan hệ sản xuất của một XH cụ thể hợp thành cơ sở hạ tầng, trên đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng
XH, mà chức năng XH của nó là bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó Ngoài những yếu tố cơ bản của XH còn có những quan hệ XH như quan hệ dân tộc quan hệ gia đình v.v
Sự vận động, phát triển, thay thế nhau của các hình thái KT-XH trong lịch sử do sự tác động của các qui luật khách quan chi phối
Sự phát triển của phương thức sản xuất bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi của lực lượng sản xuất, trước hết
là từ công cụ lao động Mỗi bước phát triển mới của lực lượng sản xuất luôn đòi hỏi tất yếu quan hệ sản xuất cũng phải biến đổi, phát triển theo để phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất Đó là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người LLSX là yếu tố biến đổi trước, năng động hơn
QHSX là yếu tố biến đổi sau, ổn định tương đối hơn, nó không tự biến đổi trước, vượt lên trên lực lượng sản xuất, mà do tính tất yếu phải thay đổi để phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ tạo địa bàn rộng lớn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, trở thành động lực cơ bản thúc đẩy tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển Khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu không còn phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì nó trở thành xiềng xích trói buộc, kìm hãm sự phát triển của LLSX
QHSX sở dĩ có thể tác động (thúc đẩy hoặc kìm hãm) sự phát triển của lực lượng sản xuất, vì nó qui định
mục đích của sản xuất; ảnh hưởng đến thái độ lao động của quãng đại quần chúng; kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ, việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc hợp tác và phân công lao động…Trong XH
có giai cấp đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh giai cấp mới giải quyết được mâu thuẫn đó để đưa XH tiến lên
Qui luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX chỉ cho chúng ta thấy nguồn gốc, động lực bên trong chi phối sự vận động phát triển của lịch sử XH lòai người bắt đầu từ sự phát triển của LLSX tới một giới hạn nhất định nào đó làm cho QHSX vốn là hình thức phát triển của LLSX trở nên không phù hợp và trở thành xiềng xích kiềm hãm sự phát triển của LLSX nên bị thay thế bằng một QHSX mới phù hợp với trình độ của LLSX,
cứ thế lịch sử XH lòai người lại bước vào một giai đoạn phát triển mới, lại bắt đầu từ sự phát triển của LLSX
Cơ sở hạ tầng và k/trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái KT-XH, chúng tác động qua lại với nhau tạo thành qui luật chi phối sự vận động và p/triển của XH
Theo triết học Mác, QHSX là những quan hệ vật chất qui định các quan hệ chính trị và tinh thần tức là cơ cấu kinh tế hiện thực sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng tương ứng và qui định tính chất của kiến trúc thượng tầng Tính chất mâu thuẫn trong kinh tế qui định tính chất mâu thuẫn về chính trị và tinh thần Tính chất giai cấp của kinh
tế qui định tính chất giai cấp của kiến trúc thượng tầng Giai cấp nào thống trị về kinh tế cũng thống trị về mặt chính trị và tinh thần Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng qui định sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng do cơ sở hạ tầng qui định nhưng nó lại có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ
sở hạ tầng, chức năng XH cơ bản của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng hiện tồn tại chống lại những nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại cơ sở hạ tầng Kiến trúc thượng tầng tác động bằng nhiều hình thức khác nhau, nhiều góc độ trực tiếp hoặc gián tiếp Kiến trúc thượng tầng tác động theo hai hướng đó là nếu tác động phù hợp với qui luật kinh tế-XH, với yêu cầu phát triển của LLSX thì sẽ thúc đẩy sản xuất và XH phát triển; nếu tác động không phù hợp với qui luật kinh tế-XH, với yêu cầu phát triển của LLSX thì sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất và XH
Trang 13Sự p/triển của hình thái kinh tế-XH từ thấp đến cao là xu hướng chung của lịch sử còn đối với mỗi quốc gia dân tộc cụ thể do những điều kiện cụ thể chi phối mà trong sự phát triển có thể bỏ qua một hoặc vài hình thái kinh tế-
XH đó là quá trình lịch sử tự nhiên đặc thù
Điều này đã được Lênin chỉ rõ “ Chỉ có đem quy những quan hệ XH vào những QHSX và đem quy những
QHSX vào trình độ của những LLSX thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự p/triển của những hình thái XH là một quá trình l/sử -tự nhiên”
Đối với nước ta là một xứ thuộc địa nữa phong kiến với điểm xuất phát thấp, SX nhỏ là chủ yếu lại trãi qua chiến tranh lâu dài đó là những khó khăn cho quá trình x/dựng CNXH ở nước ta Đảng ta đã khẳng định đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta là sự lựa chọn đúng đắn của ĐCS VN và CT HCM phù hợp với xu thế p/triển
của l/sử XH XHCN mà nhân dân ta xâ/dựng là một XH: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh; do
nhân dân làm chủ; có nền k/tế p/triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện p/triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng p/triển; có NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do ĐCS l/đạo; có q/hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
Đại hội IX của Đảng tiếp tục quan điểm của các đại hội trước (kể từ sau Đại hội đổi mới) đã chỉ rõ “Con
đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập
vị trí thống trị của QHSX và kiến trúc thượng tầng TBCN ”
Đến ĐH XI Đảng ta tiếp tục khẳng định q/độ lên CNXH ở nước ta nhất thiết phải trãi qua một t/kỳ q/độ lâu dài với nhiều bước p/triển, nhiều hình thức tổ chức KT, XH đan xen
Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu x/dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta phải nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với p/triển k/tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường
Hai là, p/triển nền k/tế thị trường định hướng XHCN
Ba là, x/dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; x/dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân,
thực hiện tiến bộ và công bằng XH
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn XH
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và p/triển;chủ động và tích
tế, nêu cao tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước Vì vậy đã tiếp cận, tranh thủ và thu hút được ngày càng nhiều và có hiệu quả các nhân tố k/quan thuận lợi của thời đại chuyển vào trong nước để cùng với các nhân tố bên trong tạo thành tổng lực cho sự p/triển đất nước
Nhân dân ta có phẩm chất tốt đẹp Tòan quân, toàn dân ta tin tưởng tuyệt đối vào sự l/đạo của Đảng; phát huy được lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, đoàn kết nhất trí, cần cù, năng động, sáng tạo tiếp tục thực hiện đổi mới,
ra sức x/dựng và bảo vệ Tổ quốc VN XHCN
Tóm lại, với thành tựu hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới cùng những tiền đề khách quan và chủ quan
như trên, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân dân ta hoàn tòan có khả năng xây dựng thành công chủ nghĩa
XH trên đất nước ta Kinh tế-XH, có sự thay đổi cơ bản và tòan diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa phát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, nâng lên rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết tòan dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị-XH ổn định Quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với nhiều triển vọng tốt đẹp./
Trang 14Câu 6: Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng của đảng ta
XH loài người tồn tại và p/triển theo những quy luật k/quan và những q/luật đó được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người Do đó, nhận thức đúng đắn bản chất của ý thức XH và sự chuyển hóa từ tư tưởng thành hiện thực trong đời sống XH có ý nghĩa rất quan trọng để hiểu l/sử XH loài người Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng mối q/hệ biện chứng giữa tồn tại XH và ý thức XH, trong phương hướng đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng
định “Tăng trưởng k/tế đi lên gắn liền với p/triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng XH, bảo vệ và cải thiện môi trường XH”
Tồn tại XH là đời sống (sinh hoạt) v/chất của XH cùng toàn bộ những đ/kiện sinh hoạt vật chất của XH
Trước hết sinh hoạt vật chất của XH PTSX (bao gồm LLSX và QHSX) Sinh hoạt vật chất của XH còn bao gồm những sinh hoạt vật chất khác như trao đổi, tiêu dùng hàng ngày, kế thừa tài sản Điều kiện sinh hoạt vật chất của
XH bao gồm điều kiện tự nhiên xung quanh, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số Trong các yếu tố cấu thành nên tồn tại XH, PTSX là nhân tố cơ bản vì nó có ảnh hưởng quyết định đến sự biến đổi của ý thức XH và nó làm thay đổi ý nghĩa của hoàn cảnh địa lý và điều kiện dân số trong sự p/triển của XH
Ý thức XH là mặt tinh thần của đời sống XH bao gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng lý luận cùng
những tình cảm, tâm trạng, mong muốn, truyền thống…phản ánh tồn tại XH trong những giai đoạn p/triển lịch sử
XH nhất định
Căn cứ vào trình độ nhận thức, có thể phân ý thức XH thành ý thức XH thông thường và ý thức lý luận (ý thức lý luận làm gia tăng yếu tố khoa học, trí tuệ của ý thức thông thường) Nói cách khác, ý thức XH biểu hiện qua tâm lý XH và hệ tư tưởng
Trong XH có g/cấp, các g/cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị XH của mỗi g/cấp quy định nên ý thức XH cũng có tính g/cấp, nghĩa là mỗi g/cấp đều có những quan điểm, tư tưởng và tâm lý riêng, không có ý thức chung cho mọi g/cấp mà chỉ có ý thức chung cho một g/cấp nhất định Hệ tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại là hệ tư tưởng của g/cấp thống trị về k/tế G/cấp thống trị luôn tìm cách hạn chế ý thức của g/cấp bị trị và truyền bá ý thức của g/cấp hình thành XH
Trong mối q/hệ biện chứng giữa ý thức XH và tồn tại XH, tồn tại XH giữ vai trò quyết định đến nội dung, khuynh hướng p/triển của ý thức XH, ý thức XH là sự phản ánh của tồn tại XH, phụ thuộc vào tồn tại XH Ý thức
XH do tồn tại XH sinh ra, nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh tồn tại XH Khi tồn tại XH tác động đến nhận thức của chủ thể thì hình thành những quan điểm, tư tưởng, nhận định và thái độ của chủ thể Sự phản ánh của ý thức XH bao giờ cũng xuyên qua một mắt khâu là lợi ích, trong XH có g/cấp đó là lợi ích của g/cấp Xem xét nội dung của ý thức XH phải gắn chặt chẽ với quan hệ lợi ích Mặt khác, ý thức XH là sự phản ánh tồn tại XH nhưng không phải bất cứ tư tưởng nào, một hình thức ý thức XH nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp các quan hệ k/tế của thời đại mà nó có thể là phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp qua khâu trung gian, nhưng xét đến cùng bằng cách này hay cách khác nó vẫn phản ánh các quan hệ k/tế của thời đại Tính quyết định của tồn tại XH đối với ý thức XH còn thể hiện khi tồn tại XH-nhất là PTSX-biến đổi thì ý thức
XH (những t/tưởng và lý luận XH, những q/điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật…) sớm
muộn sẽ biến đổi theo Thực tiễn lịch sử đã chứng minh các thời đại khác nhau có những tư tưởng khác nhau đều bắt nguồn
từ sự khác nhau của cơ sở k/tế và sự thay đổi, p/triển của ý thức XH trước hết là xuất phát từ sự thay đổi và p/triển của PTSX
Khi khẳng định vai trò q/định của tồn tại XH đối với ý thức XH, CNDVLS ko xem ý thức XH như là một yếu tố thụ động trái lại còn tác động tích cực, sáng tạo của ý thức XH đối với đời sống k/tế XH, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức XH, nghĩa là tuy bị tồn tại XH quy định nhưng ý thức XH lại vừa có tính q/luật, lôgíc p/triển riêng Sự thống nhất giữa chức năng phản ánh và chức năng sáng tạo tích cực của ý thức XH đối với tồn tại XH biểu hiện ở chỗ ý thức XH vừa vượt trước vừa lạc hậu so với sự p/triển của tồn tại XH
Sự lạc hậu của ý thức XH thường xảy ra khi ý thức XH ko phản ánh kịp thời sự v/động, p/triển của đời sống XH
bởi vì ý thức XH chỉ là cái phản ánh được sinh ra từ tồn tại XH, còn tồn tại XH thì gắn trực tiếp với hoạt động thực tiễn nên thường biến đổi nhanh hơn Sự lạc hậu của ý thức XH còn thể hiện ở những tư tưởng và đặc biệt là tâm lý của XH cũ còn rơi rớt lại vẫn tồn tại dai dẳng sau khi tồn tại XH đã thay đổi, bởi vì những tư tưởng, tâm lý một khi đã ăn sâu vào đời sống
XH và trở thành lối sống, nếp nghĩ phong tục, tập quán, thói quen thì nó có tính ổn định tương đối và tồn tại lâu hơn, ko dễ mất đi ngay Mặt khác, các g/cấp lỗi thời, phản động cũng tìm cách duy trì những tư tưởng cũ nhằm phục vụ lợi ích của
chúng, Lênin nói rằng: “Một người bệnh chết đi ta có thể đem chôn cùng với căn bệnh nhưng một XH mất đi ta không thể
đem chôn cùng những căn bệnh của nó được mà những căn bệnh này rữa ra xâm nhập vào những con người đang sống”
Khi khẳng định tính lạc hậu hơn của ý thức XH so với tồn tại XH, triết học Mác đồng thời cũng thừa nhận rằng trong những điều kiện v/chất nhất định, tư tưởng của con người đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự p/triển của tồn tại XH,
phản ánh đúng q/luật v/động và p/triển của tồn tại XH Từ đó đưa ra các dự báo tương lai một cách khoa học, giúp con người xác định được mục tiêu và lựa chọn những giải pháp, định hướng cho việc tổ chức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người để đạt được mục tiêu
đó Tuy nhiên khi nói tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại XH, dự kiến được quá trình k/quan của sự p/triển XH thì ko có nghĩa là trong trường hợp này ý thức XH ko còn bị tồn tại XH quyết định nữa Tư tưởng khoa học tiên tiến ko thoát ly tồn tại XH mà phản ánh chính xác, sâu sắc mối quan hệ tất yếu, bản chất của tồn tại XH