1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn toán cho HS lớp 5 trường tiểu học nga phú

24 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA PHÚ Người thực hi

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA PHÚ

Người thực hiện: Chu Quốc Huy Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Phú SKKN thuộc lĩnh mực: Môn Toán

THANH HOÁ NĂM 2021

Trang 2

1.1 Khái niệm về hứng thú và hứng thú học tập 21.2 Động cơ và vai trò của động cơ trong việc hình thành hứng thú

kiến thức mới nhằm gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh 83.5 Tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hứng thú học tập cho

3.6 Xây dựng các phong trào thi đua học tập nhằm gây hứng thú

Trang 3

I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “Giáodục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu

từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học;học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục và đào tạo phảigắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”[1] Trọng tâm là “ đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phấn đấu trong nhữngnăm tới, tạo ra chuyển biến căn bản, mạnh mẽ chất lượng, hiệu quả giáo dục đàotạo làm cho giáo dục đào tạo thật sự là quốc sách hàng đầu, đáp ứng ngày càngtốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân, làyêu cầu bức thiết của toàn xã hội, yêu cầu của hội nhập quốc tế trong kỷ nguyêntoàn cầu hóa”[2]

Để đạt được hiệu quả trong công tác đổi mới giáo dục thì sự hứng thú,thái độ và sự quan tâm của người học đối với các môn học đóng vai trò rất quantrọng Tuy nhiên, hiện nay tại các trường tiểu học tồn tại thực trạng là học sinhkhông hứng thú với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng Vấn đề này

đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho quá trình dạy học trên lớp của giáo viên vàkhông phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh

Trong chương trình của bậc tiểu học, môn Toán đóng vai trò hết sức quantrọng Đặt biệt nó giúp học sinh có tiền đề vững chắc để học lên các lớp trên,đồng thời còn đáp ứng nhu cầu phát triển con người trong thời đại mới Song đểgiúp học sinh đạt kết quả tốt trong học môn Toán là một vấn đề không phải làđơn giản Bởi học môn Toán sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rènluyện học sinh thói quen suy nghĩ và suy luận nhằm giải quyết những vấn đề cầnthiết, tạo đà phát triển năng động động lực học tập của học sinh Ngoài ra họcmôn Toán còn góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, tínhcẩn thận, thận trọng, ý tưởng sáng tạo, tự tin ham học hỏi và hiểu biết… đểnhằm phát triển phẩm chất con người lao động mới

Những kiến thức Toán học ở tiểu học sẽ là hành trang giúp học sinh bướcvào giai đoạn mới Môn toán là môn học công cụ, cung cấp kiến thức, kĩ năng,phương pháp, góp phần xây dựng nền tảng văn hoá phổ thông của con người laođộng mới Song, để tiếp thu, lĩnh hội một cách tốt nhất các mạch kiến thức trongsách giáo khoa thì trước tiên học sinh phải có sự say mê, thích thú với mônToán, từ đó các em sẽ nhớ hơn, tiếp thu nhanh hơn Nhưng việc tạo hứng thúhọc Toán cho các em không phải là một việc đơn giản Đặc biệt, lên lớp 5, nộidung chương trình Toán vẫn tập trung vào kiến thức, kĩ năng cơ bản nhưng kiếnthức sâu hơn, khái quát hơn so với giai đoạn ở lớp 1, 2, 3, 4

Trong những năm gần đây, hứng thú toán học của học sinh ở nhữngtrường tiểu học nói chung và ở trường tiểu học Nga Phú nói riêng còn bị hạnchế, không ít em sợ toán, coi việc học toán như là một công việc nặng nhọc,căng thẳng Nguyên nhân dẫn đến là do các em chưa biết được tầm quan trọng

[1] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII

[2] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII

1

Trang 4

của việc học tập môn toán Mặt khác trên thực tế, những nghiên cứu hình thànhhứng thú toán còn chưa được mang tính hệ thống.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học toán ở tiểu học nhất là ởkhối lớp 5 - khối có nền tảng quan trọng để các em bước tiếp lên bậc học cao

hơn, từ đó tôi mạnh dạn đi sâu, nghiên cứu, tìm hiểu “Một số giải pháp nâng

cao hứng thú học tập môn Toán cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Nga Phú.”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn Toán cho họcsinh lớp 5 ở trường Tiểu học Nga Phú

3 Đối tượng nghiên cứu

- Một số giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn Toán cho học sinh lớp

5 ở trường Tiểu học Nga Phú

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

4.2 Phương pháp điều tra

4.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm xây dựng cơ sở thựctiễn và kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp được đề xuất: Sử dụngphương pháp điều tra; quan sát; nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phương phápthực nghiệm sư phạm

4.4 Phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu được

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận.

1.1 Khái niệm về hứng thú và hứng thú học tập.

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người Hứng thú

có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người takhông làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú Đại văn hào M.Gorki từngnói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc” Cùng với tự giác, hứng thúlàm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khảnăng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo

Hứng thú của con người rất phong phú và đa dạng Tuỳ theo các tiêu chí,căn cứ khác nhau mà người ta phân chia hứng thú thành nhiều loại tương ứng.Nếu căn cứ vào nội dung đối tượng và phạm vi hoạt động của hứng thú, người tachia hứng thú thành: hứng thú nhận thức, hứng thú nghề nghiệp, hứng thú chínhtrị - xã hội, hứng thú thẩm mĩ Trong đó, hứng thú học tập là một dạng cụ thểcủa hứng thú nhận thức

Hứng thú học tập không chỉ là nguyên nhân trực tiếp kích thích, thúc đẩytính tích cực sáng tạo của người học mà còn làm nảy sinh sự ham mê và đem lạicho người học niềm vui trong học tập; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động dạy và học

Hứng thú học tập là một động cơ, một nhân tố kích thích người học hăngsay trong học tập, mong muốn đi sâu tìm hiểu môn học mà mình ưa thích Thựctiễn cho thấy, kết quả học tập của người học không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm

về mặt trí tuệ của người học mà còn tuỳ thuộc vào việc người học có hứng thú

Trang 5

với môn học hay không Nếu không có hứng thú học tập, nghiên cứu một vấn đề

gì đó thì hệ thống ức chế tâm lý của con người sẽ mau chóng phát huy tác dụng,làm cho người học khó có thể tập trung vào việc học tập, nghiên cứu trong mộtthời gian dài

Hứng thú học tập còn góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động củangười học và làm tăng hiệu quả của quá trình học tập Nhờ có hứng thú học tập

mà người học có thể khắc phục khó khăn, nảy sinh tính tò mò, khám phá, lòngkhát khao hiểu biết, kiên trì tìm tòi, sáng tạo Hứng thú học tập, không chỉ làđộng lực trực tiếp thúc đẩy hoạt động học tập của người học, mà sự phát triểncủa nó sẽ trở thành một thuộc tính tâm lí góp phần tác động vào xu hướng nhâncách của người học Trong một chừng mực nhất định, hứng thú học tập còn làmột cơ sở không thể thiếu được của những tài năng trong học tập và nghiên cứukhoa học

1.2 Động cơ và vai trò của động cơ trong việc hình thành hứng thú học tập của học sinh.

Động cơ học tập là cái thúc đẩy hoạt động học, vì nó mà học sinh thựchiện hoạt động học Động cơ học tập của học sinh được hiện thân ở đối tượngcủa hoạt động học, tức là những tri thức, kỹ năng, thái độ mà giáo dục sẽ đưa lạicho họ

Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt, mà phải được hìnhthành dần dần trong quá trình học sinh tự phát hiện ra vấn đề và giải quyết cácvấn đề, hình thành ở học sinh nhu cầu học tập, nhu cầu nhận thức, nhu cầuchiếm lĩnh đối tượng học

Cũng như các loại hoạt động khác, hoạt động học tập của học sinh cũng

phải có động cơ, người ta gọi đó là động cơ học tập Không có động cơ học tập,học sinh sẽ học theo kiểu chiếu lệ, ép buộc Có động cơ học tập, các em ngàycàng yêu thích môn học, say mê và hứng thú đối với việc học hơn và do đó sẽ cókết quả cao hơn trong học tập Do vậy, có thể khẳng định việc hình thành động

cơ, hứng thú học tập cho học sinh có một ý nghĩa rất quan trọng không thể thiếutrong quá trình dạy học Có hứng thú học tập thì tư duy học sinh luôn ở trạngthái hưng phấn, đó là điều kiện tốt để các em bộc lộ quan niệm, kích thích hoạtđộng và phát triển năng lực tư duy, năng lực nhận thức của học sinh

2 Thực trạng của vấn đề:

2.1 Thực trạng chung của vấn đề:

2.1.1 Đối với học sinh:

- Học sinh chưa nắm vững các kiến thức cơ bản trong môn Toán

- Học sinh còn yếu chưa theo kịp bạn bè, trong môn Toán thiếu sự tíchcực, chủ động, sáng tạo cũng như sự linh hoạt, không có sự tìm tòi, tự giác giảiquyết các bài tập, phần lớn là chờ vào sự hướng dẫn hay giải của giáo viên

- Các em còn sợ học môn Toán vì phải tính toán rất nhiều số, các em chưathích học Toán vì nó phức tạp và suy luận hơi cao

- Do tâm lý sợ, thiếu tự tin, lười học, cẩu thả, chán nản e sợ khi học Toán

- Không có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng cơ bản yếu

- Các em còn chủ quan, ham chơi chưa thật sự quan tâm đến việc học

3

Trang 6

- Học sinh chưa được sự quan tâm từ phía gia đình, gia đình không nhắcnhở học sinh trước khi vào lớp là làm bài tập, nhưng qua kiểm tra thì ngày nàocác em yếu kém vẫn đều không làm bài tâp.

- Chưa nắm vững kiến thức nên việc vân dụng vào tính toán, giải toán găpnhiều khó khăn

- Các lớp dưới 1,2,3,4 các em đã bị mất căn bản nên khó học tốt ở lớp 5

- Do hoàn cảnh gia đình như: Gia đình không hạnh phúc, ly hôn, cha mẹ

đi làm ăn xa phải ở với ông bà,…làm cho các em thiếu tự tin, chán nản họchành, mà học toán đòi hỏi các em phải tư duy và suy luận rất nhiều

- Các em còn có thái độ trông chờ vào giáo viên, hay vào lớp mượn bàichép của bạn là xong, không cần phải suy nghĩ

- Do hiện nay công nghệ thông tin phát triển (như ti vi, điện thoại thôngminh, máy tính, ), các em luôn bị lôi cuốn vào chúng nên các em bị chi phối,thời gian học ít, chơi nhiều, dẫn đến kết quả yếu kém

2.1.2 Đối với giáo viên:

- Nội dung phương pháp chưa thật sự thu hút và lôi cuốn học sinh vàoviệc học toán

- Phương pháp dạy học chưa thích hợp

- Phương tiện dạy học và cách thức tổ chức chưa phù hợp với từng đốitượng học sinh

- Giáo viên chưa chú ý đến học sinh yếu và chưa bao quát học sinh

- Cách thức hướng dẫn của giáo viên chưa kĩ lắm, nặng về cách giải nênhọc sinh không cần suy nghĩ, tìm tòi cách giải nên khó mà giải bằng năng lựcthật sự của mình

- Giáo viên chưa phối hợp tốt đối với gia đình và nhà trường trong việckèm và hướngdẫn học sinh kém toán

- Dạy quá nhiều phân môn nên không có thời gian để hướng dẫn cũng như

ôn luyện thường xuyên cho các em

- Chưa có biện pháp cụ thể đối với từng học sinh

- Chưa tạo ra nhiều tình huống học tập để giúp đỡ học sinh học tốt mônToán hơn

2.2.2 Khó khăn:

- Nga Phú là một xã thuần nông với khoảng 68% dân số theo đạo Thiênchúa, số học sinh theo đạo của lớp chiếm 43,75% Đó là khó khăn không nhỏ,

Trang 7

ảnh hưởng đến việc học của học sinh do các em phải tham gia các hoạt động củanhà thờ.

- Điều kiện kinh tế của địa phương còn thấp, tỉ lệ % hộ nghèo, tỉ lệ tăngdân số còn cao, chất lượng cuộc sống chưa được cải thiện nhiều Chính vì thế,nhiều gia đình bố mẹ phải đi làm ăn xa, để con cái ở nhà với ông bà nên không

có điều kiện trông nom nhắc nhở

- Nhiều em học sinh ý thức tự giác trong học tập chưa cao, lười suy nghĩ,tính toán còn yếu như em Mai Hoàng Vũ, Vũ Tiến Mạnh, Chu Thế Hiển,Nguyễn Trường Giang, Trần Thanh Thiên,

- Phong trào học tập của địa phương những năm gần đây đã có nhiềuchuyển biến tích cực nhưng chưa thực sự phát triển

2.3 Kết quả của thực trạng

Năm học 2020 – 2021, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảngdạy lớp 5B Thực tế ở đầu năm học, khi tiếp nhận lớp và dạy những tiết học đầutiên tôi thấy :

- Lớp học rất trầm Các em còn rất rụt rè, chưa thực sự mạnh dạn phátbiểu bày tỏ ý kiến của mình, có những em biết nhưng lại không dám giơ tay trảlời Chính vì vậy, các em ít có cơ hội giao lưu với bạn bè, với thầy cô về nộidung bài học cho nên các em hiểu bài một cách thụ động, hiểu bài chưa sâu dẫn

đến tình trạng “Học trước - quên sau ’’

- Với những môn học có tính chất khô khan, trừu tượng như môn Toán, tôithấy các em không tập trung học, không say mê học, vì thế dẫn đến kết quả họctập rất thấp

Vì vậy, ngay từ đầu năm học, để tìm hiểu cụ thể về hứng thú học tập củacác em học sinh, tôi đã tiến hành điều tra hứng thú học tập môn toán Tôi đặt ramột số câu hỏi như: Em hãy cho biết thái độ của em đối với môn toán như thếnào? Em nhận thức thế nào về vai trò của môn toán trong chương trình học tậpcủa nhà trường? Em thích học môn toán vì lý do nào? Sau đó tôi phát phiếuđiều tra cho 32/32 học sinh Kết quả thu được như bảng sau:

Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm học 2020 - 2021 như sau:

Trang 8

Qua giảng dạy tôi thấy, phần lớn các em chưa nhận thức đúng vai trò củamôn Toán Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tíchcực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để biến trithức của thầy thành của mình Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắmđược lượng kiến thức thầy giảng, rất nhanh quên và kỹ năng tính toán chưanhanh Tinh thần hợp tác học tập chưa cao, nhiều em còn chưa tự tin, học thụđộng.

“người bạn lớn” có thể chia sẽ

- Trong quá trình dạy, tôi luôn tôn trọng ý kiến trả lời của học sinh, không

gò ép các em vào khuôn phép cứng nhắc Khuyến khích động viên học sinh khihọc sinh trả lời đúng hoặc gần đúng câu hỏi Từ đó tạo cho học sinh có đượcniềm tin vào khả năng của bản thân

- Tôi luôn tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, thảo luận với nhau,tìm tòi học hỏi, nghiên cứu Nhằm phát huy tích tích cực, chủ động của học sinh,giúp các em tự học không chỉ ở nhà mà còn tự học trong chính các tiết học

- Tôi thường xuyên giải đáp các thắc mắc của các em với thái độ tôn trọngđồng thời có hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh để có thể gâydựng sự hứng thú của các em

3.2 Tạo hứng thú cho học sinh thông qua các hoạt động học tập:

- Trong giờ lý thuyết: Giáo viên nên sử dụng công nghệ thông tin, đưa

trò chơi vào tiết học để thêm phần sinh động Hay giáo viên nên đưa các bài toánthực tế, các ứng dụng liên môn vào soạn giảng để học sinh thấy được các ứngdụng của toán học trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học Việc sử dụng mô hìnhtrực quan và sử dụng các phần mềm hỗ trợ việc dạy và học toán cũng góp phầntạo hứng thú cho học sinh Lớp 5, là một lớp cuối cấp, tư duy hình tượng sự vật

ở học sinh đã ngày một phát triển và bền vững hơn Do đó các phương tiện dạyhọc của môn toán đã giảm rất nhiều so với các lớp dưới Ngoài những mô hìnhnhư ở các khối lớp trước (chỉ một số dạng) thì lớp 5 chỉ có bổ sung thêm một số

mô hình về hình học: các mô hình về hình không gian khi tính thể tích (hình lậpphương, hình hộp chữ nhật, hình trụ, hình chóp,…); một số mô hình về toánchuyển động đều và các đơn vị đo đại lượng Hình thức và tác dụng của các thểloại mô hình này cũng giống như mô hình ở các lớp dưới

- Trong giờ bài tập: Giáo viên cần có bài kiểm tra để phân loại học sinh

trong lớp Qua đó giáo viên sẽ nắm được danh sách học sinh học yếu môn toán

để có sự quan tâm đặc biệt Trong lớp, giáo viên cần cho các em này ngồi ở đầubàn để thuận lợi cho việc hướng dẫn các em giải bài tập Trong khi học sinhđang làm bài tập thì giáo viên cần đến chỗ ngồi của các em học yếu để giải đáp

Trang 9

những điều chưa hiểu của các em Sự tận tình hướng dẫn các em vẽ hình một bàitoán hình học hay vận dụng một công thức để giải một bài tập sẽ giúp cho các

em thấy quí mến thầy cô hơn Như vậy sẽ làm cho học sinh thấy mình cần phảigắng học để đền đáp lại công ơn khó nhọc của thầy cô Bên cạnh đó giáo viêncần thường xuyên khuyến khích các học sinh yếu xung phong lên bảng giảinhững bài tập vừa sức với các em Nếu em nào giải được thì giáo viên độngviên, khuyến khích ngay Đó là niềm khích lệ giúp các em có sự tự tin để họcmôn học mà từ lâu các em luôn nghĩ là quá hóc búa và học tiếp thu được Khigọi học sinh lên bảng thì tuyệt đối giáo viên không cho học sinh yếu giải nhữngbài tập quá khó, dạng bài tập này chỉ nên dành cho những học sinh khá giỏitrong lớp Nếu lần đầu tiên học sinh làm bài không được thì giáo viên không nênchê trách mà hẹn các em lần khác sẽ gọi lại để tránh tạo cho các em tâm lý ứcchế và càng thấy chán học môn toán Giáo viên cần phân công cho các em tổtrưởng kiểm tra việc học thuộc bài của học sinh Bởi vì nếu các em không thuộcbài, không nhớ các công thức, các qui tắc toán học thì làm sao có thể vận dụng

để giải bài tập

- Trong việc tập trung nâng cao chất lượng đại trà, phụ đạo học sinh

yếu: Giáo viên cần dạy phụ đạo cho các em học sinh yếu Trong giờ dạy phụ

đạo, cần giảng bài thật chậm để các em hiểu, sau đó giáo viên cho học sinh giảibài tập Mỗi dạng bài tập, giáo viên cho học sinh làm nhiều bài cho đến khi các

em làm đúng rồi thì mới chuyển sang dạng bài tập khác Các đề bài tập luôntheo trình tự từ dễ đến khó Giáo viên cũng cần thường xuyên động viên họcsinh yếu để giúp các em hiểu rằng nếu cố gắng thì một ngày không xa các em sẽtrở thành học sinh khá giỏi giáo viên có thể kể tên một vài em đạt được thànhtích như vậy để củng cố niềm tin cho các em

Ở những tiết học ôn tập, giáo viên cần hệ thống toàn bộ các kiến thức đãhọc và yêu cầu học sinh học thuộc để dễ dàng giải được bài tập trong bài kiểmtra

Nếu giáo viên có sự quan tâm đặc biệt đến từng đối tượng học sinh thì dù

là yếu hay giỏi các em cũng sẽ yêu thích học môn toán

3.3 Phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh:

- Giáo viên phải kích thích được nhu cầu và hứng thú học tập của học sinh:

Học sinh sẽ không hoạt động nếu không có nhu cầu nhận thức Nhưnghoạt động sẽ không hiệu quả nếu học sinh không hứng thú học tập Mức độ tíchcực học tập của học sinh phụ thuộc vào nhu cầu và hứng thú với nhu cầu họctập Nhu cầu nhận thức của học sinh càng cao thì tính tích cực nhận thức cànglớn nghĩa là học sinh càng thích khám phá và chiếm lĩnh tri thức Nhưng để kíchthích được nhu cầu và hứng thú học tập của học sinh thì phụ thuộc vào mức độhấp dẫn lôi cuốn của nhiệm vụ học tập và cách thức diễn đạt, dẫn dắt vấn đề củagiáo viên Vì thế giáo viên cần diễn đạt và dẫn dắt lớp học sao cho thật hấp dẫn

và lôi cuốn học sinh

- Giáo viên phải đưa học sinh trở thành chủ thể của hoạt động học:

Nghĩa là học sinh phải được cuốn hút vào những hoạt động học tập dogiáo viên tổ chức và chỉ đạo Thông qua đó tự lực khám phá những điều mình

7

Trang 10

chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp thu những tri thức đó được sắp đặtsẵn Muốn vậy giáo viên phải đặt học sinh vào những tình huống có vấn đề đểcác em suy nghĩ, hành động giải quyết vấn đề đặt ra Từ đó vừa nắm vững đượckiến thức mới, kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp kỹ năng “làm ra nhữngkiến thức, kỹ năng đó” Nghĩa là học chữ và học làm quyện vào nhau “Từ họclàm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và phát triển như nhâncách một con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo”.

- Giáo viên cần chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh:

Vì nếu rèn luyện được cho người học có được phương pháp, kỹ năng thóiquen tự học, biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huốngmới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thựctiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người

Tự học vừa được coi là mục đích vừa được coi là biện pháp phát huy tínhtích cực chủ động của người học, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời trong thờiđại hiện nay

- Tăng cường hoạt động cá thể phối hợp với học tập hợp tác:

Trong dạy học tích cực giáo viên cần phải tăng cường học tập cá thể phốihợp với học tập hợp tác Bởi trong học tập hợp tác thông qua sự hợp tác tìm tòi,nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể ý kiến của mỗi cá nhân được bộc

lộ, được điều chỉnh khẳng định hay bác bỏ Qua đó người học nâng mình lênmột trình độ mới, vận dụng được vốn kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp

3.4 Tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới nhằm gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh.

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xãhội; con người không chỉ tiếp thu những cái đã có mà luôn chủ động tìm tòi,khám phá, sáng tạo ra những cái mới phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống củamình Tính tích cực trong học tập là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặctrưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếmlĩnh nội dung học tập bằng hoạt động tìm tòi, khám phá

Hoạt động tìm tòi, khám phá là một chuỗi hành động và thao tác để hướngtới một mục tiêu xác định Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có nhiềudạng khác nhau, từ mức độ thấp đến mức độ cao tuỳ theo năng lực tư duy củatừng học sinh và được tổ chức thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm

Có thể tóm tắt quá trình tìm tòi khám phá kiến thức bằng sơ đồ sau:

Kiến thức Dự đoán nghiệmKiểm Điều chỉnh Kiến thứcmới

3.1.1 Tác dụng của hoạt động tự tìm tòi khám phá kiến thức mới:

- Giúp học sinh rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học Toán

- Học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiếnthức đó hoặc góp phần cùng các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng lên kiến thứcđó

- Trong quá trình tìm tòi, khám phá học sinh tự đánh giá được kiến thứccủa mình Cụ thể:

Trang 11

+ Khi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo đượcthiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm.

+ Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ củamình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh

- Trong quá trình học sinh tự tìm tòi, khám phá, Giáo viên biết được tìnhhình của học sinh về mức độ nắm kiến thức từ vốn hiểu biết, từ bài học cũ; trình

độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa yếu tố đã biết với yếu tố phải tìm

- Học sinh tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì vượt khókhăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: Tự tin, suy luận có cơ sở,coi trọng tính chính xác, tính hệ thống

3.1.2 Quy trình dạy học để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới.

* Đặc trưng của cách dạy:

- Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối quan

hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên

- Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề Khi

đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh nộidung kiến thức

- Bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một cách tựgiác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng; từ đó có được niềm vui của sự nhậnthức sáng tạo

* Quy trình cụ thể:

- Bước 1: Ôn tập tái hiện:

Giúp học sinh ôn lại những kiến thức đã học có liên quan đến các kiếnthức mới mà học sinh cần nắm được

- Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề:

Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cầnđược giải quyết trong tiết học đó

- Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng:

Từ những vướng mắc cần giải quyết ở trên, cho học sinh độc lập suy nghĩhoặc thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng giải quyết vấn đề Giáo viên nhậnxét, bổ sung thêm để hình thành ý tưởng chung

- Bước 4: Dự đoán giả thuyết:

Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dungkiến thức, kĩ năng mới

- Bước 5: Kiểm tra giả thuyết:

Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đã đề xuất qua một số ví dụ cụ thể đểkhẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới

- Bước 6: Rút ra kiến thức mới:

Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, giáo viên cho họcsinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới

* Một số lưu ý khi thực hiện cách dạy để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới.

9

Trang 12

- Phải chú ý ngay từ việc soạn giáo án Phải tập trung vào việc thiết kế cáchoạt động của học sinh trước, trên cơ sở đó mới xác định các hoạt động chỉ đạo,

tổ chức của giáo viên

- Số lượng hoạt động và mức độ tư duy trong mỗi tiết học phải phù hợpvới trình độ học sinh để có đủ thời gian tổ chức hoạt động tìm tòi, khám phá

- Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, tìm kiếm các tinh huống có vấn đề, tạo

cơ hội cho học sinh tìm tòi, khám phá

* Ví dụ: Khi dạy bài “Giới thiệu về phân số thập phân” giáo viên có thể

làm như sau:

- Ôn luyện kiến thức cũ:

- Kiểm tra viết tất cả học sinh trong lớp (có thể dùng phiếu kiểm tra).(1 học sinh lên bảng làm, yêu cầu học sinh này trình bày ở

23

×

× =

10 6

10

6 >

254

253

×

× =

100 75

421

×

× =

100 84

1000

1234 >

8 7

- Giới thiệu bài:

Dựa vào các bài làm trên bảng, giáo viên dùng thước để chỉ vào nhữngphân số nói đến: Để so sánh

- Nhận biết phân số thập phân:

- Dựa vào 5 phân số trên, mỗi học sinh trong lớp viết vào giấy nháp 2phân số thập phân và hai phân số không phải là phân số thập phân (1 học sinh Alên bảng viết)

Ngày đăng: 19/05/2021, 19:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w